Luận văn Hoạt động hiệu quả để đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Đa số tâm lý lao động của người Việt Nam chưa cao - tinh thần trách nhiệm chưa thật sự gắn bó với họ. Nhà nước phải nâng cao trình độ quản lý đi đôi với việc giáo dục ý thức trong hoạt động, gắn chặt lợi ích với thành tích một cách tích cực, kịp thời khen thưởng đối với những cá nhân có thành tích xuất sắc, đồng thời phải gắn chặt những hành vi sai trái với xử phạt.

pdf29 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/11/2013 | Lượt xem: 1309 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Hoạt động hiệu quả để đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sự tồn tại của mối quan hệ đó mới làm cho chức năng đơn giản của tiền biến thành chức năng của tư bản. Do đó chính trên cơ sở của tư liệu sản xuất và sức lao động hoàn toàn tách rời nhau, quan hệ giai cấp giữa nhà tư bản và người lao động làm thuê đã có, mà tiền của nhà tư bản ứng ra để thực hiện hành vi Hoàn thành quá trình này, giá trị tư bản trút bỏ hình thái tiền tệ để tồn tại dưới hình thái hiện vật là sức lao động và tư liệu sản xuất, dưới hình thái các yếu tố của sản xuất tư bản chủ nghĩa, tức là hình thái tư bản sản xuất. Như vậy, kết quả của giai đoạn thứ nhất là tư bản tiền tệ biến thành tư bản sản xuất. b. Giai đoạn thứ hai (.... SX ....) Mua được hàng hoá sức lao động rồi, nhà tư bản không thể đem nó trong một thời gian nhất định. Hơn nữa, chỉ có tiêu dùng sức lao động mới tiêu dùng được tư liệu sản xuất đã mua. ở đây người sở hữu muốn thu được tiền về thì phải có hàng hoá để T - H TLSX SLĐ T - H TLSX SLĐ bán, do đó buộc anh ta phải tiến hành sản xuất hàng hoá. Nói cách khác, tiếp theo giai đoạn thứ nhất (mua tư liệu sản xuất và sức lao động) tất yếu phải đến giai đoạn sản xuất, quá trình này có thể biểu diễn như sau: Quá trình sản xuất diễn ra ở đây cũng như mọi quá trình sản xuất của mọi hình thái xã hội là do kết hợp hai yếu tố người và tư liệu sản xuất hợp tác lại mà có. Song sự kết hợp này là do vốn hoàn toàn tách rời nhau này là do “công lao” của nhà tư bản ứng tiển của họ ra để thực hiện sức lao động và tư liệu sản xuất. Vì vậy, trở thành hình thái của giá trị tư bản ứng trước, chúng phân thành những yếu tố khác nhau của tư bản sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong khi làm chức năng của mình, tư bản sản xuất tiêu dùng các thành phần của bản thân nó để biến thành các thành phần ấy thành một sản phẩm có giá trị lớn hơn. Kết quả là một hàng hoá mới tạo ra, khác về giá trị so với các hàng hoá cấu thành tư bản sản xuất. Hàng hoá mới này là hàng hoá đã mang giá trị thặng dư nó đã trở thành hàng hoá H’ có giá trị bằng sản xuất + m tức là bằng giá trị của tư bản sản xuất hao phí để chế tạo ra nó, cộng với giá trị thặng dư (m) do tư bản sản xuất ấy đẻ ra. Như vậy kết quả của giai đoạn hai là tư bản sản xuất biến thành tư bản hàng hoá. c. Giai đoạn thứ ba (H’ - T’) Sản xuất ra hàng hoá rồi, tư bản chưa thể ngừng sự vận động của nó lại được. Tư bản bây giờ tồn tại dưới hình thái hàng hoá nên cần phải đem bán hàng hoá để thu tiền về thì mới tiếp tục được công việc kinh doanh. Quá trình này có thể trình bày bằng công thức: H’ - T’. Hàng hoá - tư bản ném vào lưu thông cũng không có gì phân biệt với hàng hoá thông thường, nó cũng chỉ thực hiện chức năng vốn có của hàng hoá là trao đổi để lấy tiền. Nhưng sở dĩ nó là tư bản hàng hoá vì ngay sau quá trình sản xuất, nó đã là H’, đã mang trong mình giá trị của tư bản ứng trước và giá trị thặng dư. Vì vậy, chỉ cần tiến hành trao đổi theo đúng quy luật như các hàng hoá thông thường và nếu bán được toàn bộ thì H’, đảm bảo thu H TLSX SLĐ .... SX - H ’ được T’ nghĩa là thu được số tiền trội hơn so với tiền ứng ra ban đầu. Chức năng của H’, do đó là chức năng của mọi sản phẩm hàng hoá, song đồng thời lại là chức năng thực hiện giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trình sản xuất. Kết thúc giai đoạn này, tư bản hàng hoá đã biến thành tư bản tiền tệ. Đến đây, mục đích của tư bản đã được thực hiện. Tư bản đã trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó nhưng với số lượng lớn hơn trước. Tổng hợp quá trình vận động của cả ba giai đoạn của tư bản ta có công thức sau: Trong công thức này, tư bản biểu hiện thành một giá trị thông qua chuỗi biến hoá hình thái quan hệ lẫn nhau, quyết định lẫn nhau; thông qua một chuỗi những biến hoá hình thái mà bao nhiêu biến hoá hình thái ấy bấy nhiêu thời kỳ hay giai đoạn trong quá trình vận động của tư bản. Trong giai đoạn đó, có hai giai đoạn thuộc lĩnh vực lưu thông và một lĩnh vực sản xuất. Sự vận động của tư bản trải qua ba giai đoạn lần lượt mang ba hình thái để rồi trở lại về hình thái ban đầu với giá trị không chỉ được bảo tồn mà còn tăng lên, là sự tuần hoàn của tư bản. Tuần hoàn của tư bản chỉ có thể tiến hành một cách bình thường chừng nào các giai đoạn khác nhau của nó chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Mặt khác, bản thân sự tuần hoàn làm cho tư bản phải nằm lại ở chỗ mỗi giai đoạn tuần hoàn trong một thời gian nhất định. Do đó, sự vận động tuần hoàn của tư bản là một sự vận động liên tục không ngừng, đồng thời là sự vận động đứt quãng không ngừng, chính trong sự vận động mâu thuẫn đó mà tư bản tự bảo tồn, chuyển hoá giá trị và không ngừng lớn lên. 2. Sự thống nhất của ba hình thái tuần hoàn của tư bản công nghiệp. Tư bản trong quá trình vận động trải qua ba giai đoạn, lần lượt khoác lấy các hình thái tư bản - tiền tệ, tư bản - sản xuất, tư bản và hàng hoá ở mỗi hình thái như thế, nó hoàn thành một chức năng thích hợp, tư bản đó là tư bản công nghiệp, công nghiệp với ý nghĩa bao quát mọi ngành sản xuất kinh doanh theo phương thức tư bản chủ T - H TLSX SLĐ .... SX .... H ’ - T’ nghĩa. Sở dĩ như vậy là tư bản công nghiệp là hình thái tồn tại duy nhất của tư bản, mà chức năng của nó không phải chỉ chiếm lấy giá trị thặng dư. Do đó, tư bản tiền tệ, tư bản hàng hoá và tư bản sản xuất đều không phải là tư bản độc lập. ở đây, các tư bản ấy chỉ là những hình thái chức năng đặc thù của tư bản công nghiệp với ý nghĩa bao quát mọi ngành sản xuất kinh doanh phương thức tư bản chủ nghĩa. Sở dĩ như vậy là vì tư bản hình thái tồn tại duy nhất của tư bản, mà chức năng của nó không phải là chiếm lấy giá trị thặng dư mà còn tạo ra giá trị thặng dư. Do đó, tư bản tiền tệ và tư bản hàng hoá và tư bản sản xuất đều không phải