Luận văn Hoàn thiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Thực tiễn quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trên địa b àn thành phố Nha Trang đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết kịp thời, đòi hỏi các ngành chức năng đặc biệt là ngành tài chính phải đổi mới toàn diện mới có thể đáp ứng yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý thu chi ngân sách ở trên địa bàn. Qua phân tích luận giải các mặt m ạnh, mặt yếu về công tác quản lý thu chi ngân sách ở trên địa bàn và từ đó đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm thúc đẩy, khai thác mọi tiềm năng phát triển sản xuất kinh doanh trên điạ bàn thành phố. Đó chính là đòi hỏi và thách thức đối với thành phố nói chung và ngành tài chính nói riêng trong việc thực hiện chức năng của mình để nâng cao hiệu quả quản lý thu chi ngân sách cơ sở phát triển nguồn thu và sử dụng các khoản chi có hiệu quả đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung và quản lý thu chi ngân sách nói riêng.

pdf116 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/01/2014 | Lượt xem: 2651 | Lượt tải: 49download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Hoàn thiện quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
kể trong tổng thu ngân sách. Do đó, cần có biện pháp quản lý các khoản thu này có hiệu quả, cụ thể là: - Cần phải công khai hóa các khoản thu ngoài thuế một cách minh bạch để mọi người dân mọi tổ chức biết để thực hiện tốt khắc phục tình trạng hiện nay các khoản thu này không được công bô công khai dẫn đến tình trạng vận dụng tuỳ tiện sai nguyên tắc chế độ và thiếu tính công bằng. - Phải tiến hành rà soát lại các loại phí và lệ phí trên địa bàn để từ đó có biện pháp bổ sung sửa đổi bãi bỏ những khoản thu phí và lệ phí đặt ra bất hợp lý. Đồng thời qua thực tiễn quản lý ở thành phố cần có đề xuất HĐND tỉnh xem xét ban hành một số loại phí, lệ phí mới thuộc thẩm quyền ban hành của HĐND tỉnh cũng như điều chỉnh mức thu một số loại phí, lệ phí đã ban hành quá lâu, không còn phù hợp với thực tiễn. - Nhà nước phải tiến hành luật hóa các khoản thu phí và lệ phí nhằm đảm bảo công bằng nhưng đồng thời có tính pháp lý gắn trách nhiệm của người dân về vấn đề này. - Đối với tiền sử dụng đất, tiền cho thuê mặt đất, mặt nước: Phòng tài chính kế hoạch phải tích cực tham mưu UBND thành phố chỉ đạo phòng tài nguyên Môi trường và các ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ quy hoạch, giao đất, đấu giá quyền sử dụng đất, hợp thức hóa quyền sử dụng đất, tích cực cải cách các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân trong việc đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tích cực áp dụng các biện pháp cần thiết để thu đủ số tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất, mà các tổ chức, cá nhân còn nợ đến thời hạn phải nộp NSNN. 91 3.2.2. Nhóm giải pháp quản lý chi ngân sách nhà nước 3.2.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư phát triển Nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư là yêu cầu cấp bách trong điều kiện hiện nay. Để nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Thứ nhất, việc xây dựng kế hoạch đầu tư hàng năm phải tuân thủ chặt chẽ những quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng. Việc bố trí danh mục dự án chuẩn bị đầu tư,dự án quy hoạch, chuẩn bị thực hiện, thực hiện đầu tư phải tuân thủ chặc chẽ các điều kiện để được ghi vốn; cơ cấu vốn đầu tư phải đảm bảo định hướng phát triển KT-XH của thành phố, không bố trí dàn trải, bố trí vượt quá khả năng cân đối của ngân sách, các công trình nhóm C phải bố trí vốn để đảm bảo thực hiện trong 2 năm.Ưu tiên bố trí vốn các công trình chuyển tiếp, các công trình đã được phê duyệt quyết toán còn thiếu vốn. Thứ hai, cần tập trung rà soát đánh giá hiệu quả đầu tư ở giai đọan vừa qua, nhất là đánh giá các công trình thuộc các chương trình KT-XH của thành phố như: chương trình giao thông nông thôn và nâng cấp hẻm nội thị. Chương trình kiên cố hóa kênh mương, kiên cố hóa trường học, việc thực hiện đề án tăng cường cơ sở vật chất cho các trường tiểu học dạy ngày 2 buổi…Từ đó khắc phục những tồn tại, loại bỏ những dự án,công trình xét thấy đầu tư không hiệu quả để tránh lãng phí. Thứ ba, tập trung chấn chỉnh và nâng cao chất lượng các đơn vị thực hiện công tác tư vấn trong tất cả các khâu: lập dự án, lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, lập thiết kế dự toán, thẩm định, giám sát kỹ thuật thi công; đơn vị tư vấn nào không đảm bảo chất lượng từ 2 công trình trở lên thì thực hiện đưa vào danh sách khuyến cáo các chủ đầu tư không ký hợp đồng; đối với các nhà thầu thi công xây lắp thi công không đảm bảo tiến độ, chất lượng từ 2 công trình trở lên thì thực hiện xử lý theo Nghị quyết 17/NQ/TU ngày 6/10/2004 của Tỉnh ủy. 92 Thứ tư, nâng cao chất lượng thẩm định và phê duyệt dự án.Để tránh lãng phí trong đầu tư khâu đầu tiên cần phải chú ý đó là xác định chính xác nhu cầu đầu tư, các chủ đầu tư cần xác định rõ nội dung, mục tiêu, quy mô đầu tư để tránh tình trạng gặp vướng mắt khi triển khai, kéo dài thời gian, gây lãng phí, muốn vậy phải nâng cao năng lực của người đề xuất đầu tư, cơ quan thẩm định đề xuất đó và người quyết định đầu tư. Thứ năm, nâng cao năng lực của các Ban quản lý dự án và các Chủ đầu tư theo đúng nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 7/2/2005 của Chính phủ để đảm đương được nhiệm vụ; kiến nghị tỉnh sớm sát nhập Ban quản lý dự án các công trình xây dựng Nha Trang và Ban quản lý cơ sở hạ tầng khu dân cư Hòn Rớ thành một Ban quản lý công trình của thành phố có chức năng làm chủ đầu tư đối với các công trình do UBND thành phố Nha Trang làm chủ đầu tư và thực hiện tư vấn quản lý dự án đối với các công trình lớn của các chủ đầu tư khác của thành phố. Thứ sáu, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong thủ tục đầu tư, ban hành quy trình công tác của các cơ quan chuyên môn của UBND thành phố như Phòng Tài chính Kế hoạch, Phòng quản lý đô thị, Kho bạc nhà nước về công tác thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công, công tác đấu thầu, chỉ định thầu, công tác kiểm soát thanh toán, công tác quyết toán. Trong đó vấn đề các chủ đầu tư quan tâm nhất là việc quy định và niêm yết công khai các loại hồ sơ, chứng từ mà các chủ đầu tư cần phải có khi giao dịch và thời gian giải quyết các công việc đó. Thứ bảy, chấp hành nghiêm túc