Luận văn Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở công ty Cổ phần Thương mại Trường Xuân

Công ty có thể sử dụng vốn, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm vụ thu nộp ngân sách Nhà nước. Việc đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp phải tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật

docx81 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 14/11/2013 | Lượt xem: 1553 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở công ty Cổ phần Thương mại Trường Xuân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
.283 7.280.937.122 512.437.776 19.606.888.969 1.025.400.741 - 7.346.273.165 10.331.744.882 903.470.181 30.736.359.064 33.637.237 - 7.970.894.423 19.360.437.855 3.371.389.549 (Nguồn: Báo cáo tài chính công ty CPTM Trường Xuân năm 2009, 2010, 2011) Từ bảng trên ta tính được tỉ trọng của từng khoản mục và sự biến động của từng khoản mục theo bảng sau: Phân tích cơ cấu tài sản lưu động giai đoạn 2009 - 2011 STT Chỉ tiêu Tỷ trọng (%) So sánh Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 2010 so với 2009 2011 so với 2010 A I II III IV V B TÀI SẢN Tài sản ngắn hạn Tiền và các khoản tương đương tiền Đầu tư tài chính ngắn hạn Các khoản phải thu ngắn hạn Hàng tồn kho Tài sản ngắn hạn khác Tài sản cố định Tổng cộng tài sản 75,2 5,6 - 32,7 34,5 2,4 24,8 100 71,1 3,7 - 26,7 37,5 3,2 28,9 100 67,8 0,07 - 17,6 42,7 7,4 32,2 100 - 4,1 - 1,9 - - 6,0 3,0 0,8 4,7 - 3,3 - 3,63 - - 9,1 5,2 4,2 3,3 - Tỉ trọng tài sản ngắn hạn năm 2009 là 75,2%, năm 2010 giảm xuống 71,1% và tiếp tục giảm xuống còn 67,8% của năm 2011. Trong đó chủ yếu là giảm tỷ trọng các khoản phải thu. Tiền và tương đương tiền cũng giảm nhưng không đáng kể, bên cạnh đó, tỷ trọng hàng tồn kho tăng lên đáng kể, cụ thể từng khoản mục như sau: - Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2010 giảm 151.628.318 đồng tương đương 1,9% so với năm 2009 và năm 2011 giảm manh tới 33.637.237 VNĐ tương đương với tỉ lệ giảm 3,63% so với năm 2010. - Các khoản phải thu ngắn hạn có xu hướng tắng về số tuyệt đối nhưng lại giảm mạnh về tỷ trọng. Năm 2009 số phải thu ngắn hạn là 6.921.389.283VND tươgn ứng với tỷ lệ 32,7% trong tổng tài sản của công ty, năm 2010 con số này tăng lên 7.346.273.165 VNĐ tương ứng với tỷ lệ 26,7% trong tổng tài sản năm 2010 giảm 6,0% so với năm 2009. Năm 2011 là 7.970.894.423VNĐ tăng so với năm 2010 nhưng lại giảm tỷ trọng là 9,1% xuống còn 17,6% so với tổng tài sản. Điều này chứng tỏ công ty đã chủ động có những biện pháp nhằm thu hồi công nợ khách hàng tốt, quản lý tốt việc phân phối và bán sản phẩm ko để tình trạng ứ đọng vốn xảy ra. Về hàng tồn kho, là một doanh nghiệp thương mại thuần tuý do đó lượng hàng tồn kho chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng tài sản lưu động. Năm 2009 hàng tồn kho là 7.280.937.122 VND chiếm tỷ trọng 34,5% trong tổng tài sản của công ty. Năm 2010 giá tri này là 10.331.744.882 VND chiếm 37,5 % tổng giá trị tài sản của công ty tăng 3,0% so với năm 2009. Năm 2011 tăng mạnh lên mức 19.360.437.855 VND chiếm 42,7% tổng tài sản tăng 5,2% so với năm 2010. Việc hàng tồn kho tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của công ty là một dấu hiệu tốt cho công ty vì ki lượng hàng tồn kho của công ty được đảm bảo thì lượng hàng cung cấp cho khách hàng luôn được đảm bảo, ko lo bị thiếu trong quá trình kinh doanh. - Tài sản ngắn hạn khác chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản của công ty và không đáng kể với biến động không lớn. Như vậy, trong những năm qua cùng với sự gia tăng sản lượng, doanh thu và phát triển mở rộng các lĩnh vực kinh doanh làm xuất hiện những khó khăn và yêu cầu mới trong công tác quản lý và điều hành vốn. Doanh thu hàng năm tăng làm cho nhu cầu về vốn tăng cao, nhất là đối với vốn dự trữ hàng tồn kho và vốn bằng tiền. Trong khi đó, nguồn vốn bổ sung rất hạn chế, do kinh doanh xăng dầu liên tục 3 năm qua có nhiều khó khăn. Để cân đối giải quyết vấn đề vốn, công ty đã huy động sử dụng tối đa các nguồn quỹ xí nghiệp chưa sử dụng, thu nộp ngân sách chưa đến hạn và tranh thủ tín dụng của người bán hàng. Đồng thời, có biện pháp giảm thiểu công nợ khách hàng. Kết quả của các phương pháp này là đã huy động được nguồn vốn đến mức tối đa phục vụ cho kinh doanh, cải thiện đáng kể chu trình luân chuyển vốn. 2.2. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động 2.2.1. Phân tích chung Hiệu quả chung về sử dụng vốn lưu động được phản ánh qua các chỉ tiêu như sức sản xuất, sức sinh lợi của vốn lưu động. * Sức sản xuất của vốn lưu động (Ssx): chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động đem lại mấy đồng doanh thu thuần. Tổng doanh thu thuần Sức sản xuất của = vốn lưu động Vốn lưu động bình quân 215.234.235.111 Ssx 2009 = = 13,6 15.819.856.245 286.005.702.594 Ssx 2010 = = 14,6 19.606.888.969 367.303.819.040 Ssx 2011 = = 12,0 30.736.359.064 Qua chỉ tiêu này cho thấy, năm 2009 với 1 đồng vốn lưu động thu được 13,6 đồng doanh thu, năm 2010 tăng lên là 14,6 đồng do công ty đã thay đổi phương thức bán hàng phù hợp hơn với cơ chế thị trường nên tăng doanh thu bán hàng và giữ vững ổn định thị phần. Năm 2011, sức sản xuất của vốn luu động lại giảm xuống còn 12,0 đồng do nhu cầu của xã hội giảm sút cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp ngoài ngành làm giảm sản lượng của công ty. Tại thời điểm năm 2011, là thời ki kinh tế nước ta gặp nhiều bất ổn, đây cúng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. * Sức sinh lợi của vốn lưu động (Ssl): chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn lưu động làm ra mấy đồng lợi nhuận Lợi nhuận thuần Sức sinh lợi của = vốn lưu động Vốn lưu động bình quân 1.595.778.213 Ssl 2009 = = 0,101 15.819.856.245 1.880.665.892 Ssl 2010 = = 0,096 19.606.888.969 3.787.156.185 Ssl 2011 = = 0,123 30.736.359.064 Qua chỉ tiêu sức sinh lợi của vốn lưu động ta thấy, năm 2009 hiệu quả sinh lợi của vốn lưu động cao với một đồng vốn lưu động thu được 0,101 đồng lợi nhuận. Tuy nhiên năm 2010 sức sinh lợi của vốn lưu động giảm xuống 0,096, nguyên nhân chủ yếu là do có biến động mạnh về giá xăng dầu. Giá nhập khẩu của nhà cung cấp cao trong khi đó lại không được điều chỉnh giá bán trong nước cho phù hợp dẫn đến lãi gộp luôn cao hơn tổng chi phí. Sức sinh lời của năm 2011 tăng lên mức 0,123. Là do hiệu quả quản lý vốn kd của công ty được nâng lên kèm theo sức sinh lời cũng tăng theo. Đây là dấu hiệu tốt mà công ty cần phải phát huy. 2.2.2. Phân tích tốc độ luân chuyển của vốn lưu động Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất. Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: * Số vòng luân chuyển của vốn lưu động (n): chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ Tổng doanh thu thuần Số vòng quay của = vốn lưu động Vốn lưu động bình quân 215.234.235.111 n 2009 = = 13,6 (vòng ) 15.819.856.245 286.005.702.594 n 2010 = = 14,6(vòng) 19.606.888.969 367.303.819.040 n 2011 = = 12,0(vòng) 30.736.359.064 * Thời gian của một vòng luân chuyển (T): chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng. Thời gian của kỳ phân tích Thời gian của một = vòng luân chuyển Số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ 360 T 2009 = = 26,5 (ngày) 13,6 360 T 2010 = = 24,7 (ngày) 14,6 360 T 2011 = = 30 (ngày) 12,0 * Chỉ tiêu hệ số đảm nhiệm vốn lưu động (Hsđn): Vốn lưu động bình quân Hệ số đảm nhiệm = vốn lưu động Tổng doanh thu thuần 15.819.856.245 Hsđn 2009 = = 0,074(đồng) 215.234.235.111 19.606.888.969 Hsđn 2010 = = 0,069(đồng) 286.005.702.594 30.736.359.064 Hsđn 2011 = = 0,082(đồng) 367.303.819.040 * Số vốn lưu động tiết kiệm được (B): Tổng doanh thu thuần kỳ KH B = * ( T BC – T KH ) 360 286.005,702.594 B 2010 = * (26,5– 24,7) = 1.430 (triệu) 360 367.303,819.040 B 2011 = * ( 24,7 – 30 ) = -5.407(triệu) 360 Bảng 6: Kết quả sử dụng vốn lưu động từ năm 2009 – 2011. Chỉ tiêu: 2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010 Tổng doanh thu thuần (đồng) 215.234.235.111 286.005.702.594 367.303.819.040 70.771.467.438 81.298.116.446 Vốn lưu động bình quân (đồng) 15.819.856.245 19.606.888.969 30.736.359.064 3.787.032.724 11.029.470.095 Số vòng luân chuyển (vòng) 13,6 14,6 12,0 1,00 -2,6 Thời gian một vòng quay (ngày) 26,5 24,7 30 -1,8 -5,3 Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động (đồng) 0,074 0,069 0,082 -0,005 0,013 Số vốn tiết kiệm được (triệu) 1.430 -5.407 - -6.837 Nguồn: Báo cáo quyết toán hàng năm từ 2009 – 2011, Phòng kế toán – tài vụ Kết quả trên cho thấy: Năm 2010, so với năm 2009 vốn lưu động sử dụng có hiệu quả, số vòng luân chuyển vốn năm 2010 là 14,6 vòng tăng 1 vòng so với năm 2009 là 13,6 vòng. Thời gian một vòng quay là 24,7 ngày giảm 1,8 ngày so với năm 2009, hệ số đảm nhiệm vốn là 0,069 đồng giảm 0.005 đồng, nguyên nhân của việc sử dụng vốn hiệu quả là nhu cầu về xăng dầu tăng lên so với năm 2009. Và thời gian này công ty hoạt động khá tốt và có chất lượng từ khâu quản lý đến khâu bán hàng và do sự bình ổn của thị trường dẫn đến hoạt động kinh doanh của công ty hoạt động thuận lợi hơn. Năm 2011, hoạt động kinh doanh của công ty lại có dấu hiệu chững lại khi các chỉ tiêu như bảng trên cho thấy xu hướng xấu đi. Số vòng luân chuyển vốn giảm xuống còn 12 vòng, số ngày quay vòng vốn tăng lên 30 ngày và hệ số đảm nhiệm tăng lên 0.082. Nguyên nhân là do sự cạnh tranh của các đơn vị ngoài ngành cũng như các đơn vị tuyến trước (lợi thế về nguồn hàng) đã gây ra sự giảm sút trên. Ngoài ra, năm 2011 là năm nền kinh tế nước ta đầy biến động theo xu hướng xấu dẫn đến các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên do có những thay đổi về phương thức tổ chức bán hàng phù hợp hơn với cơ chế thị trường nên đã khắc phục được phần nào khó khăn dẫn đến doanh thu bán hàng vẫn ở mức cao là 367.303.819.040 đồng tăng 81.298.116.446 đồng so với năm 2010. 3.Tình hình quản lý, sử dụng vốn cố định của công ty Đối với doanh nghiệp thương mại vốn cố định chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số vốn kinh doanh, tuy nhiên vốn cố định lại là nền tảng cơ bản để doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi. Qua phân tích đánh giá vốn cố định, doanh nghiệp có thể đưa ra những điều chỉnh về quy mô cũng như cơ cấu vốn đầu tư, có các quyết định quan trọng như đầu tư mới hay hiện đại hoá tài sản cố định hiện có thông qua việc đánh giá năng lực sản xuất của tài sản cố định. Nhờ đó sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. Tình hình sử dụng vốn cố định Phần lớn vốn cố định của công ty được biểu hiện dưới dạng tài sản cố định. Thời điểm hiện tại tài sản cố định của công ty hiện có: + Nhà cửa và vật kiến trúc gồm có: văn phòng làm việc, nhà kho và các cửa hàng. Trong đó: nhà kho được xây dựng từ những năm 2003 do đó hệ thống công nghệ đã không còn giá trị lớn và tỷ lệ hao hụt cao. + Máy móc thiết bị phục vụ công tác quản lý cũng như bán hàng luôn được lãnh đạo công ty quan tâm đầu tư, trong đó quan trong nhất vẫn là hệ thống cột bơm xăng dầu. Những năm gần đây công ty đã đẩy mạnh đầu tư trang bị lại hệ thống cột bơm mới, hiện đại cho các cửa hàng nhằm đảm bảo độ chính xác cao và an toàn trong công tác phòng chống cháy nổ vệ sinh môi trường. + Phương tiện vận tải: phương tiện vận tải chủ yếu của công ty là các loại xe xitéc vận chuyển xăng dầu. Các phương tiện này công ty đều đầu tư mới oặc mua lại với giá trị cao. Tuy nhiên một số phương tiện đã có mức khấu hao cao, vì vậy công ty luôn phải tăng cường công tác quản lý và sử dụng, có kế hoạch sửa chữa và bảo quản thường xuyên. Bảng: giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn khác công ty CPTM Trường Xuân giai đoạn 2009 – 2011 Đơn vị: VND STT Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 TÀI SẢN A B I II Tài sản ngắn hạn Tài sản dài hạn Tài sản cố định Tài sản dài hạn khác Tổng cộng tài sản 15.819.856.245 5.239.185.287 5.239.185.287 - 21.131.041.532 19.606.888.969 7.954.231.954 7.862.202.655 91.329.299 27.561.120.932 30.736.359.064 14.573.573.187 12.861.200.527 1.712.372.660 45.309.932.251 (Nguồn: Báo cáo tài chính công ty CPTM Trường Xuân năm 2009 – 2011) Ta có bảng xử lý số liệu sau: Bảng: Cơ cấu và tình hình biến động tài sản cố định và đầu tư dài hạn công ty CPTM Trường Xuân giai đoạn 2009 – 2011 STT Chỉ tiêu Tỷ trọng (%) So sánh Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 2010 so với 2009 2011 so với 2010 A B I II TÀI SẢN Tài sản ngắn hạn Tài sản cố định Tài sản cố định Tài sản dài hạn khác Tổng cộng tài sản 75,2 24,8 24,8 - 100 71,1 28,9 28,6 0,3 100 67,8 32,2 28,4 3,8 100 - 4,1 4,7 3,8 0,3 - 3,3 3,3 - 0,2 3,5 Để đánh giá tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung và máy móc thiết bị nói riêng của doanh nghiệp. Ta đi vào so sánh chỉ tiêu Tỷ suất đầu tư (Tsđt), thông qua chỉ tiêu này có thể biết được năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tài