Luận văn Hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình

Công tác thanh toán cần được bổ xung, tiêu chuẩn hoá các công cụ thanh toán theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, bỏ việc phát hành và sử dụng ngân phiếu thanh toán, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư, áp dụng những công nghệ tiên tiến trong thanh toán, phát tri ển thẻ thanh toán điện tử, cải tiến thanh toán séc. Hoàn thiện và nâng cao thanh toán bù trừ trong địa bàn, ứng dụng thanh toán điện tử, chuyển tiền điện tử. Sự gọn nhẹ, chính xác và kịp thời trong công tác thanh toán sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng.

pdf68 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 1749 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uả và an toàn, sau đó Ngân hàng sẽ bảo lãnh nếu như họ chấp nhận những yêu cầu của Ngân hàng. Đó là cơ hội để Ngân hàng thực hiện tốt hoạt động bảo lãnh cho khách hàng. Ngoài ra, NHCT Việt Nam đã qui định mức phí tối thiểu và đưa ra một khung phí bảo lãnh cho các ngân hàng và cho phép mỗi ngân hàng tự quyết định mức phí theo thực lực và quan hệ tín dụng của ngân hàng chi nhánh. 2.1. Doanh số hoạt động bảo lãnh Bảng2: Doanh số các nghiệp vụ tín dụng của NHCT Ba Đình năm 2003 và 2004. đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 So sánh 04- 03(%) Giá trị Tỷ trọng (%) Giá trị Tỷ trọng (%) Bảo lãnh 574,3 24,59 568 22,54 - 2,05 Cho vay 1703 72,92 1894 75,18 2,26 Chiết khấu 58,2 2,49 57,4 2,28 - 0,21 Cho thuê tài chính 0 0 0 0 Tổng 2335,5 100 2519,4 100 Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình năm 2003, 2004. Doanh số các nghiệp vụ tín dụng 2003 Hoạt động bảo lãnh là hoạt động tương đối lớn mạnh trong hoạt động tín dụng nói chung và nó đem lại nguồn thu nhập cao cho ngân hàng. Nhìn vào bảng biểu ta thấy, nguồn thu từ hoạt động bảo lãnh của năm 2004 giảm so với năm 2003 nhưng doanh số từ hoạt động này vẫn rất cao so với tổng doanh số từ hoạt động tín dụng mang lại. Doanh số hoạt động tín dụng NHCT Ba Đình năm 2003 đạt 2335,5 tỷ đồng, năm 2004 đạt 2519,4 tỷ đồng. Trong đó hoạt động bảo lãnh năm 2003 chiếm 24,59%, năm 2004 chiếm 22,54%. Như vậy nghiệp vụ bảo lãnh đã rất phát triển bên cạnh nghiệp vụ chính của ngân hàng là cho vay, doanh số của nó chiếm gần 30% so với doanh số cho vay. 25% 73% 2% 0% Bảo lãnh Cho vay Chiết khấu Cho thuê ài chính Doanh số các nghiệp vụ tín dụng 2004 75% 0% 23% 2% Bảo lãnh Cho vay Chiết khấu Cho thuê ài chính Khoản thu nhập từ hoạt động bảo lãnh là mức phí bảo lãnh mà khách hàng trả cho ngân hàng khi ngân hàng kí hợp đồng cam kết bảo lãnh cho khách hàng. Theo quy định thì mức phí bảo lãnh tối thiểu là 300.000 đồng và không vượt quá 2%/ năm tính trên số tiền mà ngân hàng đang bảo lãnh. Thông thường mức phí sẽ do các bên thoả thuận, và mức phí bảo lãnh mà NHCT Ba Đình áp dụng để kí kết với khách hàng là 1%/năm. Với doanh số bảo lãnh như trên thì thu nhập từ hoạt động bảo lãnh của chi nhánh năm 2003 và năm 2004 sẽ tương ứng là 5,743 tỷ đồng và 5,68 tỷ đồng. Cả thu nhập và doanh số bảo lãnh giảm đi không có nghĩa là hoạt động bảo lãnh của ngân hàng kém hiệu quả hơn, nguyên nhân có thể do tác động của thị trường tiền tệ, diễn biến của lạm phát, biến động về lãi suất, các chính sách về tỷ giá...đã ảnh hưởng đến hoạt động bảo lãnh,làm giảm doanh số và thu nhập của hoạt động này xuống. Tuy nhiên sự giảm sút này ảnh hưởng không đáng kể. Đây vẫn là mức thu nhập cao. Như vậy, ngân hàng sớm thấy được lợi ích của dịch vụ bảo lãnh, nên song song với việc nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng và kinh doanh có hiệu quả các loại hình dịch vụ khác thì ngân hàng đã chú trọng phát triển dịch vụ bảo lãnh để nâng cao lợi nhuận hoạch toán và nâng cao uy tín của ngân hàng trong tiến trình phát triển và hiện đại hoá ngân hàng. 2.2. Các hình thức bảo lãnh của NHCT Ba Đình Như chương đã trình bày, các hình thức bảo lãnh rất đa dạng, phong phú. Là một chi nhánh lớn mạnh như NHCT Ba Đình, với tiềm lực vốn đủ mạnh, đội ngũ cán bộ trẻ có năng lực, phương tiện kỹ thuật hiện đại. NHCT Ba Đình đã thực hiện được nhiều hình thức bảo lãnh khác nhau đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Một số nghiệp vụ mà NHCT Ba Đình thường xuyên thực hiện cam kết với khách hàng là: - Bảo lãnh thanh toán - Bảo lãnh thực hiện hợp đồng - Bảo lãnh dự thầu - Bảo lãnh ứng trước - Một số hình thức bảo lãnh khác (bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thương phiếu, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm,...). * Một là, Bảo lãnh thanh toán: NHCT Ba Đình là mộ chi nhánh nằm trong khu vực trung tâm, buôn bán sầm uất và bảo lãnh thanh toán là nghiệp vụ không thể thiếu đối với tất cả các ngân hàng. Nhưng hình thức bảo lãnh này chỉ mang lại cho NHCT Ba Đình một khoản thu nhỏ. Thậm chí, trong năm 2003 hình thức bảo lãnh này đã hầu như không thực hiện. Sang năm 2004 doanh số từ hình thức này chỉ đạt 4,5 tỷ đồng tương ứng với 0,79% trên tổng doanh số bảo lãnh. Nguyên nhân có thể do khách hàng không có nhu cầu về bảo lãnh thanh toán hoặc khách hàng cũng chưa thấy được tầm quan trọng của hình thức bảo lãnh này. Đây là mặt hạn chế của NHCT Ba Đình mà ngân hàng cần phải có giải pháp trong thời gian tới. * Hai là, Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: Đây là hình thức bảo lãnh mang lại khoản thu cao nhất cho NHCT Ba Đình. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được thực hiện sau khi khách hàng trúng thầu các hợp đông về xâydựng, thiết kế hay cung cấp hàng hoá,... hình thức bảo lãnh nàyđảm bảo cho bên đối tác không bị tổn thất. Ngoài ra nó còn giúp cho bên đối tác loại trừ được những khách hàng không trung thực, không đủ khả năng tài chính, không đủ khả năng thực hiện hợp đồng và gây cho họ sự lãng phí về thời gian và tiền bạc. Đối với NHCT Ba Đình thì sẽ chứng tỏ được năng lực và uy tín của mình khi nhận bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Ngày nay, nền kinh tế thương mại và thị trường tiền tệ phát triển theo xu hướng quốc tế hoá sâu sắc, ngân hàng không chỉ kí kết các hợp đồng trong nước mà hợp tác với cả các đối tác nước ngoài và bảo lãnh với doanh số lớn. Trong năm 2004 giá trị của hình thức bảo lãnh này đạt 304,24 tỷ đồng chiếm 53,56% trên tổng giá trị bảo lãnh, trong đó bảo lãnh thực hiện hợp đồng trong nước chiếm 277,6 tỷ đồng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng với