Luận văn Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình

 Tài chính Đối với cấp chính quyền địa phương: Cần có chính sách hỗ trợ tài chính cho ban phòng chống bão lũ cấp xã để triển khai công tác phòng chống bão lũ tránh các tổn thất đối với người dân. Đối với hộ nghèo: Ngân hàng chính sách xã hội huyện cần tạo điều kiện để số hộ nghèo được vay vốn nhiều hơn với vốn vay lớn hơn để hộ nghèo chủ động động hơn trong việc đầu tư tái sản xuất. Tiếp tục duy trì phát triển các nguồn sinh kế sẵn có bên cạnh phát triển các nguồn sinh kế khác như phát triển chăn nuôi, lâm nghiệp  Năng lực kỹ thuật Đối với cấp chính quyền địa phương: Cần nâng cao kiến thức cho cán bộ phòng chống bão lũ địa phương đặc biệt là cấp xã thông qua các cuộc tập huấn về phòng chống bão lũ, thích ứng với hiện thượng khí hậu cực đoan. Cần có kế hoạch phòng chống bão lũ cụ thể và hiệu quả. Đối với các hộ nghèo: Nâng kiến thức, kỹ năng sử dụng vốn, kỹ thuật canh tác cải tiến cho lúa và mía thông qua các buổi tập huấn, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm.  Thông tin Duy trì hệ thống thông tin liên lạc thường xuyên giữa xã Tây Phong và Ban phòng chống bão lũ huyện Cao Phong, tiếp tục thực hiện việc trực phòng chống và thực hiện theo nguyên tắc 4 tại chỗ. Chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể xã hội như Hội cực chiến binh, Hội nông dân, Hội Phụ nữ tuyên truyền phổ biến các thông tin cho các hộ nghèo không có điều kiện tiếp cập với các nguồn thông tin về giá cả thị trường, tư vấn kỹ thuật.

pdf31 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 24/12/2013 | Lượt xem: 2697 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thị; - Mức chuẩn cận nghèo (cập nhật CPI): so sanh thu nhập hộ gia đình với mức 600 ngàn đồng khu vực nông thôn và 750 ngàn đồng khu vực thành thị. Tổ chức Oxfam tại Việt Nam và Viện Sau đại học về nghiên cứu môi trường, Trường Đại học Kyoto, Nhật Bản đã tiến hành nghiên cứu những lựa chọn để giải quyết rủi ro do hạn hán ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này tập trung vào phân tích ảnh hưởng của tần suất hạn hán tới sinh kế của cộng đồng tại các khu vực thường xuyên bị hán hán của tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam. Bên cạnh đó nghiên cứu cũng đề cập tới cộng đồng cảm nhận như thế nào với hạn hán và thay đổi khí hậu, chính quyền địa phương và các tổ chức phi chính phủ làm sao để có thể đối phó với thảm họa từ thiên nhiên, đặc biệt đối với hạn hán.(Oxfam Việt Nam, 2010). Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng Tổ chức CARE International nghiên cứu sự thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng trong đó đề cập tới tác động của BĐKH tới an ninh lương thực và thu nhập của người dân, nước sinh hoạt, sức khỏe và di dân. Nghiên cứu cho thấy người nghèo và người dân vùng ven biển bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nghiên cứu ở Thanh Hóa cho thấy rằng các hiện tượng thời tiết cực đoan: hạn hán, ngập lụt, thay đổi mùa đã tác động tới sản xuất nông nghiệp làm cho thiếu đói, gia cầm, khai thác thủy sản bị ảnh hưởng (Morten Fauerby Thomsen, 2010, CARE International). Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông thôn (CSRD) (Lâm Thị Thu Sửu và nnk, 2010) nghiên cứu thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng tại khu vực sông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung vào: - Tìm hiểu những biện pháp thích ứng mà người dân địa phương và nhiều tổ chức đã thực hiện; - Xác định các biện pháp thích ứng chính liên quan đến quản lý nguồn nước; - Lựa chọn những giải pháp thích ứng hiệu quả cụ thể để hỗ trợ trực tiếp và làm đầu vào cho các kế hoạch địa phương. Hiện nay, có khoảng 70 tổ chức tại Việt Nam tham gia nghiên cứu và thực thiện liên quan