Luận văn Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã tiến hành đường lối đổi mới, chủ trương thực hiện một nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Chủ trương đó phản ánh đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay. Đó là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước và xu hướng của thời đại, là bước trung gian quá độ không tránh khỏi để tiến lên CNXH.

pdf95 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 2585 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hịu sự tác động (cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực) của nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy, để đứng vững trước những biến động phức tạp và những sự cám dỗ của kinh tế thị trường, người cán bộ quản lý kinh tế của nhà nước phải thực sự là người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất trong sáng và năng lực quản lý kinh tế cao. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý kinh tế của ta còn đang yếu và thiếu. Việc phát hiện nhân tài, đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ cán bộ là những vấn đề bức xúc. Cán bộ lãnh đạo và quản lý kinh tế phải được đào tạo, bồi dưỡng toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn, tránh tình trạng bồi dưỡng kiến thức chính trị cơ bản chung chung mà phải đi sâu vào nghiệp vụ để lãnh dạo và quản lý kinh tế. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quá trình phát triển kinh tế hiện nay, đòi hỏi Đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực để đảm đương nhiệm vụ cách mạng. Là Đảng cầm quyền trong nền kinh tế nhiều thành phần, vấn đề lựa chọn đúng đội ngũ cán bộ trong các tổ chức và cơ quan của Đảng và Nhà nước trung thành với lý tượng cộng sản, kiên định thực hiện lý tưởng của Đảng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Đội ngũ cán bộ của Đảng là "đường dẫn" chủ yếu của việc thực hiện và chuyển tải các nghị quyết, các định hướng lớn các chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn đời sống xã hội. Cán bộ là gốc của cách mạng, vì vậy, trong giai đoạn hiện nay vấn đề cán bộ và sắp xếp cán bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Về công tác đổi mới cán bộ, ở Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng có nêu rõ: Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài [14, tr. 67]. Cần phải cương quyết khắc phục tư tưởng phong kiến trong công tác cán bộ. Để có có được một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực để đảm bảo trách nhiệm và công việc đòi hỏi ở thời kỳ cách mạng mới, thời kỳ đảm bảo định hướng XHCN. Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Trong đào tạo cần chú trọng cả phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ khoa học hiện đại và năng lực vận động quần chúng: Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ. Đánh giá, bồi dưỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu. Đổi mới, trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa và phát triển [14, tr. 54]. Đảng ta là Đảng cầm quyền có vai trò lãnh đạo cao nhất đối với toàn xã hội. Vai trò lãnh đạo của Đảng thông qua các "kênh" chủ yếu là tổ chức Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Vì vậy, trong công tác cán bộ đòi hỏi phải đặc biệt chú ý tới đội ngũ cán bộ từ trong các phong trào thực tiễn của các "kênh" đó. Cần phải khắc phục triệt để tình trạng quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ theo kiểu áp đặt, theo lối từ người xếp việc, khắc phục tình trạng bố trí, đề bạt cán bộ theo ý muốn chủ quan của người có chức quyền, theo tình cảm cá nhân. Để có được một đội ngũ cán bộ phù hợp và đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay, trước hết Đảng phải xây dựng được một hệ thống quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ theo lập trường giai cấp và có nội dung khoa học, cụ thể, làm tiêu chuẩn để chỉ đạo thực tiễn. Hơn nữa, Đảng phải thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp chặt chẽ giữa việc lãnh đạo công tác cán bộ của Đảng với việc phát huy trách nhiệm của các tổ chức, đoàn thể, cá nhân trong hệ thống chính trị... Chỉ khi nào kiện toàn được đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực thì khi ấy vai trò lãnh đạo của Đảng mới thực sự được phát huy. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ phải bảo đảm năng động, hoạt động có hiệu quả, vững vàng về chính trị và có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh. Chính vì vậy, trong thời gian tới đây, Đảng ta cần phải làm tốt những nhiệm vụ sau đây: Thứ nhất, lãnh đạo thực hiện việc xử lý nghiêm minh, kịp thời những vụ tham nhũng, những công chức hành chính và cán bộ quản lý kinh tế trong các doanh nghiệp nhà nước gây tổn thất tài sản XHCN. Thực hiện tốt các văn bản pháp luật hiện có về chống tham nhũng của nhà nước. Mặt khác, nhà nước tiếp tục bổ sung các văn bản pháp luật mới về lĩnh vực này theo hướng tăng quyền hạn của quần chúng nhân dân trong việc phát hiện và tố cáo những kẻ tham nhũng. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể loại bỏ những kẻ cơ hội, thoái hóa ra khỏi các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan kinh tế. Thứ hai, Đánh giá cán bộ nhất là cán bộ lãnh đạo kinh tế cần có quan điểm lịch sử cụ thể và phải căn cứ vào năng lực thực tế và phẩm chất đạo đức của họ. Người cán bộ quản lý trong kinh tế thị trường có những phẩm chất khác với người cán bộ quản lý trong mô hình kế hoạch hóa tập trung để phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Những phẩm chất đó là: Có sự hiểu biết sâu sắc các quan điểm, đường lối kinh tế của Đảng, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức về kinh tế thị trường, hiểu biết về luật pháp, năng động, nhanh nhạy trong việc vận dụng những tri thức lý luận chung để giải quyết các công việc cụ thể một cách có hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, đánh giá cán bộ phải dựa vào năng lực thực tế của họ, lấy thước đo cao nhất là mức độ hoàn thành nhiệm vụ và hiệu quả kinh tế - xã hội. Thứ ba, Việc sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế được tiến hành một cách khoa học, dân chủ và công khai đảm bảo tuyển chọn đúng người, đúng việc trên cơ sở năng lực và phẩm chất hiện có của người cán bộ. Trong bố trí và sử dụng cán bộ phải biết kết hợp chặt chẽ các thế hệ cán bộ tránh xu hướng tuyệt đối hóa những cán bộ lâu năm có nhiều kinh nghiệm hoặc tuổi đời còn quá trẻ đó là tư tưởng bảo thủ, phong kiến, phải biết phát huy và tạo những nhiều tập thể cán bộ có khả năng bổ sung cho nhau, có tính thống nhất tổ chức cao, có tri thức toàn diện, có khả năng hoàn thành nhiệm vụ cao. Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế ổn định, có khả năng đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài cần phải quy hoạch cán bộ cần phải chủ động khắc phục tình trạng "lão hóa", sự thiếu hụt đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế như thời gian vừa qua. Trên cơ sở quy hoạch cán bộ thực hiện quá trình đào tạo mới và đào tạo lại đội ngũ cán bộ bằng nhiều hình thức khác nhau như chính quy, tại chức, đào tạo trong nước và nước ngoài, kết hợp đào tạo trong trường lớp với việc tự rèn luyện qua thực tiễn công tác. Song cần phải có biện pháp kiểm tra, đánh giá khách quan nhằm tạo ra một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế theo kịp yêu cầu của cơ chế quản lý mới và nắm bắt được kiến thức quản lý hiện đại. Vấn đề then chốt trong việc nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ chính là chính sách cán bộ nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế đủ sức xây dựng một nền kinh tế thị trường vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ phải trên cơ sở khuyến khích vật chất đi đôi với xây dựng lý tưởng cách mạng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước. Thực hiện khuyến khích những người làm việc có năng suất chất lượng, hiệu quả, chống bình quân, bao cấp hoặc tình trạng chênh lệch quá đáng giữa các cấp cán bộ. Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách cần nhằm vào một số chính sách như chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, chính sách bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần. Trong đó, phải đặc biệt chú ý đến chính sách bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần vì chính sách này liên quan trực tiếp đến chất lượng cũng như hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế. 2.2.1.4. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước Nhiệm vụ định hướng chính trị của Đảng đối với nền kinh tế thể hiện ở chỗ: Đảng phải thường xuyên lãnh đạo Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm, chính sách kinh tế của mình thành pháp luật kinh tế, cơ chế chính sách kinh tế. Cương lĩnh, đường lối kinh tế của Đảng tự nó không thể hiện được trong hiện thực mà phải thông qua hoạt động của Nhà nước, thể hiện trong hiến pháp, pháp luật và các quyết định, thông tư, chỉ thị... của Nhà nước. Đó là lý do tồn tại, là chức năng cực kỳ quan trọng của Đảng cầm quyền. Hiện nay, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, đặc biệt là lãnh đạo việc cụ thể hóa các quan điểm, chính sách kinh tế của Đảng thành hệ thống pháp luật, cơ chế quản lý kinh tế là vấn đề bức xúc. Đảng lãnh đạo toàn xã hội thông qua các quan điểm, phương hướng, nghị quyết, nguyên tắc và những giải pháp lớn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng giữ vai trò chỉ đạo đối với các vấn đề có ý nghĩa chính trị quan trọng ảnh hưởng tới các tầng lớp dân cư. Vì vậy, để đường lối, quan điểm, chiến lược, định hướng lớn của Đảng đi vào đời sống xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải thể chế hóa, cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật, hệ thống chính sách kinh tế cụ thể, thành các Nghị định, thông tư... Trong việc tổ chức thực hiện, Nhà nước theo chức năng, quyền hạn của mình mà thể chế hóa, cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng thành Luật pháp, chính sách, kế hoạch và các biện pháp triển khai cụ thể; Đảng thông qua các tổ chức đảng (ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy) và đảng viên trong các cơ quan nhà nước chỉ đạo, triển khai hoạt động của các cơ quan nhà nước, kịp thời uốn nắn các lệch lạc và cho ý kiến về những vấn đề phức tạp mới phát sinh; kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật của các tổ chức đảng và đảng viên; động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái thực hiện các chủ trương, chính sách, chấp hành nghiêm luật pháp của Nhà nước, tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan, công chức nhà nước. Thực tiễn của quá trình đổi mới vừa qua cho thấy, mặc dù Đảng đã lãnh đạo Nhà nước thực hiện các đường lối, chiến lược, định hướng có hiệu quả hơn, đã nhanh chóng cụ thể hóa đường lối kinh tế nhưng bên cạnh đó còn tồn tại nhiều hạn chế. Có nhiều chủ trương đúng đắn của Đảng chậm đi vào đời sống xã hội hoặc chỉ ngắm trên bề mặt mà thôi. Vì vậy, trong những năm tới cần phải trung sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong việc thể chế hóa đường lối kinh tế của Đảng thành pháp luật, chế độ, chính sách của Nhà nước. Quá trình đó đòi hỏi Đảng phải kết hợp cả chỉ đạo, khâu chuẩn bị kế hoạch xây dựng các dự án luật theo trình tự lập pháp, lập quy, cả đôn đốc việc thực hiện quá trình thể chế hóa đó. Toàn bộ quá trình đó cần phải thực hiện một cách dân chủ và phát huy trí tuệ của tập thể. Trên lý luận cũng như trong thực tiễn cách mạng đã chứng tỏ rằng không có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với nhà nước thì Nhà nước không còn là chính quyền của nhân dân lao động hoặc nhà nước đó sẽ mất đi bản chất XHCN của nó. Nhưng nếu Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức không phù hợp, thiếu dân chủ như áp đặt, ra lệnh, thì Nhà nước sẽ chỉ là hình thức, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả thấp. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là Đảng cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của mình đối với Nhà nước, nhưng đồng thời Đảng phải đổi mới phương thức lãnh đạo. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức dân chủ như giáo dục, thuyết phục nhưng vẫn bảo đảm sự lãnh đạo của mình là một vấn đề bức xúc, cần phải được quan tâm và giải quyết. Trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, Đảng rất quan tâm giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên đây là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm. Vì vậy thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước phải thực hiện thận trọng từng bước, trải qua tìm tòi, thử nghiệm, tích cực tổng kết thực tiễn để rút ra những bài học quý báu có giá trị. Trong quá trình lãnh đạo Nhà nước cần phải tránh tình trạng Đảng bao biện làm thay công việc nhà nước hoặc buông lỏng sự lãnh đạo. Cả hai thiên hướng lệch lạc đó đều làm giảm cả vai trò lãnh đạo của Đảng lẫn chức năng quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng lớn đến định hướng XHCN. Vì vậy, Đại hội IX của Đảng đã khẳng định: Tăng cường vai trò lãnh đạo và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Ban chấp hành Trung ương, tập thể cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn thảo luận dân chủ, biểuquyết và ra nghị quyết theo đa số những vấn đề quan trọng về đường lối, chủ trương, chính sách, về tổ chức, cán bộ.Tăng cường chế độ lãnh đạo tập thể đi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân [14, tr. 145]. 2.2.2. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý nền kinh tế theo định hướng XHCN Như trong tiết 2 chương 1 đã phân tích, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường sẽ không ổn định, phát triển và đặc biệt không thể định hướng được XHCN nếu Nhà nước không quản lý và điều tiết nền kinh tế có hiệu quả. Quản lý nền kinh tế thị trường và định hướng nền kinh tế đó phát triển theo định hướng XHCN đối với Nhà nước XHCN là điều mới mẻ. Thực hiện đường lối đổi mới, Nhà nước ta đã tiến hành những bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của mình, phần nào đã thực hiện được những chức năng quản lý và điều tiết nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, trong thực tế, nền kinh tế nước ta vẫn đang đứng trước nguy cơ tụt hậu và chệch hướng XHCN. Vì vậy, tiếp tục tiến hành đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của nhà nước nhằm tăng cường hiệu lực quản lý và điều tiết nền kinh tế vẫn là nhiệm vụ trước mắt của chúng ta. 2.2.2.1. Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Để hoàn thành các chức năng kinh tế của mình, hướng sự phát triển kinh tế theo định hướng chính trị đã được lựa chọn, khắc phục những hạn chế của kiểu tổ chức quản lý theo mô hình cũ thì cần phải xây dựng nhà nước ta thành Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Nhà nước điều hành mọi hoạt động của xã hội theo pháp luật nhằm đảm bảo quyền tự do, dân chủ thực sự cho mọi người dân trong xã hội. Nhà nước với vai trò, chức năng chủ yếu là: Định hướng sự phát triển trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nỗ lực phát triển theo định hướng XHCN, thiết lập khuôn khổ pháp luật, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt; khắc phục, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội [12, tr. 103-104]. Theo hướng đó, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải thể hiện sự tập trung thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công rõ ràng, cụ thể, chức năng và nhiệm vụ giữa các cơ quan của bộ máy nhà nước, tạo ra cơ chế phối hợp với nhau giữa cơ quan lập pháp, hành pháp, và tư pháp. Nhà nước phải tạo ra cơ chế và phương thức hoạt động để Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan duy nhất có quyền lập pháp - thể hiện tập trung, đầy đủ nhất ý nguyện của quần chúng nhân dân. Nhà nước phải tạo ra được cơ chế thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động của Chính phủ với tư cách là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, nhằm khắc phục những hạn chế trong cơ cấu tổ chức và hoạt động của nó. Bên cạnh đó, phải sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của hệ thống cơ quan tư pháp để nó đủ sức đảm bảo duy trì, tôn trọng hiệu lực của pháp luật. Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường phát triển theo định hướng XHCN đã làm thay đổi căn bản phương thức quản lý của Nhà nước đối với kinh tế. Đó là quá trình chuyển từ phương thức quản lý mệnh lệnh, hành chính sang phương thức quản lý bằng Pháp luật và các công cụ kinh tế khác. Thông qua hệ thống Pháp luật hoàn chỉnh, Nhà nước tạo dựng môi trường pháp lý ổn định, kích thích, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh. Thực tế cho thấy, nếu có môi trường pháp lý ổn định, hệ thống Luật pháp đồng bộ, hoàn chỉnh và có hiệu quả cao sẽ thu hút được nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước - một điều kiện cần thiết và quan trọng cho sự phát triển kinh tế, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay. Việc tạo dựng một hệ thống pháp luật ổn định nhất là cơ sở pháp lý đảm bảo tính ổn định của hệ thống các chính sách kinh tế. Khi đã có hệ thống pháp luật chặt chẽ, nghiêm túc thì tránh được sự thay đổi tùy tiện theo ý muốn chủ quan của một số cơ quan hay cá nhân nào đó. Việc quản lý nền kinh tế bằng pháp luật cũng sẽ khắc phục được tình trạng vô chủ đối với tư liệu sản xuất trước đây. Trong điều kiện Nhà nước pháp quyền, luật pháp xác định quyền sở hữu của nhà nước đối với những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội (tài nguyên thiên nhiên, đất đai...) đồng thời lại giao quyền sử dụng (bao gồm cả chuyển nhượng...) cho các chủ thể kinh tế khác nhau. Như thế, tài sản của xã hội vừa được quản lý chặt chẽ, vừa được sử dụng có hiệu quả. Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta còn đòi hỏi nhà nước phải thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước và các doanh nghiệp. Sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế phải mềm dẻo, linh hoạt thích ứng với sự vận động khách quan của cơ chế thị trường. Vì vậy các cơ quan, các bộ trong Chính phủ phải gọn nhẹ, tránh chồng chéo, sự quản lý, điều hành của Nhà nước phải mang tính chiến lược nhiều hơn, tập trung vào các nhiệm vụ thiết yếu nhằm tạo điều kiện cho người sản xuất và tiêu dùng tự chủ trong quyết định của mình, nhằm hướng nền kinh tế vận hành theo định hướng XHCN. Từ đây đặt ra yêu cầu phải đổi mới bộ máy nhà nước, cải cách nền hành chính quốc gia, xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ nhất là Luật pháp kinh tế. Như vậy, nhà nước pháp quyền chỉ là công cụ, phương tiện để nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân. Nếu thực hiện được điều này tức là tạo ra được cơ sở, nền tảng chính trị để ổn định chính trị - xã hội, góp phần phát triển kinh tế. Đến lượt nó, sự phát triển của kinh tế lại là cơ sở vững chắc cho củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước... 2.2.2.2. Tăng cường hiệu lực của các công cụ, chính sách quản lý vĩ mô, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò quản lý, điều hành nền kinh tế bằng hệ thống các công cụ, chính sách vĩ mô. Vì vậy hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước còn phụ thuộc rất nhiều vào độ đúng đắn của hệ thống công cụ kinh tế và chính sách kinh tế. Trong thời gian vừa qua, mặc dù đạt được nhiều tiến bộ song hệ thống chính sách, công cụ kinh tế của nhà nước còn nhiều hạn chế, chưa tạo động lực cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Vì vậy: Trước hết, cần phải: "Đổi mới mạnh mẽ công tác kế hoạch hóa, nâng cao tính định hướng và dự báo, nâng cao chất lượng của các quy hoạch và kế hoạch, gắn quy hoạch, kế hoạch với thị trường" [14, tr. 325]. Kế hoạch là một trong những công cụ cơ bản và quan trọng của Nhà nước để quản lý, điều tiết nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thông qua kế hoạch nhà nước duy trì và thiết lập những cân đối lớn giữa cung và cầu, tích lũy và tiêu dùng, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ... Từ đó, một mặt góp phần hình thành, phát triển kinh tế hàng hóa và thị trường thống nhất trong cả nước, mặt khác, định hướng cho sự vận động của thị trường bảo đảm cho nền kinh tế ổn định tăng trưởng, đáp ứng được những mục tiêu kinh tế - xã hội đã định. Hơn nữa, kế hoạch phải được tiếp tục xây dựng với tính chất là những kế hoạch định hướng là chủ yếu. Hiện nay, cần phải đổi mới nội dung và phương pháp lập và thực hiện kế hoạch theo hướng huy động tối đa nội lực, khai thác mọi tiềm năng của ngành, của địa phương gắn với sử dụng có hiệu quả cao nguồn lực bên ngoài. Chính sách đầu tư của Nhà nước được điều chỉnh theo hướng tăng đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đầu tư kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, qua đó nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư nhà nước. Nhưng phải đảm bảo có môi trường phát triển bền vững. Tiếp tục xóa bỏ bao cấp trong đầu tư phát triển. Ngân sách nhà nước tập trung đầu tư vào các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình kinh tế trọng điểm của nhà nước. Bên cạnh chính sách đầu tư của nhà nước cần phải tăng cường hiệu lực và đổi mới cơ chế quản lý ngân sách nhà nước theo hướng triệt để tiết kiệm, nâng cao quyền hạn và trách nhiệm của quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp trong việc quyết định và thực hiện ngân sách, thực hiện công khai, minh bạch trong chi tiêu ngân sách nhằm mục đích thực hiện hiệu quả nguồn ngân sách. Một nền kinh tế muốn ổn định và phát triển, nhà nước phải tạo lập được chính sách tài chính; tiền tệ vừa nhanh, nhạy, linh hoạt nhưng đồng thời phải rất ổn định. Muốn vậy, công cụ tài chính tiền tệ cần phải được đổi mới nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển, bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững. Đổi mới chính sách tiền tệ theo hướng vận dụng các công cụ chính sách gián tiếp. Thực hiện chính sách tỷ giá, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở theo cung cầu trên thị trường, từng bước nâng theo khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam, trước hết là đối với những tài khoản vãng lai. Nâng cao vai trò của ngân hàng nhà nước trong lĩnh vực điều hành, quản lý tiền tệ, giám sát các hoạt động tín dụng, tăng cường năng lực của ngân hàng nhà nước về tổ chức, thể chế và cán bộ. Trong nền kinh tế thị trường, phương thức huy động của nhà nước không chỉ là huy động bằng các nghĩa vụ mà căn bản là bằng hệ thống lợi ích đặc biệt là trong huy động vốn. Công cụ cơ bản để nhà nước huy động các nguồn lực, là hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế có lợi cho tất cả mọi người nhằm kích thích và ràng buộc các thành viên trong xã hội. Chính vì lý do đó, Nhà nước cần phải tập trung tạo dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật kinh tế, làm cho hệ thống pháp luật kinh tế thực sự là khuôn khổ pháp lý đồng bộ tạo cho các thành viên, các chủ thể kinh tế yên tâm đầu tư để mở rộng sản xuất, kinh doanh. Pháp luật có vai trò và ý nghĩa to lớn trong việc quản lý và giám sát của nhà nước đối với nền kinh tế. Cần xây dựng bổ sung luật pháp đảm bảo tính hệ thống và phải phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế. Khi nền kinh tế chuyển sang nên kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi hệ thống Luật pháp phải phản ánh đúng cơ sở pháp lý bình đẳng trong kinh tế, giữa các chủ thể kinh tế. Hệ thống pháp luật phải bảo đảm làm lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế, làm cho kinh tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN. Hệ thống pháp luật mới phải bảo đảm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng, tiềm năng của đất nước và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài, thúc đẩy kinh tế phát triển gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội. Hiện nay, nhiệm vụ trước mắt là cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung pháp luật hiện hành phù hợp với yêu cầu thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các luật: Luật thương mại, luật phá sản doanh nghiệp, bộ luật lao động, luật các tổ chức tín dụng, luật ngân sách nhà nước, luật đất đai... Xây dựng một số luật mới như: Luật doanh nghiệp trên cơ sở thống nhất luật doanh nghiệp nhà nước và luật doanh nghiệp hiện hành; luật đầu tư trên cơ sở thống nhất luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và luật khuyến khích đầu tư trong nước... Đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng luật, ban hành và thực thi pháp luật, trong đó chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành luật một cách nghiêm minh. Hoàn thiện hệ thống luật Pháp kinh tế đồng bộ chính là điều kiện, tiền đề cho nhà nước tạo ra "một sân chơi bình đẳng, lành mạnh" cho các thành phần kinh tế, chủ thể kinh tế. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh, có khả năng hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới và đảm bảo mục tiêu định hướng XHCN. Ngoài ra cần phải hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội, đảm bảo giải quyết tốt những vấn đề xã hội y tế, giáo dục, môi trường, vì đây là những lĩnh vực dễ chệch hướng. 2.2.2.3. Đổi mới cơ chế quản lý, củng cố tăng cường sức mạnh của kinh tế nhà nước Muốn thực hiện chức năng định hướng của mình, nhà nước phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp, nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó, thực lực kinh tế của Nhà nước là một yếu tố hết sức quan trọng. Nhận thức được điều đó, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chỉ rõ: Tiếp tục đổi mới và phát huy có hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới [11, tr. 93]. Kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng của lực lượng vật chất và công cụ này từ sau đại hội Đảng lần thứ VII đến nay Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp để khẳng định trong thực tế vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Tuy vậy, cho đến nay, như Văn kiện Đại hội lần thứ IX đã đánh giá: Khu vực doanh nghiệp nhà nước chậm được sắp xếp, củng cố và đổi mới; các thành phần kinh tế đầu tư vào công nghiệp còn dè dặt, cầm chừng. Còn một bộ phận không ít doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thiếu năng động, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà nước [14, tr. 252]. Vì vậy, để kinh tế nhà nước thực sự đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân trước mắt phải thực hiện một số các biện pháp: Thứ nhất, tổ chức, cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước hiện có và phát triển doanh nghiệp nhà nước mới cần thiết trong các ngành then chốt, mũi nhọn, các vùng và khu kinh tế trọng điểm. Đây chính là giải pháp quan trọng nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, là điều kiện cho quá trình thực hiện kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, để thực hiện được điều này chúng ta cần: - Xác định đúng các ngành, các lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, vùng và khu kinh tế trọng điểm cần có doanh nghiệp nhà nước. Tổ chức thực hiện đúng việc phân doanh nghiệp nhà nước thành ba loại: Doanh nghiệp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, doanh nghiệp công ích vì mục tiêu công cộng và doanh nghiệp vừa công ích, vừa kinh doanh. Chỉ có phân loại đúng mức mới có chính sách và cơ chế quản lý và khuyến khích đúng cho từng loại doanh nghiệp nhà nước. - Căn cứ vào định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội để phát triển các doanh nghiệp nhà nước. Kiên quyết sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước một cách hợp lý. Vấn đề này đã được đề cập suốt từ Đại hội VI, VII, VIII và mới đây Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 3 (khóa IX) đã họp "bàn biện pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước" [4, tr. 1]. Như vậy, vấn đề tổ chức và sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước là vấn đề tối cần thiết. Vì nếu chúng ta cứ tiếp tục duy trì tình trạng hiện có với một số lượng các xí nghiệp làm ăn chưa có hiệu quả và không có hiệu quả khá lớn (trong số 5.571 doanh nghiệp hiện có, chỉ có 40% đơn vị làm ăn có hiệu quả thực sự, phần lớn doanh nghiệp còn lại làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ) [4, tr. 5]. thì sự thiếu hụt ngân sách, nguy cơ lạm phát... sẽ ngày càng lớn, gây tình trạng không ổn định cho sự phát triển của nền kinh tế và khả năng định hướng XHCN sẽ không trở thành hiện thực được. Tuy nhiên, việc sắp xếp, đổi mới, phát triển các doanh nghiệp nhà nước vừa phải tiến hành đồng bộ khẩn trương nhưng phải vững chắc, có chương trình, có kế hoạch cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, bước đi phù hợp, vừa làm vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm, bảo đảm ổn định và phát triển [61, tr. 1]. Thứ hai, đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo hướng hiệu quả. Về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, đến nay nước ta đã có 590 doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa nhưng tiến độ cổ phần hóa quá chậm. Một số địa phương như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định... là những địa phương tích cực cổ phần hóa trước đây thì nay cũng chững lại. Trong số 31 bộ, ngành có doanh nghiệp nhà nước thì cũng chỉ mới có 7 bộ, ngành có doanh nghiệp cổ phần hóa còn các tỉnh thì mới có 49/61 tỉnh thực hiện cổ phần hóa [3, tr. 5]. Thực tiễn của quá trình cổ phần hóa cho thấy cổ phần hóa doanh nghiệp là một biện pháp đúng nhằm sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước và do vậy cần được tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện nó trong thời gian tới. Vì vậy, để tiếp tục đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa nhà nước theo hướng hiệu quả cần thực hiện: - Tổ chức, kiểm tra, rút kinh nghiệm, điều chỉnh, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa. - Xây dựng kế hoạch cụ thể cho lộ trình "cổ phần hóa" nhằm "sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước không để kéo dài tình trạng thua lỗ bằng nhiều hình thức nhưng phải đảm bảo nguyên tắc không đẩy người lao động ra đường. Cổ phần hóa để sở hữu của Nhà nước ngày càng lớn, vốn của doanh nghiệp mạnh lên, làm ăn có hiệu quả hơn", như lời phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khải trong lần làm việc với lãnh đạo thành phố và các ban ngành của Hà Nội. Thứ ba, đổi mới cơ chế quản lý và chính sách đầu tư của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh một cách bình đẳng trong nền kinh tế quốc dân. Thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng, trong những năm qua Nhà nước đã có những bước tiến quan trọng trong đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhà nước có đủ khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường. Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách về tổ chức bộ máy doanh nghiệp, về kế hoạch, về lao động, về phân phối thu nhập, về thanh tra, kiểm tra... Từ đó đã hình thành khuôn khổ pháp lý tương đối đồng bộ theo hướng doanh nghiệp nhà nước thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất - kinh doanh. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước với tư cách là chủ đại diện sở hữu bằng việc kiểm tra, kiểm soát nhưng không can thiệp vào quá trình sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp. Do có những bước đổi mới về cơ chế quản lý của Nhà nước, nhiều doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đã có những bước tiến rõ rệt, từng bước vươn lên làm tốt vai trò chủ lực của mình trong nền kinh tế. Sự ra đời của luật doanh nghiệp hay Nghị định 388/HĐBT phủ nhằm khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong phát triển doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế cũ. Những chủ trương này là bước tiến mới trong quá trình thể chế hóa công tác quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước và thực tế nó đã thu được một số kết quả đáng kể. Đó là bước ngoặt quan trọng trong sự đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước và tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động. Từ đó, nhiều doanh nghiệp đã chủ động vươn lên làm ăn có hiệu quả. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước đối với doanh nghiệp vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Chẳng hạn, trong cơ chế quản lý còn nhiều thủ tục hành chính rườm rà, nhiều cửa, nhiều dấu, nhất là trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, vay vốn, thẩm định dự án đầu tư... gây ảnh hưởng không nhỏ tới cơ hội kinh doanh làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trên thị trường. Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước có đủ khả năng cạnh tranh trong cơ chế thị trường trên cơ sở bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trong quá trình sản xuất - kinh doanh, trong thời gian tới về đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước cần tập trung giải quyết một số nội dung sau: - Hoàn thiện cơ chế, chính sách, hệ thống tổ chức quản lý tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả và cạnh tranh bình đẳng trong cơ chế thị trường. Muốn vậy nhà nước cần phải xác lập cụ thể đại diện sở hữu tài sản nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, phân biệt rõ quyền sở hữu và quyền sử dụng để từ đó phân định rõ chức năng quản lý hành chính kinh tế của Nhà nước và chức năng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. - Đổi mới cơ chế quản lý nhất là cơ chế tài chính, tổ chức bộ máy nhằm tạo ra môi trường để các doanh nghiệp có đủ điều kiện thu hút vốn đầu tư, nâng cấp về trang bị kỹ thuật và công nghệ nhằm giúp cho doanh nghiệp có khả năng nâng cao chất lượng kinh doanh. - Phân định rõ chức năng quản lý của Nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Sự tác động của Nhà nước đến nền kinh tế phải được đổi mới trước hết ở việc xác định rõ giới hạn can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, sự phân định nội dung quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị cơ sở. Quản lý nhà nước về kinh tế là đặt ra các kế hoạch, chính sách, pháp luật để tạo điều kiện, tiền đề, môi trường phục vụ đắc lực cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh, hướng sự vận động của nền kinh tế theo một định hướng chính trị nhất định. Nói cách khác, đó chính là sự tác động, là sự điều tiết, sự hướng dẫn của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong tính chỉnh thể của nó. Muốn vậy, bộ máy nhà nước cần phải được đổi mới cho phù hợp với chức năng và quan hệ phân công, phân cấp; tạo môi trường thuận lợi về kinh tế, xã hội cho hoạt động kinh tế; điều tiết, phối hợp các hoạt động của các đơn vị kinh tế; tạo ra định hướng, kích thích, khuyến khích các hoạt động nhằm tăng trưởng kinh tế; giải quyết những vụ việc ngoài khả năng tự khắc phục của các đơn vị kinh tế, đồng thời giữ vững được kỷ luật, kỷ cương nhà nước. Nhà nước thực hiện điều tiết các lợi ích trong phạm vi xã hội để đảm bảo sự công bằng, thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả mọi hoạt động trong nền kinh tế quốc dân, làm trong sạch bộ máy nhà nước và lành mạnh hóa các quan hệ xã hội. Điều đó có nghĩa là, việc đổi mới theo hướng này đòi hỏi phải thực hiện chủ trương thực hiện chế độ tự chủ trong sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế, tập trung vào Trung ương quyền quyết định những vấn đề ở tầm vĩ mô, "cán bộ và các cấp chính quyền không can thiệp vào chức năng quản lý kinh doanh và quyền tự chủ hạch toán của doanh nghiệp" [12, tr. 104]. Như vậy, trong khuôn khổ và môi trường do Nhà nước tạo ra, các doanh nghiệp trực tiếp đối diện với kinh tế thị trường. Bằng các biện pháp kinh doanh, các doanh nghiệp tạo ra giá trị vật chất và tinh thần đáp ứng các nhu cầu xã hội, đồng thời, thông qua đó để thỏa mãn lợi ích của mình. Các doanh nghiệp vừa chịu sự điều tiết của Nhà nước theo mục tiêu và định hướng phát triển của nền kinh tế lại vừa trực tiếp tác động lẫn nhau thể hiện sự vận động khách quan của các quy luật kinh tế với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ, có tư cách pháp nhân và bình đẳng trước pháp luật; hoạt động sản