nước ngoài chiếm 26,64 tỷ đồng. Như vậy, bảo lãnh thực hiện hợp đồng là một hình thức bảo lãnh quan trọng đã góp phần đáng kể vào việc gia tăng lợ nhuận hoạch toán cho NHCT Ba Đình. * Ba là, Boả lãnh dự thầu: Hình thức bảo lãnh này đảm bảo với chủ thầu rằng đơn dự thầu là một bản chào hàng chắc chắn và nhà thầu có đủ khả năng tài chính để thực hiện hợp đồng nếu trúng thầu. NHCT Ba Đình chấp nhận bảo lãnh dự thầu sẽ tạo điều kiện cho nhà thầu thắng thầu và thoả thuận được những điều khoản hợp đồng có lợi nhất, từ đó nâng cao được uy tín của ngân hàng. Tuy nhiên doanh số của hình thức bảo lãnh nay trong năm 2004 không cao là 27,75 tỷ đồng tương ứng là 4,89% trên tổng doanh số bảo lãnh. Đây là hình thức bảo lãnh không thể thiếu đối với NHCT Ba Đình. * Bốn là, Bao lãnh ứng trước: Đây cũng là một hình thức bảo lãnh phổ biến trong ngân hàng và cả người mua và người bán đều có nhu cầu về loại bảo lãnh này . nó cũng mang lại một nguồn thu không nhỏ cho NHCT Ba Đình. Giá trị bảo lãnh của NHCT Ba Đình trong năm 2004 là 43,7 tỷ đồng chiếm7,69% trong tổng giá trị bảo lãnh. Ngân hàng cần phát triển hình thức bảo lãnh này hơn nữa. * Năm là, Một số hình thức bảo lãnh khác: như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thương phiếu, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm....các hình thức bảo lãnh này mang lại cho ngân hàng một khoản thu khá cao. Năm 2004 doanh số là 187,81 tỷ đồng tương ứng 33,07% trong tổng doanh số bảo lãnh. Các hình thức bảo lãnh này đa dạng, tuy nhiên NHCT Ba Đình cũng chỉ là một chi nhánh trực thuộc nên sẽ không đáp ứng được hết mọi nhu cầu của khách hàng. Bảng 3: Doanh số các hình thức bảo lãnh của NHCT Ba Đình Loại bảo lãnh VND (tỷ đồng) USD EUR Cộng (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) Nguyên tệ (nghìn) Qui đổi (tỷ đồng) Nguyên tệ (nghìn) Qui đổi (tỷ đồng) BL thanh toán 4,5 0 0 0 0 4,5 0,79 BL thực hiện HĐ 277,6 1,69 26,64 0 0 304,24 53,56 BL dự thầu 27,1 12 0,19 21,5 0,46 27,75 4,89 BL ứng trước 43,7 0 0 0 0 43,7 7,69 BLkhác 152,1 2,28 35,71 0 0 187,81 33,07 Tổng 568 100 Nguồn; Báo cáo ngoại bảng bảo lãnh năm 2004 của NHCT Ba Đình 2.3. Chất lượng bảo lãnh tại NHCT Ba Đình. Cùng với sự phát triển của Ngân hàng, qui mô bảo lãnh của Ngân hàng ngày càng mở rộng. Tuy nhiên nếu chỉ có qui mô thôi thì chưa đủ, đò hỏi phải đi kèm với qui mô là chất lượng của các khoản bảo lãnh được cấp. ở một khía cạnh nào đó, việc tăng qui mô cũng bao hàm sự nâng lên về chất lượng. Nhưng để thấy chất lượng tăng lên ở mức độ nào cần phải căn cứ vào một số các chỉ tiêu khác. Một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng bảo lãnh là doanh số trả thay cho khách hàng. Một bộ phận cấu thành nên nợ quá hạn của ngân hàng. Doanh số trả thay phản ánh rủi ro hoạt động bảo lãnh. Hoạt động bảo lãnh có hiệu quả khi mà không để xảy ra rủi ro, tức khách hàng không thực hiện cam kết theo hợp đồng với bên thứ ba. Điều đáng mừng là NHCT Ba Đình không để phát sinh bất cứ một khoản trả thay nào cả. Đây là kết quả đáng ghi nhận về sự nỗ lực của tập thể, đặc biệt là các cán bộ phòng Tài trợ thương mại làm việc hăng hái, sáng tạo nhưng luôn giữ đúng nguyên tắc bảo lãnh nên đã không để phát sinh nghĩa vụ trả thay cho khách hàng. Như vậy ta thấy rằng trong các năm gần đây, đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung, ngân hàng đã không để phát sinh nghĩa vụ trả thay cho doanh nghiệp được bảo lãnh. Để có được kết quả đó, bên cạnh việc ngân hàng chỉ bảo lãnh cho các doanh nghiệp Nhà nước, tất cả các doanh nghiệp được ngân hàng bảo lãnh hiện nay đều là các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có uy tín... Các doanh nghiệp bảo lãnh chủ yếu để giải quyết nhu cầu vốn ngắn hạn như mua hàng hoá, nguyên vật liệu, thanh toán hàng hoá, tham gia dự thầu,...nhưng vì đây là các doanh nghiệp hoạt động tốt, vòng quay vốn của họ rất lớn và nghiêm chỉnh trong việc thực hiện hợp đồng, do đó ngân hàng không phải thực hiện nghĩa vụ trả thay. 2.4. Những mặt hạn chế của bảo lãnh. 2.4.1. Hạn chế Bên cạnh những kết quả đạt được ở trên như qui mô và chất lượng bảo lãnh ngày càng cao, đem lại một phần thu nhập đáng kể cho Ngân hàng, qua đó góp phần xây dựng uy tín và hình ảnh tốt đẹp của Ngân hàng trong nền kinh tế. Những hạn chế này chủ yếu liên quan đến hoạt động mở rộng qui mô tín dụng, tuy nhiên không phải vì thế mà hoạt động bảo lãnh đối với các doanh nghiệp là không có những hạn chế. Trong năm vừa qua, hoạt động đã góp phần không nhỏ vào thu nhập của ngân hàng nhưng bên cạnh đó còn không ít thiếu sót đang tồn tại, đó là: - Tuy doanh số trả thay cho khách hàng là không phát sinh nhưng chưa phải là tốt đối với khách hàng. Điều này ảnh hưởng một cách gián tiếp đến khách hàng tới ngân hàng. Vô hình dung ngân hàng đã tạo một “rào cản” không một khách hàng nào “chạm tới” được. Bởi có được kết quả như vậy ngân hàng phải thực hiện tốt các khâu của mình. Mà như vậy thì không phải ngân hàng nào cũng đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng. Với cách nghĩ mình không đủ khả năng, các khách hàng sẽ dè dặt hơn khi có nhu cầu xin bảo lãnh, do vậy sẽ hạn chế việc mở rộng qui mô của ngân hàng. - Đối tượng khách hàng xin bảo lãnh chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh,còn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Điều này cho thấy ngân hàng chưa đa dạng hoá được khách hàng. Như vậy sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong giai đoạn cổ phần hoá và hiện đại hoá ngân hàng hiện nay. Đồng thời trong giai đoạn này khi đất nước ta đã kí hiệp định thương mại Việt- Mỹ, tiếp đến là gia nhập tổ chức WTO, và gần hơn là gia nhập AFTA, các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài, điều đó cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng khó khăn. - Ngân hàng chưa có sự chủ động trong việc tìm kiếm nhiều khách hàng lớn và những dự án lớn, mà chủ yếu là theo sự chỉ đạo của ngân hàng cấp trên. Do vậy, đôi khi ngân hàng còn thiếu sự linh hoạt trong các dự án. - Không ít khách hàng còn chưa hiểu hết tầm quan trọng của bảo lãnh đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do vậy khách hàng chưa đánh giá chính xác vai trò của bảo lãnh, dẫn đến ngân hàng còn hạn chế trong hình thức bảo lãnh, các hình thức chưa thực sự phát triển và đem lại phí thu cao cho ngân hàng. 2.4.2. Nguyên nhân Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại hạn chế này, trong