tới “tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu” tập chung vào các vấn đề như: BĐKH và Nông nghiệp bền vững, Biển và Ven biển với BĐKH, Sức khỏe cộng đồng và BĐKH, Tài nguyên môi trường và BĐKH, Nghiên cứu và vận động chính sách với BĐKH. Tuy nhiên nghiên cứu các hiện tượng thời tiết cực đoan và sinh kế dựa vào nông nghiệp của các hộ nghèo khu vực miền núi được đề cập rất ít chính vì vậy nghiên cứu sẽ bổ sung thêm các nghiên cứu nói trên. 1.4. Các nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu. Trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi như hiện nay, tỉnh Hòa Bình nói chung và xã Tây Phong nói riêng khí hậu cũng ngày càng biến đổi, theo số liệu quan trắc của Trung tâm quan trắc khí tượng thủy văn Thành phố Hòa Bình nhiệt độ mùa hè tăng cao trung bình từ 38-40oC có thời điểm lên tới 42oC, mùa đông thì giá rét kết hợp với mưa phùn nhiệt độ ngoài trời lạnh tới 2-3oC, hạn hán kéo dài, mưa lũ thất thường. Sự thay đổi này tác động rất lớn tới sinh kế của cộng đồng đặc biệt là người nghèo. Theo một cán bộ thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường Hòa Bình, tại tỉnh Hòa Bình vấn đề “biến đổi khí hậu” được quan tâm và chú ý nhiều hơn trong mấy năm gần đây nhưng hiện nay chưa có nghiên cứu hoặc kế hoạch cụ thể nào liên quan tới “tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu”. Chính vì vậy việc nghiên cứu tìm hiểu các khía cạnh về biến đổi khí hậu là hết sức cấp thiết và là cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu giảm thiểu thiệt hại mà nó gây ra đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân đặc biệt là hộ nghèo. CHƢƠNG 2: THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Thời gian nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành chủ yếu trong giai đoạn từ tháng 04 năm 2011 đến tháng 12 năm 2011. 2.2. Địa điểm nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu tại xã Tây Phong huyện Cao Phong Tỉnh Hòa Bình. 2.2.1. Điều kiện tự nhiên  Vị trí địa lý Xã Tây Phong huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình có tọa độ địa lý 200 40’55’’ vĩ độ bắc và 105017’44’’ kinh độ đông, phía Bắc giáp thị trấn Cao Phong và xã Bắc Phong, phía Đông giáp xã Dũng Phong, phía Nam giáp xã Nam Phong, phía Tây giáp huyện Tân Lạc. Từ năm 2003 kể về trước, xã Tây Phong thuộc huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình, nay thuộc huyện Cao Phong sau khi huyện Kỳ Sơn được tách thành 2 huyện Cao Phong và Kỳ Sơn.  Đặc điểm địa hình Với diện tích tự nhiên là 2246 ha, Xã Tây Phong có đặc điểm địa hình khá đặc trưng của vùng miền núi, phần lớn diện tích là đồi thấp và núi đá vôi, diện tích đất nông nghiệp và đất ở chiếm tỷ lệ ít khoảng 12 % tổng diện tích. Theo đặc điểm địa hình xã chia làm 2 vùng khá rõ rệt: vùng giáp núi đá gồm các xóm Chao, Khạ, Đồi, Nếp và Lãi.  Đặc điểm khí hậu Xã Tây Phong nằm tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Bắc Bộ và Tây Bắc Bộ chính vì vậy khí hậu của xã Tây Phong có đặc điểm khí hậu của vùng tiếp giáp giữa hai vùng này, do đó khí hậu vùng tương đối phức tạp. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23,8 0C, nhưng mùa đông nhiệt độ xuống rất thấp có thể xuống thấp tới 40C (2009), vào mùa hè nhiệt độ cao tăng rất cao có thời điểm lên tới 41,80C (2010). Lượng mưa trung bình 25 năm trở lại đây vào khoảng 1817,7 mm/năm, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 hàng năm (Trung tâm khí tượng thủy văn thành phố Hòa Bình, 2011). 2.2.2. Hiện trạng sử dụng đất qua một số thời điểm Hiện trạng mục đích sử dụng đất đã thay đổi từ năm 2000 trở lại đây, diện tích đất trồng lúa giảm một cách rõ rệt 157,332 ha (2004) chỉ còn 56,7 ha năm (2007). Ngược lại diện tích đất trồng mía tăng rất mạnh từ 43,01 ha năm 2004 tăng lên 250,5 ha năm 2007. 