sản cố định đã và đang đầu tư Tỷ suất đầu tư = Tổng số tài sản 5.239.185.287 Tsđt 2009 = = 0,248 21.131.041.532 7.862.202.655 Tsđt 2010 = = 0,285 27.561.120.932 14.573.573.187 Tsđt 2011 = = 0,322 45.309.932.251 Qua bảng phân tích cơ cấu tài sản cố định cho thấy, trong tài sản cố định và đầu tư dài hạn thì chủ yếu là bộ phận tài sản cố định đã và đang đầu tư . Năm 2009 tài sản cố định là 5.239.185.287 đồng, tỷ suất đầu tư là 0,248, năm 2010 tài sản cố định tăng lên mức 7.862.202.655 đồng tăng 2.623.017.377 đồng so với năm 2009 với tỷ suất đầu tư là 0,285. Năm 2011 tài sản cố định tăng lên đáng kể lên mức 14.573.573.187 đồng , kéo theo đó là tỷ suất đầu tư tăng lên mức 0,322. Như vậy, nhìn chung tài sản cố định qua các năm đã tăng lên đáng kể từ 5.239.185.287 đồng năm 2009 đến 14.573.573.187 đồng năm 2011. Có cự thay đổi này là do các khoản chí phí xây dựng cơ bản dở dang giảm do một số công trình đã được hoàn thành và bước đầu đi vào hoạt động. Điều này sẽ là một thuận lợi lớn nếu công ty sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài sản cố định này, ngược lại hiệu quả sử dụng vốn sẽ giảm bởi vì tài sản cố định lưu chuyển chậm. Trong điều kiện kinh doanh không thuận lợi, nguồn tích luỹ từ lợi nhuận không đáng kể, nên việc sử dụng vốn đầu tư xây dựng luôn được công ty cân nhắc kỹ trên phương diện hiệu quả kinh tế và cân đối tập trung cho các công trình trọng điểm, có tính chất phục vụ sản xuất kinh doanh chung của toàn công ty. Đồng thời, công ty cũng đẩy mạnh công tác thanh lý tài sản cố định và các tài sản khác kém phẩm chất, chậm luân chuyển. 3.2.Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định * Sức sản xuất của tài sản cố định (Ssx): chỉ tiêu này phản ánh một đồng tài sản cố định đem lại mấy đồng doanh thu thuần. Tổng doanh thu thuần Sức sản xuất của = tài sản cố định Nguyên giá bình quân TSCĐ 215.234.235.111 Ssx 2009 = = 41,08 5.239.185.287 286.005.702.594 Ssx 2010 = = 36,38 7.862.202.655 367.303.819.040 Ssx 2011 = = 25,20 14.573.573.187 * Sức sinh lợi của tài sản cố định (Ssl): chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần. Lợi nhuận thuần Sức sinh lợi của = tài sản cố định Nguyên giá bình quân TSCĐ 1.595.778.213 Ssl 2009 = = 0,305 5.239.185.287 1.880.665.892 Ssl 2010 = = 0,239 7.862.202.655 3.787.156.185 Ssl 2011 = = 0,260 14.573.573.187 * Suất hao phí tài sản cố định (Shp): chỉ tiêu này cho thấy để có một đồng doanh thu thuần cần bao nhiêu đồng tài sản cố định. Nguyên giá bình quân TSCĐ Suất hao phí = tài sản cố định Tổng doanh thu thuần 5.239.185.287 Shp 2009 = = 0,024(đồng) 215.234.235.111 7.862.202.655 Shp 2010 = = 0,027(đồng) 286.005.702.594 14.573.573.187 Shp 2011 = = 0,039(đồng) 367.303.819.040 Bảng : Kết quả sử dụng vốn cố định từ năm 2009 – 2011. Chỉ tiêu: 2009 2010 2011 2010/2009 2011/2010 Tổng doanh thu thuần (đồng) 215.234.235.111 286.005.702.594 367.303.819.040 70.771.467.438 81.298.116.446 Nguyên giá bình quân TSCĐ (Đồng) 5.239.185.287 7.862.202.655 14.573.573.187 2.623.017.377 6.711.370.525 Lợi nhuận thuần (đồng) 1.595.778.213 1.880.665.892 3.787.156.185 284.887.679 1.906.490.293 Sức sản xuất của TSCĐ (đồng) 41,08 36,38 25,20 -4,7 -11,18 Sức sinh lợi của TSCĐ (đồng) 0,305 0,239 0,260 -0,066 0,021 Suất hao phí TSCĐ (đồng) 0,024 0,027 0,039 0,003 0,013 Nguồn: Báo cáo quyết toán hàng năm – Phòng kết toán. Kết quả trên cho thấy, năm 2009 hiệu quả sử dụng tài sản cố định tương đối cao 1 TSCĐ đem lại 41,08 đồng doanh thu và 0,305 đồng lợi nhuận, sức hao phí tài sản cố định thấp là 0,024 đồng. Năm 2010, TSCĐ đã dược đầu tư đáng kể tuy nhiên doanh thu và lợi nhuận không đạt như mong muốn nên hiệu quả sử dụng tài sản cố định giảm, 1 đồng tài sản cố định làm ra 36,38 đồng doanh thu giảm 4,7 đồng và 0,239 đồng lợi nhuận giảm 0,066 đồng, sức hao phí là 0,027 tăng 0,013 đồng so với năm 2009. Trong năm 2011,công ty đã đầu tư rất lớn vào TSCĐ nhưng kết quả vẫn ko khả quan hơn. Một đồng TSCĐ đem lại 25,20 đồng doanh thu giảm 11,18 đồng, sức sinh lợi TSCĐ là 0,260 tăng 0,021 đồng so với năm 2010, suất hao phí TSCĐ tăng lên mức 0,039 đồng tăng 0,013 đồng so với năm 1010. Như vậy nhìn chung vốn cố định được đầu tư và sử dụng có hiệu quả trong năm 2009 và 2010, tuy nhiên sang năm 2011 là năm nền kinh tế có nhiều biến đổi, nhất là lĩnh vực kinh doanh xăng dầu. vì thế hoạt động kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn nhưng nhìn chung, những khó khăn này của công ty đều thuộc về nhân tố khách quan, là tình hình chung của cả nền kinh tế, vì vậy công ty cần phải luôn nắm bắt xu thế của thị trường để có những bước đi đúng đắn. III. Nhận xét, đánh giá về tình hình sử dụng vốn của công ty CP TM Trường Xuân Những kết quả đạt được Trong những năm qua, thực tế và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy khó khăn và thách thức đối với công ty là vừa phải tổ chức kinh doanh hướng tới lợi nhuận, vừa phải thực hiện ổn định thị trường. Trong khi đó, môi trường điều kiện kinh doanh chứa nhiều yếu tố bất lợi: giá cả xăng dầu biến động mạnh không theo quy luật, thị trường trong nước phức tạp và cạnh tranh quyết liệt, chính sách điều hành thuế - giá và quản lý vĩ mô còn nhiều bất cập… Tuy nhiên, công ty Cổ phần Thương mại Trường Xuân vẫn thực hiện tốt các mục tiêu nhiệm vụ của năm kế hoạch đề ra. Điều đáng nói là trong năm qua công ty đã nỗ lực khắc phục khó khăn, đảm bảo cung cấp đủ nguồn hàng xăng dầu cho phát triển kinh tế, tiêu dùng xã hội góp phần ổn định thị trường. Tạo điều kiện cho nền kinh tế của tỉnh phát triển và tăng trưởng liên tục trong những năm qua. Đảm bảo an toàn về hàng hoá, tài chính trong quá trình mua bán, tiếp nhận, vận chuyển; không để xảy ra sự cố lớn gây thiệt hại về tài sản cho doanh nghiệp. Nguồn hàng tương đối ổn định, có đủ nguồn lực để giải quyết tốt yêu cầu của khách hàng Cơ sở vật chất kỹ thuật tiếp tục được đầu tư, bổ sung và phát huy năng lực mới, góp phần hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong năm qua và cho những năm tiếp theo của công ty. Cụ thể là: trong điều kiện cạnh tranh, hệ thống các cửa hàng xăng dầu đã phát huy tác dụng tăng doanh thu và giữ được thị phần góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các thời điểm khó khăn. Ngoài ra công ty còn tiến hành khảo sát, ban hành, thực hiện được nhiều định mức kinh tế – kỹ thuật mới tiết kiệm: định mức tiêu hao nhiên liệu, phụ tùng cho các phương tiện vận tải; định mức hao hụt