đó có thể nêu ra một số những nguyên nhân chính sau đây: Thứ nhất, nguyên nhân chủ quan: những nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng. Điều đầu tiên có thể nhận thấy rất rõ là trụ sở của ngân hàng nhỏ hẹp, không thuận tiện cho việc giao dịch của khách hàng, đang ngày càng bộc lộ những bất lợi cho ngân hàng trong quan hệ giao dịch và tiếp thị khách hàng. Ngoài ra, trong giai đoạn đầu hiện đại hoá ngân hàng, một số cán bộ nhân viên vẫn còn bị động, lúng túng, chưa bắt kịp với yêu cầu của ngân hàng, mặt khác lại tỏ ra thiếu kinh nghiệm trong giao tiếp, tiếp thị và gợi mở nhu cầu cho khách hàng. Đồng thời, Ngân hàng mới chỉ thực hiện tốt việc củng cố thị trường bạn hàng truyền thống mà chưa phát triển hiệu quả từ quan hệ bạn hàng này sang các doanh nghiệp “vệ tinh” xung quanh họ. Đó là do công tác marketing của ngân hàng chưa thực sự tốt. Bên cạnh đó công tác thu thập và xử lí thông tin còn hạn chế. Như chúng ta đều biết, nhu cầu về bảo lãnh của các doanh nghiệp thường là rất lớn nhưng vốn tự có của NHCT Việt Nam thấp và những ràng buộc trong qui chế bảo lãnh của NHNN (tổng dư nợ bảo lãnh đối với một khách hàng không được vượt quá15% vốn tự có của tổ chức tín dụng) khiến Ngân hàng bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư vào dự án lớn, vào khách hàng có nhu cầu lớn. Trong khi vốn huy động được vẫn còn dư thừa mà vẫn phải chuyển nhu cầu vốn đó cho các NHTM khác. Thứ hai, nguyên nhân khách quan: thuộc về khách hàng, một trong những nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng là do năng lực yếu kém của khách hàng. Vẫn biết doanh nghiệp hầu hết là những doanh nghiệp có công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có trình độ quản lí giỏi. Chính vì vậy, ngân hàng không thể bảo lãnh cho những doanh nghiệp yếu kém trong quản lý điều hành, điều này sẽ làm cho đồng vốn của ngân hàng không được sử dụng hiệu quả, thậm chí có thể bị sử dụng sai mục đích, từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng khi có rủi ro xảy ra. Ngoài ra, những nguyên nhân khách quan như sự cạnh tranh của các ngân hàng khác trong và ngoài địa bàn hoạt động của ngân hàng , hay môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lí... cũng là những nhân tố không nhỏ hạn chế sự hoạt động của bảo lãnh. Tóm lại, trong bất kì một lĩnh vực hoạt động nào bao giờ cũng có những vướng mắc khó khăn cần tháo gỡ. Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng là quan hệ rất phức tạp và có nhiều khó khăn. Vấn đề là ở chỗ phải thấy được những khó khăn, vướng mắc đó trong hoạt động của ngân hàng để tìm ra những biện pháp xử lí phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho những đồng vốn mà ngân hàng cung cấp. Đối với NHCT Ba Đình cũng vậy, những khó khăn hạn chế nêu trên cần sớm được khắc phục để hoạt động của ngân hàng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn. Chương 3 Giải pháp nâng cao hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng công thương ba đình. 1. Định hướng kinh doanh của NHCT Ba Đình . 1.1. Định hướng của NHCT Việt Nam trong thời gian tới. Quán triệt chủ trương của Đảng, Chính phủ và NHNN về chiến lược phát triển ngành Ngân hàng trong giai đoạn 2001-2010, NHCT Việt Nam đã triển khai xây dựng chiến lược phát triển 10 năm như sau: Một là, cơ cấu lại tài sản có, khẩn trương giải quyết các tài sản không sinh lợi từ nợ quá hạn, nợ khó đòi, nợ bảo lãnh trả thay, nợ khác; đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, mở rộng qui mô hoạt động; đưa tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu thực chất xuống dưới mức 5% tổng dư nợ cho vay và đầu tư. Để giải quyết vấn đề này, ngoài sự chủ động tích cực của NHCT Việt Nam, còn cần phải có các chính sách, sự can thiệp của Đảng, Chính phủ và sự hỗ trợ của các ngành, các cấp... Hai là, cơ cấu lại tổ chức, bộ máy. Đổi mới và hoàn thiện bộ máy tổ chức kinh doanh phù hợp với cấu trúc của một NHCT hiện đại, với trình độ, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinh doanh đa chức năng theo nguyên tắc thương mại và định hướng thị trường. Xây dựng bộ máy quản lí tinh gọn, hiệu quả. Trong đó, quan trọng là giải quyết vấn đề dư thừa lao động, không giải quyết được vấn đề chất lượng lao động, chất lượng cán bộ quản lí, cán bộ điều hành thì không đáp ứng được yêu cầu của đổi mới và phát triển. Ba là, đổi mới và hoàn thiện cơ chế hoạt động kinh doanh. Xây dựng hệ thống cơ chế nghiệp vụ kỹ thuật chuyên môn, cơ chế tài chính tiền lương, đào tạo... vừa phát huy được nội lực, vừa tạo ra được động lực phù hợp với thực tế của Việt Nam, tèng bước hội nhập với sự phát triển của khu vực và thế giới Với phương châm “phát triển an toàn và hiệu quả và chuẩn bị bước sang giai đoạn hai của chương trình hiện đại hoá trong toàn hệ thống ngân hàng, trong năm 2005 NHCT Việt Nam tiếp tục tập trung vào một số lĩnh vực trọng tâm cụ thể: Thứ nhất, Tăng cường công tác huy động vốn, đa dạng hoá các hình thức huy động tiền gửi với nhiều tiện ích cho người gửi tiền, phấn đấu đạt chỉ tiêu tăng trưởng nguồn vốn của NHCT từ 15 đến 18% cho cả năm. Thứ hai, Mở rộng tín dụng trên cơ sở đảm bảo chất lượng an toàn, hiệu quả, bền vững, không để phát sinh tăng các khoản nợ quá hạn khó đòi. Dự kiến tốc độ tăng trưởng khoảng 13 đến 15% cho cả năm. Thứ ba, Tiếp tục nỗ lực xử lý hết số tài sản đảm bảo còn lại, giải quyết dứt điểm nợ tồn động theo Đề án. Thứ tư, Tiếp tục cải cách bộ máy tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý, điều hành kinh doanh. Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát từ Hội sở chính đến các chi nhánh nhằm đảm bảo phát triển an toàn và đúng định hướng. Thứ năm, Tiếp tục triển khai giai đoạn hai chương tình hiện đại hoá ngân hàng và hệ thống thanh toán, hoàn thành mở rộng phát triển trong toàn hệ thống NHCT trong năm 2005, đồng thời nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm dịch vụ mới, mở rộng cung ứng các loại hình dịch vụ tài chính ngân hàng cho nền kinh tế. Thứ sáu, Đặc biệt coi trọng công tác cán bộ, tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đảm bảo cán bộ có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có đủ bản lĩnh và năng lực chuyên môn để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới của NHCT Việt Nam. 1.2. Định hướng kinh doanh của NHCT Ba Đình năm 2005. 1.2.1. Mục tiêu năm 2005 Với kết quả kinh doanh đã đạt được trong năm 2004 của Chi nhánh và những định hướng chỉ đạo thực hiện mục tiêu của NHCT Việt Nam. Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2005 như sau: - Tổng nguồn vốn huy động tăng từ 10% đến 15% so với năm 2004 - Tổng dư nợ cho vay tăng từ 15% đến 20% so với năm 2004 - Nợ qua hạn dưới 1% - Lợi nhuận hạch toán cao hơn năm 2004 1.2.2. Những biện pháp chủ yếu - Tiếp tục nâng cao trình độ và phong cách giao dịch của cán bộ nhân viên, nhất là tại các Quỹ tiết kiệm. áp dụng công cụ lãi suất và các hình thức huy động vốn; đẩy mạnh công tác tiếp thị, có chính sách thích hợp đối với từng khách hàng có tiền gửi lớn. Chủ động tìm hiểu, tiếp cận và vận động những khách hàng có tiềm năng tiền gửi về gửi vốn tại chi nhánh. Mặt khác triển khai kịp thời các kế hoạch huy động vốn của NHCT Việt Nam nhằm mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn theo kế hoạch đề ra. - Thực hiện nghiêm túc qui trình nghiệp vụ; bám sát hướng dẫn tại Sổ tay tín dụng. Tăng tỷ trọng cho vay đối với các doanh nghiệp hoạt động trong khu vực ngoài quốc doanh; tư nhân, cá thể, đồng thời tăng tỷ trọng cho vay có tài sản bảo đảm để đảm bảo mục tiêu tín dụng phát triển bền vững và hiệu quả. - Định kì phân tích, đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp, xếp hạng khách hàng. Kiên quyết giảm dư nợ đối với những đơn vị có tình hình sản xuất kinh doanh thua lỗ, tài chính yếu kém. - Tích cự thu nợ, xử lý dứt điểm nợ quá hạn từ năm 2004 còn tồn tại, không để có nợ tồn đọng mới. - Phát triển khách hàng sử dụng các sản phẩm dịch vụ ATM, Cash Card, Visa Card, Master Card, Western Union.... đồng thời tiếp tục khai thách các dự án ODA của các Bộ, Ngành về Chi nhánh giải ngân nhằm tăng nguồn ngoại tệ và tỷ trọng thu phí dịch vụ ngân hàng. - Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong tất cả các nghiệp vụ, đặc biệt là trong nghiệp vụ tín dụng, kế toán giao dịch và tiết kiệm. - Kết hợp chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể xây dựng các phong trào thi đua và hoạt động văn hoá, thể thao... tạo không khí thi đua sôi nổi trong cán bộ nhân viên, góp phần tích cực hoàn thành nhiệm vụ kinh doanh năm 2005. 2. Một số giải pháp nâng cao hoạt động bảo lãnh tại NHCT Ba Đình 2.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Công thương Việt Nam 2.1.1. Đưa ra một mức phí hợp lý Việc áp dụng một mức phí bảo lãnh thống nhất tối thiểu là 300.000 nghìn đồng đến 2%/năm doanh số cam kết đối với mọi khoản bảo lãnh là chưa phù hợp với chính sách ưu đãi của ngân hàng đối với khách hàng có quan hệ tín dụng tốt với ngân hàng, đồng thời mức phí này cũng chưa tạo ra được sự khác biệt về mức độ rủi ro của từng khoản bảo lãnh. Mặt khác, trong hoạt động bảo lãnh đơn vị xin bảo lãnh phải chịu hai mức phí vốn vay cùng một lúc đó là lãi suất vay vốn và phí bảo lãnh ngân hàng. Lãi suất vay vốn thường rất khác biệt, nó phụ thuộc vào quan hệ bạn hàng giữa đơn vị vay và bên cho vay. Trong một số trường hợp, lãi suất tiền vay mà đơn vị vay phải trả là khá cao lại cộng với phí bảo lãnh làm cho lãi suất thực tế phải trả quá cao khiến cho đơn vị vay vốn khó có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn đi vay. Vì vậy, NHCT Việt Nam nên chăng chỉ qui định mức phí bảo lãnh tối thiểu và một khung mức phí bảo lãnh và để cho chi nhánh được quyền xác định một mức phí bảo lãnh phu hợp trong từng trường hợp cụ thể tuỳ theo thực lực của ngân hàng và đối tượng khách hàng, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, và mức độ rủi ro mà ngân hàng phải chịu khi nhận bảo lãnh. Mức phí bảo lãnh này không chỉ phản ánh đưcợ mức độ rủi ro của khoản bảo lãnh mà còn phải đảm bảo ngân hàng có lợi khi nhận bảo lãnh. 2.1.2. Xem xét để đưa ra một tỷ lệ trích quỹ bảo lãnh hợp lý Ngân hàng Nhà nước đã có hướng dẫn trích lập quỹ bảo lãnh để phòng ngừa rủi ro trong hoạt động bảo lãnh. Nhưng việc trích lập này chỉ được phép trích 5% trên tổng số tiền bảo lãnh. Trong khi đó mức độ rủi ro lại xảy ra lớn gấp nhiều lần mức trích quỹ này. Nên chăng ngân hàng cấp trên cho phép các chi nhánh được phép trích thêm từ lợi nhuận hoặc từ các hoạt động bất thường khác... Trong trường hợp quỹ này quá lớn, ngân hàng có thể trích một phần quỹ này sang bổ xung cho vn kinh doanh của ngân hàng. Làm như vậy vừa tránh cho ngân hàng khỏi bị động trong trường hợp rủi ro bảo lãnh xảy ra vừa hạn chế được tình trạng các ngân hàng phải đi xin cấp thêm vốnở ngân hàng TW. 2.1.3. Không nhất thiết phải yêu cầu tài sản thế chấp đối với tất cả các Ngân hàng bảo lãnh Theo quy định các doanh nghiệp muốn ngân hàng bảo lãnh nhất thiết phải có tài sản thế chấp. Trong điều kiện các doanh nghiệp Việt Nam vốn nhỏ, tài sản cố định lạc hậu, và đã hết khấu hao, mặt khác việc dùng tài sản cố định, bất động sản thế chấp thường rất khó phát mại.... Thiết nghĩ tài sản thế chấp chỉ là sự đảm bảo cuối cùng về mức độ an toàn của khoản bảo lãnh. Ngân hàng thực hiện bảo lãnh đau phải nhằm mục đích thu hồi và phát mại tài sản thế chấp, đó không phải là mục đích cuối cùng của ngân hàng, mà mục đích của các khoản bảo lãnh là làm tăng thêm thu nhập cho ngân hàng, củng cố niềm tin cho khách hàng và thu hút thêm khách hàng đến với ngân hàng đồng thời mở ra cơ hội kinh doanh cho chính khách hàng. Cơ sở đầu tiên và quan trọng để ngân hàng quyết định thực hiện bảo lãnh là lòng tin và khả năng,uy tín của doanh nghiệp, tin vào sự trung thực, sòng phẳng của doanh nghiệp... Vì vậy vấn đề tài sản thế chấp ngân hàng nên thực hiện một cách linh hoạt hơn, vì nếu áp dụng hình thức tài sản thế chấp cứng nhắc chắc chắn sẽ xảy ra tình trạng khai khống giá trị tài sản cốt sao để có thể nhận được khoản bảo lãnh của ngân hàng và như vậy rủi ro xảy ra lại càng nghiêm trọng hơn. Do đó, vấn đề quan trọng là đảm bảo an toàn cho khoản bảo lãnh đó là việc tập trung vào thẩm định và nghiên cứu nhu cầu xin bảo lãnh, tính khả thi và hiệu quả của các khoản bảo lãnh. 2.2. Đối với Ngân hàng Công thương Ba Đình Hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, sự nghiệp phát triển của NHCT Ba Đình đang đứng trước thời cơ và thử thách to lớn. Đó là những khó khăn, hạn chế và cả những thử thách mà ngân hàng đang phải đương đầu để vượt qua. Nhưng với một đội ngũ cán bộ có trình độ, được chọn lọc và qua thử thách cùng với bề dày kinh nghiệm trong công tác quản lý điều hành của ban lãnh đạo, ngân hàng đã nỗ lực phấn đấu đi lên, vượt qua mọi khó khăn ngày càng khẳng định