xuất - kinh doanh theo nguyên tắc tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi. Việc phân biệt chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế nhằm tránh sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, vi phạm sự vận động khách quan của cơ chế thị trường, đưa Nhà nước trở về đúng với chức năng kinh tế của nó. Chỉ có sự lãnh đạo, quản lý chặt chẽ và khoa học của Nhà nước thì các doanh nghiệp nhà nước mới có thể vươn lên khẳng định được vị trí chủ lực góp phần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong hệ thống kinh tế nhiều thành phần và khi ấy chúng ta mới có thực lực kinh tế để đảm bảo định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế. Để nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường phát triển theo đúng định hướng XHCN tất yếu đòi hỏi phải có sự lãnh đạo chính trị của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước. Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc lãnh đạo, quản lý, định hướng nền kinh tế đó nhằm bảo đảm định hướng XHCN trong quá trình phát triển. Do đó, nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta đã có những thành tựu đáng kể, tạo ra thế và lực mới trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Song, thực tế nền kinh tế nước ta đang có diễn biến rất phức tạp. Tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế và chệch hướng XHCN vẫn đang là những nguy cơ thực sự. Vì vậy, đòi hỏi cần phải phát huy cao độ vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và Nhà nước với mục đích không chỉ đơn giản khắc phục những hạn chế, những lệch lạc do thời gian qua vấp phải mà còn phải được nâng lên một tầm cao mới về phẩm chất chính trị, năng lực trí tuệ, năng lực lãnh đạo và tổ chức thực tiễn. Để đáp ứng yêu cầu đó, chúng ta cần phải thực hiện hàng loạt các giải pháp mang tính đồng bộ mà trên đây chỉ là những giải pháp chủ yếu nhất. Kết luận Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, kinh tế vẫn luôn đóng vai trò quyết định đối với chính trị và các quan hệ xã hội khác. Song, chính trị có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế. Nhưng chính trị phải phản ánh trên cơ sở tính tất yếu kinh tế mới có tác dụng tích cực đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội. ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta đã tiến hành đường lối đổi mới, chủ trương thực hiện một nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Chủ trương đó phản ánh đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay. Đó là sự lựa chọn hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đất nước và xu hướng của thời đại, là bước trung gian quá độ không tránh khỏi để tiến lên CNXH. Tuy nhiên, thực tế phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực còn nhiều mặt tiêu cực tác động ngược chiều ảnh hưởng tới mục tiêu XHCN mà chúng ta đã lựa chọn. Nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường không thể đảm bảo phát triển theo định hướng XHCN nếu không có tác động tích cực của chính trị đối với quá trình phát triển của nó. Để nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường đi đúng quỹ đạo XHCN cần phải có "tay lái" vững chắc của chính trị. Nếu không, chệch hướng XHCN là điều khó tránh khỏi, đặc biệt trong hoàn cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp như hiện nay. Nhận thức được điều đó, Đảng ta đã kế hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị, bảo đảm ổn định chính trị làm tiền đề cho phát triển kinh tế theo định hướng XHCN. Song, quá trình đổi mới chính trị nhằm đáp ứng những nhiệm vụ kinh tế trong thời kỳ mới, bên cạnh những thành tựu đạt được còn tồn tại nhiều bất cập. Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục đổi mới để đảm bảo vai trò lãnh đạo của chính trị đối với quá trình định hướng sự phát triển của nền kinh tế. Trong đó, đặc biệt chú ý tới vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước - những nhân tố tối quan trọng trong việc đảm bảo định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay. Có như vậy mới thực sự đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân lao động hướng tới mục tiêu XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. danh mục tài liệu tham khảo 1. Bách khoa triết học (1983), Nxb Tiến bộ, Matxcơva (Bản tiếng Nga). 2. Hoàng Chí Bảo 1998, "Về mối quan hệ giữa đổi mới theo định hướng XHCN với định hình CNXH ở Việt Nam", Tạp chí Cộng sản, (24), tr. 25-28. 3. Báo diễn đàn doanh nghiệp, 24 (362), ngày 22/3/2001. 4. Báo doanh nghiệp, 33 (428) ngày 16 - 19/8/2001. 5. Chu Văn Cấp (1999), "Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam", Sinh hoạt lý luận, (1), tr. 42-46. 6. Nguyễn Cúc (chủ biên) (1997), Tác động của nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7. Phạm Văn Dần (1997), "Nắm vững phép biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Nghiên cứu lý luận, (5), tr. 17-18. 8. Lê Đăng Doanh (1997), Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 3 (khóa VIII), Nxb Sự thật, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Nguyễn Duy Gia (1996) "Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội trong điều kiện hiện nay", Xây dựng Đảng, (1), tr. 26-27; 31. 16. Nguyễn Tĩnh Gia (1993), Nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường - Những vấn đề đặt ra đối với kiến trúc thượng tầng chính trị nước ta, Đề tài KX05.04, Thông tin tư liệu. 17. Nguyễn Tĩnh Gia (chủ biên) (1998), Xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. G.E-Deeman (1982), Các quy luật phát triển xã hội tính chất và sự vận dụng, Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội. 19. Đoàn Ngọc Hải (1997), "Trí tuệ, bản lĩnh chính trị của Đảng", Quân đội nhân dân, (31-1), tr. 17-18. 20. Trần Ngọc Hiên (1996), "Nâng cao trình độ lãnh đạo kinh tế của Đảng trong giai đoạn mới", Thông tin lý luận, (2), tr. 13-14. 21. Hoàng Ngọc Hòa (2001), "Nâng cao vai trò của Nhà nước đối với kinh tế hợp tác và hợp tác xã nhằm thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp hàng hóa", Thông tin những vấn đề lý luận, (6), tr. 24. 