Luận văn Huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đống Đa

Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản,thường xuyên và là vấn đề trung tâm trong hoạt động của bất kì Ngân hàng nào.Quy mô,chất lượng huy động vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của các Ngân hàng nói riêng vá nó quyết định tới sự cung ứng vốn cho nền kinh tế nói chung.Với phương châm của Đảng và Nhà nước ta “Coi nguồn vốn trong nước là quyết định,vốn ngoài nước là quan trọng” nhưng trong điều kiện tài chính chỉ mới phát triển ở mức độ hạn chế thì việc cung ứng vốn để phục vụ cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế đất nước chủ yếu phải dựa vào hệ thống NHTM. Do vậy,làm thế nào để tăng cường hiệu quả công tác huy động vốn trong Ngân hàng đản bảo số lượng và chất lượng nguồn vốn luôn là vấn đề thường xuyên được các Ngân hàng quan tâm.

doc64 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 20/12/2013 | Lượt xem: 9910 | Lượt tải: 86download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – chi nhánh Đống Đa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
định, năm sau cao hơn năm trước. - Kết quả tăng trưởng cho thấy định hướng kinh doanh của Chi nhánh đề ra là đúng đắn, nguồn vốn tăng trưởng ổn định, bền vững, chiếm thị phần lớn trên địa bàn trong khi các Ngân hàng khác trên địa bàn, kể cả các Chi nhánh lớn giảm đáng kể. 2.2. THỰC TRANG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG SACOMBANK – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 2.2.1 Cơ cấu nguồn vốn Trước tiên chúng ta hãy xem xét tình hình huy động vốn của Ngân hàng Sacombank Đống Đa qua các năm trong bảng dưới đây: Đơn vị: tỷ đồng Thời điểm Nguồn 2010 2011 2012 Tổng nguồn vốn huy động 114 134 151,2 Biến động nguồn vốn h/động 0 20 17,2 % biến động 0 17,54% 12,84% (Trích từ báo cáo kết quả kinh doanh của Sacombank – Chi nhánh Đống Đa) Nhìn vào bảng tổng kết ta thấy, tổng nguồn vốn huy động của gân hàng tương đối ổn định qua các năm, tuy lượng vốn biến đổi qua các năm không lớn. Do có chính sách và biện pháp huy động cùng với lãi suất huy động hợp lý, nên trong 3 năm từ 2010 – 2012 nguồn vốn huy động của Ngân hàng ngày một tăng. Hiệu quả của vốn huy động không những phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc khá lớn vào cơ cấu của nguồn vốn huy động được. Nguồn vốn huy động được của Sacombank – Chi nhánh Đống Đa trong các năm gần đây có sự thay đổi đáng kể cụ thể là do sự chỉ đạo của Ngân hàng cấp trên trong huy động vốn của Ngân hàng. Nguồn vốn huy động của Ngân hàng có kết cấu như sau: Đơn vị : tỷ đồng Thời điểm Nguồn 2010 2011 2012 Số tiền Tỷ Trọng(%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) 1. Nội tệ 105,700 92,7 117,60 84,6 91,50 60,5 TGTCKT 1,10 0,96 13 0,94 1,70 1,12 TGTK 54,40 47,92 20,5 14,75 16.50 11,0 Kỳ phiếu 50,20 44,02 95,80 68,91 73,30 48,48 2. Ngoại tệ 8,30 7,28 16,40 15,4 59,70 39,5 Tổng nguồn 114 100 134 100 151,20 100 (Trích từ báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng) 2.2.2. Tình hình biến động từng loại vốn huy động Nguồn vốn nội tệ: Đây là một trong hai nguồn vốn huy động chính mà Ngân hàng đã và đang huy động. Nguồn vốn này được Ngân hàng huy động dưới 3 hình thức đó là: - Tiền gửi tiết kiệm của dân cư - Tiền gửi của các tổ chức kinh tế - Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu Tiền gửi tiết kiệm của dân cư Đây là một trong những khoản tiền gửi lớn của Ngân hàng. Và khách hàng ở đây là tất cả mọi dân cư có những khoản tiền nhàn rỗi tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng thì có thể đem gửi vào Ngân hàng nhằm tìm kiếm một khoản lợi nhuận. Để thấy được tình hình huy động nguồn vốn này chúng ta xem bảng sau: Bảng 3: Biến động tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa Đơn vị: tỷ đồng Thời điểm Nguồn 2010 2011 2012 Tiền gửi tiết kiệm 54,40 20,50 16,50 Biến động tiền gửi tiết kiệm 0 -23.900 -4000 % biến động 0 -43,93% -19,5% (Trích từ báo kết quả kinh doanh của Ngân hàng) Qua bảng trên ta thấy nguồn tiền gửi tiết kiệm của dân cư không được ổn định và có chiều hướng giảm xuống . Điều này 1 phần do kinh tế khó khăn,1 phần do tồn tại quỹ tín dụng đen trong khu vực.Tuy nhiên đến cuối năm 2012 ,quỹ tín dụng đen vỡ, lượng tiền gửi đã có xu hướng tăng trở lại, nhưng với số lượng còn nhỏ mới chỉ bằng 1/2 số lượng của năm 2010. Với tốc độ tăng trở lại của nguồn vốn này thì ngay trong năm 2013, lượng tiền gửi tiết kiệm tăng nhanh chóng và vài năm tới lượng vốn tiết kiệm sẽ là một trong những nguồn vốn huy động được nhiều và đạt hiệu quả cao. Việc mở rộng các hình thức huy động vốn, lãi suất huy động phù hợp, công tác chi trả thuận tiện nhanh chóng, và uy tín của Ngân hàng cũng có tác động mạnh đến nguồn tiền gửi này. Do đó để nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm tiếp tục tăng trong các năm tới, Ngân hàng cần giữ vững uy tín của mình đối với khách hàng và có những chính sách phù hợp đối với những biến động của nguồn vốn này nhằm gia tăng nguồn vốn này ngày một tăng. Nguồn vốn này thường có những biến động theo thời điểm: chẳng hạn vào những đợt cuối năm, đợt vụ mùa... dân chúng thường rút tiền nhằm phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu của mình, do đó Ngân hàng cần có lượng vốn để đáp ứng tri trả và duy trì hoạt động cho vay của mình. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế: Để đánh giá được tình hình huy động vốn từ các tổ chức kinh tế qua các năm, chúng ta hãy xem bảng dưới đây: Bảng 4. Biến động nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế của Ngân hàng Saombank – Chi nhánh Đống Đa Đơn vị: tỷ đồng Nguồn vốn Thời điểm 2010 2011 2012 Tổng tiền gửi các tổ chức kinh tế 1,10 1,30 1,70 Biến động 0 0,2 0,4 % biến động 0 18,18 30,77 (Trích từ báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng) Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế còn tương đối thấp, đa số là của các doanh nghiệp Nhà nước có khoản vốn tạm thời chưa sử dụng đem gửi vào Ngân hàng nhằm mục đích sinh lời. Lượng tiền gửi trong các năm từ 2010 đến 2012 tăng nhưng với tốc độ không cao.Hiện nay, trên thị trường đa số các doanh nghiệp tư nhân, công ty liên doanh, các công ty quốc doanh đa số họ chọn Ngân hàng để đặt quan hệ tín dụng đó là Ngân hàng công thương, Ngân hàng cổ phần, chỉ một lượng nhỏ với Ngân hàng nông nghiệp. Một phần là vì các Ngân hàng đó có lãi suất linh hoạt hơn, thủ tục gọn nhẹ hơn trong việc họ đến gửi và rút tiền cho mục đích của mình, đảm bảo đúng tiến độ để các tổ chức kinh tế đó thực hiện được các hợp đồng mới, nhằm đem lại lợi nhuận cao. Thiết nghĩ trong thời gian tới Ngân hàng cần có những biện pháp thích hợp nhằm thu hút lượng khách hàng là các tổ chức kinh tế. Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán và tri trả của các doanh nghiệp: như trả lương, trả tiền dịch vụ thông tin. .. Hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp Thường Tín đã mở rộng và đặt mối quan hệ tín dụng với một số doanh nghiệp là những doanh nghiệp nhà nước làm ăn có lãi trong khu vực . Nhưng đây mới đại đa số là các doanh nghiệp nhà nước. Với lượng vốn gửi vào tiết kiệm còn nhỏ. Mặc dù nguồn tiền gửi này không ổn định, Ngân hàng luôn phải đáp ứng các nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp nhưng khi đã mở rộng được quan hệ, tạo được uy tín với nhiều doanh nghiệp thì nguồn vốn gửi này sẽ đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác huy động vốn của Ngân hàng. Nếu như xét trong một khoảng thời gian dài thì nguồn tiền gửi này có sự ổn định tương đối bởi vì ít khi nhiều doanh nghiệp cùng rút tiền một lúc. Vấn đề đặt ra là phải quản lý thật tốt nguồn tiền gửi này, nắm vững tình hình để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, tạo được uy tín và thu hút được nhiều doanh nghiệp hơn. Phát hành kỳ phiếu Ngoài hai hình thức huy động vốn trên, Ngân hàng còn tiến hành nghiệp vụ phát hành kỳ phiếu, trái phiếu. Việc phát hành kỳ phiếu trái phiếu nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh và cũng để thu hút về một phần tiền mặt từ trong lưu thông. Tình hình phát hành kỳ phiếu, trái phiếu của Ngân hàng được thể hiện qua bảng sau: Bảng 5. Biến động nguồn phát hành kỳ phiếu, trái phiếu của Ngân hàng Sacombank – chi nhánh Đông Đô Đơn vị: tỷ đồng Thời điểm Nguồn vốn 2010 2011 2012 Tổng nguồn 50,20 95,80 73,20 Biến động 0 45,60 -22,60 % biến động 90,8% -23,6% (Trích từ báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng) Nhìn vào bảng số liệu chúng ta có thể thấy tình hình phát hành kỳ phiếu của Ngân hàng không giữ ở mức ổn định. Trong năm 2011, tổng mức vốn huy động từ phát hành kỳ phiếu tăng mạnh, nhưng lượng này lại suy giảm vào các năm 2010 và 2012.Như chúng ta đã biết, việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu của Ngân hàng nhằm thực hiện các chính sách tiền tệ của Ngân hàng. Công tác phát hành kỳ phiếu, trái phiếu căn cứ vào từng thời kỳ và sự chỉ đạo của Ngân hàng cấp trên. Trong hai năm 2010 và 2011 Ngân hàng Sacombank chi nhánh Đống Đa đã thực hiện việc huy động vốn bằng phát hành kỳ phiếu loại 12 tháng với mức lãi suất 1% tháng. Do đó trong hai năm đó lượng vốn huy động từ việc phát hành kỳ phiếu chiếm tỷ lệ khá cao trong nguồn vốn nội tệ mà Ngân hàng huy động được. Nhưng trong 2 năm gần đây 2011 và 2012 do Ngân hàng không huy động loại kỳ phiếu 1 năm vào những tháng cuối năm mà chủ yếu huy động lượng tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tổ chức kinh tế, do đó lượng vốn huy động được từ phát hành kỳ phiếu có suy giảm, đặc biệt là vào năm 2012. Tỷ lệ vốn huy động từ việc phát hành kỳ phiếu đến cuối năm 2012 chỉ chiếm 22,85% tổng nguồn vốn huy động, trong khi đó năm có tỷ lệ cao nhất là năm 2011 với tỷ lệ 68,91% tổng nguồn vốn. Nguồn vốn ngoại tệ : Ngoại tệ chủ yếu mà Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Thường Tín huy động là Đô la Mỹ. Đây là một ngoại tệ mạnh và có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới. Để xem xét đánh giá nguồn ngoại tệ mà Ngân hàng đã huy động trong những năm vừa qua, chúng ta hãy xem bảng sau: Bảng 6. Biến động nguồn vốn ngoại tệ của Ngân hàng Sacombank – Chi nhánh Đống Đa Thời điểm Nguồn vốn 2010 2011 2012 Tổng vốn ngoại tệ (ngàn USD) 750 1.400 4.300 Tổng vốn ngoại tệ quy đổi (tỷ đồng) 8,80 16,40 59,70 Biến động (tỷ đồng) 0 7,60 43,30 % biến động 0 86,36% 264% (Trích từ báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng) Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy lượng vốn huy động bằng ngoại tệ tăng trưởng một cách nhanh chóng (riêng năm 2012 tăng 364% so với 2011). Lượng vốn ngoại tệ huy động ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn huy động được. Cụ thể năm 2010 tỷ lệ của vốn ngoại tệ huy động được so với tổng vốn huy động chỉ chiếm có 7,28%, nhưng đó chiếm 15,4% trong năm 2011 và đặc biệt năm 2012 tỷ lệ này tăng một cách đáng kể 39,48%. Điều này chứng tỏ lượng vốn huy động bằng ngoại tệ ngày một đóng vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng. Để có nguồn vốn ổn định và tăng trưởng Ngân hàng Sacombank Đống Đa đã tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác huy động vốn bằng nhiều hình thức tiền gửi để khách hàng lựa chọn. Ngân hàng thực hiện tốt khâu giao dịch và tiếp thị đối với khách. Đồng thời Ngân hàng thường xuyên khảo sát lãi suất huy động vốn trên thị trường và các tổ chức tín dụng khác để đề xuất Ngân hàng cấp trên điều chỉnh lãi suất huy động cho phù hợp với các Ngân hàng đúng trờn địa bàn Hà Nội. 2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG SACOMBANK – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA. 2.3.1 Kết quả huy động vốn đạt được tại Ngân hàng Sacombank – chi nhánh Đống Đa Nhanh chóng tranh thủ các mối quan hệ mở rộng thị phần khách hàng. Sử dụng các sản phẩm huy động vốn linh hoạt. Trên nền tảng sacombank, xây dựng thương hiệu, tạo niềm tin cho khách hàng cũng như uy tín của Chi nhánh trên địa bàn. Có chế độ khen thưởng về vật chất và tinh thần kịp thời, động viên cán bộ công nhân viên trong công tác huy động vốn Có tập thể đoàn kết, biết tạo động lực cho toàn thể cán bộ công nhân viên hăng say lao động, tạo phong cách giao dịch phù hợp theo cơ chế thị trường. 2.3.2 Hạn chế trong huy động vốn tại Sacombank – chi nhánh Đông Đô - Tỷ lệ nguồn vốn ngoại tệ chưa cao - Nguồn tiền gửi không kỳ hạn còn thấp dẫn tới chi phí đầu vào cao, chưa tận dụng được nguồn vốn giá thấp trong kinh doanh. 2.3.3 Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế trong huy động vốn Sacombank – Chi nhánh Đống Đa Nguyên nhân khách quan: - Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT Thường Tín nằm trên địa bàn có sự cạnh tranh từ các Ngân hàng và các TCTD khác như NH Công thương, Ngân hàng MHB, Ngân hàng SHB và nhiều Quỹ tín dụng nhân dân. Sản phẩm huy động chưa linh hoạt Tồn tại tín dụng đen trên địa bàn - Diễn biến lãi suất huy động, lãi suất cho vay trên thị trường biến động liên tục và không thuận lợi cho Ngân hàng. Nguyên nhân chủ quan: - Công tác tiếp thị cũn kộm, đội ngũ Marketing chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản (Trên địa bàn huyện có một số nguồn vốn từ việc đền bù giải phóng mặt bằng cho dân cư chưa huy động được tối đa). - Chưa có biện pháp đòn bẩy hữu hiệu, tạo áp lực cho cán bộ trong công tác huy động vốn. - Khả năng huy động vốn tại một số Phòng giao dịch chưa cao. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG SACOMBANK – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 3.1. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG SACOMBANK – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 3.1.1. Mục tiêu Là một trung gian tài chính, Ngân hàng nhận thức đượcrằng để hoạt động kinh doanh được tiến hành một cách thường xuyên và liên tục thì trước hết phải có nguyên liệu đầu vào, mà hoạt động tìm kiếm nguyên liệu đó là quá trình thu hút vốn tiền gửi của dân cư và các tổ chức kinh tế (TCKT). Do vậy mục tiêu huy động vốn có vị trí rất quan trọng trong mục tiêu tổng thể của Ngân hàng. Mục tiêu này được xác định trên cơ sở: Xuất phát từ định hướng chiến lược của Ngân hàng Sacombank: Giữ vị thế là một trong những Ngân hàng lớn nhất Việt Nam, giữ vai trò chủ đạo trong việc cung ứng vốn đầu tư phát triển, luôn nỗ lực cao nhất để đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, từng bước xây dựng Ngân hàng Sacombank trở thành một Ngân hàng vững mạnh để nhánh chóng hội nhập với các Ngân hàng trong khu vực và thế giới. Xuất phát từ ddingj hướng chiến lược huy động vốn của ngấn hàng Sacombank: Đa dạng hóa các hình thức huy động, có biện pháp nâng cao tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, đồng thời tăng lượng vốn huy động từ các tầng lớp dân cư. Coi trọng công tác huy động vốn trung và dài hạn thông qua phát hành kỳ phiếu, trái phiếu trung và dài hạn ở cả trong và ngoài nước. Gắn chiến lược huy động vốn với sử dụng vốn Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt đối với khách hàng Đồng thời dựa trên đường lối chiến lược và phát triển kinh tế chung của Đảng và Nhà nước, kế hoạch phát triển của hệ thống Ngân hàng Sacombank giai đoạn 2011 – 2020, căn cứ vào điều kiện thuân lợi và khó khăn của môi trương kinh doanh, Ngân hàng Sacombank – chi nhánh Đống Đa đã xác định một số mục tiêu chủ yếu trong thời gian tới: Mục tiêu tổng quát: Phấn đấu trở thành một trong những Ngân hàng đầu tiên trên địa bàn về quy mô hoạt động và chất lượng dịch vụ, về sức canh tranh và tính năng động. Là một trong những Ngân hàng có chất lượng hoạt động tốt trên địa bàn, có cơ cấu hợp lý, có sản phẩm đa dạng, phong cách phục vụ kiểu mẫu. Là Ngân hàng kinh doanh đa năng tổng hợp, có tỷ trọng dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn. Có trình độ công nghệ Ngân hàng tiến tiến, cao hơn mức trung bình trên địa bàn. Xây dựng tập thể vững mạnh, đoàn kết nhất trí cao, hoạt động điều hành có kỷ cương nề nếp đảm bảo có thu nhập cao, ổn định người lao động. Cụ thể chỉ tiêu kế hoạch năm 2013 được chi nhánh đặt ra là: Nguồn vốn huy động bình quân tăng 30% so với nawnm 2012. Dư nợ bình quân tăng 20% so với năm 2012. Thu dịch vụ ròng tăng 35% so với năm 2012. Lợi nhuận trước thuế tăng 10% so với năm 2012. Tỷ lệ dư nợ quá hạn <3% Trích tỷ lệ dự trữ bắt buộc đúng theo quy định Mục tiêu trong công tác huy động vốn. Tiếp tục duy trì và đẩy mạnh hơn nữa hiệu uqar các hình thức huy động vôn truyền thống, đồng thời đa dang hóa các công cụ và hình thức huy động vốn mới, sử dụng công cụ lãi suất phù hợp để tạo nên nguồn vốn ổn định, giảm sự biến động vốn theo chu kỳ. Từng bước cấu lại khách hàng theo hướng tăng nên vốn tiền gửi thanh toán và tăng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn. Nâng cao hơn nữa chất lượng các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng. Tiếp tục nâng cáo chất lượng hoạt động của mạng lưới huy động, tăng cowng tiếp thị, quảng cáo thông tin, tuyên truyền và áp dụng nhiều hình thức khuyến khích tạo điều kiện phục vụ tốt nhất cho Ngân hàng. Chủ động kiểm soát gia tăng tín dụng trên cơ sở cân đồi nguồn vốn và gắn liến với tăng cường kiểm tra, đánh giá, phân tích thực trang các khoản vay, đặc biệt là các khoản vay có tiềm ẩn rủi ro dẫn đến khả năng không thu ddowcj nợ. Trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị cần thiết, chú trọng tới yếu tố động bộ và kịp thời trong đầu tư công nghệ. 3.1.2. Phương hướng chiến lược trong thời gian tới Tiếp tục thực hiện chương trình huy động vốn theo chỉ đạo của Ngân hàng Sacombank và Ngân hàng Nhà nước, huy động vốn trong nước là chủ yếu, từng bước điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn tạo nguồn để cho vay trung và dài hạn, hạn chế cho vay nước ngoài. Trên cơ sở cơ chế, chính sách, Ngân hàng tích cực mở rộng quan hệ vay vốn bằng nhiều hình thức với các Ngân hàng và các tổ chức tài chính quốc tế để tạo thêm nguồn vốn pục vụ cho đầu tư. Nghiên cứu thực hiện phương thức NHTM phối hợp với các doanh nghiệp xây dựng dự án để gọi vốn liên doanh, vay vốn nước ngoài. Mở rộng huy động vốn gắnliền với khả năng mở rộng cho vay và đầu twvaof các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các chương trình ngành kinh tế và các dự án có hiệu quả. Coi huy động vốn là nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa then chốt, quyết định của từng chi nhánh để đáp ứng nhu cầu giải ngân các hợp đồng tín dụng đã ký, đồng thwoif giữ vững nên vốn , đảm bảo khả năng thanh toán. Coi huy ®éng vèn lµ nhiÖm vô träng t©m cã ý nghÜa then chèt quyÕt ®Þnh cña tõng chi nh¸nh ®Ó ®¸p øng nhu cÇu gi¶i ng©n c¸c hîp ®ång tÝn dông ®· ký, ®ång thêi gi÷ v÷ng nÒn vèn, ®¶m b¶o kh¶ n¨ng thanh to¸n. Thực hiện theo hướng coi trọng việc tăng trưởng tiền gửi khách hàng là trọng tâm trên cơ sở nâng cao chất lượng và mở rộng dịch vụ thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, mở rộng cung ứng các sản phẩm dịch vụ để tăng nhanh số lượng khách hàng có quan hệ giao dịch với Ngân hàng. Coi việc huy động vốn dân cư là nhiệm vụ thường xuyên. Trên cơ sở phân tích nhu cầu thị trường để đưa ra các hình thức huy động, kỳ hạn, lãi suất huy động cho phù hợp nhằm thu hút tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi đang còn nằm phân tán trong nền kinh tế. Đồng thời phát triển thêm các loại hình dịch vụ như mở rộng thanh toán qua các hình thức tài khoản tiền gửi các nhân, mở rộng dịch vụ đại lý. Tăng tỷ trọng huy động vốn trung và dài hạn nhằm từng bước khắc phục tình trang thừa vốn ngắn hạn, thiếu vốn trung và dài hạn. Việc đẩy mạnh huiy động vốn trung và dài hạn là yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài của ngành Ngân hàng nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn của nền kinh tế. Tập trung toàn lực huy động vốn bằng đồng ngoại tệ (VNĐ), nhất là vốn trung và dài hạn nhằm cần đối cơ cấu loại tiền và cơ cấu kỳ hạn trong tổng tài sản của Ngân hàng. Coi việc huy động tiền gửi của khách hàng là