2.2.3. Tình hình kinh tế, xã hội Xã Tây Phong có 10 xóm, 1167 hộ với 5018 nhân khẩu (UBND xã Tây Phong, 2009), theo số liệu điều tra năm 2011 xã có 1206 hộ với 5204 nhân khẩu. Tổng diện tích đất tự nhiên 2246 ha, đất nông nghiệp 252,3 ha, đất ở 161,35 ha, còn lại là đất lâm nghiệp, núi đá chiếm khoảng 98% tổng diện tích. Thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp chiếm 85%, tổng sản lượng lương thực 1145 tấn/năm, cây trồng chủ yếu là mía và lúa, chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi gia cầm và gia súc lớn, thu nhập bình quân đầu người đạt 8,2 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo 19,9 % (UBND xã Tây Phong, 2009). 2.3. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 2.3.1. Phương pháp luận Sau khi xem xét các phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước. Chúng tôi thấy rằng phương pháp “phân tích tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng dựa vào cộng đồng” của Tổ chức CARE Intenational kết hợp với khung sinh kế bền vững SLF là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nghiên cứu này. Phƣơng pháp phân thích tính dễ bị tổn thƣơng và năng lực thích ứng dựa vào cộng đồng (CVCA). Khái niệm: CVCA là một phương pháp luận để thu thập, tổ chức và phân tích thông tin về khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của cộng đồng, hộ gia đình và cá nhân. Nó cung cấp những hướng dẫn và công cụ cho nghiên cứu, phân tích và học hỏi có sự tham gia. Nó cũng tính đến vai trò của các cơ quan và chính sách quốc gia và địa phương trong thực hiện hoạt động thích ứng. (CARE International, 2010). CVCA tập trung vào mức độ cộng đồng nhưng kết hợp phân tích những vấn đề ở cấp độ vùng và quốc gia trong một nỗ lực để thúc đẩy một môi trường hỗ trợ cho sự thích ứng dựa vào cộng đồng. Khung sinh kế bền vững (SLF). SLF là chữ viết tắt của Sustainable Livelihoods Framework (Khung Sinh kế Bền vững) do Bộ Phát triển Hải ngoại Anh Quốc – DFID (Department For International Development, 2001) phát triển, đã nêu lên những yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế người dân. DFID sử dụng định nghĩa sinh kế bền vững như sau: “Một sinh kế thì bao gồm những năng lực, tài sản (bao gồm cả tài sản vật chất và tài nguyên xã hội) và các hoạt động cần thiết để làm phương tiện sinh sống. Một sinh kế là bền vững khi có thể đối phó và phục hồi từ các stress, các cú sốc, và duy trì được hoặc tăng cường được các khả năng và các tài sản này cho cả hiện tại và tương lai, trong khi không gây ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn tài nguyên thiên nhiên”. Hình 2.2: Khung sinh kế bền vững (SLF) (Nguồn: DFID, 2001) 5 loại vốn trong khung sinh kế Human capital (H): Nguồn vốn con người Natural capital (N): Nguồn vốn thiên nhiên Financial capital (F): Nguồn vốn tài chánh Social capital (P): Nguồn vốn xã hội Physical capital (S): Nguồn vốn vật chất Khung SLF là một công cụ giúp hiểu về sinh kế, mục đích áp dụng khung sinh kế bao gồm: - Mục đích chung nhất của khung SLF là giảm nghèo; - Hiểu rõ hơn về tất cả các khía cạnh của vấn đề nghèo; S H N F P Tiến trình thay đổi cơ cấu Cơ cấu - Các cấp chính quyền - Đơn vị tư nhân Tiến trình - Luật Pháp - Chính sách - Văn hóa - Thể chế tổ chức Phạm vi có thể bị tổn thương - Các cú sốc - Các xu hướng - Thời vụ Kết quả sinh kế - Tăng thu nhập - Tăng sự ổn định - Giảm rủi ro - Nâng cao an toàn lương thực - Sử dụng bền vững hơn các nguồn lợi tự nhiên Chiến lược sinh kế N h ằ m đ ặ t đ ư ợ c S H N F P ảnh hưởn g 2 chiều Tài sản sinh kế - Giúp định ra các ưu tiên hành động; - Giúp tìm ra chiến lược sinh kế phù hợp; - Sử dụng khung sinh kế bền vững trong quá trình đánh giá tính dễ bị tổn thương. Cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo cần kết hợp cả năm loại vốn để cải thiện chất lượng cuộc sống. Chỉ một loại vốn không thì có thể không đủ để tạo ra sinh kế bền vững nhưng không phải là phải cần tất cả các loại vốn với mức độ như nhau. 2.3.