loại tư bản độc lập. ở đây, các tư bản ấy chỉ là những hình thái chức năng đặc thù của tư bản công nghiệp. Tư bản này lần lượt mang ba hình thái ấy, và nếu xét trong quá trình vận động liên tục thì mỗi hình thái đều xem là điểm xuất phát đồng thời là điểm hồi quy của nó. Tuần hoàn của tư bản công nghiệp, tuần hoàn của tư bản tiền tệ hoặc dạng tuần hoàn của tư bản sản xuất, hoặc cũng có thể là dạng tuần hoàn của tư bản hàng hoá. a. Tuần hoàn của tư bản tiền tệ. Tuần hoàn của tư bản tiền tệ có công thức T - H ... SX .... H’ - T’, với điểm xuất phát là T và điểm kết thúc là T’, đã biểu thị một cách rõ rệt nhất động cơ, mục đích vận động của tư bản là giá trị tăng thêm giá trị, tiền đẻ ra tiền và tích luỹ tiền. Trong tuần hoàn này, T là phương tiện được ứng ra trong lưu thông, nên hình như lưu thông đẻ ra giá trị lớn hơn, còn giai đoạn sản xuất chỉ là khâu trung gian không thể tránh được một “tai vạ” cần thiết để làm ra tiền. Chính do đó mà tuần hoàn của tư bản tiền tệ là hình thái nổi bật nhất và đặc trưng nhất của tư bản tuần hoàn của tư bản công nghiệp. Song cũng chính do đó mà nó là hình thái phiến diện nhất, che dấu nhất quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa. b. Tuần hoàn của tư bản sản xuất. Tuần hoàn của tư bản sản xuất có công thức: SX .... H’ - T’ - H’ .... SX nói lên sự lặp đi lặp lại một cách chu kỳ của tư bản. Hình thái tư bản hàng hoá trong tuần hoàn này cho thấy rất rõ là nó từ quá trình sản xuất mà ra là kết quả trực tiếp của sản xuất; còn hình thái tiền tệ của tư bản - kết thúc sự thực hiện của tư bản hàng hoá (H’) - là phương tiện mua, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho sản xuất, tức là chỉ làm môi giới cho tư bản hàng hoá chuyển thành tư bản sản xuất. Tuần hoàn này cũng đã vạch rõ được nguồn gốc của tư bản. Dù là tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng, nguồn tư bản đều từ quá trình sản xuất mà ra. Song tuần hoàn này lại không biểu thị việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Dù là SX hay SX’ (nếu có tái sản xuất mở rộng), kết cục nó cũng chỉ xuất hiện dưới hình thái cần thiết làm chức năng của tư bản sản xuất, thực hiện quá trình tái sản xuất, nó không hề chỉ ra mục đích của quá trình làm tăng giá trị thặng dư cho người ta dễ nhầm rằng mục đích của nó chỉ là bản thân sản xuất, trung tâm của vấn đề chỉ là cố gắng sản xuất thật nhiều và thật rẻ, có trao đổi cũng chỉ là trao đổi để tiến hành sản xuất được liên tục, nên cũng không có hiện tượng sản xuất thừa. c. Tuần hoàn của tư bản hàng hoá. Tuần hoàn của tư bản hàng hoá có công thức: H’ - T’ - H ... SX .... H’ khác hẳn các hình thức tuần hoàn khác ở chỗ: điểm xuất phát bao giờ cũng bằng H’, bằng một giá trị đã tăng thêm giá trị thặng dư với bất kỳ tăng thêm một giá trị tư bản ứng trước đã chứa đựng giá trị thặng dư với bất kỳ quy mô như thế nào. Điểm này làm cho nó có một số đặc điểm khác là: Một là, ngay từ cực đầu, nó đã biểu hiện ra là hình thái của sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa, nên từ đầu nó đã bao gồm tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân. Hai là, kết thúc bằng H’, chưa chuyển hoá trở lại thành tiền đã tăng thêm giá trị (T’), nó là hình thái chưa hoàn thành và còn phải tiếp tục tiến hành, vì vậy nó đã bao hàm tái sản xuất. Ba là, nó là hình thái làm nổi bật lên sự liên tục của lưu thông. H’ điểm bắt đầu tuần hoàn và H’ của lưu thông đều biểu hiện một khối lượng giá trị sử dụng được sản xuất ra để bán. Do đó nếu H’ điểm bắt đầu tuần hoàn đòi hỏi lưu thông thì điểm kết thúc H’ cũng đòi hỏi ngay một quá trình lưu thông mới. Bốn là, hình thái tuần hoàn này còn trực tiếp bộc lộ mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá với nhau. Mỗi nhà tư bản đều ném H’ vào lưu thông và dùng T’ đã thu được để mua các hàng hoá để tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân. Cả hai loại hàng hoá này đều nằm trong lưu thông và cũng là do các nhà tư bản công nghiệp cung cấp cho nhau. Do đó hình thái tuần hoàn này không phải chỉ là một hình thái vận động chung cho mọi nhà tư bản công nghiệp cá biệt - mà đồng thời còn hình thái vận động của tổng số những tư bản cá biệt, tức là hình thái vận động của tổng tư bản của giai cấp tư bản, là một vận động trong đó vận động của mỗi một tư bản công nghiệp chỉ biểu hiện thành vận động bộ phận, chằng chịt với những bộ phận, chằng chịt với những vận động của các tư bản khác và bị chế ước với những vận động này. Như vậy là hình thái tuần hoàn H’ - H’ đã vạch rõ rằng sự thực hiện hàng hoá là điều kiện thường xuyên của các quá trình sản xuất và tái sản xuất, song nó cũng quá nhấn mạnh tính liên tục của lưu thông hàng hoá, nên người ta có ấn tượng rằng tất cả mọi yếu tố của quá trình sản xuất đều là do lưu thông hàng hoá mà ra và chỉ gồm có hàng hoá thôi. Tóm lại, nếu xét riêng từng hình thái tuần hoàn thì mỗi hình thái chỉ phản ánh hiện thực tư bản chủ nghĩa một cách phiến diện: mỗi hình thái đều làm nổi mặt bản chất này và lại che dấu mặt bản chất khác của sự vận động của tư bản công nghiệp. Do đó phải xem xét đồng thời cả ba hình thái tuần hoàn mới nhận thức đầy đủ sự vận động thực tế của tư bản, mới hiểu biết đúng đắn bản chất của mối quan hệ mà giai cấp mà tư bản biểu hiện trong vận động của nó. Trong thực tế, cũng chỉ có sự thống nhất cũng chỉ có ba hình thái tuần hoàn thì quá trình vận động của tư bản mới có thể tiến hành một cách liên tục không ngừng. Tuần hoàn của tư bản chỉ tiến hành được bình thường chỉ khi nào trải qua cả ba giai đoạn chuyển tiếp một cách trôi chảy. Nếu một giai đoạn nào đó bị ngừng trệ thì toàn bộ sự tuần hoàn sẽ bị phá hoại. Song muốn bảo đảm được không bị ngừng trệ của tư bản, muốn đảm bảo cho tư bản liên tục chuyển hoá hình thái của các giai đoạn chuyển tiếp kế tục nhau thì phải có đủ hai điều kiện: Thứ nhất, toàn bộ tư bản phải phân ra ba bộ phận tồn tại đồng thời ở cả ba hình thái; Thứ hai, mỗi bộ phận ở mỗi hình thái khác nhau đều phải không ngừng liên tục trải qua cả ba hình thái. Hai điều kiện này ràng buộc chặt chẽ nhau, là tiền đề khăng khít của nhau. Chỉ khi nào có sự sắp xếp kề nhau của các bộ phận tư bản tồn tại đồng thời cả ba hình thái thì mới có sự kế tục nhau không ngừng thì tư bản mới tồn tại đồng thời ở cả ba hình thái được. Vì vậy, C.Mác viết: “... tuần hoàn hiện thực của tư bản công nghiệp, trong sự liên tục của nó, không những là sự thống nhất