Luận văn Một số đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết của Victor Hugo

Nhìn chung, Victor Hugo là nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị lớn của nước Pháp. Sự rộng lượng trong tư tưởng của ông, sự ân cần trong cách diễn tả đã làm rung động tâm hồn người đọc. Ông là một nhà thơ bình dân, đã viết văn và làm thơvới đặc tính giản dịnhưng bao hàm bên trong sức mạnh, đề cập cả niềm vui, nỗi buồn nhiều người. Di sản văn học mà ông để lại có giá trị về nhiều mặt, mà nổi bật lên là giá trị nhân đạo lớn lao. Với những gì đóng góp cho dân tộc và nhân loại, Hugo xứng đáng với danh hiệu “lương tâm của các dân tộc”. Nói đến Hugo là người ta nói đến chủ nghĩa nhân đạo, tấm lòng thương yêu của ông đối với những người lao động nghèo đói, bịáp bức Dù nhân loại có tiến bộ đến chừng nào đi chăng nữa thì chủ nghĩa nhân đạo của ông vẫn rất cần thiết cho mọi thời đại. Nó làm cho con người xích lại gần nhau, hiểu nhau hơn trong sự hòa nhập nền văn hóa toàn cầu.

pdf105 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 03/01/2014 | Lượt xem: 3155 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Một số đặc điểm nghệ thuật kịch và tiểu thuyết của Victor Hugo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cho rằng “tấm khăn phủ bàn thờ chúa đẹp nhất là linh hồn của kẻ khốn khĩ được cứu giúp đang cảm tạ chúa”. 2.4.2. Nhân vật Jean Valjean Sau khi được giám mục Myriel đưa ra khỏi bĩng tối của tội ác đến với ánh sáng của lịng lương thiện, Jean đã luơn phấn đấu để trở thành một người lương thiện đúng nghĩa và chỉ nghe theo mệnh lệnh của trái tim yêu thương. Là kẻ tự nguyện chịu ràng buộc trong những địi hỏi của bác ái, Jean Valjean dấn thân vào cuộc cứu vớt những người nghèo khổ, bất hạnh. Và để làm được điều này, ơng buộc phải che đậy thân phận người tù khổ sai bằng cái tên ngài thị trưởng Madelein. Hugo dựng lên xưởng máy của ơng Madelein dường như để tơ vẽ cho kiểu mẫu một xã hội lý tưởng. Tính lãng mạn thể hiện rất rõ trong con người đáng kính này. Làm giàu cho bản thân, làm giàu cho thành phố, ơng khơng đè nén, áp bức ai mà cịn cố đem lại cơng ăn việc làm cho họ. “Ai túng đĩi thì cứ tìm đến đĩ, chắc chắn là sẽ cĩ việc làm và cĩ cơm ăn… Khơng cịn cảnh thất nghiệp, nghèo đĩi nữa. Khơng cĩ túi áo xấu xí nào là khơng xủng xoảng ít tiền, khơng cĩ nhà tranh tồi tàn nào là khơng cĩ tiếng cười vui…”. Năm 1820, ơng cĩ sáu mươi ba vạn France gửi ngân hàng, nhưng trong lúc để ra số tiền đĩ ơng đã chi cho dân nghèo đến hơn một triệu. Ơng quyên tiền cho nhà thương, lập thêm giường bệnh, ơng xây dựng trường học mới. Xưởng máy của ơng trở thành một trung tâm, chung quanh đĩ mọc lên một khu phố của những người nghèo khổ “quây quấn lấy ơng”. Cả tỉnh được nhờ ơng, “nhất là thợ thuyền làm trong xưởng thì thật quý mến ơng”. Ở đấy, khơng cĩ chuyện tư sản bĩc lột cơng nhân!(Victor Hugo, NXBGD 1978, trang 44). Nhưng cái “vương quốc lý tưởng” đĩ nhanh chĩng sụp đổ. Bởi nĩ như một ốc đảo bị chìm giữa biển sa mạc mênh mơng của xã hội tư sản vơ nhân đạo. Vai trị thị trưởng của Jean bị lung lay bởi phép thử lương tâm trước sự việc cứu hay khơng cứu Champmathieu: “Ơng hỏi mình suy tính đến đâu rồi. Ơng tự vấn xem “quyết định như thế nào”, thì rồi ra sao? Ơng tự thú, cơng việc xếp đặt như thế là bất nhân. Cái lối để mặc cho cơng việc xảy ra, để yên cho Chúa định đoạt là một lối rõ ràng ghê tỏm. Cứ để mặc cho số phận và người đời nhầm lẫn, khơng ngăn cản nĩ lại, yên lặng để phụ họa với nĩ, khơng làm gì cả, tức là mình đã làm tất cả đấy! Đĩ là một việc gian giảo đê mạt nhất! Đĩ là một tội ác khốn nạn, hèn hạ, hiểm độc, đáng khinh, đáng tởm!” Sau một đêm dằng dặc, đấu tranh trong tâm tưởng và ơng đi đến quyết định cuối cùng: “Dứt khốc rồi, phải theo con đường ấy! Phải làm bổn phận của mình. Phải cứu người ấy”. Thật đúng như lời nhận xét của tác giả: “Lồi ngừơi biết suy nghĩ, ai cũng từng trải qua những phút mình nĩi với mình. Ngơn ngữ thật khơng bao giờ huyền diệu tuyệt vời bằng khi ở bên trong con người, nĩ như con thoi chuyển từ trí tuệ đến lương tâm, rồi từ lương tâm quay về với trí tuệ… Người ta tự nĩi với mình, tự bảo với mình, tự kêu lên với mình. Thật là ầm ĩ: cái gì trong ta cũng nĩi, chỉ miệng là khơng…” Cịn gì đau khổ cho bằng một tâm hồn bị giằng xé giữa trận bão táp? Lương tâm con người là một cõi vơ biên ghê rợn. Nhất là khi người ta phải lựa chọn giữa hạnh phúc và đạo đức. Và việc quyết định đến tịa án Arass- sự lựa chọn xuống địa ngục để thành thiên thần cịn hơn sống ở thiên đàng để làm ác quỷ- chính là sự chiến thắng của tâm hồn hướng thiện của Jean. Sau vụ việc tại tịa án Arass, Jean trở lại thân phận của một cựu tù khổ sai lúc nào cũng bị rình rập bởi hiện thân pháp luật Javert. Thay đổi thân phận nhưng ánh sáng tâm hồn ơng vẫn tỏa sáng như viên ngọc tồn bích. Ơng đi tìm Cosette và cưu mang, nuơi dưỡng cơ bé. Đĩ cũng là hành động của con người biết vượt lên nỗi đau khổ bản thân để thơng cảm, cứu vớt cuộc đời của người khác. Yêu thương Cosette hết mực, ơng lúc nào cũng mong muốn cho Cosette được hạnh phúc. Đơi khi vì lịng ích kỷ bản thân ơng khơng muốn giao Cosette cho Marius. Nhưng ơng khơng thể vui được khi Cosette thiếu đi hình bĩng Marius. Khơng thể khoanh tay trước hạnh phúc của con bị đe dọa, một lần nữa ơng lại phải hi sinh “là sự quên mình với những nỗi đau khổ rất trần thế” để lên chiến lũy cứu Marius, để rồi chấp nhận sự cơ đơn hiu quạnh của lịng mình: “Tình yêu cĩ những cái trẻ con, dục vọng cĩ những cái nhỏ mọn. Xấu hổ thay những dục vọng làm con người nhỏ lại! Vinh dự thay! Tình yêu làm con người thơ ấu!”. “Yêu hoặc đã từng yêu, thế là đủ, khơng địi hỏi gì thêm. Yêu đã là một sự hồn tất”. Đến cuối đời, Jean Vajean đã tự thú với Marius như để tìm đến sự thanh thản tận cùng của tâm hồn và để ra đi một cách thảnh thơi: “Tơi nguyên là thằng tù khổ sai. Tơi khơng là gì với Cosette cả. Lạnh giá là thành thực! Tơi là thằng tù khổ sai. Phải! Đúng! Động cơ rất lạ lùng chỉ vì lịng hướng thiện…Gia đình khơng!Khơng! Tơi khơng cĩ gia đình! Tơi khơng thuộc gia đình ơng. Tơi khơng ở trong gia đình lồi người. Tơi là con người thừa ở trong gia đình êm ấm của người ta”. Thật là đau xĩt cho số phận con người mong muốn cĩ một mái ấm gia đình nhưng điều đĩ hình như xa vời với những con người vốn lầm lỗi như ơng. Thương cảm trước con người đức hạnh này, Hugo đã viết nên những trang xé lịng: Jean nĩi: “Cái gì bắt buộc tơi nĩi? Một điều giản dị thơi: lương tâm tơi! Tơi mà muốn sung sướng ư? Tơi cĩ quyền được sung sướng khơng chứ? Thưa ơng, tơi ở ngồi rìa của cuộc đời rồi! Tự xé ruột xong thì lịng lại yên tĩnh với lịng. Fauchelevent cho tơi mượn cái tên, nhưng tơi khơng cĩ quyền dùng cái tên ấy….