Luận văn Hoàn thiện quy trình kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền trong kiểm toán tài chính do công ty tnhh tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam thực hiện

LỜI MỞ ĐẦU Trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, nền kinh tế thị trường phát triển kết hợp với quá trình hội nhập quốc tế đã thúc đẩy hoạt động kiểm toán ra đời và phát triển nhanh chóng, khái niệm “Kiểm toán và dịch vụ kiểm toán” không còn là khái niệm mới mẻ tại Việt Nam. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, nghề kiểm toán đã và đang không ngừng phát triển và được công nhận như là một nhân tố không thể thiếu trong nền kinh tế hội nhập. Kiểm toán độc lập chính thức thành lập tại Việt Nam vào năm 1991 với sự ra đời của hai công ty chuyên về dịch vụ kế toán và kiểm toán đó là VACO và AASC. So với thế giới, kiểm toán Việt Nam còn rất non trẻ nhưng đã và đang trở thành một ngành kinh tế độc lập đầy triển vọng của nước ta, một công cụ đắc lực giúp quản lý nhà nước, ngành có đóng góp quan trọng vào sự thịnh vượng nói chung của nền kinh tế quốc dân. Kiểm toán Báo cáo tài chính là sự tổng hợp kết quả kiểm toán của nhiều chu kỳ riêng biệt, trên cơ sở đó đưa ra các kết luận về sự trung thực và hợp lý của BCTC trên các khía cạnh trọng yếu. Hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp được phản ánh trong nhiều chỉ tiêu về kết quả kinh doanh, về khả năng thanh toán thể hiện một phần trong chu kỳ bán hàng và thu tiền của doanh nghiệp. Chu kỳ bán hàng và thu tiền là một chu kỳ quan trọng đòi hỏi phải tập trung nhiều thời gian và chi phí kiểm toán. Bản thân Chu kỳ này chứa đựng những khoản mục trọng yếu thu hút sự tập trung, chú trọng, theo dõi của những người quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Kết quả kiểm toán chu kỳ Bán hàng – thu tiền ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng chung của cuộc kiểm toán. Vì vậy đây cũng là đối tượng chủ yếu để nhiều người sử dụng BCTC quan tâm. Qua đó doanh nghiệp có thể thấy được những mặt sai sót yếu kém trong công tác kế toán và quản lý để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền, trong thời gian thực tập tại công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (AVA), bên cạnh tìm hiểu chung về hoạt động kiểm toán của công ty em đã đi sâu tìm hiểu công tác kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty AVA thực hiện. Trên cơ sở đó, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện quy trình kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty TNHH Tư Vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam thực hiện” cho đề tài luận văn của mình. Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn của em gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung của kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền trong kiểm toán BCTC Chương 2: Thực trạng kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam (AVA) Chương 3: Hoàn thiện quy trình kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền Trong quá trình lựa chọn và thực hiện đề tài em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo Phạm Tiến Hưng và sự giúp đỡ nhiệt tình của toàn thể các anh chị trong phòng Nghiệp vụ 5 - Công ty Kiểm toán AVA. Tuy nhiên do thời gian thực tập có hạn, đồng thời kiến thức, kinh nghiệm thực tế còn hạn chế, vì vậy trong quá trình thực hiện đề tài em không tránh khỏi những sai sót, kính mong sự chỉ bảo, đóng góp và đặc biệt là sự thông cảm từ quý thầy cô để luận văn của em được hoàn thiện và thiết thực hơn. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo Phạm Tiến Hưng và toàn thể các anh chị trong phòng Nghiệp vụ 5 - Công ty Kiểm toán AVA đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài này. CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA KIỂM TOÁN CHU KỲ BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHU KỲ BÁN HÀNG – THU TIỀN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHU KỲ ĐẾN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1.1 Đặc điểm về chu kỳ Bán hàng và thu tiền 1.1.1.1 Khái niệm Bán hàng và thu tiền là một trong các chu kỳ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong quá trình tái sản xuất, hoạt động tiêu thụ nhằm thực hiện giá trị của sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ. Sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ được cung cấp cho khách hàng và đơn vị sẽ thu được tiền bán hàng. Do đó Bán hàng và thu tiền hay còn gọi là tiêu thụ là một khâu trong quá trình tái sản xuất. Tiêu thụ là quá trình thực hiện giá trị của “Hàng” (nói chung), thông qua việc trao đổi: “Hàng” được chuyển quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua và đổi lại, bên bán nhận được tiền bán hàng từ bên mua thanh toán. “Hàng” có thể là những tài sản cụ thể (Thành phẩm, Vật tư, Hàng hóa ) hoặc dịch vụ (Sửa chữa, Xây lắp, ) bên bán đem đi trao đổi. Bên mua có thể thanh toán tiền mua hàng ngay hay chấp nhận thanh toán và sẽ thanh toán sau (thanh toán bằng tiền mặt hay thanh toán qua ngân hàng hoặc theo một thể thức khác được thỏa thuận). Bán hàng và thu tiền có thể được thực hiện theo các phương thức tiêu thụ và thể thức thanh toán khác nhau (bán buôn, bán lẻ, bán qua đại lý,thanh toán ngay, trả chậm, trả góp, ). 1.1.1.2 Bản chất Bán hàng và thu tiền là quá trình chuyển đổi quyền sở hữu của hàng hoá qua quá trình trao đổi hàng - tiền. Với ý nghĩa như vậy, quá trình này bắt đầu từ yêu cầu mua của khách hàng và kết thúc bằng việc chuyển đổi hàng hoá thành tiền. Trong trường hợp này, hàng hoá và tiền tệ được xác định theo bản chất kinh tế của chúng. Hàng hóa là những tài sản hay dịch vụ chứa đựng giá trị và có thể bán được, tiền tệ là phương tiện thanh toán nhờ đó mọi quan hệ giao dịch được giải quyết tức thời. Tuy nhiên ranh giới của bán hàng và thu tiền được thể chế hoá trong từng thời kỳ và đối tượng cụ thể khác nhau. Theo chế độ kế toán hiện hành của Việt Nam, quá trình tiêu thụ được thực hiện khi hàng hoá, dịch vụ đã được chuyển giao cho người mua và người mua trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán. Về bản chất, bán hàng - thu tiền là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đồng thời tạo vốn để tái sản xuất mở rộng. Thực hiện tốt quá trình này, doanh nghiệp mới có thể thu hồi vốn và có lãi - một nguồn thu quan trọng để tích luỹ vào ngân sách và các quỹ của doanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động. 1.1.1.3 Chức năng của chu kỳ Phần hành bán hàng và thu tiền có liên quan trực tiếp và chủ yếu đến hai khoản mục trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp là khoản mục doanh thu và khoản mục các khoản phải thu của khách hàng. Nằm trong hệ thống các thông tin phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, doanh thu và các khoản phải thu là những chỉ tiêu quan trọng, phản ánh kết quả kinh doanh cũng như tình hình thanh toán của doanh nghiệp. Với ý nghĩa đó, kiểm toán phần hành bán hàng - thu tiền nhận được nhiều sự quan tâm của những người thực hiện kiểm toán khi đặt trong mối liên hệ với các phần hành khác. Trong doanh nghiệp sản xuất, để tồn tại và duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì quá trình kinh doanh của doanh nghiệp phải nối tiếp liên tục và lặp lại tạo thành những chu kỳ sản xuất. Thực tế chu kỳ sản xuất bao gồm các chuỗi nghiệp vụ có liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành chu kỳ nghiệp vụ cơ bản. Chu kỳ kinh doanh tại một doanh nghiệp thường bắt đầu từ khi doanh nghiệp tạo vốn, có thể bằng vốn tự có hoặc nguồn vốn vay mượn để phục vụ cho sản xuất, kết thúc giai đoạn sản xuất thì công đoạn cuối cùng của chu kỳ kinh doanh là việc tiêu thụ sản phẩm đồng thời là quá trình thu tiền từ hoạt động bán hàng để thu hồi lại vốn kinh doanh. Chu kỳ bán hàng và thu tiền chấm dứt một quá trình kinh doanh để bắt đầu quá trình kinh doanh tiếp theo. Như vậy, quá trình kinh doanh bao gồm các chu kỳ diễn ra liên tục, đều đặn và mỗi chu kỳ đều là mắt xích quan trọng không thể thiếu được. Trong đó kết quả của chu kỳ Bán hàng và thu tiền không chỉ phản ánh riêng kết quả của chu kỳ mà còn phản ánh toàn bộ kết quả quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Bán hàng – thu tiền là chu kỳ cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó không những đánh giá hiệu quả của các chu kỳ trước như chu kỳ mua hàng – thanh toán, tiếp nhận – hoàn trả vốn mà còn đánh giá hiệu quả của toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói, Bán hàng – thu tiền là một bộ phận quan trọng tạo nên bức tranh tài chính của doanh nghiệp, do vậy những người sử dụng thông tin tài chính đòi hỏi KTV phải có kết luận chính xác về các thông tin này.