22. Lê Thị Hồng (2001), Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội. 23. Nguyễn Duy Hùng (1996), Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường (Kinh nghiệm của các nước ASEAN), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Thanh Lê (chủ biên) (1997), Quản lý xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 25. Trần Du Lịch (2000), "một số suy nghĩ về việc tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước", Tạp chí Cộng sản, (11), tr. 38. 26. Dương Thị Liễu (1996), Tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đối với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta, Luận án PTS, Hà Nội. 27. Lê Xuân Lựu (1994) "Vấn đề định hướng XHCN trong kinh tế", Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 9-12. 28. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 29. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 30. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 31. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 32. C.Mác và Ph.Ăngghen (1997), Toàn tập, tập 37, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 33. C.Mác và Ph.Ăngghen (1999), Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 34. Huỳnh Thanh Minh (1997), Vai trò định hướng XHCN của kiến trúc thượng tầng chính trị đối với sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội. 35. Đỗ Mười (1992), "Cải cách một bước bộ máy Nhà nước và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước", Tạp chí Cộng sản, (1). 36. Đỗ Mười (1997), "Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, mãi mãi là Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh", Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 5 - 8. 37. Nguyễn Chí Mỳ (1997), "Xu hướng và các nhân tố bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần", Tạp chí Cộng sản, (10), tr. 33-36. 38. Trần Nhâm (chủ biên) (1997), Có một Việt Nam như thế - đổi mới và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ Matxcơva. 40. V.I.Lênin (1976), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ Matxcơva. 41. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ Matxcơva. 42. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ Matxcơva. 43. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ Matxcơva. 44. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ Matxcơva. 45. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ Matxcơva. 46. Nguyễn Văn Ninh (2001), Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội. 47. Nguyễn Tiến Phồn (1995), "Vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và chức năng quản lý kinh tế của nhà nước trong điều kiện nền kinh tế ở nước ta hiện nay", Triết học, (3), tr. 46 - 49. 48. Phan Đăng Phú (1996), "Một số bài học về xây dựng Đảng trong những năm đổi mới", Tạp chí Cộng sản, (12), tr. 10 - 15. 49. Dương Bá Phượng - Nguyễn Minh Khải (9/1998), "Kinh tế thị trường và định hướng XHCN", Tạp chí Cộng sản, (18), tr. 27-31. 50. Phạm Ngọc Quang (1991), "Đảng, Nhà nước và quá trình phát triển kinh tế", Tạp chí Cộng sản, (6), tr. 33-36. 51. Phạm Ngọc Quang (1995), "Từ quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của trí tuệ đối với việc giữ vững vị trí lãnh đạo của Đảng, suy nghĩ về con đường nâng cao năng lực trí tuệ của Đảng ta hiện nay", Triết học, (2), tr. 3-9. 52. Phạm Ngọc Quang (9/1996), "Đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế", Tạp chí Cộng sản, (17), tr. 25-28. 53. Lê Minh Quân (2000), "Vấn đề đổi mới và hoàn thiện nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa", Triết học, (3), tr. 5 - 9. 54. Cung Kim Quốc, Trương Đạo Càn, Cố Quang Thanh (1996), Chủ nghĩa xã hội cũng có thể áp dụng kinh tế thị trường (một sáng tạo mới về lý luận), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 55. Tô Huy Rứa (1996), "Con đường và điều kiện bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, (6), tr. 19-22. 56. Đan Tâm (1999), "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân trong thời kỳ mới", Tạp chí Cộng sản, (7), tr. 18-20. 57. Trần Thành (1992), "Tính chất xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta trong thời kỳ quá độ", Tạp chí triết học, (3), tr. 17-20. 58. Trần Phúc Thăng (chủ biên) (2000), Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng chính trị trong thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 59. Đoàn Quang Thọ (1997), "Quan hệ kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam", Triết học, (2), tr. 8. 60. Hồ Văn Thông (1998), Quy luật xã hội và những quan điểm chỉ đạo hoạt động thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay ở nước ta, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 61. Thời báo Kinh tế Việt Nam, 102 (824), ngày 24/8/2001. 62. Lưu Thị Bích Thu (2001), Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. 63. Nguyễn Phú Trọng (1995), Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng trong điều kiện cơ chế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. G.S. Trần Xuân Trường (chủ biên) (2000), Một số vấn đề về định hướng XHCN ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. Nguyễn Hữu Vượng (1999), "Kinh tế thị trường trong sự nghiệp phát triển đất nước", Triết học, (4), tr. 12. mục lục Trang Mở đầu 1 Chương 1: Quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam 6 1.1. Quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 6 1.2. Thực trạng của sự nhận thức và vận dụng quan điểm mác xít về quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam 25 Chương 2: nâng cao vai trò của chính trị nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp 46 2.1. Thực trạng việc phát huy vai trò của chính trị trong đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam 46 2.2. Một số giải pháp chủ yếu nâng cao vai trò của chính trị nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay 67 Kết luận 97 danh mục Tài liệu tham khảo 99

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay.pdf
Luận văn liên quan