xăng dầu các loại trong khâu giao nhận – vận chuyển; điều chỉnh lại cước vận chuyển phù hợp với quy định mới; cải tạo lại mạng lưới điện nội bộ giảm hao tốn điện năng, nhiều định mức mới về chi phí quản lý, chi phí bán hàng đạt hiệu quả kinh tế cao. Đạt được kết quả trên là do nhiều nguyên nhân: Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tăng trưởng khá kéo theo tổng nhu cầu xăng dầu của xã hội cũng tăng cao. Đặc biệt là nhu cầu xăng dầu phục vụ nhu cầu đi lại của người dân luôn giữ ở mức ổn định. Việc điều hành thuế, giá của các cơ quan quản lý nhà nước được cải thiện theo hướng tích cực, linh hoạt hơn những năm trước, cùng với sự quan tâm đến thực trạng bất ổn của thị trường xăng dầu trên địa bàn tỉnh. Những tác động tích cực này tuy chưa lớn nhưng đã giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giảm bớt khó khăn. Ngoài ra, kết quả đạt được là do các yếu tố chủ quan, khách quan khác, trong đó phải kể đến sự nỗ lực của tập thể lãnh đạo công ty, đặc biệt là sự năng động và làm việc tích cực của cán bộ, nhân viên trong bộ máy quản lý văn phòng và sự đóng góp của toàn thể cán bộ công nhân viên, sự quan tâm, chỉ đạo và hỗ trợ của các cơ quan hữu quan. Những vấn đề còn tồn tại Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn có những việc chưa thực hiện được hoặc thực hiện chưa tốt. Để đánh giá đúng thực trạng sử dụng vốn nhằm định hướng cho những năm tiếp theo cần phải nhận thức rõ những mặt tồn tại sau: Trước hết là công tác quản lý công nợ còn chưa đạt được hiệu quả, mức dư nợ khách hàng vẫn ở mức cao. Trong môi trường kinh doanh hiện nay thì công nợ khách hàng tạm thời được chấp nhận như là một phần trong chính sách bán hàng. Số ngày cho các khách hàng bán buôn nợ bình quân theo quy định là 21 ngày, trong thực tế điều hành công ty đều cho khách hàng công nghiệp nợ 1 tháng và khách hàng đại lý nợ 15 ngày. Điều này dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn của công ty, tuy đã có giải pháp về hàng hoá - dịch vụ nhưng bán nợ lớn đã làm cho việc kinh doanh đã khó khăn lại càng khó khăn hơn về tài chính, đặc biệt trở thành yếu tố tiềm ẩn nguy cơ xảy ra sự cố tài chính. Do đó cần phải tính toán lựa chọn phương án bán nợ hay giảm giá bán ở mức cần thiết có thể để đạt được phương án kinh tế tối ưu hơn và an toàn về tài chính. Công tác kế hoạch hoá cân đối cung cầu chưa đạt tới độ hiệu quả, bên cạnh thời điểm còn thiếu hàng, có thời điểm hàng lại tồn đọng cao là tăng tồn đọng vốn. Do nguồn hàng điều chuyển nội bộ ngành không ổn định, thất thường khi có, khi không. Sử lý hàng hoá tài sản ứ đọng, tồn kho, kém mất phẩm chất … để thu hồi vốn đưa vào kinh doanh còn thiếu tích cực. Trong thời gian tới cần giải quyết triệt để vấn đề này nhằm tăng nguồn vốn cho kinh doanh. Luân chuyển tiền hàng còn chậm, thiếu tích cực để xảy ra tình trạng thất thoát tiền hàng. Thiếu vốn kinh doanh nhưng vẫn phải chấp nhận bán nợ cho khách hàng nhằm giảm lỗ giá vốn. Mặc dù đã có các giải pháp về giá hàng hoá - dịch vụ nhằm chống lỗ nhưng việc vốn luân chuyển chậm đã gây cho công ty không ít khó khăn. Nguyên nhân của những yếu kém trên Những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý điều hành vốn kinh doanh do các nguyên nhân chủ yếu sau Nguyên nhân chủ quan Cơ chế sử dụng vốn của công ty hiện nay vẫn còn thiếu tính linh hoạt, doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Đồng thời còn coi phương thức bán nợ như một phương tiện chủ yếu để cạnh tranh, tăng sản lượng tăng doanh thu. Công ty chưa gắn công tác bán hàng với hiệu quả kinh doanh và việc bảo toàn vốn. Chưa tính toán lựa chọn phương án kinh tế tối ưu hơn có thể giữa việc đi vay chịu lãi suất để tài trợ công nợ với khuyến mãi giảm giá để giảm nợ và an toàn về tài chính. Chưa chấp hành nghiêm túc các quy định về quản lý, kinh doanh và tuân thủ quy trình quản lý tiền hàng, thiếu kiểm tra đôn đốc việc thu hồi tiền hàng. Cơ sở vật chất phục vụ công tác bán hàng còn nhiều khó khăn như: mức độ xây dựng cửa hàng còn chậm nhiều so với các doanh nghiệp khác, số cửa hàng hiện tại trên địa bàn còn quá mỏng, ở một số cửa hàng trang thiết bị cũ kỹ, chuyên môn nghiệp vụ, ý thức tổ chức kỷ luật cũng như về nhận thức của đội ngũ cán bộ công nhân viên chưa theo kịp với yêu cầu nhiệm vụ mới. Chiến lược phát triển con người chưa được quan tâm đúng mức, chính sách tuyển dụng, đào tạo mới chỉ đáp ứng nhu cầu bức thiết trước mắt, chưa được quy hoạch và đầu tư tương xứng với yêu cầu phát triển lâu dài. 3.2. Nguyên nhân khách quan Giá bán do Chính Phủ quy định đối với một số mặt hàng thấp hơn giá vốn nhập khẩu dẫn đến tình trạng lỗ kinh doanh, trong khi đó Nhà nước bù lỗ giá vốn chậm làm thiếu vốn kinh doanh. Hơn nữa với chủ trương “tận thu” ngân sách đã làm hạn chế đáng kể khả năng bù trừ lỗ / lãi giữa các thời kỳ giá cả có nhiều biến động. Số cửa hàng bán lẻ xăng dầu của các công ty khác trên địa bàn tỉnh là khá lớn, trong khi công ty chỉ chiếm khoảng 20% thị phần xăng dầu toàn tỉnh với 8 cửa hàng bán lẻ trực tiếp của công ty và 40 đại lý. Tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn cả về cường độ và quy mô, công ty vẫn phải tiếp tục kinh doanh trong điều kiện môi trường cạnh tranh đầy khó khăn. Tình trạng gian lận thương mại, đầu cơ tích trữ gia tăng gây khan hiếm giả tạo đối với mặt hàng xăng dầu. Đặc biệt là nạn pha trộn xăng cấp thấp với xăng cao cấp, dầu hoả với diesel…đưa ra bán trên thị trường gây mất uy tín của công ty. Tình hình kinh doanh xăng dầu thẩm lậu phát triển không được ngăn chặn kịp thời. Những vi phạm này nếu không được sử lý triệt để sẽ tạo ra thị trường kinh doanh xăng dầu thiếu lành mạnh, gây thiệt hại cho nhà nước và tác động rất xấu đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Chương III Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở công ty Cổ phần Thương mại Trường Xuân I. Mục tiêu, phương hướng hoạt động của công ty nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong thời gian tới Trong báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011, công ty Cổ phần Thương mại Trường Xuân đã đưa ra phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời gian tới như sau: - Về mục tiêu định hướng - Tiếp tục giư vững và duy trì thị phần xăng dầu của công ty ở mức 20% trên toàn tỉnh và tiếp tục nâng cao ở những năm tiếp theo. Mở rộng và đẩy mạnh kinh doanh dịch vụ khác; nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp chuyên doanh và phát triển thị trường bên ngoài - Thực hiện việc bảo toàn và phát triển vốn, đổi mới tổ chức kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và tích tụ lợi nhuận. Bảo đảm an toàn tuyệt đối về con người, tài sản, tiền vốn. Ổn định doanh nghiệp, bảo đảm việc làm và thu nhập cho người lao động. - Tạo sự chuyển biến trong công tác quản lý lao động; đổi mới cơ chế phân phối tiền lương, tiền thưởng tạo động lực lợi ích nâng cao hệu quả doanh nghiệp. Đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, điều hành và chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu. Tập trung nguồn lực cho đầu tư, tạo ra những năng lực sản xuất kinh doanh mới và khả năng cạnh tranh, ưu tiên chương trình hiện đại hoá cơ sở vật chất, phát triển ứng dụng công nghệ thông tin… Trong đó cần tập trung: - Mở rộng sức chứa kho xăng dầu, nhằm tăng lượng xăng dầu dự trữ, cho phép rút ngắn cung đường vận động của hàng hoá, giảm hao hụt và chi phí vận tải, tạo sự chủ động trong điều chuyển nguồn hàng khi nhu cầu tăng cao. - Phát triển hệ thống cửa hàng xăng dầu ở các cụm kinh tế, dân cư mới đang hình thành, các trục giao thông quan trọng… theo các hình thức khác nhau (tự đầu tư, liên doanh, liên kết hoặc thuê mua cơ sở của các đối tác khác). Coi trọng việc đầu tư nâng cấp, mở rộng qui mô, “khang trang hoá” và tổ chức các dịch vụ, tiếp thị đối với các cửa hàng xăng dầu ở trung tâm thành phố, đô thị, quốc lộ để thu hút khách hàng, gia tăng sản lượng. - Đầu tư cho kế hoạch phát triển công nghệ thông tin, đổi mới thiết bị đo lường, giao nhận để giảm hao hụt trong các hoạt động nghiệp vụ. Hoàn thiện các qui định về quản lý và sử dụng vốn, nhằm bảo toàn và phát triển vốn, sử dụng có hiệu quả. Tăng cường kiểm soát nhằm tránh mọi rủi ro, sự cố về tài chính. Theo đó: - Nhu cầu vốn định mức công nợ phải phù hợp với cơ chế kinh doanh, gắn trách nhiệm thanh toán tiền hàng với thu nhập của những người có liên quan, gắn công tác quản lý và sử dụng vốn với xử lý trách nhiệm. - Thiết lập chế độ thông tin báo cáo thường xuyên, định kỳ dòng lưu chuyển tiền tệ, đồng thời, phải tổ chức đánh giá hiệu quả hoạt động và tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát. - Đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giảm đáng kể hàng hoá, vật tư, thiết bị tồn kho ứ đọng, không cần dùng, xử lý các hàng hoá kém phẩm chất, giải quyết thanh lý tài sản hư hỏng lạc hậu… huy động vốn phục vụ kinh doanh. Thực hành tiết kiệm, giảm thiểu chi phí bán hàng, phát huy nội lực tạo ra tiềm năng cạnh tranh mới. Ưu tiên chương trình xác định các định mức kinh tế – kỹ thuật, trong đó cần tổ chức xây dựng ngay định mức chi phí vận chuyển tạo nguồn, chi phí hao hụt trong khâu bảo quản và các định mức chi phí khác làm cơ sở cho công tác quản lý chi phí. - Về đầu tư - Đẩy mạnh công tác đầu tư phát triển và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho yêu cầu kinh doanh và tạo dựng nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài. Tổng mức đầu tư năm 2012 dự kiến tăng 9% so với năm 2011, và các năm sau đó trở đi vẫn giữ được mức tăng ổn định, ưu tiên tập trung vào các dự án, chương trình: Mở rộng kho, tuyến ống xăng dầu, phát triển hệ thống cửa hàng xăng dầu và các cửa hàng chuyên doanh, đổi mới và hiện đại hoá công nghệ thiết bị, phát triển công nghệ thông tin trong toàn công ty. II. Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Thực tế đã chứng minh, có những doanh nghiệp có đầy đủ khả năng về con người và cơ hội đầu tư nhưng vì không đáp ứng đủ yêu cầu về tài chính nên đành bó tay, ngược lại có doanh nghiệp rất dồi dào về tài chính nhưng do quản lý yếu kém dẫn đến việc sử dụng vốn lãng phí kém hiệu quả. Do vậy, vấn đề cấp thiết đặt ra đối với các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp là phải tìm ra những giải pháp để sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả nhất. Đối với công ty Cổ phần Thương mại Trường Xuân, để thực hiện thành công các định hướng, nhiệm vụ, mục tiêu đã xác định cùng với việc phát huy, kế thừa các kết quả đã đạt được trong những năm qua, trong thời gian tới công ty cần tập trung vào thực hiện các nhóm biện pháp chủ yếu sau: Các biện pháp chung nhằm bảo toàn và phát triển vốn. Bảo toàn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và phát tiển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập cho người lao động và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước. Doanh nghiệp làm ăn có lãi thì vốn mới được bảo toàn và phát triển, đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng tái sản xuất mở rộng, phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Thực chất của việc bảo toàn vốn là giữ được giá trị thực tế hay sức mua của vốn (thể hiện bằng tiền), giữ được khả năng chuyển đổi so với các loại tiền khác tại một thời điểm nhất định. Nói cách khác, bảo toàn vốn chính là bảo toàn giá trị của các nguồn vốn. Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì trước hết phải bảo toàn và phát triển vốn, để làm được điều này công ty cần thực hiện đồng bộ các biện pháp sau: 1.1. Tổ chức kinh doanh năng động hiệu quả hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch. Tổ chức khai thác, thu thập thông tin, đánh giá phân tích thị trường, phân loại khách hàng, dự báo những biến động về tăng giảm nhu cầu để có chính sách bán hàng phù hợp, vừa giữ được khách hàng vừa kinh doanh có hiệu quả. Có biện pháp tiếp cận sớm với các nhu cầu mới đang hình thành, đặc biệt là các công trình, dự án lớn trên địa bàn do mình phụ trách, để tiến hành xúc tiến sớm các quan hệ tiếp thị và hợp đồng mua bán xăng dầu. Đồng thời thiết lập quan hệ lâu dài, ổn định đối với khách hàng công nghiệp có nhu cầu lớn. Tổ chức tốt việc bán hàng ở cả bốn khâu: bán buôn trực tiếp, bán qua đại lý bao tiêu, bán tái xuất và bán lẻ. Trong khâu bán lẻ, cần mở rộng thị trường thông qua việc nâng cấp mở rộng quy mô cửa hàng bán lẻ hiện có bằng các biện pháp như: đầu tư mới, liên doanh liên kết, thuê cửa hàng, địa điểm, nâng cao các hoạt động tiếp thị và dịch vụ ở mỗi cửa hàng. Quản lý khai thác tốt các phương tiện nội bộ, chủ động tính toán thuê các phương tiện của các đối tác khác ở mức hợp lý, nhằm nâng cao khả năng đảm bảo nguồn hàng (cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu và tiến độ) đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày một tăng cao. Tổ chức nghiên cứu, xây dựng các phương án