doc104 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 3835 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Hoàn thiện quy trình kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền trong kiểm toán tài chính do công ty tnhh tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam thực hiện, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ăng Hải 188.860.764 x 16598 15/07/2009 Công ty TNHH Đăng Hải 149.702.707 x 16606 31/07/2009 Ban QLDATĐ Sơn La 2.228.915.238 x 16657 23/12/2009 Công ty TNHH Đăng Hải 150.597.945 x 16659 31/12/2009 Ban QLDATĐ Sơn La 8.407.300.952 x … … … … x: Kiểm tra khớp số liệu sổ sách chứng từ. Kết luận: Các hóa đơn bán hàng được ghi nhận đầy đủ và đúng số tiền trên sổ sách. Bảng 2.6: Kiểm tra chi tiết hoá đơn bán hàng(Đơn vị: Đồng) Nguồn: Hồ sơ kiểm toán công ty sông Đà 12- Cao Cường tại AVA Sau khi kiểm tra toàn bộ kiểm toán viên nhận thấy các khoản doanh thu của doanh nghiệp được ghi nhận đầy đủ, giá bán trên hóa đơn là phù hợp với chính sách bán hàng của doanh nghiệp theo từng vùng miền từng loại sản phẩm. Nhiều hoá đơn bán hàng chưa có chữ ký của thủ kho. Việc tính toán trên hoá đơn, đối chiếu với sổ chi tiết và sổ tổng hợp đúng và phù hợp. Bước 5: Kiểm toán viên kiểm tra xem có phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu nào hay không, tuy nhiên trong năm 2009 không có khoản giảm trừ doanh thu nào phát sinh. Bước 6: Kiểm toán viên kiểm tra lại các kết luận, thu thập các bằng chứng và phản ánh toàn bộ các kết luận vào giấy tờ làm việc, đưa vào file kiểm toán. 2.2.2.2.3 Kiểm tra tài khoản phải thu của khách hàng và các khoản trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi Bước 1: Yêu cầu phòng kế toán của đơn vị cung cấp các tài liệu - Báo cáo tài chính năm 2008 (đã được kiểm toán) - Sổ cái các TK 131, TK 139 - Tất cả các biên bản đối chiếu công nợ vào cuối niên độ kế toán - Bảng cân đối phát sinh công nợ - Bảng phân tích tuổi nợ Bảng 2.7: Kiểm tra chi tiết tài khoản phải thu khách hàng Thủ tục kiểm toán chi tiết Người thực hiện Tham chiếu 1 KIỂM TRA CHÍNH SÁCH GHI NHẬN DOANH THU VÀ CÁC KHOẢN PHẢI THU Xem xét các chính sách và phương pháp kế toán cho việc ghi nhận doanh thu có phù hợp và được áp dụng nhất quán không 2 XÁC NHẬN NỢ PHẢI THU 1.Thu thập sổ chi tiết công nợ phải thu (bảng tính tuổi nợ), sổ cái lên cân đối. Kiểm tra tính có thực của số dư khách hàng quan trọng qua chứng từ. 2. Yêu cầu cung cấp số dư các khoản phải không thể thanh toán và kiểm tra nếu thấy cần thiết 3. Đánh giá kết quả kiểm tra 3 KIỂM TRA CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG NỢ KHÓ ĐÒI VÀ CHI PHÍ DỰ PHÒNG 1. Thu thập bảng tổng hợp về dự phòng nợ phải thu khó đòi và chi phí nợ khó đòi, đối chiếu sổ chi tiết với sổ cái 2. Đánh giá tính hợp lý của phương pháp ước tính số dự phòng nợ khó đòi 3. Nếu phương pháp dự tính trên là hợp lý thì thực hiện kiểm tra và tính toán lại các khoản dự phòng 4. Đánh giá kết quả kiểm tra 4 KIỂM TRA TÍNH GHI CHÉP ĐÚNG KỲ CỦA TÀI KHOẢN PHẢI THU VÀ HOÁ ĐƠN BÁN HÀNG Chọn một số hoá đơn bán hàng tháng 1, 7, 12 để đối chiếu các hoá đơn được chọn với các chứng từ xuất bán hay chứng từ phản ánh dịch vụ đã được thực hiện. Nhằm xác định tính đúng kỳ của các khoản phải thu Nguồn: Hồ sơ kiểm toán công ty cổ phần sông Đà 12- Cao Cường tại AVA Bước 2: Phân tích và đánh giá tổng quát Kiểm toán viên căn cứ vào bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh tiến hành lập các chỉ tiêu cần phân tích và so sánh chỉ tiêu này giữa đầu năm và cuối kỳ nếu có biến động thì yêu cầu kế toán phụ trách công nợ giải thích. Bảng2.8: Phân tích biến động của khoản phải thu khách hàng(Đơn vị:Đồng) Các chỉ tiêu Đầu năm Cuối năm Chênh lệch Số tiền % Phải thu khách hàng 9.944.160.774 22.750.835.974 12.806.675.200 128,78 Tỷ lệ nợ phải thu trên tổng doanh thu 7,18% 31,06% 23,88% Nguồn: Hồ sơ kiểm toán công ty cổ phần sông Đà 12 – Cao Cường tại AVA Nhìn vào bảng số liệu thì các khoản phải thu khách hàng năm nay tăng so với năm trước là 12.806.675.200 đồng, tương ứng với lượng tăng tương đối là 128,78%, trong khi doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ lại giảm 47,08%. Mặt khác tỷ lệ nợ phải thu trên doanh thu của khách hàng lại tăng 23,88%. Điều này có thể do hai nguyên nhân: Liệu doanh nghiệp có áp dụng chính sách bán hàng quá cởi mở hay không? Hoặc các khoản phải thu là có thật không? - Giải trình của khách hàng: Trong năm qua do thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, chính vì vậy mà doanh nghiệp phải áp dụng chính sách bán hàng cở mở hơn nhằm chiếm lĩnh thị phần (có chính sách bán hàng đính kèm theo). Bước 3: Kiểm toán viên tiến hành lập trang sổ tổng hợp tài khoản phải thu khách hàng, tiến hành đối chiếu số dư đầu kỳ với BCTC năm 2008 đã được kiểm toán, đối chiếu số phát sinh với sổ chi tiết nhận thấy số liệu là khớp. Bước 4: Kiểm toán viên tiến hành đối chiếu kiểm tra chi tiết Tỉ lệ đối chiếu công nợ của Công ty Cổ phần sông Đà 12 – Cao Cường vào thời điểm cuối năm là:57,83% (13.158.343.596/22.750.835.974) . Kiểm toán viên tiến hành kiểm tra đối chiếu số liệu trên bảng cân đối phát sinh công nợ và các biên bản đối chiếu phát sinh công nợ. Kiểm toán viên tiến hành đối chiếu tất cả các số dư nợ của khách hàng có số dư nợ trên 200 triệu, một số số dư trên 100 triệu và nhỏ hơn 100 triệu, tất cả khách hàng có số dư có, đặc biệt chú ý đến các khoản trả chậm. Kết luận kiểm toán về các bước công việc này: - Qua kiểm tra các khoản phải thu, kiểm toán viên nhận thấy việc phản ánh các khoản phải thu của đơn vị là trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu. - Cũng qua việc kiểm tra trên kiểm toán viên nhận thấy trong hoạt động bán hàng của đơn vị không phát sinh các khoản nợ phải thu quá hạn nào, do đó không cần trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi. Bước 6: Kiểm toán viên lập trang sổ tổng hợp các khoản phải thu của khách hàng, các khoản trích lập dự phòng của khách hàng và nhận xét ý kiến của kiểm toán viên. Thu thập các tài liệu đưa vào file hồ sơ kiểm toán phục vụ cho việc lập báo cáo kiểm toán. CÔNG TY TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM Khách hàng: Công ty cổ phần sông Đà 12 Tham chiếu: ES Niên độ: 01/01/2009 đến 31/12/2009 Người thực hiện: TNM Công việc: Tổng hợp đối chiếu khoản phải thu Ngày thực hiện: 19/03/2010 Số liệu trên sổ sách TK 131 Dư đầu kỳ (Ly) Phát sinh trong kỳ Dư cuối kỳ (Ag) Nợ Có Nợ Có Nợ Có 9.944.160.774 64.410.000 73.236.278.574 65.304.063.038 22.750.835.974 338.070.770 Nhận xét: Ly: Khớp Báo cáo kiểm toán