được uy tín và vị thế của mình, xứng đáng là một trong những chi nhánh xuất sắc nhất của NHCT Việt Nam. Để đạt được kết quả như vậy, trong thời gian qua, bên cạnh việc thực hiẹn các nghiệp vụ cơ bản là cho vay, nhận gửi và thanh toán, ngân hàng phải có những giải pháp hợp lý mở rộng và nâng cao hoạt động bảo lãnh để chống rủi ro, hạn chế nợ quá hạn mới phát sinh và nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng. 2.2.1. Nâng cao hạn mức bảo lãnh và thực hiện hợp đồng bảo lãnh Việc quy định hạn mức bảo lãnh thực chất là một hình thức đảm bảo cho hoạt động bảo lãnh của ngân hàng. Với hạn mức bảo lãnh khác nhau đối với từng đối tượng khác nhau, ngân hàng cần có các biện pháp phân tích rõ ràng để mang lại lợi ích cho ngân hàng và khách hàng là lớn nhất. Hạn mức bảo lãnh có thể cao hơn nữa so với hạn mức cho vay, do vậy độ rủi ro sẽ cao hơn nhưng sẽ thu hút được nhiều dự án, nhiểu khách hàng hơn và đem lại lợi nhuận nhiều hơn. Cần nâng cao hạn mức đối với những đối tượng không phải là Tổng Công ty 90,91; thành viên Tổng Công ty 90,91; Doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ... Đối với những trường hợp bảo lãnh quá hạn mức cho phép thì ngân hàng cần phải phối hợp với ngân hàng khác để thực hiện đồng bảo lãnh. Song vấn đề đạt ra là thiếu thông tin giữa các ngân hàng nhận bảo lãnh vì thông thường mỗi khách hàng chỉ giao dịch chủ yếu với một ngân hàng. Mặt khác, trong quá trình bảo lãnh vấn đề quyền hạn giữa các ngân hàng thực hiện đồng bảo lãnh chưa được xác định rõ ràng, do vậy cong khó khăn trong việc nhận đồng bảo lãnh. Chi nhánh cần phải có những biện pháp để tìm hiểu thông tin tích luỹ thành hồ sơ khách hàng để năm chắc khả năng kinh doanh của họ, thường là một ngân hàng làm đầu mối quy định rõ mức bảo lãnh và vay nợ tối đa của khách hàng theo vốn chủ sở hữu. 2.2.2. Xây dựng chiến lược khách hàng Trong chiến lược khách hàng của mình, hiện nay NHCT Ba Đình đang chú trọng vào các chính sách ưu đãi để thu hút và tăng trưởng bảo lãnh đối với các dự án lớn, các doanh nghiệp lớn của Nhà nước. Điều đó dễ hiểu vì yêu cầu đảm bảo về bảo lãnh trong điều kiện môi trường kinh tế, môi trường pháp lụât còn được coi là thiếu đồng bộ, nhất quán và thiếu khả năng thực thi. Tuy nhiên trong xu thế đầu tư nước ngoài ngày càng tăng như hiện nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ dần chiếm lĩnh thị phần lớn và chiếm tỷ trọng cao hơn so với các doanh nghiệp quốc doanh. Trong cơ chế thị trường, để cạnh tranh với các ngân hàng khác, bản thân ngân hàng phải tự tìm khách hàng cho mình chứ không thể chỉ ngồi chờ khách hàng tự tìm đến với ngân hàng. Nếu không có một chính sách khách hàng hợp lí thì ngân hàng sẽ không thể theo kịp tốc độ phát triển của các doanh nghiệp này và sẽ đánh mất một bộ phận khách hàng tiềm năng có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển của ngân hàng. Để xây dựng được một chiến lược khách hàng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp lý, ngân hàng cần bám sát nội dung sau: - Nhằm bảo toàn và đem lại hiệu quả cho đồng vốn của mình, Ngân hàng sớm coi doanh nghiệp Nhà nước là khách hàng mục tiêu và thực tế là tỷ phần tín dụng của khu vực này chiếm ưu thế tuyệt đối trong thời gian qua. Ngân hàng cần nhận thấy rằng lượng vốn tín dụng đổ cho khu vực này đang trở nên bão hoà. Tuy nhiên, ba năm trở lại đây đã có nhiều thay đổi trong khu vực kinh tế quốc doanh. Số lượng các DNNN đã giảm đi, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã phát triển mạnh về qui mô và số lượng. Hiện nay, ngân hàng không chỉ chú trọng bảo lãnh các dự án lớn của các Tổng Công ty, DNNN, mà còn mở rộng bảo lãnh cho tất cả các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang rất có triển vọng. - Để thực hiện mở rộng thị trường, ngân hàng phải tiến hành đồng bộ, tuần tự các phần việc của một mar keting tổng hợp, bắt đầu từ nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu của khách hàng, phân đoạn thị trường, đưa ra kế hoạch sản phẩm, thiết lập các kênh phân phối (các quỹ tín dụng), thực hiện các biện pháp xúc tiến thương mại và các biện pháp hỗ trợ cho khách hàng... Về lâu dài, công tác marketinh phải được chuyên môn hoá cho một phòng ban cụ thể, nhưng trước mắt nó phải được quán triệt và triển khai ở mọi bộ phận của ngân hàng, đặc biệt là những bộ phận trực tiếp giao dịch với khách hàng. - Tạo lập những mối quan hệ thân tín, lâu dài với khách hàng. Để làm được điều này, trước tiên ngân hàng phải trở thành người bạn đồng hành trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là dựa vào những lợi thế của mình như thông tin, trình độ công nghệ kỹ thuật... Ngân hàng có thể góp ý, tư vấn, hướng dẫn khách hàng lựa chọn ngành nghề kinh doanh phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, thậm chí cùng với khách hàng tham gia váo hoạt động sản xuất kinh doanh, luôn sát cánh bên cạnh doanh nghiệp trong những lức doanh nghiệp gặp khó khăn. Những việc làm này có thể vừa giúp cho ngân hàng kiểm soát được tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng vừa giúp đỡ cho khách hàng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, ngân hàng nên có các chính sách ưu đãi đối với khách hàng truyền thống để khuyến khích họ luôn đến với ngân hàng trước tiên khi có nhu cầu về bảo lãnh. Từ đó ngân hàng sẽ xây dựng được một mối quan hệ tôt với khách hàng, làm cho hoạt động tín dụng trở nên thuận tiện, đơn giản, độ rủi ro được giảm bớt, thông qua đó ngân hàng sẽ củng cố và nâng cao uy tín của mình, tăng khả năng thu hút được nhiều khách hàng mới. - Để khách hàng tìm đến ngân hàng xin bao lãnh, Ngân hàng phải xây dựng được một hình ảnh đẹp về mình trên thị trường. Muốn vậy phải tăng cường các hoạt động trên các phương tiện thông tin đại chúng để ngân hàng tự giới thiệu về mình với khách hàng. Có thể nói rằng cho đến nay trong suy nghĩ của một bộ phận dân cư còn chưa hiểu đầy đủ về ngành ngân hàng. Đối với họ dù đã hội đủ điều kiện vay vốn ngân hàng thì họ vẫn con ngại tiếp cận vay vốn ngân hàng. Một phần của nguyên nhân này là do ấn tượng về người tín dụng thời bao cấp là thái độ hách dịch, cửa quyền...., mặt khác là do thông tin họ nhận được về ngân hàng là rất hạn chế. Vì vậy, quảng bá hình ảnh của ngân hàng mình là điều rất cần thiết. - Bên cạnh đó, Ngân hàng phải tạo điều kiện để khách hàng mới đến trực tiếp giao dịch với khách hàng. Đây là hình thức quảng cáo đơn giản và ít