kinh doanh, để có thể chủ động triển khai khi có những thay đổi từ phía các cơ quan quản lý cấp trên. Trước mắt cần phải chỉ đạo, điều hành và tổ chức kinh doanh một cách linh hoạt, sáng tạo trong đó cần tập trung vào một số vấn đề: - Công ty cần tổ chức đánh giá tác động của các yếu tố, xác lập phương án kinh doanh cho từng chu kỳ, từng thời điểm cụ thể nhằm chủ động đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. - Xuất phát từ đặc thù từng khu vực thị trường, công ty cần xây dựng và thực hiện các biện pháp, cơ chế cụ thể khuyến khích gia tăng sản lượng bán lẻ, mở rộng và phát triển hệ thống khách hàng tiêu thụ trực tiếp, phân loại và chính sách tương ứng với từng nhóm đối tượng khách hàng thương mại nhằm thiết lập hệ thống đại lý tương đối ổn định… đảm bảo hài hoà giữa 2 mục tiêu thị phần sản lượng và tích luỹ phát triển công ty. 1.2. Giảm thiểu chi phí kinh doanh. Trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì giảm chi phí kinh doanh là vấn đề có tính chiến lược lâu dài của toàn công ty, là yếu tố nâng cao khả năng cạnh tranh trong kinh doanh và tạo ra mức tích luỹ cần thiết cho quá trình tái sản xuất. Mặc dù trong năm qua, công ty đã xây dựng được nhiều định mức kinh tế – kỹ thuật tiết kiệm, tuy nhiên chi phí kinh doanh xăng dầu còn cao đã gây hạn chế năng lực cạnh tranh của công ty. Như vậy, vấn đề đặt ra là phải tiết giảm đến mức thấp nhất chi phí vận chuyển và hao hụt trong quá trình bảo quản và trung chuyển. Để thực hiện được điều này công ty cần phải áp dụng các biện pháp: - Giảm phí tổn vận tải thông qua tính toán sự vận động của hàng hoá hợp lý từ nguồn hàng đến nơi tiêu dùng, lựa chọn tuyến đường, phương tiện vận chuyển phù hợp, tổ chức tốt công tác bốc dỡ hai đầu, sử dụng phương thức vận chuyển tiên tiến. - Giảm chi phí bảo quản, hao hụt hàng hoá trong kinh doanh thông qua áp dụng phương tiện, thiết bị bảo quản tiên tiến, kiểm tra số lượng chất lượng hàng nhập xuất để hạn chế hao hụt mất mát, không ngừng hoàn thiện các định mức hao hụt, nâng cao trình độ nghiệp vụ kỹ thuật bảo quản của cán bộ trong kho, thực hiện chế độ trách nhiệm vật chất trong bảo quản sử dụng hàng hoá, tài sản của doanh nghiệp. - Giảm chi phí bán hàng thông qua việc lựa chọn kênh phân phối phù hợp, sử dụng phương pháp bán hàng văn minh, hiện đại nâng cao doanh số bán, lựa chọn các hình thức quảng cáo, khuyến mãi lôi kéo khách hàng. Đồng thời nên cử những cán bộ có chuyên môn, kinh nghiệm tham gia ký kết các hợp đồng mua bán nhằm tránh sai sót góp phần giảm chi phí kinh doanh. - Giảm chi phí quản lý thông qua tinh giản bộ máy quản lý, giảm chi phí tiếp khách tới mức có thể, giảm chi phí các cuộc họp… sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại trong quản lý để nâng cao năng suất và chất lượng công tác, giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà không thiết thực nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, công ty cần tiếp tục thực hiện chương trình “Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” với các giải pháp tích cực, chủ động hơn theo hướng mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng doanh thu, lãi gộp, quản lý chặt chẽ doanh thu, chi phí, hợp lý hoá cung đường vận động hàng hoá, ưu tiên áp dụng các giải pháp kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để giảm hao hụt, tổ chức lại sản xuất, tăng năng suất chất lượng lao động… nhằm giảm giá thành, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả doanh nghiệp. 1.3. Đảm bảo an toàn về vốn kinh doanh. Trong kinh doanh rủi ro là điều không tránh khỏi, nhất là đối với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu thì những rủi ro bất thường, mang tính bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn … gây tổn thất thiệt hại về tài sản là rất cao. Do đó trong quá trình kinh doanh công ty cần phải tiến hành mua bảo hiểm tài sản để khi có rủi ro thì vốn bị mất sẽ được bồi thường bởi các công ty bảo hiểm. Đối với các trường hợp bị mất tài sản vì các nguyên nhân khác, phải xác định rõ nguyên nhân, qui trách nhiệm cá nhân, tập thể và xử lý theo qui định. Đối với các trường hợp công nợ khó đòi không thu hồi được, giảm giá các khoản đầu tư ngắn hạn (cổ phiếu, trái phiếu ngắn hạn mà doanh nghiệp đã mua), giảm giá hàng tồn kho, công ty phải hạch toán vào chi phí kinh doanh bằng cách trích dự phòng. Đối với rủi ro tỷ giá, được coi như bất khả kháng đối với doanh nghiệp vì nó nằm ngoài khả năng điều hành kiểm soát của doanh nghiệp, do đó cần có một cơ chế để đối phó với những thay đổi này. Những rủi ro mất vốn do nguyên nhân chủ quan, phần thiệt hại sau khi bắt buộc bồi thường, thu hồi phế liệu… phần còn lại phải lấy từ lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp để bù đắp. Để tránh những rủi ro mất vốn loại này, công ty cần thực hiện nghiêm chỉnh qui chế quản lý tài chính của doanh nghiệp đã ban hành. Tăng cường công tác kiểm tra các nội dung cốt lõi của công tác quản lý, hạch toán tiền hàng ở các cơ sở trực thuộc, phát hiện, ngăn chặn sớm không để xảy ra tiêu cực thất thoát tài sản doanh nghiệp. Đồng thời tăng cường áp dụng các biện pháp trách nhiệm vật chất đối với người lao động để ràng buộc hơn trách nhiệm của cá nhân với lợi ích của nhà nước và tập thể. 1.4. Tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh. Hiện nay, do sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nên việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào kinh doanh là điều tất yếu, góp phần đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của công ty. Đây là biện pháp vừa đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá vừa mang tính chiến lược trong kinh doanh. Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh sẽ mang lại khả năng cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần mạnh dạn đầu tư những phương tiện kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại, tiên tiến để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới. 1.5. Hoàn thiện công tác kế toán, thống kê và bộ máy tổ chức quản lý tài chính. Công tác kế toán, thống kê của doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn, tài sản nói riêng. Thông qua các hoạt động lập kế hoạch tài chính trong kỳ kinh doanh, đảm bảo nguồn vốn cho mọi hoạt động của doanh nghiệp, theo dõi và phản ánh tình hình luân chuyển vốn kinh doanh… Công tác kế toán, thống kê đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời chính xác, phục vụ công tác phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, kịp thời phát hiện các sai sót để chỉ đạo khắc phục. Do vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, công tác kế toán thống kê của công ty cần phải được hoàn thiện trên các mặt sau: theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán, thống kê hiện hành, phản ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Chấp hành nghiêm chế độ quản lý vốn kinh doanh như: quản lý công nợ ở doanh nghiệp, quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp… để giảm mức độ thiệt hại về vốn. Thiết lập chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên, định kỳ dòng tiền lưu chuyển, nâng cao khả năng kiểm soát tình hình tài chính. Kết hợp tổ chức công tác kiểm tra thực tế và nâng cao vai trò đánh giá, phát hiện của công tác kiểm toán. Ngoài ra, công ty cần xem xét kiện toàn bộ máy tài chính – kế toán nhằm đảm bảo đội ngũ cán bộ tài chính kế toán ngày càng được nâng cao về phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tiễn và phương pháp quản lý đáp ứng yêu cầu quản lý kinh doanh đòi hỏi. Đồng thời, cần chú trọng công tác đào tạo, tuyển dụng phù hợp với đặc thù nghề nghiệp và yêu cầu phát triển của doanh nghiệp. Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định 2.1. Đánh giá lại giá trị thực của tài sản cố định. Trong nền kinh tế thị trường luôn biến động, thì sự thay đổi giá cả (hiện tượng hao mòn vô hình) thường xuyên xảy ra. Điều đó làm cho nguyên giá của tài sản và giá trị còn lại của nó bị phản ánh sai lệch so với mặt giá trị thực tế của nó. Do vậy, hàng năm doanh nghiệp cần tổ chức đánh giá, xác định giá trị thực của toàn bộ và của từng loại tài sản cố định dùng trong kinh doanh. Nhà nước nên cho phép doanh nghiệp được tự xác định lại giá trị tài sản cố định của mình, đồng thời có sự kiểm soát của cơ quan tài chính. Việc thường xuyên đánh giá lại giá trị của tài sản cố định giúp cho doanh nghiệp có thể tính toán chính xác khấu hao của tài sản cố định để hạch toán vào chi phí kinh doanh và kịp thời sử lý tài sản cố định bị hư hỏng, mất mát tránh tổn thất trong quá trình sử dụng, đồng thời đây cũng là căn cứ lập báo cáo tài chính của doanh nghiệp. . Hoàn thiện chế độ khấu hao tài sản cố định. Hiện nay các doanh nghiệp thường áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng. Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của tài sản cố định. Để đảm bảo sự thống nhất về thời gian sử dụng của những tài sản cố định đã áp dụng theo các qui định trước đây, doanh nghiệp phải chuyển đổi lại cho phù hợp với quyết định mới, có như vậy mới phản ánh đúng mức độ hao mòn của tài sản cố định và đảm bảo tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao vào giá thành sản phẩm. Mặt khác, với mỗi loại tài sản cố định, công ty phải tính toán đưa ra mức khấu hao hợp lý dựa trên công dụng, giá cả và thời gian hoạt động của tài sản đó. Có như vậy, công ty mới khai thác, phát huy hết công dụng của tài sản, phục vụ cho hoạt động kinh doanh, đảm bảo hoàn vốn trong thời gian nhất định, giảm lượng chi phí không cần thiết. . Đổi mới công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Để xây dựng cơ cấu hợp lý, doanh nghiệp nên tiến hành đầu tư vào các công trình đảm bảo giá thành rẻ, tạo lợi nhuận lớn, giúp cho việc trả nợ vay được tốt hơn, vốn sẽ được bảo toàn và phát triển. Khi đầu tư mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh cần lựa chọn công nghệ sản xuất hiện đại. Sự dụng tốt các đòn bẩy kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng trong công việc nâng cao năng suất lao động, hiệu suất sử dụng máy móc thiết bị, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. Doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua nguồn vốn đi vay của các tổ chức tín dụng hoặc tham gia thị trường chứng khoán, để xây dựng các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh với hiệu quả cao nhất. Trong thời gian tới công ty cần có kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống kho bãi rộng, trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu dự trữ, vận tải, nhập xuất hàng hoá an toàn và thuận tiện. Bên cạnh việc đầu tư xây dựng mới, công ty cần chủ động và có trách nhiệm duy trì tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật của đơn vị, chống xuống cấp và nâng cao yếu tố đảm bảo kỹ thuật cho sản xuất kinh doanh. Tiến hành nhượng bán, thanh lý tài sản thu hồi vốn kinh doanh. Đối với số tài sản cố định không cần dùng, tài sản cố định hư hỏng chờ thanh lý, vật tư không cần dùng, vật tư ứ đọng kém mất phẩm chất, doanh nghiệp cần đưa ra những biện pháp cụ thể để đẩy nhanh công tác thanh, xử lý để thu hồi vốn tránh ứ đọng, sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả hơn. Khi nhượng bán, thanh lý doanh nghiệp lập hội đồng đánh giá thực trạng về mặt kỹ thuật, thẩm định giá trị tài sản. Tài sản đem nhượng bán phải tổ chức bán đấu giá, thông báo công khai. Chênh lệch giữa số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ kế toán và chi phí nhượng bán, thanh lý được hạch toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. 3. Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 3.1. Đổi mới cơ chế quản lý công nợ. Sớm xây dựng qui định về công tác quản lý công nợ để đảm bảo công tác thu hồi công nợ ngày càng tốt hơn. Đẩy nhanh tiến độ thu hồi công nợ từ khách hàng, bạn hàng. Doanh nghiệp cần có các biện pháp quản lý và đẩy nhanh tốc độ thu hồi công nợ, giảm khoản vốn bị chiếm dụng. Ngoài ra, để đề phòng tổn thất về các khoản nợ khó đòi hoặc không đòi được, đơn vị cần có nguồn bù đắp, nguồn này được lấy từ quỹ dự phòng nợ khó đòi. Để giảm công nợ doanh nghiệp cần gắn công tác bán hàng với thu hồi tiền hàng. Các phòng chức năng có trách nhiệm mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải thu trong và ngoài doanh nghiệp, thường xuyên kiểm tra đối chiếu tiền hàng ở các cửa hàng, đôn đốc thu hồi công nợ chuyển tiền về tài khoản của công ty. Định kỳ hàng tháng hoặc hàng quý, doanh nghiệp phải đối chiếu tổng hợp phân tích tình hình công nợ phải thu, đặc biệt là những khoản nợ đến hạn, quá hạn và các khoản nợ khó đòi . Đối với những khoản nợ không thu hồi được cần xác định rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp sử lý. Nếu do chủ quan gây ra thì người phạm lỗi phải bồi thường. Mức độ bồi thường không đủ bù đắp mức thiệt hại thì được bù đắp bằng quỹ dự phòng tài chính của doanh nghiệp. Trường hợp quỹ dự phòng tài chính không đủ bù đắp thì phần thiếu được hạch toán vào chi phí bất thường trong kỳ. Các khoản nợ thực sự không đòi được, doanh nghiệp hạch toán vào chi phí kinh doanh, đồng thời phải tiếp tục theo dõi trên sổ kế toán và đôn đốc thường xuyên để thu hồi. Số tiền thu được sau khi trừ chi phí thu nợ, hạch toán vào thu nhập bất thường của doanh nghiệp. 