Để sống xưa kia tơi ăn cắp một cái bánh, bây giờ để sống tơi khơng dám ăn cắp một cái tên”. Sau khi, Thenardier gặp Marius nĩi rõ tất cả : “Chàng thấy Jean Valjean là con người cao quý âm thầm”. “Chàng thấy trước mặt là một đạo đức phi thường, cao cả mà hiền từ, mênh mơng mà khiêm tốn”. Mọi việc được tường tận Jean ra đi nhẹ nhàng bên vịng tay yêu thương của hai con. Những lời trăn trối cuối cùng của ơng: “Cha chết trong sung sướng. Những chiếc đầu yêu quý của các con đâu, đưa đây cho cha đặt bàn tay lên…Các con hãy yêu nhau mãi mãi. Trong đời chỉ cĩ một điều ấy thơi: là yêu nhau” đã gĩi ghém triết lý sống của ơng như một hành trang mà ơng mang theo trong suốt cuộc đời mình. Phải chăng đĩ cũng chính là thơng điệp mà Hugo gửi đến thế hệ mai sau? Qua những điều nĩi trên, ta thấy Jean là nhân vật lý tưởng của tác phẩm: cĩ một sức khỏe phi thường, một trí tuệ, lịng nhân hậu, trái tim yêu thương, một khả năng nhẫn nại, một ước muốn vươn lên, một lịng thủy chung với lời hứa… Xây dựng nhân vật cĩ tầm vĩc phi thường như thế, Hugo muốn họ sẽ là những hình tượng nghệ thuật phản chiếu niềm hy vọng về sự xuất hiện những cõi lịng từ tâm sẽ đi khắp hang cùng ngõ hẻm để chia sẻ, an ủi, vực dậy những tâm hồn thất vọng, đưa người nghèo ra khỏi cảnh cùng khổ, bênh vực những kẻ thế cơ khỏi tình trạng bị đè nén, bất cơng. Đây là kiểu nhân vật lãng mạn tiêu biểu của chủ nghĩa lãng mạn. 2.4.3. Nhân vật Gavroche Gavroche là một trong số những nhân vật lãng mạn tiêu biểu mang tính sáng tạo của Hugo. Lịng yêu đời, tính hĩm hỉnh, sự tinh nghịch và tinh thần dũng cảm làm cho Gavroche lấp lánh ánh hào quang trên trang văn với những vẻ sáng rỡ của phẩm cách và tâm hồn. Dưới ngịi bút trìu mến của Hugo, Gavroche hiện ra với tất cả vẻ đẹp tinh thần của một thiếu niên nảy sinh từ đêm đen của xã hội, em trở thành biểu tượng của sự thanh khiết. Là “tên trộm cắp bé con hào hiệp” em đã cưu mang hai đứa trẻ mà em vừa mới quen nhưng thực chất là hai đứa em ruột của mình mà em nào hay biết. Gavroche đưa chúng về chỗ “cư ngụ” của em (một chỗ cư ngụ mà “đức chúa vĩ đại” đã ban tặng cho em. Đĩ là một cái hang với một cái lỗ nhỏ để chui vào). Thế nhưng, Gavroche vẫn tỏ ra là một ơng chủ thật sự. Em nĩi với hai đứa trẻ với giọng nửa đùa nửa thật: “Chúng mình phải dặn người gác cổng cĩ ai hỏi thì bảo là chúng mình đi vắng”. Cứ y như là một ơng chủ lâu đài, một biệt thự nào đĩ thực sự nhưng khi biết “người gác cổng” của em chỉ là một mảnh ván dùng để đậy lỗ hổng dưới bụng voi là lối ra vào của Gavroche thì ta khơng khỏi buồn cười. Dù sao sự mộng mơ ấy cũng là phẩm chất lạc quan mang nét lãng mạn của em. Sau lời dẫn truyện về những gì đã xảy ra trước đĩ, tác giả đưa chúng ta đến chiến lũy. Nơi đĩ cĩ sự hiện diện của Gavroche. Em chiến đấu với mục đích thiết thực, mong sao trong cái rổ của người nghèo cĩ miếng ngon. Xuất phát từ việc số đạn của nghĩa quân đang cạn dần, em đã xin ra ngồi chiến lũy để nhặt đạn. Trước sự lo lắng của nghĩa quân trong tình thế hiểm nghèo của chiến trường nhưng em vẫn “nhởn nhơ ca hát”. Hành động của chú nhanh nhẹn như “con chim sẻ mổ người đi săn”: “chú nằm xuống, chú đang lên, chú lẩn sau hốc cửa rồi thình lình nhảy ra, chú ẩn, chú hiện, chú chạy đi rồi quay trở lại, chú xỉa tay lên mũi nhạo báng những tên bắn chú và trong lúc ấy chú khơng ngừng lục bị lấy đạn bỏ đầy giỏ”. Nhưng hình ảnh đĩ khơng được kéo dài, một phát đạn nhằm thẳng chú mà bắn. “Chú lảo đảo rồi ngã quỵ xuống. Tồn chiến lũy hét lên”. Tiếng hét đĩ phản ánh sự lo âu của tồn chiến lũy. Nhà văn so sánh em như: “chú lùn cổ tích khốc áo huyền thoại, chú mang đặc tính của thần Ăngte, chú trở thành Ăngte. Chú ngã xuống để mà chồm lên”. Trong tình thế đĩ, em cất tiếng hát, em trở thành hiện thân của nhân dân, của những khát vọng nhân dân. Bài hát cất lên trong hồn cảnh đặc biệt. Nĩ tạo ra ấn tượng sâu sắc. Phẩm chất thần tiên của chú bé được khẳng định thêm. Trớ trêu thay “chú hát khơng hết” “một viên đạn thứ hai đã làm chú câm bặt”. Của “tên lính ấy” hàm chứa một sự khẳng định dứt khốt, chắc chắn. Nhưng tên lính nào? Tên lính đĩ khơng cĩ tên cụ thể nĩi lên sự tàn bạo của kẻ thù. Do vậy, “lần này chú ngã sấp mặt xuống đường, khơng động đậy nữa”. Tác giả kể về cái chết của Gavroche một cách ngắn gọn, khơng tơ vẽ. Gavroche ngồi “đứa trẻ ranh” cịn cĩ phẩm chất “thần tiên”nữa, vì thế em khơng chết cái “linh hồn bé bỏng vĩ đại ấy đã bay về trời”.. Tên tuổi của các nhà ánh sáng vĩ đại Voltair, Rousseau…. vẫn vang lên như khát vọng địi sống của những người khốn khổ. Sự đan kết giữa các thủ pháp tương phản – so sánh, giữa cảm quan hiện thực – huyền thoại đã tạo ra sự kì vĩ của hình tượng Gavroche. Từ đĩ, nĩ tạo ra những cảm nhận tốt đẹp về em, về “đứa trẻ ranh thần tiên”. Hình ảnh Gavroche thể hiện tư tưởng lãng mạn và những rung cảm hướng về tương lai của nhà văn. 2.5. Tiểu thuyết “Những người khốn khổ” là tiểu thuyết mang đậm chất thơ Hugo đã mở đầu tiểu thuyết bằng một lời đề từ rất đáng trân trọng: “Khi pháp luật và phong hĩa cịn đày đọa con người, cịn dựng nên những địa ngục ở giữa xã hội văn minh và đem một thứ định mệnh nhân tạo chồng thêm lên thiên mệnh; khi ba vấn đề lớn của thời đại là sự sa đọa của đàn ơng vì bán sức lao động, sự trụy lạc của đàn bà vì đĩi khát, sự cằn cỏi của trẻ nhỏ vì tối tăm, chưa được giải quyết; khi ở một số nơi đời sống cịn nghẹt thở; nĩi khác đi và trên quan điểm rộng hơn, khi trên mặt đất đĩi khát và dốt nát cịn tồn tại thì những quyển sách như loại này cịn cĩ ích”. Thật đúng vậy, tiểu thuyết đã gần như giải quyết được các vấn đề mà ơng đã nêu ra ở trên. Tồn bộ tác phẩm chứa chan tinh thần nhân bản và tinh thần lãng mạn của Hugo. “Những người khốn khổ” mang lịng cảm thơng sâu sắc đối