then chốt, đột phá tăng trường tiền gửi thông qua tăng trưởng số lượng khách hàng, tăng quy mô giao dịch của mỗi khách hàng, thực hiện đa dạng hóa khách hàng giao dịch theo thành phần và theo lĩnh vực kinh doanh nhằm tránh những biến động nguồn tiền theo chu kỳ kinh doanh. Tăng cường hoạt động trong khâu tiếp thị đặc biệt là với những khách hàng có luồng tiền mặt lớn. Nghiên cứu và đưa ra các hình thức huy động vốn mới, tiếp tục duy trì và hoàn thiện các hình thức huy động vốn truyền thống, đồng thời đa dạng hóa các công cụ và hình thức huy động như nhận tiền gửi ủy thác đầu tư, vốn tài trwoj trên cơ sở xử lý hài hòa lợi ích cả người gửi tiền, NHTM và người vay vốn thông qua việc xác định lãi xuất huy động vad lãi suất cho vay phù hợp. Mở rộng mạng lưới huy động đặc biệt là đầu tư vào cơ sở vật chất nhằm tạo hình ảnh tốt về Ngân hàng, mở rộng và cải tiến mạng lưới giao dịch phù hợp với quy mô tăng trưởng nguồn vboons huy động, nghiên cứu áp dụng các sản phẩm dịch vụ mới ngày càng đa dạng nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường. Gắn chặt các hoạt động khác với công tác huy động vốn, các phòng tín dụng gắn nhiệm vụ huy động vốn tiền gửi thông qua quan hệ tín dụng, cung ứng các dịch vụ tiện ích phục vụ khách hàng, tăng cường cho vay có bảo đảm bằng tiền gửi của khách hàng với lãi suất ưu đãi, khuyến khích khách hàng chuyển doanh thu từ các dự án vào tài khoản tại Ngân hàng, đồng thời nắm vwnngx nhu cầu sử dụng vốn vay, tiền gửi tại Ngân hàng nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý và sử dụng vốn. Các phòng kế toán, thanh toán quốc tế nâng cao chất lượng và tốc độ giao dịch, ưu đãi phí hợp lý nhằm tăng thêm doanh số giao dịch và tiền gửi. Thực hiện giao chỉ tiêu huy động vốn đến từng phòng nghiệp vụ. Đề cao trách nhiệm và vai trò của các bộ phận nghiệp vụ trong công tác nguồn vốn và sử dụng vốn, thực hiện công tác kinh doanh tiền tệ để thu hút thêm nhiều khách hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng thu dịch vụ cho Ngân hàng. Hết sức coi trọng công tác điều hành vốn, cân đối hợp lý cơ cấu tài sản Nợ - Có nhằm hạn chế ruiur ro lãi suất, rủi ro kỳ hạn cũng như tỷ giá. Vận dụng các cơ chế hiện hành tổ chức điều hòa ngồn vốn linh hoạt, phấn đấu dần dần điều chỉnh cơ cấu tài sản Nợ - Có phù hợp nhằm hạn chế rủi ro về cơ cấu loại tiền, lãi suất đối với hoạt động của Ngân hàng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tiếp tục đổi mới cơ chế điều hành nguồn vốn theo hướng xây dựng cơ cấu vốn tích cực, tăng vốn trung và dài hạn, đảm bảo vốn phục vụ cho đầu tư phát triển, giữ vững và phát triển nền vốn. Giao chỉ tiêu huy động vốn tiền gửi khách hàng cho từng cán bộ giao dịch trực tiếp như Tín dụng, kế toán, thanh toán quốc tế… Giao chỉ tiêu huy động vốn dân cư hàng quý đối với các Quỹ tiết kiệm, các Phòng giao dịch, các chi nhánh có gắng với động lực vật chất. 3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG SACOMBANK – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA TRONG THỜI GIAN TỚI. Qua việc nghiên cứu nội dung và công tác huy động vốn tại Ngân hàng Sacombank- chi nhánh Đống Đa , ta thấy nguồn vốn huy động có bươc tăng trưởng cao qua các năm , đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của Ngân hàng. Chiến lược huy động vốn hướng vào tăng trưrơng nguồn vốn huy động tại chỗ là hợp lý, giúp cho Ngân hàng ngày càng độc lập tự chủ trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên bên cạnh những điều kiện thuận lơi cả bên trong và bên ngoài Ngân hàng thì Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế cần khắc phục . Để nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn thì Ngân hàng phải xây dựng được hệ thống các giải pháp hợp lý nhằm khai thác tối đa các nhân tố tích cực , hạn chế những nhân tố tiêu cực . Dưới quan điểm là một cá nhân đang nghiên cứu về hoạt đông huy động vốn , em mạnh dạn đề xuất một số giải pháp như sau: 3.2.1. Xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thời kỳ. Mỗi một Ngân hàng phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp cho tưng thời kỳ trên cơ sở phát triển chiến lược chung của Đảng và nhà nước , chiến lược phát triển chung của nghành , của từng hệ thống NHTM . Tùy từng điều kiện khách quan và chủ quan thuận lợi hay bất lợi mà từng chi nhánh xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh cụ thể (chiến lược huy động vốn , chiến lược sử dụng vốn và các hoạt động khác ). Trên cơ sở chiến lược đề ra , dựa trên điều kiện thực tế đẻ Ngân hàng có biện pháp cụ thể để tổ chứ chỉ đạo , điều hành thực hiện thự tế chiến lược chung đó , đông thời phaỉ thường xuyên cập nhật thông tin để có ý kiến chỉ đạo kịp thời. 3.2.2. Cải tiến nghiệp vụ, đa dạng hóa các hình thức huy động Để hấp dẫn người gửi tiền và giảm bớt khối lượng giấy tờ cần thiết phải sử lý thì Ngân hàng cần phải thực hiện hiện đạn hóa , vi tính hóa quy trình thực hiện cong việc. Trước đây , nhiều người có tiền không muốn gửi tiền vào Ngân hang vì họ cjo rằng thủ tục gửi tiền và rút tiền rất phiền hà . Do vậy đã hạn chế rất nhiều đén công tác huy động vốn. Muốn nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn thì Ngân hàng phải tiến hành cải tiến qui trình nghiệp vụ , giảm thủ tục giấy tờ , tăng năng suất phục vụ khách hàng , tạo tâm lý thoải mái cho khách hàng khi đến giao dịch với Ngân hàng . Cần phải mở rộng mạng lưới huy động , chi nhánh phải có kế hoạch cụ thể và chủ động mở ra các điểm giao dịch mới , tăng cương thêm phương tiện vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động ở trụ sở cũng như các điểm giao dịch khác để nâng cao chất lương phục vụ khách hàng . Đồng thời hết sức chú trọng tới việc tao ra bộ mặt mang phong cách riêng của Ngân hàng , bằng cách nâng cao tinh thần , tác phong phục vụ , phấn đấu đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng . Đa dạng hóa các hình thức huy động , thương xuyên bám sát tình hình biến đông lãi suất thị trường , dư báo xu hướng biến động để đưa ra các mức lãi suất hợp lý , linh hoạt có tính cạnh tranh cao . Làm như vậy thì mới có thể đáp ưng được nhu cầu đa dạng của người gửi tiền , nhờ đó mà Ngân hàng có thể khai thác triệt để hơn các nguồn vốn tiềm năng. Sử dụng linh hoạt nhiều phương thúc huy động vốn , cần nghiên cứu áp dung nhiều hình thức huy đông vốn mới như phát hành kỳ phiếu, trái phiếu để huy đông vốn trung và dài hạn , phát hành chứng chỉ tiêng gửi. Về tiền gửi tiết kiêm thì áp dung nhiều các loại hình tiết kiệm mới như tiết kiêm hưu trí, tiết kiệm an sinh học đường, tiết kiệm hôn nhân, tiết kiệm báo hiếu, tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm gửi một nơi nhưng có thể rút ở nhiều nơi khác nhau . nghiên cứu các hình thức huy đông tiết kiệm gửi góp, nhận trả tại nhà… 3.2.3.