của quá trình lưu thông và quá trình sản xuất mà cũng là sự thống nhất của cả 3 tuần hoàn của nó”. II. Chu chuyển của tư bản. 1. Thời gian chu chuyển và số vòng chu chuyển: Sự tuần hoàn của tư bản nói lên sự biến hoá hình thái của tư bản của các giai đoạn lưu thông và sản xuất. Nhưng tư bản không phải chỉ biến hoá hình thái một lần rồi dừng lại “... tư bản là một sự vận động, chứ không phải là một vật đứng yên”(1). Tư bản nếu muốn tồn tại là tư bản thì phải không ngừng đi vào lưu thông tiếp tục thực hiện liên tục quá trình biến hoá hình thái, tức là sự tuần hoàn liên tục không ngừng, sự tuần hoàn của tư bản được lặp đi lặp lại nhiều lần - có định kỳ - đó là sự chu chuyển của tư bản. Mác nói: “Tuần hoàn của tư bản khi được coi là một quá trình định kỳ, chứ không phải là một chương trình cô lập, thì gọi là vòng chu chuyển của tư bản”(1). * Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian kể từ khi nhà tư bản ứng tư bản ra dưới một hình thái nào đó cho đến khi thu về cũng dưới hình thái ấy có kèm theo giá trị thặng dư. Chu chuyển của tư bản chỉ là tuần hoàn tư bản xét trong một quá trình định kỳ nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng là tổng số thời gian lưu thông và giai đoạn sản xuất trong quá trình tuần hoàn tức là bằng tổng số thời gian lưu thông và thời gian sản xuất. Thời gian sản xuất của tư bản là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất lại bao gồm: - Thời gian lao động, tức là thời gian mà người lao động sử dụng tư liệu lao động tác động vào tư liệu lao động để tạo ra sản phẩm. Đây là thời gian duy nhất để tạo ra giá trị và giá trị thặng dư của nhà tư bản. (1) C.Mác - Tư bản, quyển II, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội 1961, trang 134 (1) Sách đã dẫn , trang 203 - Thời gian gián đoạn lao động, tức là thời gian để đối tượng lao động hoặc bán thành phẩm chịu tác động của tự nhiên mà không cần lao động của con người góp sức. Đó là những trường hợp thóc giống đã gieo, rượu để cho lên men, gỗ, gạch để phơi khô,... chẳng hạn. - Thời gian dự trữ sản xuất, tức là thời gian mà tư bản sản xuất sẵn sàng làm điều kiện cho quá trình sản xuất, nhưng chưa phải là yếu tố hình thành sản phẩm, cũng chưa phải là yếu tố hình thành giá trị. Bộ phận tư bản này là tư bản ở hàng hoá, nhưng tình trạng ở hàng hoá này không ngừng quá trình sản xuất. - Thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất là thời gian không hề tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Do đó, rút ngắn các thời gian này cũng giảm bớt sự chênh lệch giữa thời gian sản xuất với thời gian lao động là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa. Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của nhiều nhân tố, chủ yếu là bốn nhân tố sau đây: a. Tính chất của ngành sản xuất: thời gian sản xuất của ngành công nghiệp đóng tàu dài hơn thời gian sản xuất của công nghiệp nhẹ như dệt, may, thực phẩm,... b. Năng suất lao động cao hay thấp. c. Vật sản xuất chịu tác động của quá trình tự nhiên dài hay ngắn. d. Dự trữ sản xuất nhiều hay ít. * Thời gian lưu thông của tư bản là thời gian của tư bản trong lĩnh vực lưu thông. Trong thời gian lưu thông, tư bản không làm chức năng tư bản sản xuất, do đó không sản xuất ra tư bản hàng hoá và cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông dài hay ngắn khiến cho quá trình sản xuất lặp đi lặp lại nhanh hay chậm, khiến cho khối lượng một tư bản nhất định làm chức năng tư bản sản xuất được tăng thêm hay bị rút bớt, do đó mà năng xuất của tư bản đẻ ra giá trị thặng dư lớn lên hay giảm sút. Thời gian lưu thông gồm có thời gian mua và thời gian bán, trong đó thời gian bán là quan trọng và khó khăn hơn. Thời gian lưu thông dài hay ngắn chủ yếu là ba nhân tố sau: - Tình hình thị trường xấu hay tốt. - Khoảng cách thị trường xa hay gần. - Phương tiện giao thông khó khăn hay thuận lợi. Do chịu ảnh hưởng của hàng loạt nhân tố nên độ dài của thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của các tư bản không thể giống nhau. Do đó, thời gian chu chuyển của các tư bản trong các ngành khác nhau và cả những tư bản trong một ngành cũng rất khác nhau. Thời gian chu chuyển của tư bản dài ngắn khác nhau như vậy nên muốn tính toán và so sánh với nhau được thì phải có một đơn vị đo lường thống nhất, đơn vị đó là năm. Dùng năm làm tốc độ đo lường chu chuyển của tư bản, có nghĩa là muốn xác định tư bản quay được mấy vòng trong một năm. Lấy n là số lần chu chuyển; CH là năm đơn vị đo lường, và ch là thời gian chu chuyển một vòng của tư bản thì sẽ có công thức tính số vòng chu chuyển của tư bản như sau: n = Error! Ví dụ: một tư bản chu chuyển một vòng mất 6 tháng thì số vòng chu chuyển sẽ là: n = Error! = 2 vòng - Một tư bản khác chu chuyển một vòng hết 24 tháng thì số vòng chu chuyển là: n = Error! = 0,5 vòng 2. Tư bản cố định và tư bản lưu động. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm toàn bộ thời gian chu chuyển của các bộ phận tư bản phải ứng ra để tiến hành sản xuất. Nhưng phương thức chu chuyển của các bộ phận tư bản không giống nhau, do đó vòng chu chuyển của chúng cũng rất khác nhau. Căn cứ vào phương thức chu chuyển khác nhau, người ta phân chia các bộ phận tư bản ra thành tư bản cố định và tư bản lưu động. a. Tư bản cố định: là bộ phận tư bản tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó chuyển từng phần vào sản phẩm, được xếp vào tư bản cố định trước hết là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, nhà xưởng,...) đang được sử dụng trong quá trình sản xuất, hình thái giá trị sử dụng của bộ phận tư bản này luôn luôn được duy trì, tồn tại như khi nó mới gia nhập vào quá trình lao động. Chức năng tư liệu lao động trong quá trình sản xuất giữ chúng lại đó, do đó bộ phận giá trị tư bản ứng ra được cố định lại dưới hình thái ấy. Bộ phận tư bản này luôn được duy trì, tồn tại như khi nó mới gia nhập vào quá trình lao động, chức năng tư liệu lao động trong quá trình sản xuất chỉ chủng loại đó và do đó bộ phận giá trị tư bản ứng ra được cố định lại dưới hình thức giá trị sử dụng của nó, chỉ có giá trị của nó lưu thông thôi và lưu thông dần dần từng phần một theo một nhịp độ mà giá trị đó được chuyển vào sản phẩm. Phần giá trị cố định như vậy không ngừng giảm cho đến khi tư liệu lao động trở thành vô dụng. Tư liệu lao động càng bền bao nhiêu, càng chậm hao mòn bao nhiêu thì giá trị tư bản bất biến sẽ được cố