với những con người bần cùng trong xã hội, ơng luơn tin tưởng vào tâm hồn của họ vẫn tốt đẹp như: Jean Valjean bị xã hội giày xéo, bĩp nghẹt, lùng bắt thì lại nảy sinh ra ngài Madelein sống bình dị, nhân hậu, sẵn sàng hi sinh vì những kẻ bị ruồng bỏ. Fantine bị xã hội đạp xuống bùn đen, vẫn là một tâm hồn thanh cao, sẵn sàng hi sinh cả thân mình vì con thơ… Cĩ thể thấy, “tình thương” là nguyên tắc thẫm mĩ cơ bản mà ơng thể hiện xuyên suốt trong tác phẩm. Ngồi ra, ơng cịn sử dụng tình thương như một giải pháp xã hội, là tư tưởng, là phương tiện đấu tranh nhằm mang lại bình đẳng và hạnh phúc cho mọi người. Chất thơ cịn thể hiện ở niềm tin và lịng tự hào đối với Cách mạng. Cách mạng sẽ giải phĩng con người ra khỏi cuộc sống phi nhân bản của xã hội tư sản, mang đến xã hội lý tưởng mà trong đĩ tình thương sẽ là nguyên tắc cao nhất. PHẦN KẾT LUẬN Qua quá trình tìm hiểu đơi nét về sự nghiệp văn chương của Victor Hugo, ta thấy ở phương diện nào ơng cũng cĩ những đĩng quan trọng cho nền văn chương Pháp và văn chương thế giới. Đặc biệt ở lĩnh vực kịch và tiểu thuyết. Ở lĩnh vực kịch, tuy chỉ sáng tác trong khoảng thời gian hơn mười năm nhưng với những cách tân nghệ thuật táo bạo ơng đã gây tiếng vang lớn trên kịch trường và đưa trường phái lãng mạn đi tới đỉnh cao của sự tồn thắng. Bằng việc phá vỡ qui tắc “tam duy nhất” của chủ nghĩa cổ điển, ơng mở đường cho sân khấu tự do phát triển theo hướng hiện đại. Một sáng tạo mới ở đây đĩ là việc ơng đưa vào sân khấu hình ảnh “nhân vật nổi loạn” mà nhân vật này sẽ cịn tiếp tục xuất hiện trong các tiểu thuyết sau này của ơng. Ở lĩnh vực tiểu thuyết, lĩnh vực mà ơng chỉ sáng tác ở giai đoạn cuối nhưng nĩ đem lại vinh quang rất lớn cho ơng với hai kiệt tác “Nhà thờ Đức bà Paris”, “Những người khốn khổ”…Với hàng loạt các thủ pháp nghệ thuật của chủ nghĩa lãng mạn như: sử dụng bút pháp tương phản, đề tài tình yêu, xây dựng nhân vật mang tính cách phi thường, cao cả….ơng đã chuyển tải một cách đầy đủ và sâu sắc nội dung tư tưởng chứa đựng trong nĩ: lịng thương yêu con người, mong muốn xây dựng xã hội tốt đẹp bằng giải pháp tình thương…Tác phẩm đã để lại âm vang trong lịng người đọc khơng chỉ ở tài năng viết tiểu thuyết độc đáo mà cịn ở tấm lịng yêu thương nhân loại cần lao. Nhìn chung, Victor Hugo là nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị lớn của nước Pháp. Sự rộng lượng trong tư tưởng của ơng, sự ân cần trong cách diễn tả đã làm rung động tâm hồn người đọc. Ơng là một nhà thơ bình dân, đã viết văn và làm thơ với đặc tính giản dị nhưng bao hàm bên trong sức mạnh, đề cập cả niềm vui, nỗi buồn nhiều người. Di sản văn học mà ơng để lại cĩ giá trị về nhiều mặt, mà nổi bật lên là giá trị nhân đạo lớn lao. Với những gì đĩng gĩp cho dân tộc và nhân loại, Hugo xứng đáng với danh hiệu “lương tâm của các dân tộc”. Nĩi đến Hugo là người ta nĩi đến chủ nghĩa nhân đạo, tấm lịng thương yêu của ơng đối với những người lao động nghèo đĩi, bị áp bức…Dù nhân loại cĩ tiến bộ đến chừng nào đi chăng nữa thì chủ nghĩa nhân đạo của ơng vẫn rất cần thiết cho mọi thời đại. Nĩ làm cho con người xích lại gần nhau, hiểu nhau hơn trong sự hịa nhập nền văn hĩa tồn cầu. PHỤ LỤC 1 NIÊN BIỂU VICTOR HUGO 26/2/1802, lúc 22giờ 30 phút, Victo Hugo được sinh ra ở thành phố Bơ-dăng- xơng, thủ phủ của tỉnh Frăngsơ Conate, phía đơng nam thủ đơ Paris. 1803 A-đen Phu-sê, vợ tương lai của V.Hugo ra đời. Lê-ơ-pơn Hugo đưa vợ và các con đến doanh trại đảo Enbơ. 1804 Bà Tri-buy-sê dưa các con trở vềParis. Victo Hugo bắt đầu đi học tại trường ở phố Mơng blăng. Lê-ơ-pơn Hugo được thưởng Bắc đẩu bội tinh. 1806 Lê-ơ-pơn Hugo tham gia chiến dịch đánh chiếm vương quốc Náp-lơ. Juy-li-en Gơ-vanh (tương lai là Juy-li-et Đru-êt, thư kí và là người tình của V.Hugo) chào đời. 1807 Bà Tri-buy-sê đưa các con đến Náp-lơ theo yêu cầu của chồng. 1808 Bá Tri-buy-sê đưa các con vềParis. 1809 V.Hugo theo học dưới sự hướng dẫn của M.de La Riviere. Bố Hugo được phong chức Thiếu tướng và làm Tổng thanh tra quân đội ở Tây Ban Nha. 1811 Cả nhà lên đường đi đến Madrit. 1812 Bà Tri-buy-sê cùng Engene và Victo Hugo trở về Pariss. Aben ở lại với bố. Ba mẹ con sống ở Fơi-ăng-tin. 1813 Aben trở về với mẹ và hai em. Gia đình chuyển đến khu phố Secsơ- Miđi. 1814 Bố mẹ V.Hugo li dị nhau. Tịa án Xen xử cho bà mẹ được nuơi các con. 1815 Ơ-gien và Victo chung nhau mua một sân khấu rối nhỏ. 1816 Ơ-gien và Victo học triết học tại trường Lu-i Đại đế. 1817 V.Hugo tham dự cuộc thi thơ vá đoạt giải Bơng huệ vàng của Viện Hàn lâm Pháp. Tên V.Hugo xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí. Ơ-gien và Victo cùng vượt qua lớp tốn đặc biệt với ý muốn thi vào trường Đại học Bách khoa. 1819 V.Hugo và A-đen Phu-sê chính thức tuyên bố yêu nhau. Anh em Hugo sáng lập tờ tạp chí Người bảo thủ văn học. Người bảo trợ cho tờ báo là Sa-tơ- bri-ăng. 1820 Tờ báo Moniteur giới thiệu V.Hugo như một tác giả mới của thời đại. 17/6/1820, tiểu thuyết Bug-Jargal xuất hiện trong số 15 của Người bảo thủ văn học. 1821, ngày 27/6, mẹ Hugo mất. Ngày 30/6, Victo và Ađen bí mật đính ước với nhau. Ngày 31/3, tạp chí Người bảo thủ văn học bị đình bản.V.Hugo bắt đầu viết lại Hand Islande, cuốn tiểu thuyết đã chiếm nhiều thời gian của ơng trong năm 1821. 1822 Tập thơ đầu tiên của Hugo Đoản thi và Tạp thi. Kết hơn với Ađen Phusê. Tháng 2/1822, Hand Island được xuất bản và tới tháng 7 thì được tái bản. 1824, ngày 7/3 tập Đoản thi và Tạp thi mới được cơng bố. Ngày 28/8,con gái đầu lịng Lê-ơ-pơn-đin Hugo ra đời. 1825 Được thưởng Bắc đẩu bội tinh. 1826, ngày 7/11, tập Đoản thi và Balat được xuất bản. Tiểu thuyết Bug- Jargalđược cơng bố lần thứ hai nhưng khơng đề tên tác giả. 1827 Kịch Crơmoen và Tựa Crơmoen. 1828 Bố Hugo mất ngày 28/1. Lần đầu tiên V.Hugo gửi thư cuo Ban- dắc.Xuất bản Odes và Ballades. Bắt tay khởi thảo Nhà thờ Đức Bà Paris vàNgày cuối cùng của một người bị kết án. 1829 Tập thơ Những bài thơ phương Đơng, truyện vừa Ngày cuối cùng của một người bị kết án, kịch Mariơng dơ Lormơ. Xuất hiện nhiều bài báo cơng kích Ngày cuối cùng của một người bị kết án. V.Hugo đọc kịch Her-na- ni cho các bạn hữu. 1830 Kịch Hernani được diễn liên tiếp 36 buổi từ 25/2 đến 26/2. 