luật đấu thầu đã được Quốc hội thông qua và các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đối với các công trình có giá trị xây lắp trên một tỷ đồng cần thực hiện đấu thầu rộng rãi. Nâng cao chất lượng công tác đấu thầu, trong công tác đấu thầu phải thể hiện được nguyên tắc công khai, minh bạch, bình đẳng, xử lý nghiêm các trường hợp thông thầu. Nâng cao chất lượng công tác xét thầu, thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu. 93 Thứ tám, nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi của KBNN thông qua việc kiểm tra chặt chẽ các hồ sơ thanh toán của chủ đầu tư, tuân thủ các chế độ, định mức chi phí của nhà nước đã quy định cho các loại chi phí trong xây dựng, trong đó đặc biệt chú ý là việc thanh toán chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí xây lắp và các chi phí khác, cần lưu ý tính chính xác của số liệu cấp phát thanh toán để tránh tình trạng phải thu hồi khi duyệt quyết toán.Tăng cường công tác quyết toán vốn đầu tư của cơ quan tài chính, kiên quyết đưa ra khỏi giá trị quyết toán những khoản chi không đúng chế độ quy định, không đảm bảo hồ sơ thủ tục. Thứ chín, thường xuyên tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra đối với công tác đầu tư và xây dựng để kịp thời phát hiện sai phạm, cần tham mưu người có thẩm quyền xử lý kiên quyết những sai phạm qua thanh tra, kiểm tra, tiến hành thu hồi nộp vào ngân sách các khoản tiền vi phạm. Thứ mười, thực hiện nghiêm túc việc công khai trên lĩnh vực XDCB theo quy định, trong đó cần chú ý hình thức và nội dung công khai, nhất là việc công khai các công trình có vận động nhân dân đóng góp ở các địa phương; tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giám sát của các Đòan thể cũng như nhân dân trong việc thực hiện các công trình XDCB trên địa bàn. Thứ mười một, thực hiện nghiêm quy định của Chính phủ về công tác giám sát, đánh giá đầu tư. Công tác giám sát, đánh giá đầu tư là nhiệm vụ quan trọng được quy định tại Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày 30/1/2003, Chỉ thị số 29/2003/CT-CP của Thủ tướng chính phủ nhưng chưa được thực hiện tốt trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa cũng như thành phố Nha Trang, do nhận thức chưa đầy đủ của các chủ đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, thời gian tới cần phải thực hiện tốt công tác này, đưa vào nề nếp chế độ báo cáo, xử lý trách nhiệm nếu không thực hiện. Làm tốt công tác này sẽ góp phần giải quyết tốt các vướng mắc xảy ra trong quá trình đầu tư, phát hiện, xử lý các sai phạm trong đầu tư. Tăng cường công tác giám sát cộng đồng theo Quyết định 80/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để góp 94 phần đảm bảo hoạt động đầu tư phù hợp với quy hoạch được duyệt, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phát hiện, ngăn chặn,xử lý kịp thời các hoạt động đầu tư không đúng quy hoạch, sai quy định, gây lãng phí, thất thóat vốn và tài sản nhà nước, ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình và xâm hại đến lợi ích cộng đồng. Thứ mười hai, thực hiện tốt công tác đền bù giải phóng mặt bằng. Muốn vậy các Ban quản lý dự án cần bố trí các cán bộ nắm vững các chế độ chính sách về công tác đền bù giải tỏa làm công tác này, công khai lấy ý kiến nhân dân vùng dự án về phương án đền bù, niêm yết công khai hồ sơ thủ tục đền bù, chính sách, giá cả đền bù. Các ban ngành đòan thể cùng làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân không khoán trắng, coi đây đơn thuần chỉ là việc của các ban quản lý dự án. 3.2.2.2. Đổi mới quản lý chi thường xuyên Thứ nhất, nâng cao chất lượng công tác lập, quyết định và phân bổ dự toán ngân sách của các đơn vị thụ hưởng ngân sách,cơ quan tài chính, HĐND và UBND thành phố. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng. Trong điều kiện phân cấp ngân sách, định mức phân bổ ngân sách hiện còn chưa hợp lý thì vấn đề đặt ra là làm sao phân bổ được tối ưu các nguồn lực tài chính được phân cấp này. Cơ cấu lại các khoản chi thường xuyên của ngân sách một cách hợp lý nhất có thể. Thứ hai, thành phố cần phải tiến hành soát xét lại hệ thống các định mức sử dụng ngân sách hiện hành, kiến nghị tỉnh và Bộ Tài chính xóa bỏ những văn bản chế độ đã lỗi thời không phù hợp với thực tế, ban hành các định mức, chế độ tài chính mới. Các đơn vị, các ngành trên địa bàn thuộc thành phố quản lý không được tự ý đặt ra các chế độ định mức chi tiêu cho riêng mình mà phải chấp hành và phục tùng tuyệt đối theo chế độ định mức của Nhà nước và của thành phố ban hành. Việc xác định các định mức chi thường xuyên bao gồm các khoản cần phải được định rõ mức chi tiêu. Định mức chi tiêu này đòi hỏi thành phố phải dựa trên cơ sở mức chi tiêu của tỉnh 95 Khánh Hòa và của Nhà nước để từ đó xây dựng mức chi tiêu phù hợp với đặc điểm bộ máy tổ chức hành chính trên địa bàn. Thứ ba, thay đổi phương thức thực hiện, quản lý đối với một số khoản chi thường xuyên lớn, cụ thể là đối với khoản chi SNKT. Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn trong chi thường xuyên, cần thay đổi theo hướng sau: - Chi sự nghiệp giao thông: đơn giản thủ tục đối với khoản chi duy tu, bão dưỡng đường giao thông, tổ chức đấu thầu hoặc chào hàng cạnh tranh đối với việc cung cấp lắp đặt biển báo giao thông, biển tên đường, sơn vạch kẻ đường. - Chi kiến thiết thị chính: tổ chức xây dựng hoặc kiến nghị tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng dựa trên hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật do Bộ Xây dựng ban hành để tiến hành xây dựng bộ đơn giá cho công tác phục vụ công cộng trên địa bàn thành phố chủ yếu tập trung vào các công việc như vệ sinh công cộng, chăm sóc cây xanh, bảo trì, sửa chữa hệ thống điện chiếu sáng công cộng trình UBND tỉnh ban hành. Kiên quyết chuyển từ phương thức giao kế hoạch hoặc đặt hàng đối với công tác phục vụ công cộng như hiện nay sang phương thức đấu thầu, đây cũng là phương thức quản lý tiên tiến hiện nay nhằm huy động mọi khả năng của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cùng tham gia vào công tác này. Điều này cũng nhằm nâng cao chất lượng công tác phục vụ công cộng trên địa bàn thành phố, làm cho thành phố ngày càng sạch đẹp hơn, tránh tình trạng “một mình một chợ” như hiện nay (hiện nay công tác này được tỉnh và thành phố giao cho Công ty Môi trường đô thị Nha Trang, một đơn vị công ích thực hiện nên còn mang tính độc quyền, chưa thật sự