định dưới hình thái giá trị sử dụng ấy trong thời gian càng lâu bấy nhiêu. Xếp vào tư bản cố định còn có bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái các tư liệu sản xuất mà xét về mặt chuyển giá trị, do đó về phương thức lưu thông giá trị cũng giống như tư liệu lao động nói trên. Ví dụ những chất dùng để cải tạo chất đất, những chất này đem vào trong đất những nguyên tố hoá học và tác dụng kéo dài trong nhiều thời kỳ sản xuất,... Trường hợp này không phải chỉ có một bộ phận giá trị của tư bản cố định được chuyển vào sản phẩm mà cả giá trị sử dụng của bộ phận giá trị ấy cũng được chuyển vào sản phẩm. b. Tư bản lưu động: Là bộ phận tư bản khi tham gia vào quá trình sản xuất thì chuyển toàn bộ giá trị sang sản phẩm. Đó là bộ phận tư bản bất biến dưới hình thái nguyên liệu, vật liệu phụ, nhiên liệu,... trong quá trình lao động bộ phận tư bản khả biến, xét về mặt phương thức chu chuyển cũng giống như bộ phận tư bản bất biến lưu động nó cũng được sắp xếp vào tư bản lưu động. Sự phân chia tư bản thành bộ phận cố định và bộ phận lưu động là đặc điểm riêng của tư bản sản xuất. Chỉ có tư bản sản xuất mới có sự phân chia này, và căn cứ của sự phân chia là phương thức chu chuyển của tư bản. Do đó, những tư liệu sản xuất khi được coi là tư bản cố định, khi được coi là tư bản lưu động tuỳ theo chức năng của nó trong quá trình sản xuất. Ví dụ: trâu bò kéo cầy là tư bản cố định, nhưng trâu bò thịt là tư bản lưu động. Trong quá trình sản xuất, tư bản cố định bị hao mòn dần dần. Từ một chiếc máy mới nguyên vẹn, nó bị hao mòn dần dần và cuối cùng chỉ là đống sắt vụn. Đó là mặt hao mòn về giá trị sử dụng. Đồng thời với hao mòn vật chất, giá trị của nó cũng giảm dần do đã chuyển từng phần một sang sản phẩm, đó là mặt hao mòn về giá trị, những sự hao mòn đó được gọi là hao mòn hữu hình, những hao mòn này là do sử dụng vào sản xuất, do sức phá hoại của thiên nhiên gây ra, (ví dụ máy móc bị gỉ,...). Ngoài hao mòn hữu hình, tư bản cố định còn có hao mòn vô hình. Hao mòn vô hình là sự hao mòn về mặt giá trị, trong khi giá trị sử dụng mới hao mòn một phần hoặc còn nguyên vẹn. Hao mòn vô hình xảy ra do các nguyên nhân sau đây: Năng suất lao động tăng lên, do đó làm giảm giá trị của những chiếc máy cũ, tuy giá trị sử dụng của những chiếc máy này còn nguyên vẹn hoặc mới hao mòn một phần. - Kỹ thuật cải tiến nên người ta sản xuất được những máy móc tuy có giá trị bằng giá trị của máy cũ (hoặc cao hơn chút ít) nhưng lại có công xuất vượt xa công suất của máy cũ. Tình hình này làm cho những chiếc máy cũ tuy giá trị sử dụng vẫn nguyên vẹn, giá trị đã giảm sút đi nhiều. Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình bình quân của tư bản cố định được tính chuyển giá trị vào sản phẩm, lưu thông cùng sản phẩm, chuyển hoá thành tiền và trở thành quỹ dự trữ tiền tệ để đổi mới, tư bản cố định khi đến kỳ tái tạo ra tư bản đó dưới hình thái hiện vật, đó là quỹ khấu hao tư bản. Để phát huy hiệu quả của tư bản, bộ phận quỹ khấu hao này có thể được đưa ra sử dụng để mở rộng doanh nghiệp (tăng quy mô theo chiều rộng) hoặc cải tiến máy móc làm cho máy móc tăng thêm hiệu suất (tăng quy mô theo chiều sâu). Vậy là có thể thực hiện được tái sản xuất mở rộng mà không cần có sự tích luỹ tư bản thực sự. Để tránh những hao mòn bất thường và bảo đảm phát huy hiệu quả cao, tư bản cố định đòi hỏi những chi phí bảo quản đặc biệt. Việc bảo quản ấy được thực hiện một phần ở bản thân quá trình lao động sử dụng nó, bảo tồn nó và chuyển giá trị của nó vào sản phẩm. Việc bảo quản này là một cống hiến tự nhiên không mất tiền của lao động sống. Nhưng để bảo quản tốt, tư bản cố định còn đòi hỏi phải chi phí thực sự sức lao động nữa. Máy móc yêu cầu thỉnh thoảng phải được lau chùi. Đấy là công việc phụ, nhưng nếu không làm thì máy móc sẽ hỏng. Ngoài việc cần được bảo quản, tư bản cố định còn cần được tu bổ, sữa chữa cần thiết, do đó đòi hỏi phải có những khoản chi về tư bản và lao động. Thông thường, mỗi tư bản cố định đều đầu tư trong một ngành công nghiệp nhất định đều được dự tính theo kinh nghiệm những công việc lau chùi, những yêu cầu tiểu tu, đại tu sau những quãng thời gian hoạt động nhất định cũng như sửa chữa hư hỏng thông thường và bất thường có thể xảy ra. Những chi phí cho những khối lượng bảo quản và sửa chữa đó được phân phối bình quân vào suốt cuộc đời phục vụ trung bình của tư bản và được tính vào giá cả sản phẩm được sản xuất ra. Như vậy là những chi phí đó đã được dự tính trước để phân phối đồng đều cho các vòng chu chuyển của tư bản ngay từ vòng đầu. Số tư bản chia ra cho công việc sửa chữa, bảo quản có tính chất đặc biệt, không thể xếp vào tư bản lưu động. 3. Tác dụng của việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản và phương pháp tăng tốc độ ấy. Tốc độ chu chuyển của tổng tư bản ứng trước được tính bằng tốc độ chu chuyển trung bình của tư bản cố định và tư bản lưu động. Công thức tính tốc độ của tổng tư bản ứng trước được tính bằng tốc độ của tư bản cố định và giá trị chu chuyển của tư bản lưu động trong năm chia cho tổng tư bản ứng trước. Song phương pháp đó lại buộc các nhà tư bản lại tăng thêm tư bản ứng trước, là nhất là phải tăng thêm bóc lột, cho nên lại làm tăng thêm mâu thuẫn trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Phương pháp rút ngắn thời gian lưu thông có thể thực hiện bằng cách cải tiến chất lượng hàng hoá, cải tiến mặt hàng, cải tiến mạng lưới và phương pháp thương nghiệp, đặc biệt là phát triển ngành giao thông vận tải,... Song việc rút ngắn thời gian lưu thông của tư bản lại rất trở ngại sản xuất phát triển, phạm vi thị trường càng mở rộng làm trầm trọng thêm tính chất cạnh tranh vô Chính phủ trong xã hội tư bản, khiến hàng hoá lưu thông hỗn loạn, có nhiều hiện tượng bất hợp lý, lãng phí do đầu cơ mù quáng, quảng cáo phô trương, hình thức gây ra. Mặt khác, đông đảo quần chúng lao động bị bóc lột thậm tệ, thu nhập ngày càng giảm nên sức mua ngày càng giảm. Như vậy là do mâu thuẫn đối kháng của bản thân chủ nghĩa tư bản, việc rút ngắn thời gian lưu thông của chủ nghĩa tư bản và thời gian sản xuất, do đó việc tăng tốc độ chu chuyển của chủ nghĩa tư bản đã vấp phải rất nhiều khó khăn, trở ngại. Tình trạng năng lực sản xuất thường xuyên không được sử dụng hết ở các nước đế quốc hùng mạnh, mức độ cạnh tranh, giành giật gay gắt thị trường giữa các nước này hiện nay càng xác minh rõ điều đó. Tăng tốc độ chu chuyển tư bản và tìm mọi biện pháp để tăng tốc độ chu chuyển vốn là yêu cầu chung của mọi nền sản xuất. C. Sự vận dụng lý thuyết đó vào quản lý các doanh nghiệp nước ta trong nền kinh tế thị trường. 1. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp và xu hướng cổ phần hoá doanh nghiệp. a. Đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp. Để huy động tối đa tiềm năng kinh tế cho sự phát triển của đất nước. Từ chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đã có những chính sách đa dạng hoá loại hình sở hữu - đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp. Nhằm tranh thủ vốn, trình độ quản lý, kỹ thuật, công nghệ của mọi tầng lớp nhân dân của nước ngoài. Để đẩy nhanh tiến độ của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, rút ngắn sự tụt hậu của nước ta với khu vực và thế giới. ở nước ta, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước ta là doanh nghiệp của Đảng - doanh nghiệp Nhà nước phải là những doanh nghiệp chiếm đa số và những doanh nghiệp vững mạnh trong nền kinh tế, giữ vai trò chủ đạo và là xương sống - trụ cột của nền kinh tế, là chỗ dựa cho các thành phần kinh tế khác. Trong những năm đầu của thời kỳ cách mạng XHCN - các doanh nghiệp Nhà nước đã thống trị toàn bộ nền kinh tế và nó đã thể hiện sức mạnh của kinh tế Nhà nước. Nhưng các doanh nghiệp Nhà nước làm ăn hầu hết là thua lỗ hoặc không có lãi. Nhà nước phải bù lỗ trong kinh doanh và đã làm cho doanh nghiệp Nhà nước suy yếu. Sản lượng và giá trị của DNNN giảm hăn và dần nhường vị trí cho kinh tế tư nhân trong những năm đổi mới nền kinh tế và tổng sản lượng của doanh nghiệp tư nhân bắt đầu tăng nhanh, vượt quá của kinh tế Nhà nước. Từ đó Nhà nước ta lại phải chọn hướng đi mới cho doanh nghiệp. Từ việc Nhà nước quản lý tài chính của doanh nghiệp, vạch kế hoạch cho doanh nghiệp Nhà nước, định mức sản xuất - bù lỗ cho doanh nghiệp thì chuyển sang Nhà nước giao cho doanh nghiệp tự quản lý mọi vấn đề thu chi tài chính, tự vạch kế hoạch sản xuất kinh doanh và nộp thuế cho Nhà nước. Đó là phương diện quản lý, về hướng đi, sau hơn 10 năm hoạt động các doanh nghiệp của Đảng đã có những đóng góp tích cực và quan trọng vào ngân sách Nhà nước, giải quyết cho hàng vạn lao động có việc làm. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay khi Nhà nước đã ban hành luật doanh nghiệp nhằm tạo cơ chế thông thoáng hơn cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, khoảng cách về sự “bất bình đẳng” giữa doanh nghiệp của Đảng và doanh nghiệp Nhà nước ngày càng dãn ra. Vì thế có nhiều ý kiến cho rằng vấn đề Nhà nước thống nhất quản lý doanh nghiệp để Đảng cũng chuyên tâm hơn với công tác lãnh đạo toàn diện của mình. Về vấn đề này có nhà lãnh đạo cho rằng xu hướng chung nên sắp xếp gọn lại và chuyển doanh nghiệp sang cho chính quyền quản lý đối với những doanh nghiệp mà Đảng thấy cần thiết và có hiệu quả thì có thể cho tồn tại nhưng hoạt động phải đúng pháp luật. Chứ không thể như hiện nay doanh nghiệp vừa phải làm nghĩa vụ với Nhà nước vừa phải đóng góp cho ngân sách Nhà nước thì doanh nghiệp không thể gánh được. Quá trình cải cách các doanh nghiệp Nhà nước của nước ta trong những năm qua đã đạt được một số kết quả khá khả quan, nhưng bên cạnh còn tồn tại một số mặt cần điều chỉnh lại. Sau năm 1975 khi đất nước thống nhất, chúng ta đứng trước một cơ hội mới để xây dựng và phát triển tuy nhiên do những khó khăn khách quan và chủ quan như: hậu quả nặng nền của chiến tranh, xuất phát điểm thấp của nền kinh tế, lại bất ổn quan hệ với các nước láng giềng, nhất là sai lầm trong các chính sách kinh tế nên đến năm 1985 nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tính chung trong 10 năm (1976-1985) thu nhập quốc dân mỗi năm tăng 3,7%, giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp tăng trung bình là 5,2%/năm. Sản xuất tăng ở mức chậm và lạm phát ở mức ba con số. Năm 1986 lạm phát đạt mức siêu lạm phát tới đỉnh cao là 774,7%. Đại hội Đảng VI (12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới kinh tế đã mang lại những thành tựu kinh tế quan trọng, đã đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng và tạo ra những tiền đề vững chắc cho sự phát triển, cuộc cải cách kinh tế cho thấy khu vực kinh tế Nhà nước càng quan trọng. Trước năm 1986 khu vực quốc doanh chỉ đạt 38% GDP đến năm 1988 chiếm 40,2% GDP, tốc độ tăng bình quân của khu vực quốc doanh trong những năm này là 10,5% trong khi khu vực ngoài quốc doanh chỉ tăng 6,1%. Khi bắt đầu chuyển sang cơ chế hoạt động mới phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước thiếu vốn, kỹ thuật, lúng túng trong phương pháp hoạt động. Chính vì vậy, một trong những nội dung cơ bản trong cải cách khu vực quốc doanh là phải cơ cấu lại và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhằm khắc phục dàn trải, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước. Một số biện pháp như đăng ký lại doanh nghiệp, giải thể các đơn vị hoạt động yếu kém, cổ phần hoá các doanh nghiệp, tổ chức các tổng công ty,... nhưng nhìn chung các biện pháp thực hiện có những kết quả nhất định, cải cách DNNN được tiến hành qua những bước sau: Giai đoạn 1: trước năm 1990, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trường, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp được phên phán triệt để, chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh. Trong thời gian này doanh nghiệp được thành lập trên diện rộng, kể cả ở cấp quận, huyện. Không có sự liên kết chặt chẽ doanh nghiệp trung ương và địa phương. Đến cuối năm 1989 cả nước có 12.296 DNNN, đặc trưng cơ bản của các doanh nghiệp trong thời kỳ này là quy mô nhỏ vốn ít và công nghệ lạc hậu. Sự dàn trải của các doanh nghiệp làm cho nguồn vốn đầu tư của Nhà nước không thể tập trung để phát triển cho các ngành trọng điểm dẫn đến sự thiếu hụt vốn thường xuyên, hơn nữa với cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp ít phát huy tính sáng tạo, hoạt động một cách thụ động. Từ sau Đại hội Đảng lần VI, nền kinh tế Việt Nam bước sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Bên cạnh DNNN còn có các thành phần kinh tế khác được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp. Giai đoạn 2: (1990 - 1994) chủ yếu hướng vào việc tổ chức lại các doanh nghiệp, giải thể các doanh nghiệp yếu kém, củng cố các doanh nghiệp có khả năng hoạt động. Chính phủ đã ban hành Nghị định 