năm 2008 Ag: Khớp với sổ chi tiết, bảng cân đối phát sinh tài khoản và BCTC 2009 Kết luận: Các khoản phải thu khách hàng của doanh nghiệp đã được trình bày một cách trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu. Bảng 2.9: Tổng hợp kiểm tra khoản mục phải thu khách hàng(Đơn vị: Đồng) Nguồn: Hồ sơ kiểm toán công ty cổ phần sông Đà 12 – Cao Cường tại AVA 2.2.2.2.4 Kiểm tra số dư các khoản tiền Mục tiêu ngân quỹ có thực và thực sự có thể cho phép doanh nghiệp thực hiện các cam kết của mình. Chia cắt niên độ phải thực hiện một cách chính xác đối với các khoản nhập quỹ cũng như đối với các khoản xuất quỹ (tính hiện hữu, phân loại và trình bày). Đối chiếu số liệu ngân hàng với số dư tiền gửi ngân hàng trong sổ kế toán và các yếu tố đưa ra đối chiếu phải được giải trình. Thực tế kiểm toán viên yêu cầu phòng kế toán cung cấp phục vụ cho việc kiểm tra tài khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, biên bản kiểm kê tiền mặt cuối năm, bảng xác nhận số dư tiền gửi và sổ phụ ngân hàng… CÔNG TY TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM Khách hàng: Công ty cổ phần sông Đà 12 Tham chiếu: CS Niên độ: 01/01/2009 đến 31/12/2009 Người thực hiện: TNY Công việc: Kiểm tra tổng hợp tiền Ngày thực hiện: 19/3/2010 - Một số phiếu chi của doanh nghiệp có một số trường hợp không đủ căn cứ cho việc chi tiền như sự chi duyệt của Giám đốc, hay thiếu giấy đề nghị thanh toán của người được chi: PC 0008 số tiền là 8.511.088 đồng không có chữ ký của thủ trưởng đơn vị. PC 00015 số tiền 70.461.000 đồng, PC 00019 số tiền 10.347.455 đồng không có giấy đề nghị thanh toán... Kết luận: Khoản mục tiền gửi ngân hàng khớp số liệu trên sổ cái, sổ chi tiết, sổ phụ ngân hàng, xác nhận ngân hàng. Khoản mục tiền mặt có một số phiếu chi chưa có sự phê chuẩn, chứng từ lập chưa đầy đủ. Biên bản kiểm kê tiền mặt tại 31/12/2008 khớp với BCĐKT, sổ chi tiết và sổ cái. Bảng 2.10: Tổng hợp kiểm tra khoản mục tiền Nguồn: Hồ sơ kiểm toán công ty cổ phần sông Đà 12 – Cao Cường tại công ty AVA 2.2.2.3 Kết thúc kiểm toán Sau khi tiến hành các thử nghiệm cơ bản KTV kết luận rằng tính đầy đủ, tính có thực, tính chính xác và việc trình bày doanh thu bán hàng và phải thu khách hàng không tồn tại các sai phạm trọng yếu. Đây là bước cuối cùng trước khi lên báo cáo kiểm toán, trưởng nhóm kiểm toán sẽ tổng hợp các vấn đề tồn tại của khách hàng (trong đó có các tồn tại của chu kỳ bán hàng và thu tiền) để thông báo cho khách hàng và cùng thảo luận với khách hàng các vấn đề gặp phải trong quá trình kiểm toán. Thống nhất giữa hai bên về điều chỉnh số liệu, chính sách thủ tục sao cho hợp lý để tiến hành lên báo cáo. Kiểm toán viên kiểm tra lại giấy tờ làm việc trước khi lập báo cáo kiểm toán. Công việc soát xét được thực hiện như sau: Trưởng nhóm kiểm toán soát xét lại các công việc của các thành viên trong đoàn sau đó là Giám đốc rà soát lại hồ sơ kiểm toán để đánh giá xem chất lượng của cuộc kiểm toán đã được đảm bảo hay chưa. Khi trưởng nhóm kiểm toán rà soát lại công việc của các thành viên trong nhóm kiểm toán, tất cả các gợi ý sửa chữa giấy tờ đều được lưu vào file làm việc. Sau khi hồ sơ kiểm toán đã được hoàn thiện, công ty kiểm toán đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của công ty cổ phần sông Đà 12 – Cao Cường. Công ty AVA kết luận tính trung thực, tính chính xác và tính đầy đủ, việc trình bày và khai báo doanh thu bán hàng, các khoản phải thu khách hàng, các khoản tiền không tồn tại những sai phạm trọng yếu. Đồng thời, rủi ro của các sai phạm trọng yếu đối với chu kỳ vẫn giữ nguyên ở mức thấp nhất như đánh giá ban đầu. Kiểm toán viên đã hoàn thành kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền tại công ty cổ phần sông Đà 12 – Cao Cường ở đây. Kết thúc các thủ tục kiểm toán cần thiết, KTV tiến hành lập thư quản lý và báo cáo kiểm toán và gửi lên Ban Giám đốc về các vấn đề phát hiện trong quá trình kiểm toán. Sau khi được các cấp có thẩm quyền rà soát (trưởng nhóm, Ban Giám đốc) KTV đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với công ty cổ phần sông Đà 12 – Cao Cường trong báo cáo kiểm toán như sau: CÔNG TY TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM BÁO CÁO KIỂM TOÁN Về Báo cáo Tài chính năm 2009 của Công ty Cổ phần Sông Đà 12 - Cao Cường Kính gửi: Các cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc Công ty Cổ phần Sông Đà 12 - Cao Cường Chúng tôi đã kiểm toán Báo cáo tài chính năm 2009 của Công ty Cổ phần Sông Đà 12 - Cao Cường lập ngày 20 tháng 01 năm 2010 gồm: Bảng cân đối kế toán tại ngày 31/12/2009, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh báo cáo tài chính cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2009 được trình bày từ trang 06 đến trang 20 kèm theo. Việc lập và trình bày Báo cáo tài chính này thuộc trách nhiệm của Ban Giám đốc Công ty Cổ phần Sông Đà 12 - Cao Cường. Trách nhiệm của chúng tôi là đưa ra ý kiến về các báo cáo này căn cứ trên kết quả kiểm toán của chúng tôi. Cơ sở ý kiến Chúng tôi đã thực hiện công việc kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Các chuẩn mực này yêu cầu công việc kiểm toán lập kế hoạch và thực hiện để có sự đảm bảo hợp lý rằng các báo cáo tài chính không còn chứa đựng các sai sót trọng yếu. Chúng tôi đã thực hiện việc kiểm tra theo phương pháp chọn mẫu và áp dụng các thử nghiệm cần thiết, các bằng chứng xác minh những thông tin trong báo cáo tài chính; đánh giá việc tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, các nguyên tắc và phương pháp kế toán được áp dụng, các ước tính và xét đoán quan trọng của Ban Giám đốc cũng như cách trình bày tổng quát các báo cáo tài chính. Chúng tôi cho rằng công việc kiểm toán của chúng tôi đã đưa ra những cơ sở hợp lý để làm căn cứ cho ý kiến của chúng tôi. Ý kiến của kiểm toán viên: Theo ý kiến của chúng tôi, Báo cáo tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài chính của Công ty Cổ phần Sông Đà 12 - Cao Cường tại ngày 31/12/2009, cũng như kết quả kinh doanh và các luồng lưu chuyển tiền tệ cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2009, phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành và các quy định pháp lý có liên quan. Th.s Nguyễn Minh Hải Giám đốc Chứng chỉ kiểm toán viên số: 0287/KTV Nguyễn Viết Long Kiểm toán viên Chứng chỉ kiểm toán viên số: 0692/KTV Thay mặt và đại diện cho CÔNG TY TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM (AVA) Hà Nội, Ngày 25 tháng 02 năm 2010 CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN CHU KỲ BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN 3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN Theo NĐ 133/2005 - NĐ-CP ban hành sửa đổi Nghị định 105 thì tất cả các công ty, doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán (bao gồm công ty TNHH một thành viên và công ty nhà nước) cần phải sửa đổi sở hữu song trước ngày 30/4/2007. NĐ này đã tạo ra một thay đổi lớn trong hoạt động kiểm toán của nước ta, hàng loạt các nhóm kiểm toán của các công ty lớn thuộc sở hữu nhà nước như AASC, VACO đã tách ra khỏi công ty thành lập rất nhiều công ty kiểm toán mới (AVA là một trong những công ty như vậy). Hơn nữa, với sự phát triển của thị trường chứng khoán, một số người cần sử dụng các thông tin đã được kiểm toán ngày càng tăng điều này đồng nghĩa với việc trách nhiệm pháp lý của các công ty ngày càng tăng. Trên cơ sở đó tạo ra một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, đòi hỏi các công ty kiểm toán phải không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán, giảm chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua hoàn thiện các chu trình kiểm toán. Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ công ty kiểm toán độc lập nào cũng là lợi nhuận, nhưng để đạt được mục tiêu này thì các công ty kiểm toán phải cung cấp cho thị trường dịch vụ kiểm toán tốt. Vì vậy, hoàn thiện quy trình kiểm toán báo cáo tài chính nói chung và chu kỳ bán hàng - thu tiền nói riêng là một yêu cầu tất yếu đối với các công ty kiểm toán. Hiện nay Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. Tiến trình hội nhập không chỉ về thị trường tài chính, thị trường tiền tệ nói chung mà còn cả mở cửa và phát triển thị trường dịch vụ kế toán và kiểm toán. Hơn nữa các nhà đầu tư trên thế giới khi đầu tư vào nước ta luôn cần đến những thông tin minh bạch, trung thực về tài chính và có tính so sánh khá chính xác về khoản mục đầu tư trên BCTC của các công ty. Chính vì thế thị trường kế toán và kiểm toán ở nước ta cũng phát triển mạnh mẽ để đáp ứng được xu thế hội nhập chung của đất nước hiện nay. Các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào thị trường mới thường cần những thông tin có tính so sánh cao. Để thông tin trên các báo cáo tài chính có tính so sánh đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài thì việc áp dụng các chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế là vô cùng cần thiết. Cho đến nay thì kế toán kiểm toán Việt Nam đã phát triển rất mạnh: có rất nhiều công ty kiểm toán ra đời, các chuẩn mực kế toán kiểm toán liên tục được sửa đổi, ban hành hướng dẫn áp dụng 26 chuẩn mực kế toán và 38 chuẩn mực kiểm toán để nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống chính sách kế toán, kiểm toán cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó việc thực hiện đổi mới hình thức và nội dung thi tuyển kiểm toán viên cấp quốc gia cũng đã được quan tâm chú trọng để nâng cao hơn nữa đội ngũ chất lượng kế toán, kiểm toán. Số lượng các công ty kiểm toán trong nước đã tăng lên một cách rất nhanh chóng. Các loại hình dịch vụ mà các công ty cung cấp ngày càng đa dạng, phong phú và đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu của người sử dụng thông tin tài chính. Thêm vào đó là sự xuất hiện của bốn công ty kiểm toán hàng đầu của Việt Nam đã chứng tỏ tiềm năng phát triển của lĩnh vực này là rất lớn. Khách hàng của các công ty kiểm toán cùng ngày càng gia tăng do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hợp tác phát triển kinh tế và sự ra đời của các khu công nghiệp. Vì vậy, việc các công ty kiểm toán cạnh tranh nhau để giành được những hợp đồng cung cấp dịch vụ có chất lượng là điều không thể tránh khỏi. Để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh, các công ty kiểm toán không có con đường nào khác là phải ngày càng nâng cao chất lượng dịch vụ, cải thiện đổi mới các thủ tục, quy trình kiểm toán sao cho đạt được hiệu quả cao nhất và tăng uy tín với khách hàng cũng như với bạn bè đồng nghiệp. Không những thế, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm toán ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các phần mềm kế toán, kiểm toán xuất hiện ngày càng nhiều đáp ứng tốt hơn nữa đặc trưng công việc của kiểm toán viên. Các công ty kiểm toán cũng cần phải nguyên cứu và lựa chọn cho mình phần mềm kiểm toán phù hợp để có thể giảm thiểu số lượng công việc mà KTV cần phải thực hiện mà vẫn đảm bảo chất lượng công việc và tránh tình trạng tụt hậu so với các công ty khác ngoài ngành. Trong mọi cuộc kiểm toán tài chính, chu kỳ bán hàng thu tiền bao giờ cũng là chu kỳ được coi trọng nhất đòi hỏi các KTV phải tập trung nhiều thời gian và chi phí. Kiểm toán chu kỳ này cũng chính là kiểm toán kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một công ty và góp phần đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Kết quả của chu kỳ này trên báo cáo tài chính là những chỉ tiêu mà thu hút được sự quan tâm của người sử dụng thông tin báo cáo tài chính. Có thể nói hoàn thiện kiểm toán chu kỳ bán hàng thu tiền là góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và thúc đẩy việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng của chu kỳ bán hàng thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính, ngay từ khi mới thành lập công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (AVA) đã nghiên cứu và xây dựng cho mình một chương trình kiểm toán chi tiết cụ thể và có điều chỉnh cho phù hợp với tình hình kinh doanh của từng khách hàng. Mục tiêu của công ty khi kiểm toán chu kỳ không chỉ là phát hiện ra sai sót mà còn phải đưa ra các ý kiến tư vấn cho khách hàng để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của khách hàng. Chính vì thế mà chương trình kiểm toán của công ty ngày càng được hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu hiện nay. 3.2 NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TY 3.2.1 Thực trạng của Công ty Trong thời gian qua, Công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định, khẳng định vị trí của mình trên thị trường kiểm toán Việt Nam. Nhờ có phương pháp kiểm toán khoa học và bài bản, đội ngũ Ban Giám đốc giàu kinh nghiệm và nhiệt huyết cùng với đội ngũ nhân viên giỏi chuyên môn nên công ty không chỉ gây được uy tín với khách hàng mà còn cả với bạn bè và đồng nghiệp. Điều này thể hiện rõ ở khối lượng khách hàng và chất lượng kiểm toán của công ty. Phương pháp kiểm toán mà công ty áp dụng dựa trên cơ sở lý thuyết kiểm toán, tuân thủ các chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế cũng như ở Việt Nam, dựa vào cơ sở đặc điểm hoạt động kinh doanh của khách hàng. Công ty đã và đang đóng góp vào sự phát triển của kế toán và kiểm toán Việt Nam. Về phương pháp tiếp cận khách hàng: Luôn nhận thức rõ mở rộng thị trường là mục tiêu hàng đầu, Công ty rất nhanh nhạy và chủ động trong tìm kiếm khách hàng mới. Khi tìm hiểu và biết khách hàng có nhu cầu kiểm toán, Công ty tiến hành gửi thư chào hàng trong đó bày tỏ nguyện vọng được kiểm toán, giới thiệu tổng quan về Công ty kiểm toán AVA, kinh nghiệm của Công ty trong hoạt động cung cấp các dịch vụ chuyên ngành… Còn đối với khách hàng truyền thống, Công ty luôn không ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán để khách hàng ngày càng tin cậy và tiếp tục mời Công ty kiểm toán vào năm sau. Có thể thấy cách thức tiếp cận khách hàng của Công ty nhanh chóng, chủ động và hiệu quả. Nhờ vậy tiết kiệm được thời gian và chi phí, thị trường ngày càng mở rộng. Tuy nhiên, Công ty cũng rất thận trọng khi tiếp nhận khách hàng. Nếu trong quá trình tìm hiểu nhận thấy Công ty khách hàng có những điểm bất thường như làm ăn phi pháp … thì Công ty kiên quyết từ chối cung cấp dịch vụ. Về lập kế hoạch và thiết kế chương trình kiểm toán bán hàng – thu tiền: Để đánh giá hệ thống KSNB trong kế toán và bán hàng, Công ty đã thiết lập Bảng câu hỏi đánh giá hệ thống KSNB khá chặt chẽ, các câu hỏi tập trung vào các vấn đề quan trọng, do vậy giúp KTV có thể tiến hành nhanh chóng và không bỏ sót. Chương trình kiểm toán khoản mục doanh thu được thiết kế chi tiết và tương đối đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho KTV khi tiến hành.Tuy chương trình kiểm toán được thiết kế theo mẫu sẵn nhưng không cứng nhắc do trong quá trình thực hiện kiểm toán, tùy vào đặc điểm cụ thể của từng khách hàng mà KTV có những thay đổi cho phù hợp. Về kiểm soát chất lượng kiểm toán: Quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán tại Công ty được thiết lập khá chặt chẽ, theo ba cấp với sự phân công phân nhiệm rõ ràng: Trưởng nhóm kiểm toán, Lãnh đạo phòng, Ban giám đốc. Kết thúc quá trình kiểm toán, trưởng nhóm có trách nhiệm soát xét các tổng hợp công việc của KTV, xem xét lại các bằng chứng