1831 Tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris, tập Lá thu. Xanhtơ Bơvơ trở thành tình nhân của Ađen Phu-sê. 1832 Kịch Nhà vua hành lạc. V.Hugo và Vi-nhi đọan giao. 1833 Kịch Luycrexơ Borgia, Mari Tuyđo, Giuyliet Đurê đi vào đời sống của Hugo. Lần đầu tiên Hugo gặp Juy-li-et Đru-et trong vai Nữ quận chúa Nê- grơ-ni của vở Luycrexơ Borgia. 1834 Truyện vừa Clơt Gơ ra mắt độc giả ngày 6/9. 1835 Kịch Angiêlơ, bạo chúa ở Pađu, tập thơ Tiếng hát hịang hơn. Ngày 24/10, Hugo nộp đơn xin vào Viện Hàn lâm. 1837 Tập thơ Tiếng nĩi nội tâm được xuất bản ngày 26/6. 1838 Kịch Ruy Blax được diễn lần đầu tiên ngày 8/11 tại rạp Phục hưng. 1840 Tập thơ Tia sáng và Bĩng tối ngày 16/5. 1841 Gia nhập Viện Hàn lâm Pháp với 17 phiếu thuận và 15 phiếu chống. 1843 Kịch Buyếc-gra-vơ bị thất bại. Lêopơnđin, con gái lớn cùng chồng là Sác-lơ Vac-cơ-ri tại sơng Xen ngay trong tuần trăng mật. 1845 Được bầu vào Viện Nguyên lão. Khởi thảo tiểu thuyết Những người khốn khổ. 1846 V.Hugo nhìn thấy một người bị kết án vì tội ăn cắp một chiếc bánh mì. 1848 Chính quyền Lu-i Phi-lip bị lật đổ. 1851 Cuộc đảo chính ngày 2 tháng Mười Một của Lui Bơnapac. Hugo tổ chức cuộc kháng chiến chống lại Lui Bonapac. bắt đầu viết Lịch sử một tội ác.Cuộc sống lưu vong lần đầu tiên ở Bruycxen. 1852 Chuyển sang sống lưu vong lần thứ hai ở Giecxây. Viết Napoleon tiểu đế. 1853 Tập thơ Trừng phạt. 1855 Cuộc sống lưu vong lần thứ ba ở Ghecnơxây. Aben Hugo chết. Hịan thành tập Trầm tư. 1856 Tập thơ Trầm tư. 1858 Ađen và con gái trở lại Paris. 1859 Tập thơ Truyền kì các thế kỉ ra mắt ngày 3/4. 1862 Tiểu thuyết Những người khốn khổ được hồn thành và được bán cho nhà sách Lac-roa với giá 3000.000 France. 1863 Ađen, con gái thứ hai của Hugo (sinh năm 1830) trốn khỏi Ghecnơxây, trở lại năm 1872 và bị giữ lại điều trị trong một nhà chữa bệnh thần kinh. Cơng bố cuốn V.Hugo được kể từ một chứng nhân. 1864 Chuyên luận William Shakespear đồng thời viết Lời nĩi đầu cho các tác phẩm của Shakespear mà ơng đã dịch. 1865 Tập thơ Những bài ca phố phường và rừng núi. Hịan thành Những người lao động miền biển. 1866 Tiểu thuyết Những người lao động miền biển. 1868 Ađen Phu-sê, vợ Hugo chết ngày 27/8 tại Bruc-xen và được cải táng đưa về Vi-lê-quy-ê. 1869 Tiểu thuyết Người cười được xuất bản. Viết Tor-kê-ma-đa. 1870 Nền cộng hịa thiết lập ở Pháp. Ngày 4/9, Hugo trở về Paris sau 19 năm lưu vong. 1871 Cơng xã Paris bùng nổ, Saclơ Hugo, con trai lớn của Hugo (sinh năm 1826) chết. Hugo sống lưu vong lần thứ tư ở Bỉ, rồi sang Luyxămbua. Ơng bênh vực và bảo vệ cho các nhà Cơng xã. 1872 Tập thơ Năm khủng khiếp ra mắt ngày 20/4. 1873 Frăngxoa Victo Hugo, con trai thứ hai (sinh năm 1828) chết. 1874 Tiểu thuyết Chín mươi ba ra mắt ngày 19/2. 1875-76 Tác phẩm Hành động và lời nĩi (tập 1,2,3,). 1876 Hugo trở thành nghị sĩ. Ơng đấu tranh ân xá cho các chiến sĩ Cơng xã Paris. 1877 Tập tiếp theo Truyền kì các thế kỉ, tập thơ Nghệ thuật làm ơng, tập Lịch sử một tội ác (phần 2). 1878, ngày 29/4 xuất bản tập Giáo hịang. 1879, ngày 28/2 xuất bản tập Tình thương tột đỉnh 1880, tháng 4, xuất bản tập Các tơn giáo và Tơn giáo. Kỉ niệm lần thứ 50 ngày cơng diễn Her-na-ni. 1881 Ngày hội quần chúng mừng Victo Hugo 80 tuổi. Tập thơ Bốn luồng giĩ của tinh thần được xuất bản ngày 31/5. 1882 Torkêmađa ra mắt ngày 26/2. 1883 Giuyliet Đruê chết kết thúc 50 năm 3 tháng chung sống với V.Hugo. 1884 V.Hugo đi du lịch Thụy sĩ. 1885 Ngày 12 tháng Năm, V.Hugo viết những dịng chữ cuối cùng. Ngày 14/5, ơng bị chứng xung huyết phổi. Ngày 22 tháng Năm vào lúc 13 giơ 30, Victo Hugo mất. Ngày 1/6 lễ quốc tang được cử hành trọng thể. Linh cữu V.Hugo được đặt trên một chiếc xe tang trần trụi, chiếc xe tang của kẻ khĩ như lời Di chúc của ơng.Đám tang đơng tới hai triệu người đứng vịng trong vịng ngịai tại Khải hịan mơn nơi đặt linh cữu, kéo dài cho tới điện Păngtêơng, nơi an nghỉ cuối cùng của ơng. PHỤ LỤC 2 Danh mục tồn bộ tác phẩm V. Hugo Thơ (Nguyên văn tựa đề tiếng Pháp) Tiếng việt Odes et poésies diverses (1822) Nouvelles Odes (1824) Odes et Ballades (1826) Les Orientales (1829) Những khúc hoan ca và các dạng thơ Những tân khúc hoan ca Những khúc hoan ca và các bài thơ sự tích Les Feuilles d’automne (1831) Les Chants du crépuscule (1835) Les Voix intérieures (1837) Les Rayons et les ombres (1840) Les Châtiments (1853) Les Contemplations (1856) Première série de la Légende des Siècles (1859) Les Chansons des rues et des bois (1865) L’Année terrible (1872) L’Art d’être grand-père (1877) Nouvelle série de la Légende des Siècles (1877) Religions et religion (1880) Les Quatre Vents de l’esprit (1881) Série complémentaire de la Légende des Siècles (1883) La Fin de Satan (1886) Toute la Lyre (1888) Dieu (1891) Toute la Lyre – nouvelle série (1893) Các mệnh phụ Đơng phương Chiếc lá mùa thu Tiếng hát của hồng hơn Lời nĩi tự tâm hồn Ánh sáng và Bĩng tối Trừng phạt Trầm tư mặc tưởng Các bài thơ đầu tiên của truyền thuyết các thế kỉ Bài hát của những con đường và các rừng cây Năm tháng kinh hồng Nghệ thuật làm ơng Loạt bài thơ mới của truyền thuyết các thế kỉ Tơn giáo và lịng tín ngưỡng Bốn dịng tư tưởng Loạt bài thơ bổ sung của truyền thuyết các thế kỉ Ngày tàn của quỷ Satan Đàn Lyre 21. Thượng đế 22. Đàn Lyre- loạt bài thơ mới 23. Những năm tháng thảm họa 24. Bĩ cuối cùng 25. Đại dương- Rất nhiều đá Les Années funestes (1898) Dernière Gerbe (1902) Océan. Tas de pierres (1942) Kịch (Nguyên văn tựa đề tiếng Pháp) Tiếng Việt Cromwell (1827) Hernani (1830) Marion Delorme (1831) Le Roi s’amuse (1832) Lucrèce Borgia (1833) Marie Tudor (1833) Angelo, tyran de Padoue (1835) Ruy Blas (1838) Les Burgraves (1843) Torquemada (1882) Théâtre en liberté (1886) Cromwel Hernani Marion Delorme Vua hề Lucrece Borgia Marie Tudor Angelo, bạo chúa thành Padoue Ruy Blas Nhà Burgraves Torquemada Sân khấu tự do Tiểu thuyết Tiếng Việt Bug-Jargal (1820) Han d’Islande (1823) Le Dernier Jour d’un condamné (1829) (Notre-Dame de Pariss) (1831) Claude Gueux (1834) Nhà thờ Đức Bà Paris Claude Gueux Những người khốn khổ Ngư dân trên biển Người cười (Les Misérables) (1862) Les Travailleurs de la mer (1866) (L’Homme qui rit) (1869) (Quatre-vingt-treize) (1874) Bug- Jargal Han d’Islande Ngày