3.2. Xác định nhu cầu và huy động vốn hợp lý. Để khắc phục tình trạng thừa, thiếu vốn và để chủ động trong huy động vốn ngắn hạn, đảm bảo đủ vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả của vốn lưu động, doanh nghiệp cần xác định nhu cầu vốn lưu động một cách đúng đắn hợp lý. Tuy nhiên, đây mới chỉ là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của quản trị tài chính, nhiệm vụ tiếp theo là tìm mọi cách để huy động các nguồn vốn đưa vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong những năm qua, cùng với việc phát triển sản xuất kinh doanh nhu cầu vốn ngày một lớn, trong khi đó, khoản tích luỹ từ lợi nhuận hầu như không cao. Mặc dù công ty đã huy động sử dụng tối đa các quỹ xí nghiệp, tranh thủ tận dụng các khoản nợ chưa đến hạn, nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho kinh doanh. Do đó trong thời gian tới công ty có thể áp dụng một số biện pháp nhằm huy động vốn đưa vào kinh doanh: Đối với khoản vốn dài hạn, bên cạnh các nguồn vốn có thể huy động trong nội bộ doanh nghiệp như phần vốn khấu hao cơ bản để lại doanh nghiệp, phần lợi nhuận không chia, tiền nhượng bán tài sản cố định… công ty còn có thể áp dụng các hình thức huy động sau: - Vay vốn dài hạn và trung hạn của ngân hàng. Việc huy động vốn từ nguồn tín dụng ngân hàng cần phải được tính toán cân nhắc kỹ lưỡng về tỷ giá lãi suất, phí cam kết tín dụng, rủi ro… để vừa có thể phát huy hết tác dụng của nguồn vốn vay, vừa có thể hoàn trả các khoản vay đúng hạn. - Ngoài ra công ty còn có thể liên kết đầu tư dài hạn với các doanh nghiệp khác để phát triển công ty. Đối với các khoản vốn vay ngắn hạn, tuỳ vào từng điều kiện, thời điểm cụ thể mà doanh nghiệp có thể lựa chọn biện pháp huy động vốn cho phù hợp như: - Vay ngắn hạn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, vay của đơn vị bạn, vay của cán bộ công nhân viên. Đối với việc vay vốn ngắn hạn của ngân hàng công ty có thể đề nghị tổng công ty có chỉ đạo cụ thể trong việc lựa chọn vay bằng ngoại tệ hay đồng Việt Nam, tuỳ theo yêu cầu thanh toán, lãi suất tiền đồng Việt Nam và sự biến động tỷ giá sao cho có lợi nhất. - Hưởng tín dụng của nhà cung ứng, đối với công ty đó là khoản chiếm dụng từ vốn tạo nguồn hàng của công ty xăng dầu Thanh Hóa. Đây là khoản vốn chiếm dụng hợp lý và giữ vai trò quan trọng để bù dắp số vốn còn thiếu và tài trợ công nợ khách hàng. Tuy nhiên, yếu tố này chịu nhiều rủi ro nếu không đẩy mạnh hoạt động bán hàng, nhanh chóng thu hồi tiền hàng thì phải trả tền lãi cho công ty xăng dầu Thanh Hóa về khoản tín dụng này,vì thời hạn của khoản tín dụng này chỉ là 15 ngày. 3.3. Xây dựng và hoàn thiện các định mức vật tư. Doanh nghiệp cần khẩn trương xây dựng định mức dự trữ vật tư, định mức tiêu hao vật tư dùng trong hoạt động kinh doanh và phải quản lý được các vật tư chủ yếu này trong toàn doanh nghiệp. Có như vậy mới nâng cao được ý thức tiết kiện của từng đơn vị, đánh giá được thành tích của từng đơn vị và có cơ chế thưởng phạt kịp thời từ đó mới nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng cần phải đổi mới công tác quản lý mua sắm và sử dụng vật tư. Hàng năm cùng với việc định kỳ kiểm kê, đánh giá lại lượng vật tư tồn kho, doanh nghiệp cần phải xác định lại mức dự trữ hợp lý của từng loại vật tư, tránh tình trạng dự trữ vượt định mức, gây ứ đọng vốn 3.4. Chủ động duy trì lượng tồn kho hợp lý. Trong vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại, vốn dưới hình thức dự trữ hàng hoá là số tiền dự trữ ở các kho, cửa hàng, giá trị hàng hoá đang trên đường vận chuyển… Bởi vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động doanh nghiệp cần phải xác định lượng hàng hoá tồn kho hợp lý. Xăng dầu là mặt hàng chiến lược phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh. Do đó, việc đảm bảo lượng tồn kho hợp lý có vai trò hết sức quan trọng. Ở thời điểm bình thường trong kỳ kinh doanh lượng hàng tồn kho của công ty là tương đối hợp lý, tuy nhiên trong một số thời điểm nhu cầu tiêu thụ xăng dầu tăng cao, như là vào dịp cuối năm nhu cầu tiêu thụ xăng dầu của nhân dân và các đơn vị sản xuất kinh doanh khác trên địa bàn cũng tăng cao. Do vậy ở những thời điểm nhất định công ty cần duy trì lượng dự trữ hàng hoá hợp lý, đủ để đảm bảo nhu cầu tăng cao bất thường. 3.5. Nghiên cứu, áp dụng các hình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp. Công ty cần tổ chức nghiên cứu, xây dựng các phương án đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp một cách có chọn lọc, nhằm mục tiêu phát triển thị trường, gắn kết lâu dài, phát huy nguồn lực tài chính, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn . Công ty có thể sử dụng vốn, tài sản, giá trị quyền sử dụng đất để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm vụ thu nộp ngân sách Nhà nước. Việc đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp phải tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật Các hình thức đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp mà công ty có thể áp dụng là: đầu tư mua cổ phần để tạo lập thị trường lâu bền tìm kiếm lợi nhuận, đầu tư phục vụ bán hàng cho các khách hàng công nghiệp có sức tiêu thụ lớn và ổn định, góp vốn liên doanh, liên kết và các hình thức đầu tư khác… Việc đầu tư liên doanh với các chủ đầu tư phải đảm bảo có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, có báo cáo định kỳ về tình hình kết quả liên doanh cho cơ quan tài chính và cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp. Như vậy, để có thể thực hiện được các biện pháp trên tập thể cán bộ công nhân viên của công ty cần phải chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thích ứng với tình hình cạnh tranh, không “bó tay” trước thực tế phát sinh, hoặc chờ đợi sự biến đổi cơ chế quản lý vĩ mô từ phía nhà nước. Kết luận Tài liệu tham khảo

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxLuận văn-Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở công ty Cổ phần Thương mại Trường Xuân.docx
Luận văn liên quan