tốn kém nhưng mang lại hiệu quả cao nhất. Trong con mắt của khách hàng, người cán bộ tín dụng trực tiếp giao dịch với khách hàng chính là hình ảnh của ngân hàng. Vì vậy, phong cách làm việc của người cán bộ tín dụng đòi hỏi phải văn minh lịch sự, ân cần, săn sàng tư vấn, giúp đỡ khách hàng về những vấn đề mà ngân hàng đang quan tâm, người cán bộ giỏi nghiệp vụ chưa đủ mà còn phải nắm bắt được tâm lí khách hàng. Ngân hàng cần tích cực tiếp xúc, phỏng vấn khách hàng, điều tra thu thập thông tin từ phía khách hàng một cách nhanh chóng đồng thời hướng dẫn cho khách hàng hiểu được quy trình nghiệp vụ tín dụng, để khách hàng có thể dễ dàng chấp nhận, và qua đó có thể tiến hành lựa chọn khách hàng theo những tiêu chuẩn và qui đinh chung. Thành công trong việc tiếp xúc với khách hàng mới là điều kiện tiên quyết để ngân hàng khuếch trương, mở rộng phạm vi hoạt động và nâng cao vị thế của mình. Việc tìm kiếm khách hàng đã khó nhưng việc giữ chân được khách hàng còn khó hơn nên khi ngân hàng tạo được sự yên tâm, tin tưởng của khách hàng cũng có nghĩa là ngân hàng đang mở rộng thị trường của mình, khách hàng là người quảng cáo tốt nhất cho ngân hàng. 2.2.3. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thẩm định khách hàng và phương án bảo lãnh Thực hiện đúng, đầy đủ và chặt chẽ quy trình thẩm định dự án trước khi quyết định bảo lãnh là việc cần phải làm để đảm bảo cho việc mở rộng quy mô tín dụng đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng. Để đảm bảo được điều đó, công tác thẩm định dự án phải thu thập được thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để đối chiếu, xử lý, phân tích đánh giá và ra các quyết định đồng ý hay từ chối cho vay. Để phân tích đánh giá tính khả thi và khả năng sinh lời của một dự án nào đó, ngân hàng thường sử dụng những phương pháp truyền thống như giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ suất nội hoàn (IRR), thời gian hoàn vốn nội bộ, phân tích điểm hoà vốn... Tuy nhiên, các phương pháp này lại có một nhược điểm là đánh giá khá phiến diện và lý thuyết, do đó thường được thực hiện kết hợp với nhau và với một số phương pháp khác. Ngoài ra, ngân hàng nên chú trọng thêm phương pháp đánh giá “5C” mà các ngân hàng quốc tế sử dụng, phương pháp này có thể đánh giá toàn bộ cả khách hàng và phương án vay vốn. Nó bao gồm các chỉ tiêu như tư cách (character), vốn (capital), khả năng hoàn trả (capacity of repayment), các điều kiện (conditions) và tài sản đảm bảo (collateral). Hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Để có thể thẩm định chính xác về khách hàng cán bộ tín dụng phải am hiểu thấu đáo về lĩnh vực cần thẩm định. Điều này rất khó do trình độ của cán bộ tín dụng là có hạn nên cần có sự phối hợp giữa ngân hàng với các chuyên gia, các cán bộ tư vấn về nhiều lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh để hiểu biết về chất lượng, kỹ thuật sản phẩm, và khả năng tiêu thụ sản phẩm trong tương lai. Để thực hiện có hiệu quả hơn, Ngân hàng nên thành lập tổ thẩm định hoạt động độc lập với phòng tín dụng để kiểm tra, phân tích đánh giá hồ sơ tín dụng,giúp đỡ tư vấn cho cán bộ tín dụng tạo điều kiện để bộ phận lãnh đạo cho quyết định cho vay. 2.2.4. Tăng cường các biện pháp an toàn đảm bảo cho khoản bảo lãnh Trên thực tế, để đảm bảo cho khoản bảo lãnh, Ngân hàng cần phải kiểm tra trước, trong và sau khi thực hiện bảo lãnh, nghĩa là ngân hàng không chỉ dựa vào công tác thẩm định hay tài sản đảm bảo mà còn phải dựa vào công tác kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn. Điều nay có thể giúp cho ngân hàng có thể kịp thời phát hiện các vấn đề phát sinh để từ đó đưa ra các biện pháp xử lí phù hợp. Muốn thực hiện điều đó ngân hàng nên: - Nâng cao hơn nữa vai trò công tác thanh tra, kiểm soát khi mở rộng qui mô bảo lãnh. Thanh tra, kiểm soát là nghiệp vụ rất quan trọng để đảm bảo chất lượng bảo lãnh, do đó khi ngân hàng mở rộng đầu tư bảo lãnh thì vai trò của công tác thanh tra kiểm soát phải được nâng lên ở mức tương xứng. Trong qui trình tín dụng, Ngân hàng phải thực hiện kiểm tra chặt chẽ ở cả ba giai đoạn: trước khi quyết định cam kết bảo lãnh, trong và sau khi sử dụng vốn của ngân hàng. Qua công tác kiểm tra khách hàng sau khi kí kết bảo lãnh, ngân hàng có thể nắm được tình hình sản xuất của doanh nghiệp từ đó dự đoán khả năng trả nợ thực tế của khách hàng khi có rủi ro xảy ra để có được kế hoạch thu nợ hợp lí. Công tác thanh tra, kiểm soát được đề cập ở đây không chỉ đơn thuần là kiểm tra khách hàng mà còn quan trọng ở chỗ là phải kiểm tra, thanh lọc những cán bộ tín dung mất phẩm chất, tiêu cực gây thất thoát tài sản và làm mất uy tín của ngân hàng. Điều này cũng góp phần mở rộng qui mô và nâng cao chất lượg bảo lãnh. - Nâng cao chất lượng thông tin tín dụng, đề phòng rủi ro Trong nền kinh tế thị trường, ai nắm băt được nhiều thông tin chính xác và kịp thời hơn, người đó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng bỏ tiền ra trên cơ sở chủ yếu là lòng tin. Lòng tin đó có chính xác hay không phụ thuộc vào chất lượng các thông tin mà ngân hàng có được. Để hoạt động tín dụng có chất lượng cao, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, ngân hàng phải có được và phân tích, xử lí chính xác rất nhiều thông tin liên quan. Do đó, công tác thông tin là một công tác quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, thông tin phải được cập nhật nhanh chóng, đầy đủ và xử lí khẩn trương chính xác. Chất lượng của thông tin không chỉ ảnh hưởng đến quyết định trong quản lý mà còn ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Để đạt được yêu cầu đó, ngân hàng phải thu thập thông tin từ rất nhiều kênh thông tin khác nhau như thông tin từ khách hàng, thị trường, từ trung tâm thông tin tín dụng (CIC), trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro (TPR)... Trong thực tế, ở Việt Nam rất khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin một cách chính xác, kịp thời. Đã có nhiều khoản đầu tư bị rủi ro, thất thoát do thiếu thông tin. Chính vì lí do đó, nhằm thu thập và xử lí thông tin được tốt hơn, phòng tín dụng nên thành lập một nhóm tư vấn thông tin tín dụng có chức năng thu thập và phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động của khách hàng, tư vấn về pháp luật, công nghệ và một số lĩnh vực có liên quan cho cán bộ tín dụng. - Trích lập quĩ dự phòng rủi ro: Để phòng và hạn chế các hậu quả của rủi ro bảo lãnh, ngân hàng cần lập quĩ dự phòng rủi ro bằng cách trích một phần từ lợi nhuận sau thuế. Việc trích lập quĩ dự phòng rủi ro có thể dựa vào mức độ an toàn của những khoản tín dụng mà ngân hàng thực hiện nhưng phải tuân theo những qui định của NHNN. 2.2.5. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của ngân hàng và hoạt động của phòng tín dụng Nhìn chung, với cơ cấu tổ chức như hiện nay, phòng tín dụng đã có nhiều thuận lợi hơn khi được sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp từ phía các cấp lãnh đạo của ngân hàng. Tuy nhiên nếu chỉ có phòng tín dụng quản lí toàn bộ hoạt động tín dụng thì tính chuyên môn hoá không cao và hoạt đọng cũng dễ bị chồng chéo, không hiệu quả. Về hoạt động của phòng tín dụng, hiện nay mỗi cán bộ tín dụng quản lý một số doanh nghiệp nhất định và hoạt động tín dụng thường không được phân chia theo tiêu thức cụ thể nào. Cách làm này có ưu điểm là chia đều công việc cho mỗi cán bộ nhưng lại không phát huy được toàn diện khả năng của họ. Ngân hàng nên phân chia hoạt động tín dụng theo những tiêu thức nhất định và giao cho một số cán bộ nhất định chịu trách nhiệm về một mặt nào đó. Bằng cách này, mỗi cán bộ tín dụng sẽ chỉ chuyên môn vào lĩnh vực của mình và có điều kiện để nâng cao trình độ hơn, từ đó đảm bảo chất lượng các khoản vay mà mình đảm nhiệm. 2.2.6. Nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ Đội ngũ cán bộ tín dụng là nhân tố chủ yếu quyết định đến sự thành công của hoạt động tín dụng nói riêng và toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng noi chung. Cán bộ tín dụng là người trực tiếp thực thi các chính sách và giải pháp tín dụng của ngân hàng, đồng thời đó cũng là bộ mặt của ngân hàng. Vì vậy, để mở rộng qui mô tín dụng không chỉ đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà cả các khu vực kinh tế khác, NHCT Ba Đình không những phải không ngừng bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ tín dụng cho cán bộ tín dụng mà còn phải có các chính sách thưởng phạt ngiêm minh để khuyến khích cán bộ làm việc có tinh thần trách nhiệm và đạt hiệu quả cao. Điều này cũng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của các khoản tín dụng mà ngân hàng cấp hiện tại và trong tương lai. Để thực hiện điều đó, đòi hỏi công tác đào tạo phải luôn được quan tâm và coi trọng. Ngân hàng cần liên tục cử cán bộ tham gia các khoá học bồi dưỡng nghiệp vụ của NHCT VN, NHNN TP Hà Nội, và ngay tại ngân hàng cũng phải thường xuyên tự tổ chức những buổi thảo luận về từng chuyên đề nghiệp vụ để trao đổi kinh nghiệm, rút ra nhnững khuyết điểm cần sửa chữa để toàn bộ nhân viên cùng học tập và rút kinh nghiệm. Bên cạnh đó, các cuộc thi cán bộ nghiệp vụ giỏi cũng cần được thường xuyên tổ chức nhằm phát hiện những cán bộ có khả năng, có trình độ để sắp xếp vào những vị trí công việc phù hợp. Mỗi cán bộ nhân viên khi có nguyện vọng chuyển sang làm bất cứ nghiệp vụ nào trong ngân hàng đều có quyền dự thi nếu có đủ trình độ. Kết quả thi chính là điều kiện để các cán bộ đó thực hiện nguyện vọng của mình. Ngoài ra, ngân hàng cũng cần tăng cường đào tạo và đào tạo lại một số cán bộ để đáp ứng được những thay đổi trong công việc và để bổ xung vào những lĩnh vực quan trọng khác. Muốn có một đội ngũ cán bộ giỏi về nghiệp vụ, Ngân hàng phải trú trọng ngay từ công tác tuyển dụng. Công tác tuyển dụng cán bộ phải đảm bảo khách quan và đúng ngyên tắc. Ngân hàng cần lực chọn, sắp xếp và đề bạt cán bộ phù hợp với khả năng và trình độ của từng người, nhất là cán bộ kinh doanh và kinh doanh đối ngoại thì việc tuyển chọn cần được đặc biệt quan tâm. Đây thực sự sẽ là đội quan tinh nhuệ, có năng lực, bản lĩnh và có trí tuệ để thích ứng với đòi hỏi thực tiễn của công tác kinh doanh ngân hàng. Công tác chi trả tiền lương tại ngân hàng cần được thực hiện một cách công khai trên cơ sở họp bàn từ tổ công đoàn. Điều này sẽ tạo ra đưcợ động lực mạnh mẽ thúc đẩy tính tự giác, tình yêu công việc của mỗi người, sẵn sàng cống hiến hết sức mình vì sự nghiệp phát triển của Ngân hàng. Sau hai năm thực hiện cơ chế tiền lương mới của NHCTVN, cho thấy cơ chế tiền lương này thực sự đã phát huy được những mặt tích cực, giảm bớt phần nào sự bất hợp lý của cơ chế tiền lương cũ. Do đó, Ngân hàng cần phải tiếp tục triển khai có hiệu quả cơ chế đó, đồng thời có những cải tiến cho phù hợp với thực tế. Bên cạnh đó, ngân hàng nên tiếp tục áp dụng các hình thức khên thưởng xứng đáng, ưu đãi về lương cho những cán bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà ngân hàng giao cho. Song song với các chế độ ưu đãi, Ngân hàng vẫn phải có quy định cụ thể về việc thực hiện nghiêm túc công việc và phạt bồi thường vật chất đối với những cán bộ để xảy ra rủi ro thất thoát vốn mà nguyên nhân là từ phái cán bộ tín dụng. Chính sách thưởng phạt là đòn bẩy kích thích các cán bộ hoạt động có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, ngân hàng phải thực sự công bằng, không thiên vị khi xét công trạng của từng nhân viên thì chính sách đó mới phát huy được tính ưu việt của nó, tránh để xảy ra những phản ứng tiêu cực gây mất đoàn kết nội bộ và ảnh hưởng xấu đến hoạt động của tín dụng của Ngân hàng. Có thể nói, quy chế tuyển dụng, quy chế đào tạo, quy chế bổ nhiệm, quy chế trả lương và quy chế thi đua khen thưởng là năm nhân tố quan trọng tạo động lực cho ngân hàng “phát triển an toàn và hiệu quả”. 2.2.7. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Trọng tâm của hiện đại hoá công nghệ Ngân hàng được xác định trên cả hai mặt: phát triển mạnh mẽ các nghiệp vụ ngân hàng, tạo lập sự hoạt động toàn diện của một ngân hàng hiện đại và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại để đáp ứng yêu cầu quản lý, phục vụ cho hoạt động kinh doanh và hội nhập quốc tế. - Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng: Về công tác kế toán, ngoài việc ghi chép theo dõi nội bảng, cần hiện đại hoá việc theo dõi ngoại bảng. Cần sớm cải tiến hệ thống chứng từ kế toán (chứng từ điện tử) tạo điều kiện tự động hoá công tác kế toán. Công tác thanh toán cần được bổ xung, tiêu chuẩn hoá các công cụ thanh toán theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế, bỏ việc phát hành và sử dụng ngân phiếu thanh toán, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư, áp dụng những công nghệ tiên tiến trong thanh toán, phát triển thẻ thanh toán điện tử, cải tiến thanh toán séc. Hoàn thiện và