kiểm toán đã thu thập cùng các nhận xét đánh giá của các KTV khác để đảm bảo tính chính xác của kết luận kiểm toán, sau đó chuyển Hồ sơ kiểm toán lên Lãnh đạo phòng. Lãnh đạo phòng có nhiệm vụ soát xét lại Hồ sơ kiểm toán trước khi trình lên Ban Giám đốc. Ban Giám đốc là người soát xét cuối cùng và quyết định việc phát hành Báo cáo kiểm toán. Do được kiểm soát chặt chẽ như vậy nên chất lượng hoạt động kiểm toán của Công ty đã tạo được sự tin tưởng và đánh giá cao nơi khách hàng. Về ghi chép, lưu trữ giấy làm việc, Hồ sơ kiểm toán : Trong quá trình tiến hành kiểm toán, KTV thể hiện các công việc mình đã thực hiện trên các GLV. Do vậy, GLV có vai trò rất quan trọng, là cơ sở đảm bảo bằng chứng có tính thuyết phục cao. Nhận thức rõ điều đó nên tại Công ty việc ghi chép và lưu trữ GLV được thực hiện nghiêm túc và khoa học. GLV của khách hàng nào lưu vào file của khách hàng đó theo trình tự ký hiệu tham chiếu Công ty đã quy ước. Ngoài gáy file ghi rõ tên khách hàng, tên hồ sơ là Hồ sơ kiểm toán BCTC, năm được kiểm toán, số thứ tự của file/tổng số file, bộ phận quản lý hồ sơ, rất thuận tiện cho việc tìm kiếm khi cần. Các GLV trong một phần hành được đánh ký hiệu tham chiếu rõ ràng, tham chiếu đến các vấn đề có liên quan, giúp người đọc dễ dàng theo dõi. Các ký hiệu viết tắt giải thích các thủ tục kiểm toán đã thực hiện được ghi bằng mầu mực khác với màu mực ghi chép số liệu để dễ nhận biết. Cách ghi chép, sắp xếp theo trật tự, logic, khoa học này đảm bảo cho những đối tượng khác – không trực tiếp thực hiện kiểm toán – vẫn có thể nắm bắt, tra cứu một cách dễ dàng. Trong quá trình thực hiện kiểm toán, KTV luôn luôn tuân thủ Chuẩn mực kế toán, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và chuẩn mực kiểm toán quốc tế được thừa nhận ở Việt Nam. Đội ngũ nhân viên năng động, nhiệt tình, yêu nghề, có trình độ, chuyên môn cao và nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm toán. Nhận thức rõ tầm quan trọng của đội ngũ KTV nên Công ty rất chú trọng vấn đề đào tạo bồi dưỡng nhân tố này thông qua các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện, tài trợ cho nhân viên học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ như học ACCA, học cao học… 3.3.2 Những điểm còn hạn chế trong quy trình kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền của Công ty Thu thập thông tin cơ sở về khách hàng là một bước công việc quan trọng tuy nhiên do bị giới hạn về thời gian kiểm toán nên KTV chỉ có thể thu thập những thông tin này thông qua trao đổi trực tiếp với nhân viên, Ban giám đốc của khách hàng mà ít có thời gian tìm hiểu, nghiên cứu các sách báo, tạp chí chuyên ngành, Internet… cũng như quan sát trực tiếp hoạt động kinh doanh của khách hàng. Do vậy các thông tin thu thập không được khách quan. Gửi thư xác nhận là một thủ tục kiểm toán hiệu quả, mang lại bằng chứng có độ tin cậy cao và rất cần thiết khi kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền nhưng tại Công ty, thủ tục này không được KTV áp dụng do giới hạn về chi phí và thời gian kiểm toán. Thử nghiệm kiểm soát là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB. Cụ thể, các bằng chứng kiểm toán phải chứng minh được rằng các hoạt động kiểm soát cụ thể mà khách hàng thiết lập đối với bộ phận kế toán và bộ phận bán hàng – thu tiền có thích hợp để ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu và trong thực tế các hoạt động kiểm soát này có được triển khai theo đúng yêu cầu của thiết kế không. Nếu phát hiện qua kiểm tra trùng với đánh giá ban đầu về hệ thống KSNB trong kế hoạch kiểm toán thì giữ nguyên các thủ tục kiểm toán theo kế hoạch. Ngược lại, có thể cần thay đổi lại đánh giá hệ thống KSNB trong kế hoạch và mở rộng phạm vi của các thử nghiệm cơ bản. Như vậy, có thể thấy thử nghiệm kiểm soát là một phần công việc rất quan trọng. Tuy nhiên tại Công ty, thủ tục này không được thực hiện. Thủ tục phân tích là một phần công việc hiệu quả, kết quả thực hiện thủ tục này có thể làm giảm các kiểm tra chi tiết khác, do vậy tiết kiệm được thời gian cho KTV. Mặc dù tại Công ty khi thiết kế chương trình kiểm toán đã xây dựng quy trình phân tích khá chi tiết, tuy nhiên khi thực hiện kiểm toán chu kỳ bán hàng thu tiền, các KTV chủ yếu thực hiện phân tích xu hướng, chủ yếu chỉ so sánh số liệu (doanh thu, các khoản giảm trừ…) kỳ này với kỳ trước mà chưa chú trọng một số thủ tục phân tích khác: So sánh dữ kiện của Công ty khách hàng với dữ kiện của ngành, phân tích các tỷ suất như: Tỷ lệ lãi gộp, Vòng quay HTK, Vòng quay các khoản phải thu… Ngoài ra, theo CMKT Việt Nam số 520, thủ tục phân tích được thực hiện trong cả 3 giai đoạn của cuộc kiểm toán: Lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng thể cuộc kiểm toán. Nhưng thực tế tại Công ty, thủ tục phân tích chỉ được thực hiện trong giai đoạn thực hiện kiểm toán. Chu kỳ Bán hàng và thu tiền tại Công ty gồm rất nhiều nghiệp vụ, tất nhiên KTV không thể kiểm tra hết tất cả mà phải tiến hành chọn mẫu. Chọn mẫu kiểm toán là một bước công việc cần thiết, đòi hỏi phải được thực hiện khoa học và hợp lý. Tuy nhiên, khi tiến hành kiểm toán, các KTV chủ yếu dựa vào xét đoán nghề nghiệp và kinh nghiệm của bản thân để chọn mẫu theo nguyên tắc: Tập trung vào các nghiệp vụ bất thường hoặc phát sinh với giá trị lớn. Cách chọn mẫu này có thể không đại diện cho tổng thể, có thể xảy ra sai phạm ở các khoản mục có giá trị trung bình nhưng ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC. Khi đánh giá hệ thống KSNB, tại Công ty mới chỉ áp dụng Bảng câu hỏi đánh giá hệ thống KSNB. Bảng này được thiết kế chung nên không được phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp trong khi mạng lưới khách hàng của Công ty rất đa dạng. 3.3 MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT Qua nghiên cứu và tìm hiểu kiểm toán chu kỳ bán hàng thu tiền tại công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, em thấy quy trình này đã được công ty chú trọng thực hiện. Tuy nhiên còn một số bất cập nhất định. Sau đây em xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị để nâng cao chất lượng kiểm toán. 3.3.1. Về phía công ty 3.3.1.1 Về sự thiếu hụt của kiểm toán viên Lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp cho cuộc kiểm toán không chỉ hướng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn tuân thủ các Chuẩn mực Kiểm toán chung được thừa nhận (GAAS). Chuẩn mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ “Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo như một KTV”. Việc lựa chọn này được tiến hành trên yêu cầu về số người, trình độ khả năng và yêu cầu chuyên môn kỹ thuật và thường do Ban Giám đốc Công ty Kiểm toán trực tiếp chỉ đạo. Quan điểm của các nhà quản lý của công ty là tuyển các trợ lý kiểm toán viên để đào tạo lại từ đầu cho thật bài bản nên hiện nay tại Công ty số lượng kiểm toán viên không nhiều. Sự thiếu hụt này đã làm tăng thêm áp lực và khối lượng công việc với các KTV khi mà các hợp đồng kiểm toán ngày càng gia tăng mà số lượng các KTV không đổi. Hơn nữa sự thiếu hụt này đôi khi cũng gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc phân công công việc cho các kiểm toán viên. Những áp lực bởi khối lượng công việc này cũng làm tăng rủi ro tồn tại sai sót trong công việc kiểm toán. Mặc dù công ty có đội ngũ kiểm toán viên giàu kinh nghiệm và được đào tạo chính quy song so với quy mô của công ty thì số lượng KTV còn quá thấp. Tính trung bình cứ một cuộc kiểm toán tại một khách hàng thì chỉ có một kiểm toán viên trên 3 trợ lý kiểm toán tỷ lệ là 33.3%, trong khi khối lượng công việc cần tiến hành là vô cùng lớn. Điều này có thể dẫn tới việc các thủ tục kiểm toán cần thiết sẽ bị bỏ qua đồng nghĩa với việc có thể có những gian lận, sai sót trọng yếu của khách hàng mà KTV không phát hiện được, dẫn đến việc không đạt được các mục tiêu trong kiểm toán báo cáo tài chính nói chung cũng như kiểm toán chu kỳ bán hàng nói riêng. Nguyên nhân chủ yếu do công ty mới thành lập nên chưa có đủ nhân lực phục vụ cho việc kiểm toán. Với định hướng tăng quy mô Công ty cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp trong thời gian tới, theo em công ty nên tuyển thêm các kiểm toán viên từ bên ngoài để bù đắp sự thiếu hụt này và đảm bảo cho chất lượng công việc kiểm toán. Sự tăng lên của số lượng KTV không chỉ giảm bớt áp lực công việc cho các KTV hiện tại mà còn có khả năng tăng uy tín và vị thế của công ty trên thị trường nếu công ty thu hút được những KTV giàu kinh nghiệm. 