cuối cùng của tên tội phạm Chín mươi ba Tiểu luận nghiên cứu phê bình Tiếng Việt Étude sur Mirabeau (1834) Littérature et philosophie mêlées (1834) Le Rhin (1842) Napoléon le Petit (pamphlet, 1852) Lettres à Louis Bonaparte (1855) William Shakespeare (1864) Pariss-Guide (1867) Mes Fils (1874) Actes et paroles – Avant l’exil (1875) Actes et paroles – Pendant l’exil (1875) 1. Nghiên cứu về Mirabeau 2. Cuộc hỗn chiến giữa văn học và triết học 3. Sơng Rhin 4. Napoleon tiểu đế 5. Những bức thư gửi Louis Bonaparte 6. William Shakespeare 7. Pari- sách hướng dẫn 8. Những đứa con trai của tơi 9. Hành động và lời nĩi- Trước khi lưu đày 10. Hành động và lời nĩi- Trong khi lưu đày Actes et paroles – Depuis l’exil (1876) Histoire d’un crime – 1re partie (1877) Histoire d’un crime – 2e partie (1878) Le Pape (1878) L’Âne (1880) L’Archipel de la Manche (1883) Œuvres posthumes Choses vues – 1re série (1887) Alpes et Pyrénées (1890) France et Belgique (1892) Correspondances – Tome I (1896) Correspondances – Tome II (1898) Choses vues – 2e série (1900) Post-scriptum de ma vie (1901) Mille Francs de récompense (1934) Pierres (1951) Mélancholia 11. Hành động và lời nĩi- Kể từ khi lưu đày 12. Câu chuyện một tội ác- Phần thứ nhất 13. Câu chuyện một tội ác- Phần thứ hai 14. Đức giáo hồng 15. Con lừa 16. Quần đảo vùng biển Manche 17. Những tác phẩm xuất bản sau khi tác giả qua đời 18. Những điều trơng thấy- Bộ đầu tiên 19. Dãy núi Alpes và Pyrenes 20. Pháp và Bỉ 21. Những lá thơ- tập 1 22. Những lá thơ- tập 2 23. Những điều trơng thấy- Bộ 2 24. Tái bút cuộc đời 25. 1000Francetiền thưởng 26. Những hịn đá 27. Melancholia (Người dịch Ths. Phan Tuệ Châu- Bộ mơn Ngoại Ngữ Đại học An Giang) PHỤ LỤC 3 CẤU TRÚC VÀ CÁC ĐỀ MỤC CỦA TIỂU THUYẾT “NHỮNG NGƯỜI KHỐN KHỔ” 1. PHẦN THỨ NHẤT: PHĂNG TIN Quyển 1: Một chính nhân quân tử 1. Ơng Mirien. 2. Ơng Mirien thành Đức cha Biêngvơnuy. 3. Giám mục giỏi thì địa phận khĩ. 4. Nĩi làm sao vậy. 5. Đức cha Biêngvơnuy dùng áo lâu quá. 6. Ơng Mirien giao nhà cho ai giữ. 7. Cavơvat. 8. Triết lý sau bữa ăn. 9. Cơ em tả ơng anh. 10. Ơng giám mục đứng trước một ánh sáng khác lạ. 11. Một điểm giới hạn. 12. Sự cơ quạnh của Đức cha Biêngvơnuy. 13. Ơng tin gì. 14. Ơng nghĩ gì. Quyển 2: Sa ngã 1. Sau một ngày đường. 2. Khuyên người hiền phải đề phịng. 3. Dũng cảm nhắm mắt vâng lời. 4. Chi tiết về những xưởng phĩ mát ở Pơngtacliê. 5. Tĩnh mịch. 6. Giăng Vangiăng. 7. Bên trong tuyệt vọng. 8. Biển cả và đêm tối. 9. Lại gặp bất cơng. 10. Thức dậy. 11. Hành động. 12. Ơng giám mũc làm việc. 13. Bé Giecve. Quyển 3: Trong năm 1817 1. Năm 1817. 2. Hai bộ tứ. 3. Taytư và tay tư. 4. Tơlơmiet vui quá hát một bài hát Tây Ban Nha. 5. Ở quán Bơngbácđa. 6. Thương yêu nhau. 7. Triết lý của Tơlơmiet. 8. Ngựa chết, hết chuyện. 9. Cuộc vui tàn trong cảnh vui vẻ. Quyển 4: Gửi trứng cho ác 1. Một người mẹ gặp một người mẹ. 2. Vài nét phác họa đầu tiên về hai bộ mặt khả nghi. 3. Sơn ca. Quyển 5: Xuống dốc 1. Quá trình cải tiến nghề làm thủy tinh đen. 2. Ơng Madelain. 3. Tiền gửi ngân hàng Lafit. 4. Ơng Madơlen để tang. 5. Chân trời cĩ dạng chớp. 6. Cụ Phơsơlơvăng. 7. Phơsơlơvăng thành người làm vườn ởParis. 8. Mụ Vituyếcniêng tiêu 35Francevề khoản đạo đức. 9. Mụ Vituyếcniêng thành cơng. 10. Hậu quả của thành cơng. 11. Chúa giải thốt chúng ta. 12. Gã Bamataboa vơ cơng rỗi nghề. 13. Giải quyết mấy vấn đề cảnh sát thành phố. Quyển 6: Javert 1. Bắt đầu yên nghỉ. 2. Thế nào mà Giăng lại hĩa ra Săng Quyển 7: Vụ án Săngmachiơ 1. Bà xơ Xempơlit. 2. Sự tinh ý của người chủ xe Xcơfơle. 3. Một trận bão táp trong đầu. 4. Những hình thái của khổ đau trong giấc ngủ. 5. Gậy chọc bánh xe. 6. Bà xơ Xempơlit được thử thách. 7. Vừa đến đã chuẩn bị đi ngay. 8. Đặc cách được vào. 9. Nơi người ta đã bắt đầu tin chắc. 10. Phương pháp chối cãi. 11. Săngmachiơ mỗi lúc một thêm ngạc nhiên. Quyển 8: Hậu quả 1. Ơng Madơlen nhìn tĩc mình ở cái gương nào. 2. Fantine sung sướng. 3. Javert đắc ý. 4. Người cầm quyền khơi phục uy quyền. 5. Chỗ chơn thích đáng. 6. PHẦN THỨ HAI: CƠDÉT Quyển 1: Oateclơ 1. Người ta thấy gì khi đi từ Niven đến. 2. Hugomơng 3. 18 tháng 6 năm 1815. 4. A. 5. Trận đánh cĩ điểm mờ mịt. 6. Bốn giờ chiều. 7. Napoleon vui vẻ. 8. Hồng đế hỏi người dẫn đường Lacơt. 9. Điều bất ngờ. 10. Cao nguyên Monde Saint Jean. 11. Hướng đạo của Napoleon tồi, hướng đạo của Buylơtốt. 12. Đồn cận vệ. 13. Đổ vỡ. 14. Đội hình vuơng cuối cùng. 15. Căngbơrơn. 16. Bao nhiêu quyển sách trong tâm hồn. 17. Cĩ nên cho Oateclơ là tốt khơng. 18. Quân quyền thần thánh lại được đề cao. 19. Chiến trường ban đêm. Quyển 2: Chiếc tàu Oriơng 1. Số 24.601 trở thành số 9.430. 2. Nơi cĩ 2 câu thơ cĩ lẽ là của quỷ sứ. 3. Xiềng sắt mà đập một búa đã gãy tan thì chắc là đã cĩ kẻ chuẩn bị bẻ từ trước. Quyển 3: Giữ lời hứa với người đã khuất 1. Vấn đề nước ăn tại Mơngfecmây. 2. Hồn thành hai bức chân dung. 3. Phải cĩ rượu cho người, nước cho ngựa. 4. Một con búp bê lên sân khấu. 5. Một mình con bé. 6. Cĩ lẽ Bulatơnuyen cũng thơng minh thật. 7. Cơdét đi cạnh người lạ trong bĩng tối. 8. Phải tiếp trong nhà một kẻ nghèo mà cĩ lẽ giàu thì thật là phiền. 9. Tenacdiê giở thủ đoạn. 10. Tham thì thâm. 11. Con số 9.4300 lại xuất hiện, cơdét trùng số ấy. Quyển 4: Căn nhà nát Gĩocbơ 1. Ơng biện lý Goĩcbơ. 2. Tổ dành cho cú và bạc má. 3. Hai bất hạnh hợp thành hạnh phúc. 4. Những nhận xét của bà chánh trưởng. 5. Một đồng nămFrancerơi xuống đất kêu thành tiếng. Quyển 5: Đàn chĩ phải thầm lặng trong cuộc săn đuổi tối tăm 1. Chiến lược quanh co. 2. May mà cầu Auxtéclit cĩ xe cộ đi lại. 3. Xem bản đồParisnăm 1727. 4. Mị mẫm để trốn. 5. Nếu đường phố thắp đèn khí thì khơng thể thế được. 6. Bí mật bắt đầu. 7. Bí mật cịn tiếp. 8. Bí mật càng tăng. 9. Người đeo nhạc. 10. Vì sao Javert đi khơng về rồi. Quyển 6: Nhà tu Pơti Pichpuýt 1. Ngõ Pichpuýt, số 62. 2. Tiểu tu viện của Mattanh Vécga. 3. Những điều nghiêm khắc. 4. Những niềm vui. 5. Những trị giải trí. 6. Tu viện nhỏ. 7. Vài hình dáng của cái bĩng tối ấy. 8. Sau quả tim đá. 9. Một thế kĩ sau tấm mạng. 10. Nguồn gốc dịng “Chầu Mình thánh hàng ngày”. 11. Tu viện Pơti Pichpuýt khơng cịn nữa. Quyển 7: Trong dấu ngoặc đơn. 1. Nhà tu ý niệm. 2. Nhà tu sự kiện lịch sử. 3. Tơn trọng quá khứ với điều kiện nào. 4. Nhà tu về phương diện nguyên tắc. 5. Sự cầu nguyện. 