Đa dạng hóa và nâng cao các loại hình dịch vụ Ngân hàng Trong hoạt đông Ngân hàng hiện nay, các Ngân hàng cạnh tranh với nhau chủ yếu bằng hệ thống dịch vụ Ngân hàng . Chiến lược này bao gồm việc đa dạng hóa bằng cách áp dụng có chọn lọc các hoạt đông mà các Ngân hàng khác (cả trong và ngoài nước) đã áp dụng , từ đó cải tiến để tao ra sự khác biệt đối với những dịch vụ mới theo một qui trình chính thức . Dịch vụ đa đạng , thuận tiện sẽ tác động trực tiếp tới qui mô và chất lượng nguồn tiền gửi giao dịch của khách hàng , chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn nhằm phục vu cho mục đích thường xuyên của họ. Hơn nữa , dịch vụ đa dạng cững có tác dụng kích thích thu hút thêm được nhiều nguồn vốn có kỳ hạn . Trình độ công nghệ Ngân hàng càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy hài lòng về những dịch vụ được cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền vào Ngân hàng. Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp Ngân hàng thực hiện cạnh tranh phi lãi suất vì khách hàng không chỉ quan tâm tới lãi suất mà còn cả chất lương các dịch vụ mà họ được cung ứng nhất là đối với khách hàng lớn. Với cùng một mức lãi suất huy động như nhau ,Ngân hàng nào cung ứng dịch vụ tốt hơn thì họ chiếm ưu thế hơn trong cạnh tranh. Các dịch vụ Ngân hàng là yếu tố quan trọng nói lên tiện ích của Ngân hàng. Hiện nay, ở nước ta hệ thống Ngân hàng ngoài việc thu hút tiền gửi tiết kiệm của dân cư thông qua việc cạnh tranh lãi suất và thực hiện những dịch vụ chủ yếu đối với các doanh nghiệp , hiện nay còn một mảng rất lớn các tiện ích Ngân hàng dành cho cá nhân đang bị bỏ ngõ. Do vậy, để hoạt động dịch vụ sớm trở thành công cụ cạnh tranh trong việc thu hút khách hàng , tăng nguồn vốn huy động đồng thời làm tăng thu nhập cho khách hàng thì ngoài các dịch vụ hiện đang áp dụng, Ngân hàng cần tiến hành thêm các dịch vụ khác như tư vấn đầu tư , tư vấn tài chính, tư vấn pháp luật. Mở rộng hoạt động quản lý tài chính , chi trả thu nhập, trả lương cho các doanh nghiệp lớn, phát triển các dich vụ kiều hối và dich vụ khác nhằm thu hút ngoại tệ , tăng nguồn thu ngoại tệ cho kinh doanh phù hợp với chính sách quản lý ngoại hối và tăng dự trữ ngoại tệ cho Ngân hàng. Ngân hàng cần tham gia tích cực hơn nữa vào các hoạt động của thị trường chứng khoán, đây là một kênh thu hút nguồn vốn trung và dài hạn rất quan trọng . Với khả năng của mình Ngân hàng có thể tham gia vào các hoạt động như phát hành, đại lý phát hành chứng khoán, trung gian môi giớ thực hiên mua bán chứng khoán. Ngoài ra Ngân hàng và quản lý chứng khoán , thục hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, tiện lợi, an toàn. 3.2.4. Sử dụng lãi suất linh hoạt trong từng thời kì, đáp ứng sự biến động của thị trường, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Lãi suất là công cụ quan trọng để Ngân hàng huy động nguồn vốn hiện có trong các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng khác. Đồng thời Ngân hàng có thể sử dụng để điều chỉnh cơ cấu tiền gửi có kỳ hạn , vì mục đích chủ yếu của khách hàng là có lãi. Chính sách lãi suất hợp lý phải vừa đâỷ mạnh việc thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội đồng thời vừa kích thích các khách hàng vay vốn sử dụng vốn có hiệu quả phục vụ cho đầu tư sản suất kinh doanh. Lãi suất hiện nay còn bị ảnh hương rất lớn bởi sự cạnh tranh của các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Do đó, Ngân hàng cần phải xây dựng và thực hiện chính sách lãi suất trên cơ sở chính sách khách hàng và tính lãi suất hiệu quả hoặc mứ độ rủi ro của từng món vay. Đồng thời phải mang tính linh hoạt, uyển chuyển, đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, người vay tiền nhưng trên hết phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. Việc ấn định lãi suất còn căn cứ vào quan hệ cung cầu về vốn trên thịh trường ở tưng thời kì khác nhau, trong đó lãi suất đầu ra qui định lãi suất huy đông đầu vào, thể hiện ở việc huy động vốn phải được thực hiện trên cơ sở sử dụng vốn. Tùy theo từng điều kiện cụ thể mà Ngân hàng nên điều chỉnh khung lãi suất phù hợp, đảm bảo tính cạnh tranh cho Ngân hàng. Lãi suất huy động có ảnh hưởng lớn trong việc thu hút khách hàng gửi tiền vào Ngân hàng , cho nên ngoài yếu tố uy tín của Ngân hàng thì lãi suất đóng vai trò ất quan trọng trong việc thu hút vốn tiền gửi. Nếu lãi suất hợp lý thì sẽ thu hút được nhiều các khoản tiền nhà rỗi trong xã hội vào Ngân hàng. Do vậy Ngân hàng cần phải thường xuyên theo dõi tình hình biến đông lãi suất trên thị trường, dư đoán xu hướng biến động, thực hiện tính toán lãi suất bình quân đầu ra, đầu vào để đưa ra các mức lãi suất có tính cạnh tranh, vùa có tính hấp dẫn nhưng vẫn đảm bảo lợi ích cho Ngân hàng. 3.2.5. Gắn liền huy động vốn với sử dụng vốn Trong hoạt động Ngân hàng hiện nay, muốn đạt hiệu quả cao trong kinh doanh thì phải bám sát vào nhu cầu thực tế để có những điều chỉnh kịp thời. Trong đó hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn là công việc chủ yếu và thương xuyên của bất kỳ Ngân hàng nào. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh thì vấn đề là phải làm sao cân đối đươc hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn để cho Ngân hàng không bị động trong kinh doanh, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đảm bảo chi phí thấp. Nguồn vốn huy động chỉ thự sự phát huy hiệu quả khi nó đươc sử dung đúng nơi, đúng lúc. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng của công tác huy động vốn. Đồng thời, việc sử dụng vốn có hiệu quả là cơ sở để Ngân hàng mở rộng thực hiện huy động vốn. Về mặt kinh tế, sử dụng vốn có hệu quả sẽ đảm bảo cho Ngân hàng có khả năng trang trải chi phí cho nhưng nguồn vốn huy động và mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Ngoài ra còn tao cơ sở để Ngân hàng áp dụng các biên pháp kinh tế trong công tác huy động vốn sau này. Hơn nữa việc sử dung vốn có hiệu quả còn thúc đẩy sự phát triển trong quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng của mình, tao cho Ngân hàng ngày càng nhiều khách hàng đến giao dịch với Ngân hàng. Quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả chính là một cách tạo vốn và phát triển vững chắc nhất. Do vậy, cùng với chiến lược huy đông vốn, Ngân hàng cần phải có chiến lược sử dụng vốn đúng đắn cho thời gian trước mắt và lâu dài một cách có hiệu quả và tiết kiệm. Hoạt động huy đông vốn và sử dụng vốn nên gắn bó với nhau theo các tỉ lệ an toàn tối thiểu và tỷ lệ an toàn tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, tỷ lệ dự trữ tối đa cho vay đối với số dư tiền gửi theo quyết định của thống đốc Ngân hàng nhà nước và thực hiện hoạt đông kinh doanh của Ngân hàng. 3.2.6. Tăng cường công tác Marketing trong tất cả các mảng hoạt động của Ngân hàng Để hoạt động kinh doanh được diễn ra một cách thường xuyên liên tục thì Ngân hàng phải có một số lượng khách hàng đủ lớn co quan hệ giao dịch với khách hàng quan tâm đến sản phẩm mà mình cung ứng là một nhiệm vụ rất quan trọng trong hoạt động Ngân hàng. Muốn vậy thì đòi hỏi Ngân hàng phải thưc hiện tốt công tác Marketing Ngân hàng. Hiện nay các sản phẩm Ngân hàng chưa được các phương tiện thông tin đại chúng quảng cáo rầm rộ như các sản phẩm khác, có chăng chỉ là các sản phẩm truyền thống như tiết kiệm, cho vay và một số sản phẩm khác và cũng chỉ thực hiện khi các Ngân hàng cần vốn để thực hiên cho một dự án đầu tư cụ thể. Các sản phẩm dịch vụ mới thì chưa được quảng cáo, hướng dẫn, giới thiệu. Như vậy là chưa cung cấp một cách đầy đủ các thông tin cần thiết đến dân chúng khiến cho họ có tâm lý e ngại khi có nhu cầu cần tìm một Ngân hàng để giao dịch, đạc biệt là các cá nhân và doanh nghiệp nhỏ. Do vậy mà Ngân hàng cần phối hợp với các ngành phát thanh, truyền hình, báo chí để xây dựng hình ảnh của mình trong lòng thị trường. Không nhất thiết phải thực hiên thường xuyên mà có thể định kỳ hàng tuần, hàng tháng co những buổi phát sóng quảng cáo giới thiệu về Ngân hàng, các hình thức dịch vụ mà Ngân hàng cung ứng, giới thiệu, hướng dẫn các sản phẩm dịch vụ mới. Để thực hiện thành công Marketing trong Ngân hàng, ngoài bộ phận chuyên trách phân tích thì tất cả nhân viên cũng như ban lãnh đạo đều phải tham gia vào hoạt đông này, coi tiếp thị là một công tác trọng tâm trong hoạt động của Ngân hàng. Bên cạnh đó đặc biệt chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, giáo dục thái độ phục vụ ân cần, niềm nở cho đội ngũ nhân viên giao dịch tại quầy. Thái độ phục vụ chianhfs là yếu tố tạo nên ấn tượng của khsch hàng về Ngân hàng. Với sự phục vụ tận tình của mình, các cán bô công nhân viên đã tham gia một cách tự nhiên vào hoạt động Marketing Ngân hàng. Ngân hàng nên thực hiện nghiên cứu chu kỳ khách hàng về nhu cầu nguồn vốn cũng như các dịch vụ khác của Ngân hàng, tiến hành phân tích khách hàng để nắm bắt được nhu cầu của khách hang từ đó nâng cao hiệu quả phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. Ngoài ra, Ngân hàng phải có chiens lược khách hàng đúng đắn, ưu tiên khách hàng truyền thống, khách hàng giao dịch với số lương lớn về lãi suất, phí dịch vụ, thời gian và cac ưu đãi khác. Cần có chính sách khuyến khích vật chất với những khách hàng lớn để vừa có thị trường đầu tư vốn, vừa thu hút được khách hàng và có khả năng được khối lượng lớn nguồn vốn. Hàng năm nên tổng kết rút kinh nghiệm trong công tác Marketing, công tác khách hàng trong năm trước, phát huy những điểm mạnh hạn chế điểm yếu, tham khảo kinh nghiêm của các Ngân hàng khác trên địa bàn, quan tâm đến đông thái của các doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh để thực hiện chính sách Marketing phù hợp với đặc điềm và qui mô của Ngân hàng. 3.2.7. Nâng cao vị thế và uy tín của Ngân hàng Trong hoạt động Ngân hàng thì vị thế và uy tín của Ngân hàng có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của Ngân hàng. Nếu các Ngân hàng trên cùng địa bàn đưa ra các mức lãi suất huy động như nhau, cung ứng các sản phẩm dịch vụ như nhaun thì Ngân hàng nào có vị thế và uy tín cao hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn nhất là các khách hàng lớn. Uy tín của Ngân hàng dduocj thể hiện trong chính các hoạt động của Ngân hàng như khả năng sẵn sàng chi trả theo nhu cầu của khách hàng, khả năng đối phó với các trương hợp khách hàng rút tiền ra với khối lượng lớn và đột xuất, khả năng cho vay đối với các dự án lớn, mức độ đa dạng của sản phẩm dịch vụ mà Ngân hàng cung ứng cũng như những tiện ích mà Ngân hàng mang lại cho khách hàng và hơn hết là mức độ hài lòng của khách hàng về việc sử dụng các sản phẩm Ngân hàng. Như vậy với khả năng của mình Ngân hàng sẽ tạo ra được hình ảnh của riêng mình trong lòng thi trường, một Ngân hàng lớn có uy tín và danh tiếng trong nhiều năm thì sẽ có được lợi thế trong hoạt động huy động vốn nói riêng và trong hoạt động Ngân hàng nói chung. Sự tin tưởng của khách hàng sẽ giúp cho Ngân hàng ổn định khối lượng, vốn huy động và tiết kiệm được chi phí huy đông, nâng cao khả năng thu hút và giữ được khách hàng của mình thậm chí trong những trường hợp lãi suất huy động tiền gửi có thấp hơn một chút nhưng người gửi tiền vẫn lựa chọn Ngân hàng để gửi tiền. Đối với người gửi tiền thì mà không tìm đến những Ngân hàng khác trả lãi hấp dẫn hơn vì họ cho rằng ở đây đồng vốn của mình sẽ tuyệt đối an toàn. 3.2.8. Xây dựng trụ sở và trang bị hệ thống máy móc thiết bị để tạo ra hình ảnh tốt về Ngân hàng Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược Marketing Ngân hàng. Đối với người gửi tiền thì mục đích của họ là đồng vốn của mình sinh lãi và an toàn sau một thời gian đầu tư. Do vậy mà trụ sở Ngân hàng tạo ra ấn tượng đầu tiên của khách hàng đối với Ngân hàng về mứ độ an toàn, khả năng tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh nhất là đối với những khách hàng lần đầu tiên quan hệ giao dịch với Ngân hàng. Ngoài vị trí và mức độ khang trang của trụ sở Ngân hàng thì một yếu tố rất quan trọng với hoạt đông của Ngân hàng nhằm tăng năng suất và rút ngắn thời gian thực hiện công việc. Ngân hàng cần tiến hành trang bị thêm máy móc hiện đại và nâng cấp các chương trình phần mềm, xác lập hệ thống thông tin nội bộ, hoàn chỉnh đồng bộ để phục vụ kinh doanh, nâng cao độ chính xác an toàn, hiệu quả, thuận lợi và cung cấp thông tin kịp thời chính xác giúp cho công tác chỉ đạo điều hành hoạt động của Ngân hàng một cách tốt nhất. Việc áp dụng công nghệ vào hoạt đông của Ngân hàng có khả năng cung ứng cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ hiệu quả nhất. Qua việc phân tích về thực trang huy động vốn của Ngân hàng trong thời gian qua, ta nhận thấy tuy môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn song với khả năng của mình Ngân hàng vẫn đảm bảo duy trì được nguồn vốn ổn định để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Điều đó chứng tỏ rằng tiềm năng vốn trong dân là rất lớn nhưng vấn đề làm sao để khai thác được có hiệu quả các nguồn vốn này thì lại phụ thuộc vào khả năng của từng Ngân hàng. Do vậy từng Ngân hàng cần phải tìm ra những giải pháp riêng cho mình và tân dụng nó một cách có hiệu quả thì mới có khả năng đem lại kết quả cao trong hoạt đông kinh doanh của chính Ngân hàng. 