chú trọng đến chất lượng) và hơn nữa là tiết kiệm được ngân sách dành cho công tác này. Chúng tôi dự tính nếu tổ chức đấu thầu sẽ tiết kiệm được từ 20-25% chi phí, tương đương từ 5-6 tỷ đồng, đây là một con số không nhỏ đối với ngân sách thành phố. Thứ tư, thực hiện nghiêm quy định của luật phòng chống tham nhũng, luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí và các văn bản dưới luật, đặc biệt là tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả Chương trình thực hành tiết kiệm, chống 96 tham nhũng, lãng phí do UBND thành phố ban hành. Phải tạo bước chuyển biến rõ nét trong nhận thức đi đến hành động của từng đơn vị, từng cán bộ công chức của thành phố trong công tác này, đây là một việc khó, nên tránh việc tuyên truyền vận động suông mà phải đi vào thực chất. Trước mắt thực hiện tiết giảm ngay các khoản chi hành chính chưa cần thiết còn mang tính phô trương, hình thức như chi cho tổ chức kỷ niệm các ngày lễ, ngày thành lập ngành, chi liên hoan gặp mặt cuối năm, chi tiếp khách, tham quan... Thực hiện nghiêm quy định của Nhà nước trong việc mua sắm trang thiết bị phương tiện làm việc trong các cơ quan hành chính, thành phố cần nghiên cứu ban hành quy định liên quan đến lĩnh vực này nhằm tăng cường phân cấp cho các đơn vị đi đôi với tăng cường trách nhiệm. Nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi thường xuyên của NSNN, sử dụng tài sản công. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong việc quản lý sử dụng kinh phí thường xuyên của Ngân sách. Đồng thời có qui định nếu lãnh đạo tổ chức nào sử dụng sai mục đích lãng phí tiêu cực thì phải bị xử lí một cách đúng mức từ xử phạt hành chính đến truy tố trước pháp luật.Thành phố hàng năm phải tổng kết hiệu quả các khoản chi thường xuyên để có biện pháp sửa đổi và xây dựng mô hình các quản lý chi thường xuyên có hiệu quả. Thứ năm, triển khai thực hiện Nghị định 130/2005/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước” đối với tất cả các đơn vị trực thuộc thành phố, kể cả các đơn vị thuộc khối Đảng, Đòan thể. Việc thực hiện thí điểm khoán chi hành chính theo Quyết định 192/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ thời gian qua đã cho thấy tính đúng đắn của chủ trương này. Thời gian tới cần triển khai thực hiện đến tất cả các đơn vị hành chính của thành phố. Để thực hiện tốt Nghị định 130/NĐ-CP của Chính phủ cần tập trung thực hiện một số biện pháp sau: - Tăng cường công tác tuyên truyền quán triệt trong cán bộ, công chức các cơ quan hành chính, cơ quan Đảng,Đòan thể, các tổ chức CT-XH các nội 97 dung cơ bản của chủ trương này, làm cho họ nhận thức rõ những lợi ích do thực hiện khoán mang lại, tránh nhận thức đơn thuần khoán kinh phí chỉ là để tăng thu nhập. Từ đó các đơn vị chủ động bàn bạc, thảo luận, xây dựng các giải pháp để tổ chức thực hiện. - Kiến nghị chính phủ và UBND tỉnh tiếp tục ban hành hệ thống các văn bản hoàn thiện cơ chế khoán biên chế và khoán chi hành chính này cũng như ban hành các văn bản quy định các tiêu chí để đánh giá, lượng hóa mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các đơn vị nhận khoán. Đây là căn cứ để các đơn vị này xây dựng các định mức công việc nội bộ phục vụ cho việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ,công chức. - Bộ Tài chính, UBND tỉnh cần có các văn bản hướng dẫn việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ tương đối cụ thể, thuận lợi cho các đơn vị khi triển khai thực hiện. Phòng Tài chính kế hoạch căn cứ vào quy định trên, hướng dẫn thêm một số nội dung phù hợp với điều kiện của thành phố để thực hiện. - UBND tỉnh cần ban hành văn bản điều chỉnh một số định mức chi tiêu đã lạc hậu như chế độ đi phép, công tác phí, chế độ đi học …; nghiên cứu tăng định mức chi hành chính do thực tế là đã qua nhiều lần thực hiện cải cách tiền lương nhưng định mức chi hành chính tăng không đáng kể cũng như có thực tế là hiện nay tại các đơn vị hành chính ngoài số biên chế được giao còn một số lượng cán bộ hợp đồng ngoài định biên (không được ngành tài chính tỉnh xem xét khi khoán) nên thực tế kinh phí tiết kiệm được để tăng thu nhập còn ít, chưa tạo động lực để thực hiện khoán. - Tăng cường thực hiện chương trình cải cách hành chính của thành phố, rà soát sắp xếp lại bộ máy QLNN của thành phố theo hướng tinh gọn, giảm đầu mối, bỏ trung gian để nâng cao hiệu lực quản lý, thuận lợi khi thực hiện khoán. - Có kế hoạch tiến hành đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ thành phố theo chương trình đào tạo cán bộ của Thành ủy Nha Trang đến năm 2010, đảm bảo có một đội ngũ cán bộ đủ điều kiện về năng lực và phẩm chất đạo đức, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. 98 Thứ sáu, triển khai việc thực hiện quyền tự chủ,tự chịu trách nhiệm theo nghị định 43/2006/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thành phố. Thời gian qua trên địa bàn thành phố mới chỉ triển khai thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP cho 5 Ban quản lý chợ lớn thuộc thành phố, tuy nhiên cũng đã mang lại những kết quả tích cực. Các đơn vị đã chủ động trọng việc thực hiện nhiệm vụ được giao, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch năm sau cao hơn năm trước, thu nhập cán bộ viên chức được tăng lên đáng kể so với trước. Để thực hiện tốt nghị định 43/NĐ-CP của Chính phủ cần thực hiện một số giải pháp sau: -Triển khai thực hiện nghị định 43/NĐ-CP đến tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập của Thành phố. Trong đó cần phân định rõ: các đơn vị đảm bảo chi phí hoạt động, đơn vị đảm bảo một phần và đơn vị được NSNN đảm bảo kinh phí. - Tăng cường công tác tuyên truyền cho cán bộ,viên chức các đơn vị sự nghiệp để hiểu rõ mục đích ý nghĩa của cơ chế tự chủ tài chính để tự giác thực hiện, tạo bước chuyển biến trong thực hiện nhiệm vụ tại các đơn vị này. - Liên Sở Tài chính – Giáo dục cần có hướng dẫn cụ thể để triển khai ở các trường thuộc Phòng giáo dục (thành phố Nha Trang có hơn 70 trường thuộc Phòng Giáo dục lậu nay chưa triển khai được). - UBND tỉnh trình HĐND tỉnh điều chỉnh mức thu học phí và một số khoản phí, lệ phí cũng như tỷ lệ chi từ quỹ học phí để có nguồn thu thực hiện cơ chế tự chủ. - Cần sớm ban hành hệ thống các định mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến, phù hợp với thực tế để làm căn cứ thực hiện cơ chế tự chủ. 3.2.2.3 Củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ quản lý tài chính ngân