6. Cầu nguyện là một điều hay tuyệt đối. Phải thận trọng khi cảnh cáo. 7. Lịng tin, kỷ luật. Quyển 8: Ai cho cái gì, nghĩa địa nhận cái ấy 1. Vào nhà tu bằng cách nào. 2. Cụ Phơsơlơvăng đứng trước khĩ khăn. 3. Mẹ Inơxăngtơ. 4. Jean Valjean cĩ vẻ đã đọc lầm Ơtstanh Catstilegiơ. 5. Nghiện rượu chưa đủ để trở thành bất tử. 6. Trong bốn tấm ván. 7. Nguồn gốc thành ngữ: khơng để mất thẻ. 8. Việc xét hỏi thành cơng. 9. Nơi cấm địa. 10. PHẦN THỨ BA: MARIUS Quyển 1:Parisxét qua một hạt bụi của nĩ. 1. Parvulus. 2. Một vài dấu hiệu đặc biệt của nĩ. 3. Nĩ thật dễ thương. 4. Nĩ cũng cĩ thể cĩ ích. 5. Biên giới của nĩ. 6. Một ít lịch sử. 7. Bầy nhĩc con cĩ thể cĩ vị trí trong bảng phân loại tầng lớp xã hội ở Ấn Độ. 8. Câu nĩi lý thú của ơng vua vừa qua. 9. Hồn xưa của xứ Gơlơ. 10.Parisđây, người đây. 11. Nhạo báng, trị vì. 12. Tương lai tiềm tàng trong quần chúng nhân dân. 13. Chú bé Gavơrốt. Quyển 2: Nhà đại tư sản 1. 90 tuổi với 32 chiếc răng. 2. Người làm sao, nhà làm vậy. 3. Luc expri. 4. Con người gần trăm tuổi. 5. Batscơ và Nicolet. 6. Thống bĩng mụ Manhơng và hai đứa trẻ. 7. Nguyên tắc: chỉ tiếp khách buổi tối. 8. Hai mà khơng nên cặp. Quyển 3: Ơng và cháu 1. Một phịng khách ngày trước. 2. Một cái bĩng ma đỏ hồi ấy. 3. Họ yên nghỉ rồi. 4. Ngày cuối cùng cuả tên giặc cướp. 5. Đi lễ nhà thờ lại cĩ lợi để trở thành người Cách mạng. 6. Gặp một ơng quản lý nhà chung thì cĩ tác dụng gì? 7. Chiếc váy nào đây. 8. Cẩm thạch chọi hoa cương. Quyển 4: Những người bạn cuả nhĩm ABC 1. Một nhĩm suýt cĩ tên tuổi trong lịch sử. 2. Bơtxuyê đọc văn tế Bơ lơng đơ. 3. Những sự ngạc nhiên của Marius. 4. Buồng trong của tiệm cà phê Muydanh. 5. Chân trời mở rộng. 6. Gia tài chẳng cĩ gì? Quyển 5: Nghèo khổ lại hĩa hay. 1. Marius túng quẫn. 2. Marius nghèo. 3. Marius trưởng thành. 4. Ơng Mabơp. 5. Nghèo, láng giềng gần của khổ. 6. Người thay chân. Quyển 6: Hai ngơi sao gặp nhau 1. Biếm danh: cách hình thành của tên tộc họ. 2. Ánh sáng đã đến. 3. Vì một ngày xuân. 4. Bắt đầu tương tư. 5. Sét nổ trên đầu mụ Bugơng. 6. Thành tù binh. 7. Chuyện của chữ U theo phỏng đốn. 8. Thương binh cũng cĩ thể sung sướng. 9. Mất hút. Quyển 7: Patơrơng Minet 1. Mỏ và thợ mỏ. 2. Tầng đáy. 3. Babe, Gơlơme, Colacơxu và Mơngpacnaxơ 4. Tổ chức của bọn này. Quyển 8: Anh nhà nghèo bất hảo 1. Marius đi tìm cơ gái đội mũ hoa lại gặp ơng già đội mũ lưỡi trai. 2. Bắt được của. 3. Bốn vẻ. 4. Đố hoa hồng trong cảnh cùng khổ. 5. Lỗ hổng chúa trổ trên vách. 6. Con người- thú trong hang. 7. Chiến lược và chiến thuật. 8. Tia sáng trong ổ chuột. 9. Giơngđơrét hầu như muốn khĩc. 10. Giá thuê xe nhà nước: 2France1 giờ. 11. Nghèo đĩi giúp đau khổ. 12. NămFrancecủa ơng Lơ Blăng dùng làm gì. 13. Một mình một bĩng cũng khơng nghĩ tới cầu Chúa. 14. Một cảnh binh tặng một luật sư hai quả đấm. 15. Giơngđơrét sắm sửa. 16. Một bài hát theo điệu Anh thịnh hành khoảng 1832. 17. Đồng nămFrancecủa Marius tiêu vào việc gì? 18. Hai chiếc ghế của Marius đặt đối diện nhau. 19. Chú ý đến những xĩ tối. 20. Cuộc mai phục. 21. Đáng lẽ phải bắt nạn người trước. 22. Đức bé kêu khĩc ở tập III. 1. PHẦN THỨ TƯ: TÌNH CA PHỐ PƠLUYMÊ VÀ ANH HÙNG CA PHỐ XANH ĐƠNY. Quyển 1: Mấy trang sử. 1. Khéo cắt. 2. Vung may. 3. Luy Philip. 4. Nứt rạn từ mĩng. 5. Những sự việc làm nên lịch sử nhưng lịch sử lại khơng biết đến. 6. Angiơnrát và các phĩ tướng. Quyển 2: Epơnin. 1. Cánh đồng sơ ca. 2. Các vụ cướp của giết người được thai nghén trong nhà tù như thế nào? 3. Cụ Mabớp thấy ma hiện. 4. Marius cũng thấy ma. Quyển 3: Ngơi nhà phố Pơluymê. 1. Ngơi nhà cĩ bí mật. 2. Jean Valjiean quốc dân quân. 3. Cành lá rườm rà. 4. Thay đổi chấn song. 5. Hoa hồng nhận thấy mình là một cái máy chiến tranh. 6. Cuộc chiến đấu bắt đầu. 7. Kẻ buồn người lại ủ ê. 8. Xiềng xích. Quyển 4: Người giúp nhà mà cĩ thể là trời giúp. 1. Lở ở ngồi, lánh ở trong. 2. Bà Pơluytác chẳng lúng túng chút nào khi giải thích một hiện tượng. Quyển 5: Đoạn cuối và đoạn đầu khác nhau. 1. Vừa quạnh hiu vừa gần doanh trại. 2. Cơdét sợ hãi. 3. Bà Tútxanh lại bàn thêm vào. 4. Một trái tim dưới hịn đá. 5. Cơdét đọc xong thư. 6. Trời sinh các ơng già để đi vắng phải lúc. Quyển 6: Chú bé Gravrốt. 1. Trận giĩ tinh quái. 2. Chú Gravrốt tí hon lợi dụng Napolêong vĩ đại. 3. Diễn biến của cuộc vượt ngục. Quyển 7: Tiếng lịng. 1. Nguồn gốc. 2. Cội rễ. 3. Tiếng lĩng khĩc và tiếng lĩng cười. 4. Hai nhiệm vụ: cảnh giác và hy vọng. Quyển 8: Sướng vui và buồn khổ. 1. Ánh sáng tràn ngập. 2. Ngây ngất vì hạnh phúc vẹn tràn. 3. Bĩng tối bắt đầu. 4. “Cab” tiếng Anh thì lăn, tiếng lĩng thì sủa. 5. Chuyện đêm. 6. Marius trở lại thiết thực quá đến nỗi cho Cơdét biết địa chỉ của mình. 7. Lịng già lịng trẻ đối nhau. Quyển 9: Họ đi đâu? 1. Jean Valjean. 2. Marius. 3. Cụ Mabớp. Quyển 10: Ngày 5 tháng 6 năm 1932. 1. Bề mặt của vấn đề. 2. Bề sâu của vấn đề. 3. Một đám tang: cơ hội để tái sinh. 4. Những sơi sục ngày xưa. 5. Vẻ độc đáo củaParis. Quyển 11: Hạt bụi kết thân với bão táp. 1. Vài điểm sáng tỏ về nguồn gốc thơ của Gravrốt: Ảnh hưởng của một viện sĩ hàn lâm đối với thứ thơ này. 2. Gravrốt hành quân. 3. Sự căm phẫn chính đáng của một anh phĩ cao. 4. Chú bé ngạc nhiên vì cụ già. 5. Cụ già. 6. Lính mới. Quyển 12: Cơranh. 1. Lịch sử Cơranh từ ngày được xây dựng. 2. Những cuộc vui mở đầu. 3. Đêm tối bắt đầu xuống với Gơrăngte. 4. Thử an ủi bà Huysơlu. 5. Cơng việc chuẩn bị. 6. Trong khi chờ đợi. 7. Người mới tuyển ở phố Bidét. 8. Nhiều dấu hỏi về tên Lơ Cabuyc mà cĩ lẽ khơng phải tên là Lơ Cabuyc. Quyển 13: Marius trong bĩng tối. 1. Từ phố Pơluymê đến khu Xanh Đơni. 2. Parisdưới cánh cú bay. 3. Mép bờ cuối cùng. Quyển 14: Những nét vĩ đại của thất vọng. 1. Lá cờ dưới màn 1. 2. Lá cờ dưới màn 2. 3. Giá Gavrốt nhận khẩu cacbin của Ăngiơnratx thì hơn. 4. Thùng thuốc súng. 5. Những vần thơ của Giăng Pruve chấm dứt. 6. Cái chết hấp hối sau cuộc sống thoi thĩp. 7. Gavrốt ước lượng xa gần rất thạo. Quyển 15: Phố Lumacmê. 1. Giấy thấm mách thầm. 2. Chú bé thù địch của ánh sáng. 3. Trong lúc Cơdét và bà Tútxanh ngủ. 4. Gavrốt tích cực quá mức. 5. PHẦN THỨ NĂM: JEAN VALJEAN. Quyển 1: Chiến tranh trong bốn bức tường. 