3.3.1.2. Về phương pháp chọn mẫu Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 530, lấy mẫu kiểm toán và các thủ tục lựa chọn khác: “Khi thiết kế các thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định được các phương pháp phù hợp để lựa chọn phần tử thử nghiệm nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán thoả mãn mục tiêu kiểm toán”. Phương pháp chọn mẫu thích hợp sẽ giúp KTV thu thập bằng chứng đầy đủ có hiệu lực với chi phí thấp nhất. Phương pháp chọn mẫu thích hợp sẽ giúp KTV thu thập bằng chứng đầy đủ có hiệu lực với chi phí thấp nhất. Phương pháp chọn mẫu phải đảm bảo tất cả các đơn vị lấy mẫu trong tổng thể đều có cơ hội được chọn như nhau. Và KTV có thể chọn mẫu theo đơn vị hiện vật hoặc tiền tệ để chọn ra những mẫu mang tính đại diện và mang những đặc trưng cơ bản của tổng thể. Quy mô mẫu được lựa chọn cũng là vấn đề rất quan trọng. Do hạn chế về mặt thời gian và chi phí nên KTV không thể kiểm tra được toàn bộ tổng thể. Mặt khác dù KTV có tiến hành kiểm tra toàn bộ tổng thể thì rủi ro kiểm toán vẫn không được loại trừ. Để tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể mà vẫn đảm bảo thu thập được căn cứ vững chắc làm cơ sở ra kết luận kiểm toán chính xác, quy mô mẫu chọn thường được chọn ra từ phương pháp chọn mẫu xác suất và phi xác suất. Tại công ty, các mẫu được lựa chọn chủ yếu theo phán đoán, kinh nghiệm làm việc của kiểm toán viên và theo đơn vị tiền tệ. Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện và hướng vào các nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro cao và ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC. Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là chỉ các KTV có được óc xét đoán nghề nghiệp chính xác mới áp dụng được còn đối với các trợ lý kiểm toán thiếu kinh nghiệm việc sử dụng phương pháp này sẽ tiềm ẩn rủi ro sai phạm cao. Hơn nữa, mẫu được chọn là những khoản mục có giá trị lớn và chiếm 70% giá trị tổng thể và bỏ qua những khoản mục khác. Điều này có khả năng sẽ dẫn đến việc bỏ sót những sai phạm tiềm ẩn trong những khoản mục bị bỏ qua vì những khoản mục bị bỏ qua mặc dù có giá trị nhỏ nhưng lặp đi lặp lại có hệ thống và có tác động dây truyền hoặc tác động tổng hợp gây ra các sai phạm trọng yếu. Vì vậy để có thể chọn được những mẫu có tính đại diện làm căn cứ cho công việc kiểm toán, các công ty nên sử dụng nhiều phương pháp chọn mẫu khác nhau. Công ty có thể sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên vì trường hợp quy mô tổng thể lớn, không thể kiểm tra chi tiết hết được thì phương pháp này sẽ cho kết quả là quy mô mẫu mang tính đặc trưng không bị ảnh hưởng bởi phán đoán nghề nghiệp chủ quan của các KTV. Hoặc công ty có thể kết hợp cả chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu theo phán đoán của KTV để không bỏ qua những mẫu mà KTV nghi ngờ có những dấu hiệu bất thường và tiềm ẩn rủi ro sai phạm cao. Ngược lại khi tổng thể lựa chọn được một số lượng lớn các giá trị bằng nhau hoặc chưa có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng sai phạm, KTV có thể áp dụng phương pháp chọn mẫu đại diện hoặc theo các phần mềm chọn mẫu nhằm đảm bảo tính khách quan. Ngoài ra Công ty cũng có thể lựa chọn các tiêu chuẩn khác để chọn mẫu mà không nên quá chú trọng vào giá trị của các phần tử trong tổng thể hoặc chọn mẫu dựa vào phần mềm chuyên dụng để chọn mẫu có tính đại diện, tiết kiệm thời gian và chi phí và giảm thiểu các sai sót trong chọn mẫu. 3.3.1.3. Về xác định trọng yếu trong kiểm toán Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 320: “Mục tiêu của kiểm toán BCTC là để KTV và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận xem BCTC có được lập trên cơ sở Chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không”. Việc xác định tính trọng yếu mang tính xét đoán nghề nghiệp của KTV. Để đánh giá sai sót trọng yếu, KTV cần phải quan tâm đến cả hai mặt định lượng và định tính của sai sót. KTV cũng cần xem xét những khả năng có nhiều sai sót là tương đối nhỏ nhưng tổng hợp lại có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC. Mức độ trọng yếu phải được kiểm toán viên đánh giá cho toàn bộ báo cáo tài chính và phân bổ mức đánh giá đó cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính. Công ty AVA thực hiện tính toán mức độ trọng yếu trên cơ sở các tiêu chuẩn để tính thường bao gồm lợi nhuận trước thuế trong điều kiện hoạt động kinh doanh bình thường hoặc tổng vốn chủ sở hữu, tuỳ thuộc vào nhận định của kiểm toán viên về sự phức tạp trong hoạt động kinh doanh của khách hàng. Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu làm cơ sở để kiểm toán viên xác định số dư cần phải quan tâm kiểm tra và số lượng các bút toán điều chỉnh cần thiết. Tuy nhiên, công ty AVA lại không phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính mà chỉ tính toán một mức trọng yếu chung cho tất cả các khoản mục và tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của khoản mục có thể điều chỉnh mức độ trọng yếu cho phù hợp. Việc không xác định tổng gộp mức trọng yếu đã giảm độ chính xác tương đối của giá trị trọng yếu cho các khoản mục đó và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán của Công ty. Công ty nên xác định mức độ trọng yếu chi tiết kỹ lưỡng hơn cho từng khoản mục đặc biệt là những khoản mục quan trọng trong chu kỳ bán hàng và thu tiền. Trong quá trình tìm hiểu về chu kỳ, KTV có thể thực hiện đánh giá mức độ trọng yếu để tránh bỏ sót những tác động tổng hợp có thể gây ảnh hưởng trọng yếu đến kết quả trên báo cáo tài chính. 3.3.1.4. Về việc sử dụng bảng hỏi trong tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ đối với chu kỳ bán hàng và thu tiền Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ là công việc hết sức quan trọng mà bất kỳ KTV và công ty kiểm toán nào cũng phải thực hiện trong cuộc kiểm toán. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400, Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, hiểu biết đầy đủ về hệ thống KSNB sẽ trợ giúp cho KTV trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương trình kiểm toán một cách thích hợp và có hiệu quả. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động có hiệu quả và đáng tin cậy, KTV có thể giảm thiểu các trắc nghiệm cơ bản và ngược lại. Cũng theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400, để mô tả về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, KTV và công ty kiểm toán có thể sử dụng một trong ba cách là bảng tường thuật, lưu đồ và bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ. Ba hình thức này được sử dụng kết hợp để ghi nhận lại đầy đủ và chi tiết những hiểu biết của KTV về hệ thống KSNB của khách hàng. Trong quá trình tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của chu kỳ bán hàng và thu tiền của khách hàng, Công ty AVA mới chỉ áp dụng nhất quán giữa các cuộc kiểm toán. Với hình thức bảng câu hỏi, Công ty có thực hiện đánh giá thủ tục kiểm toán cấp 2 bằng cách phỏng vấn các nhân viên có liên quan nhưng câu hỏi phỏng vấn không được công ty lưu trữ lại dưới dạng văn bản. Việc sử dụng bảng tường thuật giúp cho việc mô tả hệ thống KSNB dễ dàng và giúp người xem dễ hiểu. Tuy nhiên, bản tường thuật không cho người đọc thấy được tổng quan vấn đề cần xem xét và không thấy được mối liên hệ giữa các phần. Để khắc phục nhược điểm này, Công ty nên ban hành những quy định cụ thể về việc bắt buộc các KTV và trợ lý kiểm toán phải sử dụng lưu đồ, bản mô tả kết hợp với bảng câu hỏi khi tìm hiểu về hệ thống KSNB của khách hàng. Công ty nên xây dựng bảng câu hỏi bao gồm các câu hỏi đóng với phương án trả lời “Có/Không” vừa tiết kiệm thời gian mà vẫn thu thập được các thông tin cần thiết. Ưu điểm của phương pháp này là không bỏ sót các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp do đã được chuẩn bị trước nhưng nó có nhược điểm không phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp. 3.3.1.5. Về việc thực hiện các thủ tục phân tích Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỉ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520: “Kiểm toán viên phải thực hiện quy trình phân tích khi lập kế hoạch kiểm toán và giai đoạn soát xét tổng thể về cuộc kiểm toán. Quy trình phân tích cũng được thực hiện ở các giai đoạn khác trong quá trình kiểm toán. Khi thực hiện quy trình phân tích, KTV có thể so sánh các thông tin tài chính tương ứng kỳ này với kỳ trước, thực tế với kế hoạch của khách hàng, thực tế với ước tính của KTV, thực tế của đơn vị với các đơn vị khác cùng ngành. Áp dụng thủ tục phân tích cũng cho KTV thấy được mối quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau hoặc giữa thông tin tài chính và phi tài chính”. Trong quá trình sử dụng thủ tục phân tích, KTV được phép sử dụng nhiều phương pháp khác nhau từ việc so sánh đơn giản đến những phân tích phức tạp đòi hỏi phải sử dụng các kỹ thuật thống kê tiên tiến. Việc lựa chọn quy trình phân tích, phương pháp và mức độ áp dụng tuỳ thuộc vào sự xét đoán chuyên môn của KTV. Tuy nhiên, KTV cũng cần xem xét các yếu tố sau: Mục tiêu phân tích và độ tin cậy của kết quả thu được, đặc điểm của đơn vị và mức độ chi tiết hoá thông tin, tính thích đáng của các thông tin, nguồn gốc của các thông tin và khả năng so sánh của thông tin. Thực tiễn kiểm toán tại Công ty AVA, thủ tục phân tích được các KTV sử dụng rất nhiều nhưng chủ yếu là áp dụng phân tích xu hướng mà không sử dụng phân tích qua các tỉ suất tài chính. Việc áp dụng thủ tục phân tích xu hướng cũng chỉ là so sánh thông tin tài chính năm nay với năm trước đó và so sánh thực tiễn của đơn vị với ước tính của kiểm toán viên. Đối với chu kỳ bán hàng và thu tiền, KTV thực hiện so sánh doanh thu, các khoản phải thu và tiền hàng thu được năm nay với các năm trước đó. Đồng thời KTV cũng tính toán lại doanh thu để có so sánh với số liệu của đơn vị. Áp dụng thủ tục phân tích chưa cho KTV thấy được mối quan hệ giữa các thông tin tài chính và phi tài chính như mối quan hệ giữa doanh thu và sản lượng hàng bán ra. Vì vậy để tăng cường số lượng thông tin thu thập được từ thủ tục phân tích cũng như giảm thiểu chi phí, tiết kiệm thời gian mà vẫn đảm bảo phát hiện được những bất thường, Công ty AVA nên áp dụng thêm thủ tục phân tích tỉ suất. Đối với chu kỳ bán hàng và thu tiền, Công ty nên chú trọng các chỉ tiêu như: Tỉ lệ dự phòng nợ phải thu khó đòi/tổng số dư các khoản phải thu, tỉ lệ doanh thu hàng bán bị trả lại, tỉ lệ doanh thu giảm giá hàng bán, tỉ lệ chiết khấu thanh toán, tỉ lệ lãi gộp/tổng doanh thu và so sánh với mặt bằng chung của ngành và của các doanh nghiệp cùng quy mô sẽ cung cấp cho KTV những đánh giá chính xác nhất về thực trạng hoạt động kinh doanh của khách hàng và phát hiện ra những chênh lệch lớn so với số liệu dự tính. Trong trường hợp đó, KTV phải thực hiện các thủ tục điều tra để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp. Bên cạnh việc áp dụng phân tích tỉ suất với các thông tin tài chính, Công ty cũng nên xây dựng các mô hình phân tích để thấy được mối quan hệ giữa thông tin tài chính và phi tài chính như so sánh doanh thu bán hàng trong mối quan hệ với số lượng nhân viên bán hàng để đánh giá xem doanh thu tăng lên có phải do số lượng nhân viên bán hàng tăng lên hay do mỗi nhân viên bán hàng đã bán được nhiều hàng hoá, dịch vụ hơn. Hoặc so sánh doanh thu bán hàng trong số lượng với sản lượng hàng bán ra để đánh giá nguyên nhân doanh thu tăng lên là do số lượng hàng bán ra tăng lên hay do giá bán của các hàng hóa đã tăng lên. Để có thể thực hiện được việc so sánh kết quả kinh doanh của khách hàng với các doanh nghiệp cùng ngành thì công ty AVA nên thường xuyên thu thập thêm thông tin về các số liệu liên quan đến ngành, lĩnh vực hoạt động của khách hàng. Các số liệu này sẽ giúp KTV thực hiện các thủ tục phân tích một cách dễ dàng, giảm thiểu thời gian thu thập các thông tin này. Mặt khác các số liệu này không chỉ hữu ích cho một chu kỳ hay một khoản mục cụ thể nào mà còn có thể sử dụng cho những chu kỳ, khoản mục khác và sử dụng ở những năm kiểm toán tiếp theo. Vì vậy, Công ty cũng nên lưu trữ những thông tin này phục vụ cho mục đích sử dụng sau này của KTV. 3.3.2. Kiến nghị với các cơ quan chức năng Hoàn thiện kiểm toán, ngoài sự nỗ lực của bản thân mỗi công ty cũng cần có sự nỗ lực của cả các cơ quan chức năng và đặc biệt là các cơ quan pháp lý. Hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán được ví như “Kim chỉ nam” cho hoạt động của các công ty kiểm toán. Đặc biệt trước ngưỡng của hội nhập kinh tế thế giới, lĩnh vực kiểm toán của Việt Nam còn quá non trẻ thì việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán là vô cùng quan trọng và cần thiết. Trong những năm gần đây, hoạt động kiểm toán của Việt Nam đã được sự quan tâm sâu sắc từ phía Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài Chính. Cho đến nay, Bộ Tài Chính đã ban hành được 26 Chuẩn mực về Kế toán, 38 Chuẩn mực về Kiểm toán, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định trong đó đáng chú ý nhất là Nghị Định 105/2004/NĐ-CP về hoạt động kiểm toán độc lập và Quốc hội thông qua Luật Kế toán. Vai trò của hoạt động Kiểm toán ngày càng được xã hội coi trọng và đánh giá cao. Việc hoàn thiện khung pháp lý về kế toán, kiểm toán đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần tạo ra môi trường minh bạch, bình đẳng cho hoạt động của các doanh nghiệp. Tuy nhiên hoạt động kiểm toán của chúng ta vẫn còn nhiều điểm cần phải khắc phục. Các văn bản kiểm toán vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện, chưa theo kịp với đà phát triển nhanh chóng của loại hình dịch vụ mới này. Số lượng văn bản pháp lý được ban hành nhiều nhưng đôi khi nội dung chưa nhất quán với nhau, nhiều văn bản quy định ra đời và phải mất thời gian rất lâu mới ra được văn bản hướng dẫn nêu đã gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tìm hiểu và áp dụng. Đặc biệt việc áp dụng Chuẩn mực quốc tế về kế toán và kiểm toán Việt Nam gặp rất nhiều trở ngại khi hai hệ thống này chưa hài hoà và nhất quán. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển hiện nay các cơ quan Nhà nước nên quan tâm hơn nữa đến hoạt động kiểm toán nhằm không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động, góp phần làm minh bạch hoá nền tài chính đất nước. Em xin mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị sau: - Nhà nước và cơ quan chức năng cần soát xét, kiện toàn lại hệ thống chính sách, đảm bảo sự đồng bộ thống nhất trong các văn bản ban hành. Bên cạnh đó Quốc Hội và Chính Phủ cũng cần ban hành đủ các văn bản quy phạm pháp luật để hoàn thiện hệ thống các văn bản của Việt Nam. - Tăng cường các hoạt động đào tạo để gia tăng về số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ KTV đáp ứng sự thiếu hụt trầm trọng số lượng KTV hiện nay. - Rút ngắn sự khác biệt giữa Chuẩn mực Kế toán và Kiểm toán của Việt Nam và thế giới, tạo sự hài hoà, thống nhất giữa hai hệ thống văn bản pháp lý này để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Khi hệ thống văn bản đã được kiện toàn, đầy đủ cùng với sự quan tâm các cơ quan chức năng chắc chắn hoạt động Kiểm toán Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ và sự tự chủ trước thềm hội nhập quốc tế. 3.4 MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN THEO CÁC Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 3.4.1 Về phía các cơ quan Nhà nước Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, để tiếp tục tạo điều kiện cho việc thực hiện lộ trình hội nhập quốc tế về lĩnh vực kế toán, kiểm toán được thuận lợi, khuyến khích các hãng kiểm toán trong và ngoài nước hoạt động tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước cần thực hiện các biện pháp cụ thể sau: Một là, hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý cho quá trình hội nhập quá trình kiểm toán tại Việt Nam trên cơ sở phù hợp với các thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế tại Việt Nam. Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán, làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động kiểm toán tại Việt Nam. Ba là, cải tiến các chương trình đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ kế toán, kiểm toán để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của quá trình hội nhập. Bốn là, đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị kỹ thuật, các phần mềm kiểm toán chuyên dụng để giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm toán. 3.4.2 Về phía hiệp hội kế toán và kiểm toán Các hiệp hội kế toán và kiểm toán cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng các cuộc kiểm toán BCTC. Hiệp hội nghề nghiệp, nơi tập trung của các KTV giàu kinh nghiệm và có trình độ cao chính là cơ sở cho hoạt động kế toán, kiểm toán tại các quốc gia mà các hiệp hội này hoạt động. Tại Việt Nam, Hiệp hội kế toán, kiểm toán Việt Nam từ khi thành lập vẫn luôn là nơi quy tụ các KTV giàu kinh nghiệm, nơi trao đổi kiến thức nghề nghiệp và cập nhật các tài liệu, văn bản mới liên quan đến hoạt động kế toán, kiểm toán. Các hiệp hội kế toán, kiểm toán nên tiếp tục tổ chức nhiều chương trình đào tạo để nâng cao trình độ các KTV, tổ chức nhiều buổi giao lưu để các KTV trong và ngoài nước có nhiều cơ hội gặp mặt, trao đổi kinh nghiệm. 3.4.3 Về phía công ty TNHH tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam (AVA) Công ty kiểm toán phải tuân thủ nguyên tắc và đạo đức nghề nghiệp: Công ty và tất cả các nhân viên của mình phải tuân thủ các nguyên tắc về tính độc lập, tính chính trực, khách quan, bảo mật các quy định chung và tư cách nghề nghiệp. Kỹ năng và năng lực chuyên môn: Công ty cần tuyển những nhân viên có năng lực và sau đó là đào tạo tốt và thường xuyên về chuyên môn. Nhân viên phải nắm vững các văn bản pháp luật, các quy định liên quan đến ngành nghề. Đồng thời, tuyệt đối tuân thủ nội dung và trình tự công việc được xây dựng và áp dụng cho các cuộc kiểm toán cụ thể. Duy trì và chấp nhận khách hàng: Danh tiếng của công ty phụ thuộc vào khách hàng mà công ty phục vụ, sự đánh giá thấu đáo về khách hàng tiềm năng và việc thường xuyên đánh giá lại khách hàng đang có là một phần việc hết sức quan trọng. Thường xuyên kiểm tra tính hiệu quả của các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng hoạt động của công ty. 3.4.4: Về phía khách hàng Các doanh nghiệp cần phải thấy được kiểm toán là cần thiết: Quy mô thị trường kiểm toán hiện nay còn nhỏ, chưa xứng với tiềm năng và tốc độ phát triển kinh tế xã hội. Các doanh nghiệp cần phải tự nhận thấy kiểm toán là cần thiết, BCTC sau kiểm toán sẽ là bằng chứng xác thực thể hiện sự trung thực, chính xác của thông tin, giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh. Tôn trọng hoạt động kiểm toán: Bản thân khách hàng hiện nay còn quá coi trọng tiêu thức giá phí, thường chú trọng tiêu thức giá phí thấp để lựa chọn công ty kiểm toán. Vì vậy để tồn tại và phát triển các công ty kiểm toán cũng phải chiều theo khách hàng, điều này đặc biệt nghiêm trọng khi KTV thiếu bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp. Khách hàng cần tôn trọng hoạt động kiểm toán hơn và lựa chọn sáng suốt các doanh nghiệp kiểm toán để có được những BCTC trung thực nhất. Tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình để KTV hoàn thành nhiệm vụ: Nhiều nhân viên trong các đơn vị khách hàng thường tỏ thái độ thiếu tích cực đối với KTV, gây khó khăn trong việc cung cấp tài liệu cho KTV làm cho công việc kiểm toán mất nhiều thời gian và công sức. Vì vậy các khách hàng cần có thái độ tích cực và trung thực trong trả lời phỏng vấn và cung cấp tài liệu cho KTV. Giúp đỡ KTV sẽ giúp quá trình kiểm toán nhanh hơn, tiết kiệm chi phí và đưa ra BCTC trung thực, hợp lý nhất. KẾT LUẬN Nền kinh tế thị trường phát triển kết hợp với quá trình hội nhập quốc tế đã thúc đẩy hoạt động kiểm toán ra đời và phát triển nhanh chóng, nhất là khi nước ta mới ra nhập WTO đặt ra một thách thức lớn và cơ hội lớn đối với nghề kiểm toán. Hiện nay tại Việt Nam có rất nhiều công ty kiểm toán, các loại hình dịch vụ mà các công ty cung cấp cũng rất đa dạng không chỉ giới hạn ở dịch vụ kế toán, kiểm toán mà còn cả các dịch vụ tư vấn thuế, tư vấn nguồn nhân lực, tư vấn pháp lý. Nhưng hoạt động chủ đạo mà các công ty kiểm toán tập trung và phát triển là dịch vụ kiểm toán tài chính. Mục tiêu của kiểm toán tài chính là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực hợp lý tình hình tài chính trên các khía cạnh trọng yếu. Công ty TNHH Tư vấn kế toán và kiểm toán Việt Nam tuy mới thành lập nhưng đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển của Kiểm toán Việt Nam. Trong thời gian thực tập tại công ty em đã tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của công ty và đi sâu vào nghiên cứu chu kỳ bán hàng - thu tiền trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty thực hiện. Vì thời gian có hạn nên quá trình tìm hiểu nắm bắt vấn đề không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự xem xét đóng góp của các thầy cô cùng quý Công ty để có thể hiểu sâu sắc hơn về công tác kế toán, kiểm toán và tình hình hoạt động kinh doanh của công ty. Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phạm Tiến Hưng cùng các anh chị trong công ty đã quan tâm giúp em hoàn thành đề tài luận văn của mình. Sinh viên VŨ THỊ NGA TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lý thuyết kiểm toán - Giáo trình Học viện Tài chính. 2. Kiểm toán tài chính - Giáo trình ĐH Học viện Tài chính 3. Điều lệ thành lập Công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam. 4. Quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán công ty AVA - tài liệu công ty. 5. File kiểm toán báo cáo tài chính công ty cổ phần sông Đà 12 – Cao Cường. 6. Tạp chí kế toán, kiểm toán. 7. Chuẩn mực kế toán, kiểm toán. 8. 9.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHoàn thiện quy trình kiểm toán chu kỳ Bán hàng và thu tiền trong kiểm toán Báo cáo tài chính do công ty TNHH Tư Vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam thực.doc
Luận văn liên quan