388/HĐBT, quyết định 315/HĐBT và Chỉ thị 500/TTg nhằm sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước làm giảm bớt đáng kể các DNNN hoạt động yếu kém nếu năm 1989 cả nước có 12.296 DNNN thì đến năm 1995 còn lại 6.320 doanh nghiệp, số doanh nghiệp mất đi có 35% là giải thể và 65% là sát nhập vào các doanh nghiệp khác. Đa số các doanh nghiệp bị giải thể là doanh nghiệp nhỏ, hoạt động không hiệu quả, thua lỗ triền miên. Việc tổ chức lại DNNN đã làm tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và năm 1990 số doanh nghiệp thua lỗ 35% còn lại 97% trong năm 94 đưa doanh nghiệp có lãi từ 63,5% trong năm 1991 lên 78% trong năm 1995 với tổng số doanh nghiệp. Giai đoạn 3: từ năm 95 về sau tiếp tục đổi mới doanh nghiệp theo xu hướng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp. Ngoài hệ thống doanh nghiệp quốc doanh, hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển nhanh chóng, sản lượng của hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh đóng góp GDP ngày càng lớn và nó đóng vai trò ngày càng quan trọng loại hình doanh nghiệp liên doanh đã gia tăng và đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế đất nước. Từ năm 1995 trở đi, sau khi Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam - đầu tư nước ngoài tăng lên rõ rệt - cộng với chính sách mở cửa của Nhà nước khuyến khích đầu tư nước ngoài, năm 1997 tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt 9,8%, cao nhất từ trước bấy giờ. Thêm vào sự phát triển, hệ thống doanh nghiệp tư nhân rất phát triển dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là hệ thống doanh nghiệp mới mẻ nhưng lại rất thích nghi trong “buổi ban đầu” của nền kinh tế mở của nước ta, nó đóng vai trò sản xuất phân phối (dịch vụ), đóng góp vào sự thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó còn có doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, mô hình hợp tác xã đã một thời được hệ thống hoá trong nền kinh tế, nhưng do cơ chế quản lý và sự chậm chạp trong đổi mới mà nó đã thất bại. Trong thời kỳ đổi mới sự khôi phục lại mô hình HTX và cải tạo hợp tác xã cho phù hợp với thời kỳ mới và nếu không tham gia vào kinh tế HTX thì không có sự gắn kết với nhau thì năng lực của mỗi cá thể sẽ bị hạn chế và không có khả năng phát triển được, sự liên kết mật thiết này bổ sung cho nhau, cái này làm điều kiện tiền đề cho cái kia phát triển và ngược lại. Cho nên vai trò hỗ trợ kinh tế hộ phát triển chính là vai trò cơ bản của kinh tế hợp tác xã. Thực tế 10 năm đổi mới đường lối kinh tế của Đảng cho thấy, kinh tế HTX có vai trò to lớn trong nhiều hệ thống sản xuất, trong đó có nhiều sự tham gia của nhiều cá thể nhỏ bé về kinh tế, yếu kém về nghiệp vụ, non nớt trên thương trường,... Thông qua HTX, năng lực sở trường của họ được phát huy, được HTX bảo vệ quyền lợi chính đáng, hỗ trợ vốn và năng lực sản xuất,... vì vậy họ có nhu cầu tham gia HTX để cùng hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Sự công bằng trong hợp tác xã là đặc điểm cơ bản mà trong loại hình doanh nghiệp. Một tổ chức được hình thành từ sự tự nguyện cho nên, HTX là nơi mà các xã viên có thể tham gia phân công lao động xã hội mà HTX mang lại trực tiếp bằng lợi nhuận sản xuất - kinh doanh của HTX, bằng việc ảnh hưởng các chế độ mà Nhà nước giành cho hợp tác xã. Đặc điểm cơ bản thứ ba của kinh tế HTX là tính chất xã hội cao bởi phát triển kinh tế HTX thường gắn với phát triển cộng đồng. Chính đặc điểm này mà môi trường kinh tế HTX làm cho các ngành nghề truyền thống xích lại gần nhau, họ trao đổi cho nhau những kinh nghiệm từ gia tộc và đặc biệt là đào tạo ra những lao động có tay nghề cao không phải trong tộc hay dòng họ. HTX có những hướng đi thiết thực hơn. Tăng cường giám sát thực hiện luật tại địa phương, cần khẩn trương sửa đổi những vướng mắc trong quá trình thực hiện luật đó là những điểm mà luật chưa dự đoán hết trong quá trình phát triển rất nhanh của cơ chế thị trường cho nên một vài điểm trở thành lực cản cho việc phát triển kinh tế HTX. Tiếp tục khuyến khích bằng các chính sách ưu đãi với việc phát triển kinh tế hộ và nông trại sản xuất hàng tiêu dùng. Kinh tế trang trại đã là một mô hình phát triển mạnh của nhiều quốc gia, Việt Nam có đủ điều kiện phát triển loại hình này thông qua HTX để điều tiết vốn, kỹ thuật vật tư cây giống. Nhà nước không đủ sức cung cấp tiền hoặc các yêu cầu vật tư thiết bị khác cho HTX, ngược lại các HTX không có gì cần về vốn, kỹ thuật họ cần Nhà nước cho là cơ chế. Sau luật HTX, Chính phủ đã ban hành một loạt Nghị định về chính sách của cơ chế hoạt động đặc thù của HTX. Các giải pháp cho sự phát triển mô hình HTX. Tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế và nông trại sản xuất hàng hoá phải được coi là chính sách cơ bản, lâu dài nhằm chuyển sản xuất tự túc, phân tán san sản xuất hàng hoá tập trung, như vậy, những người sản xuất cần có sự hỗ trợ của HTX, họ không thể tồn tại đơn phương là một chủ trang trại, HTX sẽ hướng họ về một vùng chuyên canh sản phẩm mà họ là những người chủ yếu cung cấp sản phẩm đó. Tới đây, vai trò của Hiệp hội trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, có vai trò của Hiệp hội được quy định bởi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm vụ được cụ thể hoá bằng luật. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên những nơi có nhiều vùng hoang hoá Chính phủ cần khuyến khích phát triển mô hình trang trại vừa và lớn bằng cơ chế giao đất 100 năm, miễn thuế 10 năm kể từ khi thu hoạch sản phẩm, cho vay không thế chấp bằng lãi suất ưu đãi, bao tiêu sản phẩm, hỗ trợ khi xảy ra trường hợp bất khả kháng,... Đối với HTX công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Nhà nước cần hỗ trợ một phần khi thực sự khó khăn, hỗ trợ đầu ra hoặc khoanh nợ, giảm thuế đầu vào,... Các HTX dù công, nông, thương hoặc tiểu thủ công đều có tính xã hội cao, từ miền xuôi hay miền ngược thì tính cộng động là yếu tố xuyên suốt. Việc hình thành các hình thức liên kết lao động, đất đai, nhà xưởng,... cần phải có các chính sách được chế tài bằng các biện pháp cụ thể để tránh sự chiếm dụng vốn. Hệ thống thông tin để các HTX có thể áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất còn thiếu hoặc chính các HTX không đủ chuyên môn để hiểu hoặc áp dụng kỹ thuật mới. b. Cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước. Khi bước sang cơ chế thị trường hầu hết các