1. Nước xốy ở Ơ Xanh Angtoan và đá ngầm ở Tăngpơlơ. 2. Làm gì dưới vực, nếu khơng kháo chuyện. 3. Hé sáng rồi tối sầm. 4. Bớt 5, thêm 1. 5. Trên đỉnh chiến lũy nhìn thấy chân trời nào. 6. Marius như người mất hồn, Javert nĩi năng cụt ngủn. 7. Tình hình thêm nghiêm trọng. 8. Bọn pháo thủ làm cho người ta khơng dám coi thường. 9. Lại dùng tài sản bắn trộm và súng bá phát bá trúng đã ảnh hưởng đến bản án năm 1796. 10. Bình minh. 11. Bắn đâu trúng đĩ nhưng khơng giết một ai. 12. Hỗn độn bảo vệ cho trật tự. 13. Ánh sáng lướt qua. 14. Tình nhân của Angionratx. 15. Gavrốt ra ngồi. 16. Làm anh rồi lại làm cha. 17. Cha qua đời chờ con sắp chết. 18. Ác điểu trở thành miếng mồi. 19. Jean Valjean báo thù. 20. Người chết đúng mà người sống cũng khơng sai. 21. Những người anh hùng. 22. Từng tấc đất. 23. Đơi bạn kẻ đĩi người say. 24. Tù binh. Quyển 2: Ruột gan con quái khổng lồ. 1. Đất trút của va biển. 2. Cổ sử về cống vãnh. 3. Bnuynơdơ. 4. Những chi tiết khơng ai biết. 5. Tiến bộ ngày nay. 6. Tiến bộ tương lai. Quyển 3: Bùn đấy nhưng lại là tâm hồn. 1. Những điều bất ngờ dưới cống. 2. Giải thích. 3. Người bị theo dõi. 4. Người ấy cũng vác thánh giá. 5. Cĩ thứ cát mịn mà nguy hiểm, cũng như cĩ người đàn bà tế nhị mà giảo quyệt. 6. Khoảng đất sụt. 7. Cĩ khi tưởng cập bến lại hĩa mắc cạn. 8. Vạt áo rách. 9. Dưới con mắt một người thành thạo, Marius cĩ vẻ như đã chết rồi. 10. Đức con phung phí cuộc đời nay lại trở về. 11. Cái tuyệt đối bị lung lay. 12. Người ơng. Quyển 4: Javert mất hướng. Quyển 5: Ơng và cháu. 1. Lại thấy cái cây cĩ gắn miềng keơn. 2. Marius vừa ra khỏi nội chiến lại chuẩn bị cuộc chiến tranh trong nhà. 3. Marius tấn cơng. 4. Rốt cuộc dì Gilơnormăng khơng thấy khĩ chịu khi ơng Phơsơlơvăng vào nhà lại ơm theo một cái gĩi. 5. Thà gửi tiền ở khu rừng ấy cịn hơn gửi ơng Nơ-te ấy. 6. Hai cụ già, mỗi người một lối, làm tất cả để Cơdét được sung sướng. 7. Bĩng dáng giấc mê trong hạnh phúc. 8. Hai người khơng tìm ra được. Quyển 6: Đêm trăng. 1. Ngày 16 tháng 2 năm 1833. 2. Jean Valjean vẫn buộc cánh tay. 3. Người tri kỷ. 4. Đau khổ bất diệt. Quyển 7: Dốc cạn chén tân toan 1. Vịng địa ngục thứ 7 và tầng trời thứ 8. 2. Nĩi hết rồi mà vẫn cịn cĩ những chỗ mờ ám. Quyển 8: Bĩng ngả hồng hơn. 1. Gian buồng bên dưới. 2. Lại những bước thối lui nữa. 3. Họ nhớ lại cái vườn phố Pơluymê. 4. Thu hút và tàn lụi. Quyển 9: Đêm tối cuối cùng, bình minh cuối cùng. 1. Thương xĩt người đau khổ, rộng lượng với người sung sướng. 2. Ngọn đèn cạn dầu thoi thĩp. 3. Ngày xưa nhấc cả cỗ xe bị, bây giờ cầm một quản bút thấy nặng. 4. Chai mực chỉ làm trắng thêm. 5. Ánh sáng chan hịa đứng sau đêm tối. 6. Cỏ che, mưa xĩa. PHỤ LỤC 3 Anh đã hái hoa này (J’ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline) Thơ Victor Hugo J’ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline Anh đã hái hoa này (Người dịch: Xuân Diệu) J’ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline. Dans l’âpre escarpement qui sur le flot s’incline, Que l’aigle connaỵt seul et seul peut approcher, Paisible, elle croissait aux fentes du rocher. L’ombre baignait les flancs du morne promontoire ; Je voyais, comme on dresse au lieu d’une victoire Un grand arc de triomphe éclatant et vermeil, À l’endroit ó s’était englouti le soleil, La sombre nuit bâtir un porche de nuées. Des voiles s’enfuyaient, au loin diminuées ; Quelques toits, s’éclairant au fond d’un entonnoir, Semblaient craindre de luire et de se laisser voir. J’ai cueilli cette fleur pour toi, ma bien-aimée. Elle est pâle, et n’a pas de corolle embaumée, Sa racine n’a pris sur la crête des monts Que l’amère senteur des glauques goémons ; Moi, j’ai dit: Pauvre fleur, du haut de cette Anh đã hái đố hoa này trên đồi ấy cho em Trong khoảng cheo leo nhìn xuống sĩng nghiêng, Mà chỉ cĩ con diều biết rõ và tới được, Giữa khe đá to bình yên hoa mọc. Bĩng tối dầm những sườn đá đìu hiu; Anh nhìn thấy; như ở nơi mừng thắng trận Một khải hồn mơn huy hồng thắm đậm Ở chốn kia mặt trời đã lặn chìm Đêm dựng lên một cổng lớn mây chen. Những cánh buồm bay ra xa, dần nhạt, Dăm mái nhà dưới lũng sâu lát đác Như sợ loé lên và sợ lộ mình. – Anh đã hái hoa này, cho em của anh. Hoa lọt lạt, mà cũng khơng thơm nữa, Bởi rễ nĩ mọc ở trên vách đá Chỉ hít mùi đằng đít của rong xanh. Anh bảo thầm: -Hoa tội nghiệp! từ trên đỉnh gập ghềnh Đáng lẽ em phải về nơi mênh mơng vực thẳm Mà rong với mây với buồm rong ruổi cime, Tu devais t’en aller dans cet immense abỵme Où l’algue et le nuage et les voiles s’en vont. Va mourir sur un coeur, abỵme plus profond. Fane-toi sur ce sein en qui palpite un monde. Le ciel, qui te créa pour t’effeuiller dans l’onde, Te fit pour l’océan, je te donne à l’amour. – Le vent mêlait les flots; il ne restait du jour Qu’une vague lueur, lentement effacée. Oh! comme j’étais triste au fond de ma pensée Tandis que je songeais, et que le gouffre noir M’entrait dans l’âme avec tous les frissons du soir ! Nhưng thơi em hãy chết trên một trái tim, vực thẳm sâu hơn Em hãy đến tàn trên ngực phập phồng Trời sinh em ra để rã cánh vào sĩng nước, Trời uỷ em cho đại dương, ta uỷ em cho tình ái. Giĩ khi ấy trộn các đầu sĩng rối Ngày chỉ cịn một thoảng sáng dần phai Ơi!trong đáy hồn anh buồn biết bao nhiêu Anh nghĩ ngợi và vực đen trong lúc ấy Vào giữa hồn anh cùng với vạn hơi chiều run rẩy! Đơi ta đã chạm mơi (Puisque j’ai mis ma lèvre à ta coupe encor pleine) Thơ Victor Hugo Puisque j’ai mis ma lèvre à ta coupe encor pleine Đơi ta đã chạm mơi (Người dịch: Hồi Anh) Puisque j’ai mis ma lèvre à ta coupe encor pleine ; Puisque j’ai dans tes mains posé mon front pâli ; Puisque j’ai respiré parfois la douce haleine De ton âme, parfum dans l’ombre enseveli ; Puisqu’il me fut donné de t’entendre me dire Les mots ó se répand le coeur mystérieux ; Bởi mơi ta đã chạm chén vàng Bởi tay ta đặt trán nàng xanh xao Bởi ta thở hơi ngọt ngào Tự hồn nàng, hương lẫn vào bĩng đêm Bởi ta từng lắng nghe êm Những lời thốt tự trái tim tuyệt vời Puisque j’ai vu pleurer, puisque j’ai vu sourire Ta bouche sur ma bouche et tes yeux sur mes yeux ; Puisque j’ai vu briller sur ma tête ravie Un rayon de ton astre, hélas ! voilé toujours ; Puisque j’ai vu tomber dans l’onde de ma