nâng cao thanh toán bù trừ trong địa bàn, ứng dụng thanh toán điện tử, chuyển tiền điện tử... Sự gọn nhẹ, chính xác và kịp thời trong công tác thanh toán sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng. - Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại: Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngân hàng là tiêu thức để khách hàng đánh giá ngân hàng hoạt động hiệu quả đạt được đến mức nào. Tâm lí khách hàng bao giờ cũng thích mở quan hệ tín dụng với những ngân hàng lớn, hiện đại không chỉ mang lại sự an tâm cho khách hàng mà cònlà niềm tự hào khi họ đặt quan hệ với một ngân hàng lớn và hiện đại. Hiện nay trụ sở giao dịch của ngân hàng nhỏ hẹp, không thuận tiện cho hoạt động giao dịch của khách hàng cũng như không đảm bảo môi trường làm việc khoa học cho đội ngũ cán bộ nhân viên. Điều này gây ra rất nhiều bất lợi cho ngân hàng trong quan hệ giao dịch và tiếp thị khách hàng. Tuy nhiên, việc xây dựng trụ sở mới là rất khó thực hiện đối với ngân hàng. Mặt khác ngân hàng nên trang bị đầy đủ các máy móc hiện đại, máy rút tiền tự động... tại các quỹ tín dụng và phong giao dịch để phục vụ khách hàng. Sự tham gia củâ các phương tiện vật chất hiện đại trở thành nhân tố nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng hoạt động của ngân hàng. Kết luận Hoạt động bảo lãnh đang dần chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Đặc biệt đối với NHCT Ba Đình, với sự phấn đấu nỗ lực của các cán bộ nhân viên ngân hàng, hoạt động bảo lãnh đã mang lại hiệu quả cho ngân hàng và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Thông qua việc phân tích thực trạng bảo lãnh của NHCT Ba Đình, em đã nêu rõ các giải pháp nâng cao hoạt động bảo lãnh. Mục lục Mụclục Mở đầu Chương 1: Tín dụng bảo lãnh trong ngân hàng 1. Khái quát về ngân hàng thương mại và tín dụng ngân hàng 1.1. Khái niệm và bản chất của ngân hàng thương mại 1.2. Một số dịch vụ cơ bản của ngân hàng 1.2.1. Mua bán ngoại tệ 1.2.2. Nhận tiền gửi 1.2.3. Cho vay 1.2.4. Bảo quản tài sản hộ 1.2.5. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán 1.2.6. Quản lý ngân quỹ 1.2.7. Tài trợ các hoạt động của Chính phủ 1.2.8. Bảo lãnh 1.2.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn 1.2.10. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn 1.2.11. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán 1.2.12. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm 1.2.13. Cung cấp các dịch vụ đại lý 1.3. Khái niệm và bản chất của tín dụng 1.4. Các nghiệp vụ tín dụng 1.4.1. Chiết khấu thương phiếu 1.4.2. Cho vay 1.4.2.1. Thấu chi 1.4.2.2. Cho vay trực tiếp từng lần 1.4.2.3. Cho vay theo hạn mức 1.4.2.4. Cho vay luân chuyển 1.4.2.5. Cho vay trả góp 1.4.2.6. Cho vay gián tiếp 1.4.3. Cho thuê tài sản 1.4.3.1. Mục đích, ý nghĩa 1.4.3.2. Nội dung 1.4.4. Bảo lãnh 2. Bảo lãnh trong ngân hàng 2.1. Khái niệm bảo lãnh 2.2. Bản chất và ý nghĩa 2.3. Chủ thể tham gia bảo lãnh 2.4. Các hình thức bảo lãnh 2.4.1. Bảo lãnh dự thầu 2.4.2. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng 2.4.3. Bảo lãnh hoàn thanh toán 2.4.4. Bảo lãnh vay vốn 2.4.5. Bảo lãnh thanh toán 2.4.6. Bảo lãnh đảm bảo chất lượng 2.4.7. Bảo lãnh đối ứng 2.5. Điều kiện bảo lãnh 2.6. Qui trình bảo lãnh 2.7. Đồng bảo lãnh 2.8. Bảo đảm bảo lãnh 2.9. Quyền và nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh 2.10. Quyền và nghĩa vụ của khách hàng trong hoạt động bảo lãnh 2.11. Hạn mức và thời hạn bảo lãnh Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Công thương Ba Đình 1. Khái quát về Ngân hàng Công thương Ba Đình 1.1. Quá trình hình thành và phát triển 1.2. Tình hình tổ chức của ngân hàng 1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004 1.3.1. Huy động vốn 1.3.2. Hoạt động tín dụng 1.3.3. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế 1.3.4. Công tác kế toán thanh toán, kho quĩ và dịch vụ 1.3.5. Công tác kiểm tra, kiểm soát 1.3.6. Công tác khác 2. Tình hình bảo lãnh tại Ngân hàng Công thương Ba Đình 2.1. Doanh số hoạt động bảo lãnh 2.2. Các hình thức bảo lãnh của Ngân hàng Công thương Ba Đình 2.3. Chất lượng bảo lãnh tại Ngân hàng Công thương Ba Đình 2.4. Những mặt hạn chế của bảo lãnh 2.4.1. Hạn chế 2.4.2. Nguyên nhân Chương 3: Giải pháp nâng cao hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Công thương Ba Đình 1. Định hướng về kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình 1.1. Định hướng của Ngân hàng Công thương Việt Nam trong thời gian tới 1.2. Định hướng kinh doanh của Ngân hàng Công thương Ba Đình năm 2005 1.2.1. Mục tiêu năm 2005 1.2.2. Những biện pháp chủ yếu 2. Một số giải pháp nâng cao hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Công thương Ba Đình 2.1. Đối với Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Công thương Việt Nam 2.1.1. Đưa ra một mức phí hợp lý 2.1.2. Xem xét để đưa ra một tỷ lệ trích quĩ hợp lý 2.1.3. Không nhất thiết phải yêu cầu tài sản thế chấp đối với tất cả các ngân hàng bảo lãnh 2.2. Đối với Ngân hàng Công thương Ba Đình 2.2.1. Nâng cao hạn mức bảo lãnh và thực hienẹ hợp đồng bảo lãnh 2.2.2. Xây dựng chiến lược khách hàng 2.2.3. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thẩm định khách hành và phương án bảo lãnh 2.2.4. Tăng cường biện pháp an toàn đảm bảo cho khoản bảo lãnh 2.2.5. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của ngân hàng và hoạt động của phòng tín dụng 2.2.6. Nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ 2.2.7. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Danh mục tài liệu tham khảo 1. TS. Phan Thị Thu Hà, Ngân hàng thương mại, NXB. Thống kê, 2004. 2. PTS. Nguyễn Ngọc Hùng, Lý thuyết tiền tệ - ngân hàng, NXB. Tài chính, 1998. 3. Quy chế bảo lãnh ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành. 4. CTV, "Hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt Nam năm 2004 và định hướng năm 2005", Tạp chí Ngân hàng, số 2 năm 2005. 5. Quyết định số 151/QĐ-HĐQT-NHCT1 của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Công thương Việt Nam phê duyệt về "Mô hình tổ chức của chi nhánh NHCT theo dự án hiện đại hoá ngân hàng". 6. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004, mục tiêu kinh doanh năm 2005 của NHCT Ba Đình. 7. Báo cáo hoạt động bảo lãnh năm 2003, 2004 của NHCT Ba Đình.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Hoạt động bảo lãnh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình.pdf
Luận văn liên quan