sách - Tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy, rà soát chức năng nhiệm vụ của Phòng Tài chính - kế hoạch để đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý tài chính trong giai đọan mới, thực hiện có hiệu quả các khoản chi ngân sách thuộc quyền quản lý. 99 - Tiếp tục mở rộng việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 vào công tác quản lý của Phòng Tài chính - Kế hoạch. Từ năm 2005, Phòng Tài chính - Kế hoạch đã xây dựng và được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2000 đối với quy trình “cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể", kết quả thực hiện được UBND thành phố đánh giá cao, không còn hồ sơ trễ hẹn và thời gian giải quyết hồ sơ rút ngắn thêm được 2 ngày so với quy định (từ 7 ngày xuống còn 5 ngày), hiện đang tiếp tục xây dựng và đăng ký chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2000 đối với quy trình quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Trong thời gian tới tiếp tục nghiên cứu đưa hệ thống quản lý chất lượng vào các lĩnh vực: kế hoạch đầu tư (chủ yếu là khâu thủ tục đầu tư), quản lý dự toán các đơn vị HCSN, quản lý cấp phát ngân sách xã … - Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài chính tại Phòng Tài chính - Kế hoạch để nâng cao hiệu quả tham mưu điều hành ngân sách địa phương. Hiện nay phòng Tài chính - Kế hoạch đã triển khai phần mềm quản lý ngân sách xã, phần mềm quản lý thu chi ngân sách thành phố, quyết toán ngân sách địa phương và triển khai phần mềm kế toán đối với các đơn vị HCSN. Thời gian tới cần tiếp tục triển khai phần mềm kế toán HCSN đến tất cả các đơn vị thuộc Phòng Giáo dục và Phòng y tế (số lượng này là khá lớn), đề xuất thành phố cho phép hợp đồng viết phần mềm quản lý đối với các công tác sau: quản lý đăng ký kinh doanh (trong đó cần chú ý hướng mở để tiến tới thực hiện đăng ký kinh doanh qua mạng), quản lý kế hoạch đầu tư, quản lý dự toán các đơn vị HCSN… Nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách của đội ngũ cán bộ tài chính ở thành phố và xã phường. Cán bộ quản lý chi ngân sách đóng vai trò đặc biệt quan trọng đến hiệu quả quản lý chi ngân sách. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực phẩm chất của đội ngũ cán bộ này nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý tài chính nói chung và quản lý chi ngân sách nói riêng trên địa bàn thành phố. Nội dung đào tạo bồi dưỡng nâng 100 cao trình độ phẩm chất của cán bộ chi ngân sách trên địa bàn thành phố cần tập trung vào những yêu cầu sau: - Thường xuyên nâng cao phẩm chất cho cán bộ quản lý chi ngân sách trên địa bàn thành phố nhằm củng cố quan điểm lập trường, ý thức giai cấp để đội ngũ này làm công tác chi ngân sách tránh được tiêu cực hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao. Góp phần làm lành mạnh hoá lĩnh vực tài chính trên địa bàn thành phố. Cần rà soát lại số lượng, chất lượng cán bộ tài chính trên địa bàn thành phố và các xã phường cũng như các đơn vị đang hoạt động kinh doanh trên địa bàn để có biện pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ. Đặc biệt đối với cán bộ thuộc phòng Tài chính kế hoạch thành phố phải có chiến lược đào tạo để phù hợp với yêu cầu hiện nay và sắp đến trong lĩnh vực này. Phải xây dựng quy hoạch đào tạo cán bộ chi ngân sách trên địa bàn khắc phục tình trạng hẫng hụt về cán bộ và trình độ thiếu tính liên ngành nhằm đảm bảo cho hiệu quả chi ngân sách.Cán bộ quản lý chi ngân sách không chỉ hiểu sâu sắc nghiệp vụ quản lý chi ngân sách mà còn hiểu về nghiệp vụ và kỹ thuật tổ chức thực hiện. - Nâng cao chất lượng quản lý của cán bộ tài chính để quản lý điều hành các khoản chi có hiệu quả là một yêu cầu và nội dung lớn. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý tài chính nói chung và quản lý chi ngân sách nói riêng giảm bớt đầu mối, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý chi đặc biệt là trong lĩnh vực cấp phát vốn đầu tư XDCB.Cải tiến lề lối làm việc, nâng cao trách nhiệm của mỗi cán bộ ở Phòng tài chính- kế hoạch. Thành phố cần ban hành những quy định về nhiệm vụ, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ tài chính thành phố. Đồng thời có chính sách đãi ngộ của cán bộ quản lý tài chính, cán bộ kế hoạch, cán bộ kế toán, cấp phát quản lý vốn đầu tư. - Xây dựng chiến lược quy hoạch cán bộ quản lý chi ngân sách bằng cách đào tạo và đào tạo lại gắn với tiêu chuẩn hóa từng chức danh và yêu cầu công tác. Bên cạnh đào tạo chuyên môn nghiệp vụ còn phải chú ý đào tạo 101 kiến thức về quản lý nhà nước, về kinh tế thị trường, ngọai ngữ, tin học… Gắn việc đào tạo bồi dưỡng với quá trình sử dụng phù hợp với sở trường của cán bộ tài chính. Quan tâm chế độ tiền lương và thu nhập của đội ngũ cán bộ này làm cho họ yên tâm không tìm cách xoay sở bóp méo chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện trên địa bàn của một thành phố. Hàng năm phải đánh giá trách nhiệm nhiệm vụ của cán bộ chi ngân sách và xử lý nghiêm minh các trường hợp cố ý làm sai trong quản lý chi ngân sách. 3.2.2.4. Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi ngân sách của kho bạc Nhà nước thành phố Trong xu hướng đổi mới cơ chế quản lý tài chính ngân sách hiện nay, vai trò kiểm soát chi của KBNN giữ một vị trí hết sức quan trọng, là người “gác cửa” các khoản chi ngân sách. Để nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi của KBNN thành phố cần tập trung thực hiện một số biện pháp sau: - Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong công tác kiểm soát chi ngân sách, đảm bảo chặt chẽ nhưng không cứng nhắc, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị trong giao dịch với KBNN. - Xây dựng và ban hành các quy trình công tác về kiểm soát chi thường xuyên cũng như chi đầu tư, trong đó cần quy định rõ về hồ sơ thủ tục cần phải có khi giao dịch, đồng thời quy định rõ thời hạn giải quyết các thủ tục này, niêm yết công khai các thủ tục này tại nơi giao dịch và phải tuân thủ đúng.