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG SACOMBANK – CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA 3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước Ổn định kinh tế vĩ mô Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của Ngân hàng.Nó có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi nhưng cũng có thể gây cản trở,hạn chế công tác huy động vốn.Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô là thành quả của sự phối hợp nhiều chính sách như chính sách tài khóa,chính sách tiền tệ,chính sách đối ngoại…trong đó chính sách tiền tệ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động của Ngân hàng. Đối với Việt Nam hiện nay,một trong những nội dung của việc ổn định môi trường kinh tế vĩ mô chính là việc chống lạm phát,ổn định tiền tệ.Nó là điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các giải pháp huy động vốn có hiệu quả.Thực tế đã chứng tỏ rằng.trong thời gian qua Nhà nước và các ngành,các cấp trong đó trước hết là Ngân hàng nhà nước đã thành công trong việc tạo lập và duy trì ổn định tiền tệ .Ngân hàng nhà nước đã bước đầu sử dụng các công cụ của chình sách tiền tệnhằm ổn định môi trường king tế vĩ mô một cách có hiệu quả,duy trì được tỉ lệ lạm phát hợp lí.Đây là điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các giải pháp huy động có hiệu quả.Trong giai đoạn tới một trong những giải pháp ổn định chủ yếu là phải kiểm soát và ổn định cơ cấu đầu tư sao cho neenf kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong thế ổn định và bền vững.Đồng thời cũng là điều kiện phát huy tác dụng của chính sách tiền tệ trong việc điều tiết lượng tiền trong lưu thông sao cho phù hợp với các mục tiêu và sự biến động của nền kinh tế. Tạo lập môi trường pháp lý Theo tinh thần của Đảng và Nhà nước thì trong cơ chế thị trường các thành phần kinh tế được tự do lựa chọn hình thức sở hữu,tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh (những ngành nghề mà pháp luật không cấm) được tự do cạnh tranh…Song phải đặt dưới sự cạnh tranh giám sát của nhà nước.Do vậy nhà nước cần ban hành hệ thống pháp lí đồng bộ và rõ ràng nhằm định hướng hoạt động cho các ngành kinh tế nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng. Trong lĩnh vực Ngân hàng,hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.Do vậy mà cần sự định hướng chung của Nhà nước và sự chỉ đạo sát sao,kịp thời nhằm ổn định thị trường tiền tệ,góp phần đem lại hiệu quả hoạt động chung cho các ngành khác.Việc nhà nước ban hành hệ thống pháp lí không chỉ tạo niềm tin đối với công chúng mà còn với những khuyến khích của nhà nước còn tác động trực tiếp đến việc điều chỉnh quan hệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm,chuyển một bộ phận tiêu dùng chưa cấp thiết sang đầu tư,chuyển đần tái sản cất trữ dưới dạng vàng hoặc bất động sản sang đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh hoặc gửi vốn vào Ngân hàng kể cả việc khai thác ở mức cao nhất tiềm lực vốn của các doanh nghiệp. Các văn bản luật hoặc dưới luật cần được ban hành một cách có hệ thống hơn nhằm đảm bảo mọi hoạt động tài chính,tiền tệ ,tín dụng đều được pháp luật hóa ,tạo nên một môi trường ổn định về pháp lí và chế độ chính sách cho các Ngân hàng.Song song với việc ban hành các điều luật về Ngân hàng Nhà nước cũng nên kết hợp với các luật khác như Luật ngân sách,luật doanh nghiệp ,luật thương mại…để tạo ra hệ thống luật đầy đủ và đồng bộ.có tác dụng điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến hoạt đông Ngân hàng. Việc ban hành ,hướng dẫn thi hành và thuecj hiện cần phải xử lí thống nhất chặt chẽ.Đồng thời phải có sự phối kết hợp giữa các ngành,các cấp hữu quan để tạo lập và hoàn thiện các văn bản pháp luật trong khác có liên quan.Mặt khác phải xử lí nghiêm minh các hnahf vi,vi phạm pháp luật nhất là đối với các cán bộ Ngân hàng.Làm như vậy mới tạo được niềm tin của dân chúng vào vai trò của đảng và nhà nước trong việc điều hành các hoạt động của nền kinh tế nói chung cũng như ý tưởng vào hệ thống Ngân hàng nói riêng. 3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng Nhà Nước Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực Tiền tệ-Tín dụng-Ngân hàng. Ngân hàng nhà nước thực hiện vai trò quản lý của mình thông qua các NHTM từ đó tác động vào nền kinh tế. Với vai trò là Ngân hàng của các Ngân hàng, Ngân hàng nhà nước định hướng cho các NHTM trong việc thực hiện các hoạt động của Ngân hàng nói chung và tới công tác huy động vốn noi riêng. Do đó Ngân hàng nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện chính sách tiền tệ hợp lý hơn nhằm khuyến khích người dân gửi tiền bằng các công cụ lãi suất, tỷ giá, thị trường mở và một số công cụ khác nhằm bảo đảm quyền lợi cho người gửi tiền. Xây dựng chính sách điều hành lãi suất linh hoạt cho từng thời kỳ. Lãi suất là một công cụ quan trọng trong chính sách tiền tệ của nhà nước nhằm điều chỉnh quan hệ cung cầu trên thị trường. Lãi suất là đòn bẩy kinh tế có tác dụng kích thích người dân có tiền gửi vào Ngân hàng để hưởng lãi và qua công cụ lãi suất thì NHNN sẽ tác động đến lượng tiền cung ứng thông qua các NHTM từ đó làm ảnh hưởng đến lượng tiền trong lưu thông. Do vậy để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về Tiền tệ-Tín dụng- Ngân hàng thì cùng với việc xây dựng và thực hiện đồng bộ các công cụ khác của chính sách tiền tệ thì cần phải chú trọng và thức hiện có hiệu quả công cụ lãi suất trong từng thời kỳ để nâng cao chất lượng hoạt động của mình. Đồng thời cơ chế lãi suất trong nước phải phù hợp với cơ chế lãi suất ở các nước trong khu vực và tiến dần tới thông lệ quốc tế mà Việt nam đang định hướng hội nhập nền kinh tế nói chung và hoạt động Ngân hàng nói riêng. NHNN chuyển dần sang thực hiện các công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ, giảm dần sự can thiệp vào công việc kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Song để cho các tổ chức tín dụng tự điều hành lãi suất của mình theo sự biến động của thị trường sẽ làm cho sự cạnh tranh càng trở nên phức tạp hơn, dễ gây ra sự biến động lớn cho thị trường, Do vậy vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều hành của NHNN, linh hoạt phối hợp điều hành các công cụ của chính sách tiền tệ nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách mới. Đa dạng hoá danh mục các giấy tờ có giá trong các giao dịch của NHNN Công cụ thị trường mở đã được các nước có nền kinh tế tiên tiến trên thế giới áp dụng và đã trở thành công cụ quan trọng bậc nhất để điều hoà lưu thông tiền tệ. ở nước ta hính thức khai trương