vie Une feuille de rose arrachée à tes jours ; Je puis maintenant dire aux rapides années : – Passez ! passez toujours ! je n’ai plus à vieillir ! Allez-vous-en avec vos fleurs toutes fanées ; J’ai dans l’âme une fleur que nul ne peut cueillir ! Votre aile en le heurtant ne fera rien répandre Du vase ó je m’abreuve et que j’ai bien rempli. Mon âme a plus de feu que vous n’avez de cendre ! Mon coeur a plus d’amour que vous n’avez d’oubli ! Thấy em khĩc, thấy em cười Mắt trên mắt, mơi trên mơi gắn liền Bởi ta thấy ánh sao huyền Nàng soi lên trán bỗng nhiên tối mờ Thấy trên dịng sĩng vật vờ Cánh hồng nàng rứt trên bờ tặng ta Hỡi tháng năm cứ trơi qua Ta khơng cịn sợ tuổi già nữa đâu Cứ trơi với cánh hoa rầu Hồn ta một đĩa ban đầu mãi tươi Cánh thời gian khĩ hất rơi Nước bình ta uống chẳng vơi bao giờ Hồn ta lửa nhiều hơn tro Tim ta tình chấp mọi đều lãng quên. PHỤ LỤC 4 Nhà thờ Đức Bà Pariss (tiếng Pháp: Cathédrale Notre-Dame de Pariss) là một nhà thờ Thiên Chúa giáo tiêu biểu cho phong cách kiến trúc gothic trên đảoỴle de la Cité (nằm bên dịng sơng Seine) của Pariss. Thế kỷ 12, Pariss là một thành phố quan trọng của Cơ Đốc giáo. Đây cũng là giai đoạn thành phố cĩ những phát triển mạnh mẽ về cả dân số và kinh tế. Nhà buơn và thợ thủ cơng tập trung tại chợ lớn bên bờ phải sơng Seine. Trường học của nhà thờ tạo được uy tín. Vương triều Capet cũng quay trở lại Pariss. Ngày 12 tháng 10 năm 1160, dưới thời Louis VII, Maurice de Sully trúng cử giám mục Pariss. Cùng với các tu sĩ, Maurice de Sully đã cĩ một quyết định quan trong: xây dựng trên quảng trường Saint-Etienne một nhà thờ mới lớn hơn nhiều so với nhà thờ cũ. Nhà thờ sẽ thờ Đức Mẹ và theo phong cách kiến trúc mới, về sau được gọi là kiến trúc Gothic. Cùng với việc xây dựng nhà thờ là cả một dự án quy hoạch đơ thị. PHỤ LỤC 5 Những người khốn khổ (Les Misérables) Chân dung “Cosette” do Emile Bayard vẽ, trong phiên bản đầu tiên của Les Misérables (1862) (Trong tranh, nguyên mẫu Gavroche giơ súng, ở sau lưng Nữ thần Tự do trên chiến lũy - Tranh của Eugène De Lacroix) Chuyển thể Những người khốn khổ là tác phẩm đã được chuyển thể rất nhiều lần, một phần hoặc tồn bộ tiểu thuyết, thành các tác phẩm sân khấu và điện ảnh. Điện ảnh Phim Những người khốn khổ phiên bản 1995 của Jean-Paul Belmondo 1. 1907, On the barricade, đạo diễn Alice Guy Blaché 1. 1907, Le Chemineau 2. 1909, Les Misérables, đạo diễn J. Stuart Blackton 3. 1911, Les Misérables, đạo diễn Albert Capellani 4. 1913, Les Misérables, đạo diễn Albert Capellani 5. 1913, The Bishop’s Candlesticks, đạo diễn Herbert Brenon 6. 1917, Les Misérables, đạo diễn Frank Lloyd 7. 1922, Les Misérables 8. 1923, Aa Mujo, đạo diễn Kiyohiko Ushihara và Yoshinobu Ikeda 10. 1925, Les Misérables, đạo diễn Henri Fescourt 11. 1929, The Bishop’s Candlesticks, đạo diễn Norman McKinnell, chuyển thể điện ảnh cĩ tiếng đầu tiên của tác phẩm 12. 1929, Aa mujo, đạo diễn Seika Shiba 13. 1931, Jean Valjean, đạo diễn Tomu Uchida 14. 1934, Les Misérables, đạo diễn Raymond Bernard 15. 1935, Les Misérables, đạo diễn Richard Boleslawski 16. 1937, Gavrosh, đạo diễn Tatyana Lukashevich 17. 1938, Kyojinden, đạo diễn Mansaku Itami 18. 1943, Los Miserables, đạo diễn Renando A. Rovero 19. 1944, El Boassa, đạo diễn Kamal Selim 20. 1947, I Miserabili, đạo diễn Riccardo Freda 21. 1949, Les Nouveaux Misérables, đạo diễn Henri Verneuil 22. 1950, Re mizeraburu: Kami to Akuma, đạo diễn Daisuke Ito 23. 1950, Ezai Padum Pado, đạo diễn K. Ramnoth 24. 1952, Les Misérables, đạo diễn Lewis Milestone 25. 1955, Kundan, đạo diễn Sohrab Modi 26. 1958, Les Misérables, đạo diễn Jean-Paul Le Chanois 27. 1967, Les Misérables, đạo diễn Alan Bridges 28. 1967, Os Miseráveis 29. 1967, Sefiler 30. 1972, Les Misérables, đạo diễn Marcel Bluwal 31. 1973, Los Miserables, đạo diễn Antulio Jimnez Pons 32. 1977, Cosette, hoạt hình 33. 1978, Les Misérables, đạo diễn Glenn Jordan 34. 1978, Al Boasa 35. 1979, Jean Valjean Monogatari, đạo diễn Takashi Kuoka, hoạt hình Nhật Bản 36. 1982, Les Misérables, đạo diễn Robert Hossein 37. 1985, Les Misérables, đạo diễn, phiên bản truyền hình của bộ phim năm 1982 38. 1988, Les Misérables, đạo diễn, hoạt hình Nhật Bản 39. 1990, Les Misérables, đạo diễn Jean-Paul Rappeneau 40. 1995, Les Misérables, đạo diễn Claude Lelouch (bối cảnh phim được chuyển dịch về thế kỷ 20) 41. 1998, Les Misérables, đạo diễn Bille August, cĩ sự tham gia của Liam Neeson 42. 2000, Les Misérables, phim truyền hình, cĩ sự tham gia của Gérard Depardieu, Christian Clavier, John Malkovich,…) 43. 2007, Les Misérables: Shōjo Cosette, Japanese animated TV series by Nippon Animation Sân khấu chuyển thể tác phẩm Hugo Nổi tiếng nhất cĩ lẽ là vở nhạc kịch cùng tên Những người khốn khổ do Claude-Michel Schưnberg sáng tác. Đây cĩ lẽ là vở nhạc kịch Pháp nổi tiếng nhất và là một trong những vở nhạc kịch (opera) độc đáo nhất thế giới. Vào ngày 8 tháng 10 năm 2006, vở diễn kỉ niệm trịn 21 năm ngày ra mắt lần đầu tiên. Những người khốn khổ đang giữ kỷ lục là vở nhạc kịch được diễn liên tục lâu nhất ở sân khấu West End, Luân Đơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1994. Văn học nước ngồi. NXB Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An. Đặng Anh Đào. Cuộc đời và tác phẩm Victor Hugo. Đặng Thị Hạnh và Lê Hồng Sâm. 1985. Văn học lãng mạn và văn học hiện thực Phương Tây thế kỉ XIX. NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội. Hồng Nhân, Nguyễn Ngọc Ban, Đỗ Đức Hiểu. 1979. Lịch sử văn học Phương Tây 2. NXB Giáo dục. Lưu Đức Trung. 1998. Văn học Nước ngồi. NXB Giáo dục. Lưu Đức Trung. Văn học Thế giới tập II – sách dùng cho Cao đẳng Sư phạm. Minh Chính. 2002. văn học Phương Tây giản yếu. NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều tác giả. 1990. Lịch sử văn học Pháp Thế kỉ XIX. NXB Ngoại văn. Nhiều tác giả. 1997. Văn học Phương Tây. NXB Giáo dục. Phê bình bình luận văn học Balzac và Hygo. NXB Tổng hợp KH. Phùng Hồi Ngọc. Giáo trình văn học Phương Tây 2. Phùng Văn Tửu. 1978. Victo Hugo. NXB Giáo dục. Tạp chí văn học. 6/2002. 2004. Từ điển văn học bộ mới. NXB Thế giới

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfla_th_ng_c_anh_4133.pdf
Luận văn liên quan