Đây là một trong những giải pháp rất cơ bản. - Nâng cao trình độ nghiệp vụ kiểm soát chi của cán bộ KBNN thành phố thông qua thực hiện chiến lược của ngành trong việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ. - Phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính trong quản lý chi ngân sách, thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo với cơ quan tài chính và các cơ quan hữu quan cũng như với lãnh đạo thành phố. - Tăng cường sự lãnh đạo của Thành ủy, UBND thành phố. Điều này xuất phát từ thực trạng KBNN là đơn vị ngành dọc, trong thực tế việc song trùng lãnh đạo thường chưa được thực hiện tốt. 102 - Các đơn vị thụ hưởng ngân sách phải chấp hành tuyệt đối các điều kiện về cấp phát, thanh toán các khoản chi tại KBNN. Các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách được duyệt, đảm bảo đúng chế độ chính sách, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu NSNN do Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị chuẩn chi và phải có đầy đủ chứng từ liên quan.làm cơ sở kiểm soát chi của KBNN thành phố. Thực hiện đúng quy trình kiểm soát chi NSNN qua kho bạc. Kiểm tra trước, trong và sau khi chi NSNN. Đây là một khâu rất quan trọng do kiểm soát trước khi chi sẽ ngăn ngừa và loại bỏ được những khoản chi tiêu không đúng chế độ quy định, không đúng định mức tiêu chuẩn, đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả, chống lãng phí và thất thoát tiền vốn của Nhà nước. 3.2.2.5. Tăng cường công tác công tác thanh tra tài chính, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Thanh tra tài chính là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước trong công tác quản lý tài chính.Công tác thanh tra tài chính nhằm giúp phát hiện, kịp thời chấn chỉnh và xử lý các sai phạm trên lĩnh vực tài chính, ngân sách, đồng thời qua đó phát hiện những sơ hở của cơ chế, chính sách, chế độ. quản lý chi để kiến nghị sửa đổi bổ sung cho phù hợp.Vì vậy, công tác kiểm tra, kiểm soát đòi hỏi phải đảm bảo chính xác, trung thực và khách quan, khi kết luận phải có căn cứ, có tác dụng tích cực đối với đơn vị được thanh tra, đồng thời chỉ rõ những việc làm được để phát huy và những việc chưa làm được để đơn vị có hướng khắc phục sửa chữa. Để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra quản lý chi ngân sách trên địa bàn thành phố cần tập trung vào các giải pháp sau: - Xác định các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm cần tập trung thanh tra, đặt biệt là các lĩnh vực dễ xảy ra lãng phí, thất thóat vốn như: công tác xây dựng cơ bản, mua sắm trang bị tài sản, tình hình sử dụng ngân sách của các đơn vị dự toán, công tác quản lý thu chi ngân sách của cấp xã, phường. 103 - Nâng cao trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, thường xuyên đào tạo, cập nhật các kiến thức mới không chỉ trên lĩnh vực kinh tế, tài chính, QLNN mà còn nhiều kiến thức tổng hợp khác. - Phải đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra theo dự toán chi ngân sách và thực tế đã chi. Qua thanh tra cần kết hợp với việc đánh giá hiệu quả sau thực hiện chi ngân sách. - Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan có chức năng thanh tra ở địa phương để tránh chồng chéo, trùng lắp trong quá trình thanh tra, gây khó khắn,ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của đơn vị được thanh tra. - Xử lý nghiêm minh các sai phạm được phát hiện để nâng cao hiệu lực của công tác thanh tra. Tùy theo tính chất, mức độ của sai phạm mà kiến nghị xử lý cho phù hợp nhằm làm cho công tác quản lý tài chính đi vào nề nếp, răn đe sai phạm. 3.2.2.6. Tăng cường sự lãnh đạo của Thành ủy và sự điều hành của Uỷ ban nhân dân thành phố Nha Trang đối với quản lý chi ngân sách nhà nước Việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò điều hành của thành phố trong quản lý chi tiêu ngân sách trên địa bàn là vấn đề cực kỳ quan trọng. Thành ủy cần đề ra đường lối phát triển KT-XH phù hợp với điều kiện thực tế làm cơ sở cho chính quyền cấp thành phố triển khai thực hiện. Các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và đơn vị có trách nhiệm quản lý ngân sách và chi tiêu, đảm bảo đúng định mức của Nhà nước và giáo dục đảng viên quần chúng thực hiện các khoản chi ngân sách theo đúng chế độ. Thành ủy phải thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo thực hiện các khoản chi ngân sách theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trên địa bàn thành phố. Đối với UBND thành phố Nha Trang cần phải đưa nội dung quản lý chi ngân sách vào chương trình công tác thường kỳ hàng tháng, quý để kiểm tra đánh giá cụ thể. Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền trên địa bàn thành phố thông qua các biện pháp: 104 - Đảng bộ phải lãnh đạo các cấp uỷ Đảng và kết hợp với Nhà nước quản lý chi ngân sách ở các cấp. - Đảng phải có trách nhiệm trong việc quán triệt luật NSNN ban hành đường lối tuyên truyền và thông qua Nghị quyết của Đảng đối với cán bộ đảng viên, nhân dân trên địa bàn để hiểu và thực hiện có hiệu quả. - Phải có sự chỉ đạo toàn diện của thành phố về vấn đề ngân sách, chi ngân sách phù hợp địa bàn của thành phố 3.2.2.7. Thực hiện nghiêm túc việc công khai tài chính các cấp Công khai tài chính là biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức Nhà nước, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng vốn, tài sản nhà nước; huy động,quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vị vi phạm chế độ quản lý tài chính; đảm bảo sử dụng có hiệu quả NSNN, thực hành tiết kiệm,chống lãng phí. Đẩy mạnh việc công khai tài chính các cấp ngân sách cần thực hiện một số giải pháp sau: - Xác định đúng nội dung,phạm vi số liệu cần công khai theo quy định. Lựa chọn hình thức công khai phù hợp với từng địa phương,đơn vị để nhân dân, cán bộ, công chức có thể nắm rõ nội dung công khai và giám sát được các nội dung này. Ngoài các hình thức công khai như lâu nay, đối với ngân sách thành phố có thể công khai trên trang thông tin điện tử của UBND thành phố. Đối với xã, phường cần đặt biệt chú ý đến việc công khai các khoản huy động nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, đây là một nội dung trong thực tế thường hay bỏ sót gây nhiều thắc mắc trong nhân dân. - Các cơ quan có chức năng và các đòan thể chính trị cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc công khai ngân sách ở các địa phương, đơn vị. Kịp thời đề xuất xử lý các đơn vị vi phạm chế độ công khai tài chính. 105 3.2.2.8. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan tài chính, thuế, kho bạc Nhà nước và các cơ quan liên quan trong công tác quản lý ngân sách Các cơ quan này có trách nhiệm phối kết hợp, cung cấp đầy đủ tin tức, thông tin lẫn nhau về tình hình thu, chi ngân sách,quản lý, kiểm soát chi ngân sách cũng như báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách hàng năm cho HĐND và UBND cùng cấp và cho cơ quan Nhà nước cấp trên để lãnh đạo,điều hành các khoản chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn thành phố một cách kịp thời,có hiệu quả. Tăng cường công tác kiểm tra đối chiếu số liệu giữa các cơ quan trong nội bộ ngành tài chính để đảm bảo khớp đúng số liệu, phục vụ công tác lãnh đạo của thành phố. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ * Đối với Chính phủ, Bộ Tài chính Thứ nhất, cần phải nghiên cứu hoàn thiện chính sách thuế. Trong quá trình hoàn thiện chính sách thuế cần quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới chính sách thuế. Chính sách thuế phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế việc hoàn thiện chính sách thuế phải nhằm thiết lập một hệ thống thuế công bằng và hiệu quả, phải đơn giản, ổn định, minh bạch, công khai và có tính luật pháp cao. Áp dụng hệ thống thuế không phân biệt giữa các thành phần kinh tế cũng như giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cần phải tách chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế. Thứ hai, cần nghiên cứu sửa đổi luật NSNN phù hợp với giai đọan hội nhập kinh tế quốc tế. Theo quy định hiện nay về thời biểu tài chính đối với công tác quyết định, phân bổ, giao dự toán NSNN thì việc thực hiện các công tác này đối với cấp huyện và cấp xã chỉ mang tính hình thức, không thực chất. 106 Thứ ba, cần nghiên cứu đổi mới phương pháp lập dự toán NSNN theo đầu vào như hiện nay sang lập dự toán NSNN theo kết quả đầu ra. Quản lý NSNN theo kết quả đầu ra được coi là công cụ để Nhà nước tập trung nguồn lực công vào nơi mang lại lợi ích cao nhất cho xã hội, giúp cải thiện chính sách công và góp phần tăng cường hiệu quả quản lý. Thứ tư, cần nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý, cấp phát thanh toán các khoản chi của NSNN. NSNN cần phải được công khai trong quá trình lập, chấp hành và quyết toán. Công khai quy trình cấp phát, kiểm soát chi NSNN. Điều này cho phép xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan tài chính, KBNN và đơn vị thụ hưởng. Phân định rõ trách nhiệm kiểm soát chi trong nội bộ ngành tài chính và xác định quy trình hợp lý quy trình kiểm soát, thanh toán chi trả các khoản chi NSNN đặc biệt là mối quan hệ giữa cơ quan tài chính, KBNN và đơn vị thụ hưởng. Thứ năm, cần sớm hoàn thiện hệ thống các định mức chi tiêu của ngân sách, cần được cập nhật thường xuyên cho phù hợp với thực tiễn và linh hoạt cho phù hợp với sự khác biệt giữa các vùng, miền . Thứ sáu, cần sớm ban hành cơ chế tài chính đối với các thành phố là đô thị loại 2 thuộc tỉnh. Thứ bảy, cần sớm ban hành quy định về xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực kế hoạch và đầu tư để có cơ sở chế tài các vi phạm,đưa hoạt động đầu tư vào nề nếp. * Đối với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Khánh Hoà Thứ nhất, để tạo điều kiện thúc đẩy thành phố Nha Trang phát triển mạnh mẽ, vững chắc, trên cơ sở đó làm đầu tàu, tạo động lực cho sự phát triển chung của cả tỉnh, kiến nghị Tỉnh ủy sớm xây dựng và ban hành Nghị quyết chuyên đề về phương hướng,nhiệm vụ phát triển KT-XH của thành phố Nha Trang đến năm 2020, đồng thời tập trung lãnh đạo UBND tỉnh và các cơ quan chức năng nghiên cứu, xây dựng cho thành phố một số cơ chế, chính sách đặc thù, gắn với phân cấp mạnh trên các lĩnh vực, nhất là công tác quy hoạch, 107 quản lý đô thị, du lịch, tạo điều kiện cho Nha Trang phát huy tính năng động, sáng tạo hơn trong quá trình thực hiện chiến lược tăng tốc phát triển hướng tới vị thế của một trung tâm kinh tế, khoa học - kỹ thuật, giáo dục và đào tạo không chỉ của khu vực miền Trung. Thứ hai, UBND tỉnh chỉ đạo các Sở Tài chính, Sở kế hoạch đầu tư, Cục thuế cần nghiên cứu hoàn thiện cơ chế phân cấp cho thành phố về ngân sách và đầu tư xây dựng cơ bản tương xứng với quy mô thành phố là đô thị loại 2. Cụ thể: + Trong phân cấp về ngân sách cần chú ý đến việc đẩy mạnh phân cấp nguồn thu để thành phố có cơ cấu nguồn thu bền vững, chủ động cân đối được ngân sách cho chi thường xuyên và dành phần thích đáng cho chi đầu tư phát triển theo hướng sau: phân cấp toàn bộ việc quản lý thu đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn về Chi cục thuế Nha Trang quản lý thu và điều tiết cho ngân sách thành phố, điều tiết 50% số thu tiền cho thuế mặt đất, mặt nước, và tiền sử dụng đất trên địa bàn về ngân sách thành phố. Tính toán tỷ lệ điều tiết ngân sách các cấp theo hướng đảm bảo toàn bộ khối xã, phường tự cân đối được ngân sách, hạn chế tối đa trợ cấp cân đối bổ sung; tính toán phân cấp nguồn vốn đầu tư phải phù hợp với nhiệm vụ chi đầu tư cấp thành phố và cấp xã do HĐND tỉnh ban hành. + Trong phân cấp về đầu tư cần chú ý đến việc phân cấp về thẩm quyền trong đầu tư. Thứ ba, UBND tỉnh sớm ban hành quy định về phân cấp và ủy quyền trên lĩnh vực đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh nhằm thay thế cho các quy định hiện hành của Tỉnh không còn phù hợp sau khi Chính phủ ban hành các nghị định mới liên quan đến công tác này. Thứ tư, UBND tỉnh cần điều chỉnh hệ thống định mức phân bổ ngân sách cho phù hợp, cần chú trọng tăng định mức phân bổ chi cho sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính, sự nghiệp bảo vệ môi trường, định mức phân bổ chi thường xuyên của cấp xã, định mức phân bổ chi hành chính cho một biên chế để tạo đông lực thực hiện khoán chi hành chính. 108 Thứ năm, UBND tỉnh cần sớm sửa đổi một số định mức chi tiêu đã lạc hậu như công tác phí, tàu xe phép, đi học … Thứ sáu, UBND tỉnh sớm trình HĐND phê duyệt điều chỉnh mức thu đối với một số khoản phí, lệ phí ban hành đã lậu nay không còn phù hợp, cũng như xem xét ban hành thêm một số khoản thu phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh để tăng nguồn thu ngoài thuế cho ngân sách, tạo thuận lợi cho việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nghiệm đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Thứ bảy, UBND tỉnh cần thực hiện nhất quán chính sách đền bù và giá đền bù giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ đầu tư XDCB trên địa bàn. Thứ tám, UBND tỉnh ban hành quy chế phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo song trùng giữa chính quyền địa phương với ngành dọc trong quản lý thu chi ngân sách nhất là ngành thuế và kho bạc. 109 KẾT LUẬN Hoàn thiện công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của thành phố Nha Trang hiện nay là một yêu cầu cấp thiết có tính khách