nghiệp vụ thị trường mở vào ngày 12-07-2000. Mặc dù hiện nay doanh số giao dịch qua các phiên giao dịch chưa lớn, số lượng thành viên và số lượng hàng hoá tham gia trrên thị trường còn hạn hẹp nhưng kết quả các phiên giao dịch cho thấy việc sử dụng công cụ thị trường mở đa có những dấu hiệu tích cực, tác động đến vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng và góp phần thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ. Song để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường thì vấn đề cần làm hiện nay là phải đa dạng hoá danh mục các chứng từ có giá nhằm tạo thêm hàng hoá cho thị trường, đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của các thành viên tham gia thị trường. Hiện nay hàng hoá được giao dịch chủ yếu là tín phiếu kho bạc nhà nước, việc chỉ dựa vào tín phiếu kho bạc trong việc điều tiết cung cầu vốn trên thị trường đã khiến cho NHNN rơi vào thế bị động và là một nguyên nhân quan trọng làm hạn chế hiệu quả tác động của chính sách tiền tệ. Nâng cao vai trò hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự phát triển ổn định, an toàn và lành mạnh hoạt động của hệ thống Ngân hàng để góp phần tích cực vào quá trình phát triển nền kinh tế, ổn định chính trị, xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Do vậy bảo hiểm tiền gửi đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các NHTM. Nâng cao chất lượng bảo hiểm tiền gửi, tức là nâng cao hiệu quả công tác trao đổi và cung cấp thông tin giữa NHNN và Bảo hiểm tiền gửi Việt nam. Việc nắm bắt kịp thời thông tin về tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng tham gia bảo hiểm tiền gửi là rất quan trọng, nó tạo điều kiện để bảo hiểm tiền gửi có phương án kiểm tra, giám sát, chỉ đạo kịp thời. Do vậy, NHNN cần có các giải pháp để phối hợp với Bảo hiểm tiền gửi nhằm tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi, để từ đó Bảo hiểm tiền gửi thực sự trỏ thành chỗ dựa đáng tin cậy và duy trì sự phát triển ổn định của các tổ chức tín dụng trong cơ chế thị trường. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. NHNN phải thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống Ngân hàng, cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để chấn chỉnh và sử lý kịp thời những hành vi, những biểu hiện tiêu cực làm thất thoát vốn của nhà nước va nhân dân. Đưa hoạt động của các tổ chức tín dụng đi vào nề nếp, khuôn phép song vẫn phải đảm bảo quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của từng chi nhánh. 3.3.3. Kiến nghị với Ngân hàng Sacombank Là cơ quan quản lí trực tiếp Ngân hàng Sacombank Hà nội do đó để tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hoạt động thì em xin có một số kiến nghị với Ngân hàng Sacombank Vieeyj nam như sau: Thứ nhất: Kiến nghị về chính sách huy động vốn Cần phải tăng cường công tác dự báo da hạn nhằm giúp các chi nhánh nắm bắt được xu hướng phát triển của thị trường để có biện pháp,giải pháp nghiệp vụ phù hợp. Ngân hàng Sacombank VN cần xây dựng hoàn chỉnh các chức năng,cơ chế huy động vốn mang tính tương đối ổn định nhằm thưc hiện mục tiêu của chiến lược phát triển,trên cơ sở đó xây dựng các chế độ phù hợp để hướng dẫn các chi nhánh chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh trong từng thời kì. Cần tăng cường công tác tuyên truyền quảng cáo như đưa những tin tức,hình ảnh liên quan đến các hoạt động thu tiền gửi tiết kiệm ,các đợt phát hành các loại chứng từ có giá để làm sao cho người dân có được một số thông tin cần thiết nhằm kích thích và thu hút dân chúng quan tâm đến sản phẩm của mình. Thứ hai: Kiến nghị về chính sách lãi suất và công tác điều hành nguồn vốn. +Xây dựng trên cơ sở thực hiện đầy đủ các quy định của NHNN (về tỉ lệ dự trữ bắt buộc ,lí quỹ bảo lãnh,đảm bảo khả năng thanh toán….)theo nguyên tắc đánh giá đúng mức đóng góp của từng chi nhánh vào kết quả chung của toàn ngành ,thực hiện hỗ trợ qua điều chuyển vốn nội bộ nhằm phát huy tính năng ddoonhj của từng chi nhánh. Ban hành cơ chế tổ chức họa động,cơ chế điều hành nguồn vốn,cơ chế điều hành lãi suất phù hợp với quy mô và đặc điểm hoạt động của từng nhánh.Phải xây duwnhj theo hướng tạo khuôn khổ pháp lí,nâng cao quyền tự chủ,linh hoạt phân rõ trách nhiệm trong họt động nhằm phát huy tối đa vai trò và vị thế của từng chi nhánh,các văn bản hướng dẫn phải được ban hành kịp thời,cụ thể và tránh chồng chéo. KẾT LUẬN Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản,thường xuyên và là vấn đề trung tâm trong hoạt động của bất kì Ngân hàng nào.Quy mô,chất lượng huy động vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của các Ngân hàng nói riêng vá nó quyết định tới sự cung ứng vốn cho nền kinh tế nói chung.Với phương châm của Đảng và Nhà nước ta “Coi nguồn vốn trong nước là quyết định,vốn ngoài nước là quan trọng” nhưng trong điều kiện tài chính chỉ mới phát triển ở mức độ hạn chế thì việc cung ứng vốn để phục vụ cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế đất nước chủ yếu phải dựa vào hệ thống NHTM. Do vậy,làm thế nào để tăng cường hiệu quả công tác huy động vốn trong Ngân hàng đản bảo số lượng và chất lượng nguồn vốn luôn là vấn đề thường xuyên được các Ngân hàng quan tâm. Qua thời gian nghiên cứu lí luận tại trường cùng với thời gian thực tập tại chi nhánh Ngân hàng Sacombank Hà nội,em đã nhận thấy vấn đề huy động vốn luôn là hoạt động truyền thống,quan trọng và có tính chất quyết định tới mọi hoạt động khác của Ngân hàng.Nhất là trong thời gian gần đây vấn đề huy động vốn đang trở thành bài toán khó đối với các Ngân hàng. Với vốn kiến thức của bản thân và qua tìm hiểu thực tế về công tác huy động vốn em đã hoàn thành chuyên đề thực tập này với mong muốn phần nào đó có thể áp dụng vào thực tiễn hoạt động huy động vốn củ Ngân hàng,đóng góp một phần nhỏ kiến thức của mình vào việc nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác huy động vốn của Ngân hàng Sacombank Hà nội trong thời gian tới. Đây là một vấn đề phức tạp, đòi hòi phải đi sâu nghiên cứu ở nhiều góc độ và nhiều phương diên khác nhau.Trong thời gian tới Ngân hàng Sacombank Hà nội cần phải có các biện pháp kết hợp đồng bộ giữa sự cố gắng của bảm thân cùng với sự hỗ trợ của các ngành,các cấp có liên quan trong việc thực hiện có hiệu quả công tác huy động vốn nói riêng và trong hoạt động Ngân hàng nói chung nhằm phục vụ cho công cuộc phát triển nền kinh tế Thủ đô cũng như cả nước. NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2013 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2013

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docchuyen_de_thuc_tap_nhom_1_4401.doc
Luận văn liên quan