DNNN của Việt Nam đều gặp khó khăn và rất bỡ ngỡ. Bỡ ngỡ trong vấn đề quản lý, vấn đề vốn, thị trường, công nghệ kỹ thuật lạc hậu. Thị trường cũ bị phá vỡ, thị trường mới chưa thiết lập được, hàng hoá chất lượng kém, mẫu mã không đẹp, không có sức cạnh tranh cao. Đứng trước vấn đề đó Nhà nước đã có chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước nhằm cải thiện cung cách quản lý, tăng thêm nguồn vốn vào việc đầu tư, mua sắm thiết bị, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp ở nước ta còn tồn tại nhiều vấn đề mà chưa kích thích cho sự tiến hành cổ phần hoá. Tỷ lệ doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá rất thấp, tốc độ cổ phần hoá diễn ra rất chậm chạp. Và nói chung vấn đề cổ phần hoá đang là con đường nhiều trở ngại ở nước ta nhằm tăng thêm tốc độ chu chuyển đồng vốn trong sản xuất kinh doanh, Nhà nước quy định những chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp như sau: Mệnh giá cổ phiếu và đối tượng mua cổ phiếu: Mệnh giá cổ phiếu được đem bán sẽ quyết định khả năng thu hồi phần vốn Nhà nước. Việc quyết định mệnh giá và số lượng cổ phiếu đem bán có quan hệ mật thiết với giá trị doanh nghiệp, đến các yếu tố lợi thế và tình thế liên quan đến tương lai của doanh nghiệp được cổ phần hoá. Mệnh giá (giá trị cổ phiếu) được tính theo công thức: Mệnh giá cổ phiếu = Số cổ phiếu phát hành Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định số lượng cổ phiếu phát hành khó hơn là xác định giá trị cổ phiếu, do đó người ta tính đảo ngược. Số cổ phiếu phát hành = Error! Mức ưu đãi đối với người lao động trong doanh nghiệp trong việc mua cổ phiếu theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP như sau: mỗi năm làm việc cho Nhà nước được mua 10 cổ phiếu (mỗi cổ phần giá 100.000đ). Về việc bán cổ phần hoá cho nhà đầu tư nước ngoài. Ngày 28/6/1999 Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 145/1999/QĐ-TTg về quy chế ban hành cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài. Các DNNN đã thực hiện cổ phần hoá, các công ty cổ phần và các loại hình doanh nghiệp khác đã có quyết định phát hành cổ phiếu của cấp có thẩm quyền thì được bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ thì tổ chức bán đấu giá. Phát triển hệ thống NHTM, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, đưa nhanh thị trường chứng khoán vào hoạt động là những công cụ đắc lực giúp đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Có thị trườn chứng khoán vốn đầu tư nhàn rỗi được hút vào đầu tư. Vốn đầu tư càng sinh lời càng kích thích ý thức tiết kiệm trong dân chúng. Về chính sách hỗ trợ tài chính đối với doanh nghiệp được cổ phần hoá. Nhà nước nên có những chính sách thật sự ưu đãi hơn cho các doanh nghiệp cổ phần hoá, như: Giảm mức thuế suất thu nhập công ty cổ phần thấp hơn các loại hình doanh nghiệp khác (như nhiều nước khác đã làm). Miễn thuế thu nhập cho phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư. Khi xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá nên theo giá “thuận mua vừa bán” không nên quá nặng nề bên nào. Không nên hạn chế số lượng cổ phần hoá bán ra cho công nhân viên (trừ lãnh đạo doanh nghiệp) và cho đầu tư nước ngoài. Số tiền thu được từ bán cổ phần nên ưu tiên đầu tư lại cho doanh nghiệp cổ phần hoá. Cổ phần hoá DNNN do Nhà nước chủ động không nên dựa vào sự tự nguyện của DNNN. Đây là 1 chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Cần sự tổng kết, rút kinh nghiệm để từng bước tiến nhanh và vững chắc. 2. Những chính sách cơ bản trong quản lý và điều hành hệ thống doanh nghiệp nước ta. a. Chính sách thu hút vốn - công nghệ. Muốn phát huy được nội lực trong nền kinh tế thì các doanh nghiệp phải huy động tốt nguồn vốn trong nước tận dụng mọi khả năng sẵn có để phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Đây là nguồn vốn có vai trò quyết định trong khi đất nước còn nghèo, khả năng tích luỹ còn thấp, tiết kiệm những khoản chi tiêu có thể tiết kiệm được không chỉ là quốc sách, mà cần phải có giải pháp đi thẳng vào thực tế như: đổi mới và kiện toàn hệ thống các tổ chức trung gian tài chính, phải đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống bao gồm các NHTM, các công ty tài chính HTX tín dụng, quỹ bảo hiểm, quỹ trợ cấp và hưu trí, các công ty đầu tư,... Hệ thống này phải là những nhân tố tích cực kích thích tiết kiệm và huy động tối đa nguồn vốn trong nước. Muốn vậy cần khẩn trương mở rộng hoạt động của các tổ chức nói trên, đa dạng hoá việc huy động vốn thông qua mở rộng và phát triển nhiều hình thức khác nhau nữa. Cải thiện hoạt động của các tổ chức trung gian tài chính bằng cách đa dạng hoá, hiện đại hoá các công cụ thanh toán đảm bảo tính tiện lợi nhanh chóng, bí mật an toàn cho người có vốn, thực hiện chế độ bảo toàn các loại tiền gửi. Trước hết là tiền gửi có kỳ hạn của nhân dân tại NHTM. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn qua ngân sách, đổi mới các sắc thuế, tổng kết thí điểm và triển khai rộng rãi việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước nếu xét thấy không cần phải giữa lại 100% vốn thuộc sở hữu Nhà nước. Đổi mới cơ chế quản lý ngân sách và các hoạt động chi tiêu. + Thu hút vốn nước ngoài: Để phát triển nhanh nền kinh tế phải có “cú huých” từ bên ngoài tác động tới nền kinh tế. Muốn vậy phải hoàn thiện môi trường đầu tư nước ta. Cần phải chủ động lập các dự án để giới thiệu và gọi vốn đầu tư nước ngoài, các dự án phải có tính khả thi cao, mở rộng các hình thức đầu tư trong cả nước. Bên cạnh đó, tìm nguồn vốn từ việc vay các tổ chức tài chính, ngân hàng thế giới, nguồn viện trợ nước ngoài để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. b. Quản lý và việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trong mối quan hệ nhân quả của nó, để huy động mạnh mẽ các nguồn vốn, đòi hỏi phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động được. + Lựa chọn hướng đầu tư: để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn giải pháp quan trọng trước tiên là lựa chọn đúng hướng đầu tư việc lựa chọn này theo kinh nghiệm các nước, không thể thoát ly chiến lược công nghiệp hoá trong từng thời kỳ và không thể xa rời yêu cầu sử dụng và có hiệu quả trong khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước. Trong những năm gần đây, nhiều nước còn sử dụng phương pháp lượng hoá thông qua tính toán chỉ số ICOR - chỉ số phản ánh tỷ lệ vốn đầu tư GDP