quan. Điều này không chỉ bắt nguồn từ sự hạn chế yếu kém trong quá trình thực hiện công tác này mà còn là sư đòi hỏi của các qui luật, Nghị quyết của Đảng và chính sách Nhà nước về đổi mới cơ chế quản lý thu chi ngân sách. Đây là một hoạt động quản lý có liên quan đến mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực, do vậy cần phải được quan tâm đúng mức. Bởi vì nó có ý nghĩa trên nhiều mặt, tác động, chi phối, quyết định trong phát triển KT-XH ở trên địa bàn Thành phố và luôn gắn với trách nhiệm quản lý, lãnh đạo của Đảng bộ và UBND thành phố cho đến các xã, phường và các cơ quan chức năng. Qua quá trình phân tích, luận giải, luận văn đã làm rõ và khắc hoạ những nét nổi bật sau: - Khái quát một cách tương đối đầy đủ về cơ sở lý luận để làm nền tảng cho việc thực hiện quản lý thu chi ngân sách của thành phố Nha Trang. Đây không những là yêu cầu của thực tiễn của vấn đề đang đòi hỏi mà còn là mục tiêu, động lực để thúc đẩy thành phố phát triển toàn diện và ngày càng có hiệu quả cao hơn. - Thực tiễn quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Nha Trang đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết kịp thời, đòi hỏi các ngành chức năng đặc biệt là ngành tài chính phải đổi mới toàn diện mới có thể đáp ứng yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý thu chi ngân sách ở trên địa bàn. Qua phân tích luận giải các mặt mạnh, mặt yếu về công tác quản lý thu chi ngân sách ở trên địa bàn và từ đó đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm thúc đẩy, khai thác mọi tiềm năng phát triển sản xuất kinh doanh trên điạ bàn thành phố. Đó chính là đòi hỏi và thách thức đối với thành phố nói chung và ngành tài chính nói riêng trong việc thực hiện chức năng của mình để nâng cao hiệu quả quản lý thu chi ngân sách cơ sở phát triển nguồn thu và sử dụng các khoản chi có hiệu quả đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung và quản lý thu chi ngân sách nói riêng. 110 - Thông qua thực hiện quản lý thu chi ngân sách trên địa bàn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, giải phóng khả năng sản xuất, góp phần thúc đẩy việc tổ chức và sắp xếp lại sản xuất, tăng cường hạch toán kinh doanh, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng tích luỹ. Thực hiện tốt công tác quản lý thu chi ngân sách sẽ phát huy được tiềm năng thế mạnh, khai thác các nguồn lực trên địa bàn thành phố có hiệu quả, tranh thủ vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất kinh doanh có khả năng đóng góp nhiều cho ngân sách. Đồng thời thông qua quản lý chi ngân sách để giúp cho thành phố thực hiện tốt chức năng của mình nhất là việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và hỗ trợ người nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Đề tài đã luận giải những vấn đề có tính cơ bản về vấn đề này từ đó tìm kiếm nguyên nhân khách quan và chủ quan về yếu kém của công tác nói trên để làm cơ sỏ đề ra các giải pháp có tính thực thi. Đây là cơ sỏ về lý luận và thực tiễn về vấn đề quản lý thu chi ngân sách trên địa bàn. sẽ giúp cho thành phố có những quyết sách và biện pháp có hiệu quả. Để thực hiện các biện pháp hoàn thiện công tác quản lý thu chi ngân sách có hiệu quả đòi hỏi phải thực hiện tổng hơp các giải pháp ở tầm vĩ mô và vi mô. Sự lãnh đạo chỉ đạo của UBND thành phố, các cấp, các ngành chức năng, các tổ chức CT-XH từ thành phố cho đến xã phường cần phải quan tâm đúng mức công tác này coi công tác này là trách nhiệm, là nhiệm vụ trọng tâm của mình chứ không riêng gì các cơ quan tài chính. Mặt dù đã có những cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, kính mong các thầy trong Hội đồng chỉ dẫn, các bạn đồng nghiệp góp ý để luận văn này tiếp tục hoàn thiện có hiệu quả cao hơn có giá trị áp dụng vào công tác quản lý thu, chi ngân sách ở địa phương./. 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Giáo trình Kinh tế học vĩ mô, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 2. Bộ Tài chính (2003), Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện, Nxb Tài chính, Hà Nội. 3. Bộ Tài chính (2004), Báo cáo tình hình thực hiện và nội dung sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính, mở rộng cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập và các chính sách tài chính khuyến khích thực hiện xã hội hoá, Hà Nội. 4. Bộ Tài chính (2004), Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Hà Nội. 5. Bộ Tài chính (2004) Báo cáo đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước về tài chính, Hà Nội. 6. Nguyễn Thị Chắt (2004), “Tăng cường công tác giám sát tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ tài chính”, Thanh tra Tài chính, (8), tr. 9, 46. 7. Phan Thu Cúc (2002), Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp hưởng thụ nguồn ngân sách nhà nước, Nxb Tài chính, Hà Nội. 8. Phạm Đình Cường (2004), “Phân cấp trong lĩnh vực tài chính – ngân sách ở Việt Nam”, Tài chính, (7), tr. 15 – 16. 9. Nguyễn Việt Cường (2001), Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Tài chính – Kế toán, Hà Nội. 10. Vũ Cương – Nguyễn Thị Minh Tâm (2002), “Khuôn khổ chi tiêu trung hạn – một hướng cải cách trong quy trình lập ngân sách”, Tài chính, (2), tr. 11 – 14. 11. Chi cục thuế thành phố Nha Trang (2001), Báo cáo tình hình thực hiện công tác thu thuế năm 2001. 112 12. Chi cục thuế thành phố Nha Trang (2002), Báo cáo tình hình thực hiện công tác thu thuế năm 2002. 13. Chi cục thuế thành phố Nha Trang (2003), Báo cáo tình hình thực hiện công tác thu thuế năm 2003. 14. Chi cục thuế thành phố Nha Trang (2004), Báo cáo tình hình thực hiện công tác thu thuế năm 2004. 15. Chi cục thuế thành phố Nha Trang (2005), Báo cáo tình hình thực hiện công tác thu thuế năm 2005. 16. Cục Thống kê tỉnh Khánh Hoà (2005) Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hoà năm 2005. 17. Trịnh Tiến Dũng (2002), “Về phương pháp lập và phân bổ ngân sách ở nước ta hiện nay”, Tài chính, (3), tr. 15 – 17. 18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. Phạm Đức Hồng (2002), Hoàn thiện cơ chế phân cấp ngân sách của các cấp chính quyền địa phương ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường đại học Tài chính – Kế toán, Hà Nội. 21. Lưu Hoàng (2004), “Một số cấn đề về khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính”, Quản lý ngân quỹ quốc gia, (30), tr. 12 – 13. 22. Võ Bích Hồng (2005), “Một số ý kiến về cơ chế giám sát chi ngân sách nhà nước phục vụ quản lý hành chính”, Nghiên cứu tài chính kế toán, (1), tr. 25 – 26. 23. Nguyễn Sinh Hùng (2005), “Quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước trong tiến trình cải cách tài chính công”, Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 36 – 40. 24. Kiểm toán nhà nước khu vực miền Trung (2002), Báo cáo kết quả kiểm toán ngân sách nhà nước thành phố Nha Trang năm 2002. 25. Kiểm toán nhà nước khu vực miền Trung (2004), Báo cáo kết quả kiểm toán ngân sách nhà nước thành phố Nha Trang năm 2004. 113 26. Nguyễn Đức Kha (2002), “Những vấn đề cần quan tâm khi thực hiện khoán biên chế và chi phí hành chính”, Quản lý nhà nước, (9), tr. 32 – 34. 27. Trần Minh (2002), “Cần xây dựng mẫu hình khoán biên chế và chi phí hành chính”, Quản lý nhà nước, (9), tr. 28 – 31. 28. Lê Chi Mai (2003), “Tăng cường cải cách tài chính công nhằm thúc đẩy cải cách hành chính”, Quản lý nhà nước (9), tr. 7 – 11. 29. Dượng Thị Bình Minh (2005), “Quản lý chi tiêu công ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, Nxb Tài chính, Hà Nội. 30. Tào Hữu Phùng (2006), “Về định hướng và giải pháp công tác Tài chính ngân sách – Ngân sách nhà nước giai đoạn 2006 -2010”, Tạp chí Cộng sản, (8), tr. 22 – 27. 31. Tào Hữu Phùng (2002), “Đôi điều kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật ngân sách nhà nước”, Tài chính, (3), tr. 25 – 27. 32. Tào Hữu Phùng (2005), “Ngân sách nhà nước với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, (10). 33. Quách Đức Pháp (2005), “Cải cách hành chính về thuế và hải quan giai đoạn 2001 - 2004 và các năm tiếp theo”, Tạp chí Cộng sản, (20), tr.50 – 54. 34. Đẵng Hữu Pháp (2002), “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân sách theo luật Ngân sách nhà nước”, Quản lý nhà nước, (9), tr. 6 – 14. 35. Phòng thống kê TP Nha Trang (2004), Niên giám thống kê năm 2004. 36. Phòng thống kê TP Nha Trang (2005), Niên giám thống kê năm 2005. 37. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2003), Giáo trính Thuế, Nxb Tài chính, Hà Nội 38. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trính về quản lý ngân sách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Trường Đại học Ngoại thương (2001), Giáo trình về Kinh tế vĩ mô, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2005), Giáo trình Tài chính công, Nxb Tài chính, Hà Nội. 114 41. Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (2004), Giáo trình Lý thuyết Tài chính – Tiền tệ, Nxb Thống kê, Hà Nội. 42. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1997), Giáo trính Kinh tế công cộng, Nxb Thống kê, Hà Nội. 43. Philip E. Taylor (1961), Kinh tế Tài chính công, bản dịch của Trường Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh. 44. Đặng Văn Thanh (2005), “Phát triển tài chính Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005 và định hướng giai đoạn 2006 – 2010”, Tạp chí Cộng sản, (19), tr. 18 – 22. 45. Đặng Văn Thanh (19990, “Khoán chi hành chính: một giải pháp nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước”, Quản lý nhà nước, (8), tr. 17 – 21. 46. Nguyễn Thị Minh Tâm (2004), “Giải pháp nâng cao vai trò của Hội đồng nhân dân trong phân bổ, giám sát ngân sách nhà nước”, Quản lý nhà nước, (5), tr. 38 – 40. 47. Nguyễn Ngô Thị Hoài Thu (20005), “Nhìn lại 2 năm mở rộng thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính”, Tài chính, (10), tr. 6 – 18. 48. Trần Thị Ty (2003), Quản lý tài chính công, Nxb Lao động, Hà Nội. 49. Nguyễn Đình Tùng (2005), “Phân định chức năng nhiệm vụ quản lý tài chính nhà nước giữa trung ương và địa phương”. Nghiên cứu tài chính kế toán, (1), tr. 7 – 11. 50. Nguyễn Đình Tùng (2005), “Cơ sở lý luận phân cấp nguồn thu cho ngân sách xã”, Nghiên cứu tài chính kế toán, (8), tr. 7 – 9. 51. Nguyễn Văn Tạo (2004), “Đổi mới cơ chế tự chủ tài chính và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công đối với đơn vị sự nghiệp có thu”, Nghiên cứu tài chính kế toán, (10), tr. 6 – 8. 52. Lê Minh Thông, (2001), “Quản lý thu chi ngân sách”, Tài chính, (10). 53. Nguyễn Văn Tranh (2005), “Quản lý chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung”, Tạp chí Thuế, (6). 115 54. Tỉnh uỷ Khánh Hoà (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lần thứ XIV. 55. Tỉnh uỷ Khánh Hoà (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lần thứ XV. 56. Thành uỷ Nha Trang (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Nha Trang lần thứ XIII. 57. Thành uỷ Nha Trang (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Nha Trang lần thứ XIV. 58. Hoàng Công Uẩn (2002), Phương hướng hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách địa phương theo đặc điểm của mỗi cấp chính quyền ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh. 59. UBND thành phố Nha Trang (2001), Báo cáo quyết toán chi ngân sách thành phố Nha Trang năm 2001. 60. UBND thành phố Nha Trang (2002), Báo cáo quyết toán chi ngân sách thành phố Nha Trang năm 2002. 61. UBND thành phố Nha Trang (2003), Báo cáo quyết toán chi ngân sách thành phố Nha Trang năm 2003. 62. UBND thành phố Nha Trang (2004), Báo cáo quyết toán chi ngân sách thành phố Nha Trang năm 2004. 63. UBND thành phố Nha Trang (2005), Báo cáo quyết toán chi ngân sách thành phố Nha Trang năm 2005. 64. UBND thành phố Nha Trang (2001), Báo cáo quyết toán thu ngân sách thành phố Nha Trang năm 2001. 65. UBND thành phố Nha Trang (2002), Báo cáo quyết toán thu ngân sách thành phố Nha Trang năm 2002. 66. UBND thành phố Nha Trang (2003), Báo cáo quyết toán thu ngân sách thành phố Nha Trang năm 2003. 67. UBND thành phố Nha Trang (2004), Báo cáo quyết toán thu ngân sách thành phố Nha Trang năm 2004. 116 68. UBND thành phố Nha Trang (2005), Báo cáo quyết toán thu ngân sách thành phố Nha Trang năm 2005. 69. UBND thành phố Nha Trang (2001), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư và xây dựng năm 2001. 70. UBND thành phố Nha Trang (2002), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư và xây dựng năm 2002. 71. UBND thành phố Nha Trang (2003), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư và xây dựng năm 2003. 72. UBND thành phố Nha Trang (2004), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư và xây dựng năm 2004. 73. UBND thành phố Nha Trang (2005), Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư và xây dựng năm 2005.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf12_7906.pdf
Luận văn liên quan