chia cho tỷ lệ gia tăng của GDP hàng năm, để làm căn cứ lựa chọn hướng ưu tiên đầu tư. Kết hợp các phương pháp trên, thì trong giai đoạn đầu CNH, HĐH nước ta cần hướng đầu tư vào những ngành và những dự án sử dụng nhiều lao động, tức có hướng đầu tư vào thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển công nghiệp chế biến và làm hàng xuất khẩu sử dụng nhiều lao động. Đồng thời cần phân bổ một lượng vốn đáng kể vào các lĩnh vực, dự án có khả năng tranh thủ “đi tắt” và “đón đầu” công nghệ, để chuẩn bị những điều kiện chuyển dần từ việc sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều lao động sang sản phẩm sử dụng nhiều vốn, đảm bảo giữ mức tăng trưởng kinh tế liên tục và bền vững. + Lập kế hoạch và dự án đầu tư: để thực hiện chiến lược CNH rút ngắn thời gian, cần phải sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư và điều này đòi hỏi phải có kế hoạch và dự án để chủ động đầu tư, kế hoạch đầu tư phải thật rõ ràng, phải xác định các giai đoạn đầu tư, khả năng nguồn vốn, có các biện pháp bảo đảm thực hiện các dự án đầu tư phải bảo đảm tính khả thi cao. + Thẩm định chặt chẽ các dự án đầu tư: Trước hết là đối với các dự án đầu tư lớn, có tầm quan trọng quốc gia, các dự án liên doanh hợp tác và sử dụng vốn nước ngoài, giải pháp này phải được coi là nguyên tắc bảo đảm sử dụng có hiệu quả vốn. Vì vậy, phải sớm có những chuyên gia hiểu biết và những tổ chức thẩm định các dự án trước khi thực hiện đầu tư. Thành lập các công ty tư vấn đầu tư, công ty bảo hiểm, kiểm toán,... làm dịch vụ tư vấn, hướng dẫn đảm bảo cho quá trình thực hiện kế hoạch và dự án đầu tư có hiệu quả. Vận dụng quy luật thị trường qua việc sử dụng công cụ lãi suất “dẫn” vốn vào các dự án đầu tư, khắc phục tình trạng các lực lượng trung gian tài chính can thiệp vào quá trình phân bố và sử dụng vốn làm “méo mó” vai trò của vốn đầu tư. 3. Một số ý kiến đóng góp: Để nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh và ổn định, chúng ta phải huy động mọi nguồn lực kinh tế, mọi khả năng hiện có, Nhà nước phải thật sự chú ý đến việc “khởi nguồn” cho các thành phần kinh tế có điều kiện để phát triển. Một trong những thành phần đó là kinh tế HTX, chúng ta phải khôi phục thành phần kinh tế này, phải có chính sách khuyến khích như ưu tiên về thuế cho sản phẩm của HTX, phải đổi mới phương pháp quản lý trong HTX - nâng cao hiệu quả làm việc, tuyển dụng lao động tay nghề - có tinh thần trách nhiệm cao. Nước ta đang còn nghèo - ở một số địa phương ngành thủ công mỹ nghệ khá phát triển, để tăng sản lượng kinh tế, thu hút việc làm. Nhà nước phải giúp các đơn vị tìm đơn đặt hàng, hỗ trợ thêm nguồn vốn cho họ có vốn để nhập nguyên nhiên liệu - trả lương cho lao động, đặc biệt là hỗ trợ để các đơn vị kinh tế này bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho đội ngũ lao động của họ cho việc sản xuất hàng xuất khẩu chất lượng mẫu mã ngày càng đẹp hơn. Các DNNN phải xác định rõ ràng và có trách nhiệm cao đối với vấn đề sở hữu tài sản, muốn như vậy Nhà nước phải thắt chặt quản lý, thường xuyên kiểm tra đôn đốc các doanh nghiệp, xử lý nghiêm minh đối với những doanh nghiệp vi phạm vấn đề này, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đa số tâm lý lao động của người Việt Nam chưa cao - tinh thần trách nhiệm chưa thật sự gắn bó với họ. Nhà nước phải nâng cao trình độ quản lý đi đôi với việc giáo dục ý thức trong hoạt động, gắn chặt lợi ích với thành tích một cách tích cực, kịp thời khen thưởng đối với những cá nhân có thành tích xuất sắc, đồng thời phải gắn chặt những hành vi sai trái với xử phạt. c - Kết luận Quá trình tuần hoàn và chu chuyển tư bản là một quá trình rất quan trọng trong quá trình sản xuất - lưu thông hàng hoá, sản xuất hàng hoá, cần thiết phải có lưu thông nó, nó là điều cần thiết để có giá trị thặng dư. Sự vận động tuần hoàn của tư bản cùng một lúc tồn tại trên ba bộ phận và mỗi bộ phận qua ba hình thái, đã làm cho quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa không ngừng lớn lên. Tuần hoàn của tư bản nói lên sự biến hoá hình thái của tư bản qua các giai đoạn lưu thông và sản xuất nhưng tư bản không chỉ biến hoá hình thái một lần mà nó không ngừng đi vào lưu thông thực hiện liên tục sự biến hoá hình thái, tức tuần hoàn không ngừng. Mác viết “Tuần hoàn tư bản được coi là 1 quá trình định kỳ chứ không phải là một hành vi cá biệt, thì gọi là vòng chu chuyển của tư bản” (1) Khi nền kinh tế nước ta bước sang hoạt động theo cơ chế thị trường thì sự nghiên cứu, áp dụng lý thuyết này vào thực tế là rất quan trọng. Chúng ta phải vừa nghiên cứu, vừa áp dụng sao cho thật sự hiệu quả trong nền kinh tế. Trong những năm gần đây để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước chúng ta phải đẩy nhanh quá trình tuần hoàn - chu chuyển tư bản trong nước, thông qua các chính sách các biện pháp. Trong thời gian hiện nay, việc hết sức cần thiết cho sản xuất kinh doanh là vấn đề vốn, xu hướng hiện nay, chúng ta phải đa dạng hoá loại hình doanh nghiệp, đa dạng hoá thành phần kinh tế nhằm tăng khả năng hoạt động sản xuất - kinh doanh. Đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty cổ phần, vì còn nhiều doanh nghiệp cổ phần hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Muốn vậy Nhà nước cần phải có những chính sách có tính thiết thực đối với nền kinh tế. Phải đem kinh tế quốc doanh nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh - trở thành xương sống trong nền kinh tế quốc dân, khuyến khích ưu tiên xuất khẩu, phải luôn luôn “hỗ trợ” và “khởi nguồn” cho các thành phần kinh tế khác có (1) C.Mác Tư bản - quyển 2 - tập 2 điều kiện phát triển nhằm nâng cao sản lượng và đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tư bản nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa Việt Nam và các nước trong khu vực và trên toàn cầu. Tài liệu tham khảo 1. C.Mác tư bản quyển 2 - Tập 1 2. C.Mác tư bản quyển 2 - Tập 2 3. Chính sách cổ phần hoá DNNN (NXB chính trị quốc gia 1997) 4. Một số văn kiện Đại hội Đảng VIII 5. Giáo trình “Kinh tế chính trị” tập II - Trường ĐH KTQD 6. Tạp chí “Tài chính tiền tệ” số 2, 05, 18 năm 1999 7. Tạp chí “Phát triển kinh tế” các số: 20-22/2000 8. Tạp chí “Ngân hàng” số 4/2000 9. Tạp chí “Doanh nghiệp” số 8/2000

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Hoạt động hiệu quả để đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.pdf
Luận văn liên quan