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập thông tin  Phương pháp kế thừa tài liệu: Phương pháp kế thừa tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu nhằm thu thập các thông tin từ các nguồn tài liệu sẵn có như: Sách, báo, luận văn trước, các báo cáo… Các loại số liệu cần thu thập - Số liệu quan trắc: các chỉ số quan trắc cần thu thập để phục vụ nghiên cứu trong luân văn được thể hiện trong bảng sau Bảng 2.1: Bảng chỉ số cần thu thập Các chỉ số cần thu thập Mục đích Nơi cung cấp hông tin Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 1985 đến nay Biết được diễn biến nhiệt độ trung bình từ 1985 đến nay Trung tâm quan trắc TP Hòa Bình Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1985 đến nay Biết được diễn biến lượng mưa trung bình từ 1985 đến nay Trung tâm quan trắc TP Hòa Bình Số ngày trong năm <10 0 C, <15 0 C từ 1985 đến nay Biết được diễn biến số ngày rét đậm rét hại từ 1985 đến nay Trung tâm quan trắc TP Hòa Bình Số tháng có lượng mưa <150mm, <500mm, 1000mm từ Biết được diễn biến các tháng có lượng mưa ít (hạn hán) trong năm từ 1985 Trung tâm quan trắc TP Hòa Bình 1985 đến nay đến nay - Các hiện tượng khí hậu cực đoan: Mưa lũ, hạn hán, rét đậm, rét hại, nắng nóng.. Để có được các thông tin về các loại khí hậu cực đoan, chúng tôi thu thập số liệu từ 2 nguồn chính: i) Nguồn thứ 1: Từ bác báo cáo phòng chống bão lũ hàng năm của huyện Cao Phong và báo cáo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hàng năm của xã Tây Phong 5 năm trở lại đây ii) Nguồn thứ 2: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa tại cộng đồng (biểu đồ lịch sử, bản đồ thiên tai) - Số liệu về số hộ nghèo, thu nhập bình quân, các nguồn sinh kế của cộng đồng và hộ nghèo. Chúng tôi thu thập từ các báo cáo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hàng năm của xã Tây Phong các năm 2008, 2009, 2010 và tổng hợp kết quả phỏng vấn hộ dân.  Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: Mục đích sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc nhằm thu thập thông tin mang tính đại diện, các thông tin chuyên sâu, các kiến thức hay hiểu biến của cộng đồng hay hộ dân về BĐKH. Các đối tượng cần phỏng vấn như sau: Phỏng vấn hộ dân: Để có được thông tin về các nguồn sinh kế; thu nhập; nhu cầu…của các hộ dân đặc biệt là nhận thức của họ về BĐKH, chúng tôi sử dụng danh mục câu hỏi (phụ lục 3), cách thức lựa chọn và phỏng vấn như sau: Cách lựa chọn hộ: Lựa chọn 90 hộ nghèo tương đương với 30% số hộ nghèo toàn xã (theo tiêu chí hộ nghèo của Bộ thương binh và xã hộ năm 2011) để đảm bảo tính đại diện số hộ nghèo chia 3 vùng là: vùng núi cao, vùng đồng bằng và vùng bán sơn địa tương ứng 3 xóm (xã Tây Phong có 10 xóm) đại diện của 3 vùng, các hộ nghèo trong xóm được lựa chọn theo phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên và ít nhất 30% số người tham gia trên 45 tuổi Cách phỏng vấn: Các hộ được lựa chọn được mời tới địa điểm nhất định (nhà văn hóa thôn, nhà hộ dân…) các hộ được phỏng vấn theo danh mục câu hỏi đã chuẩn bị trước Phỏng vấn chính quyền địa phƣơng: để thu thập thông tin chung về tình hình phát triển kinh tế xã hội, định hướng phát triển cũng như các hiểu biến và kinh nghiệm trong việc tích ứng với các hiện tượng khí hậu cực đoan….chúng tôi tiến hành phỏng vấn cán bộ địa phương, cách thức tiến hành như sau: Thành phần tham gia phỏng vấn: Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện (Phó ban phòng chống bão lũ huyện), Chủ tịch UBND xã Tây Phong, 1 cán bộ phụ trách địa chính xã, 1 cán bộ khuyến nông xã, Chủ tịch hội phụ nữ xã, Chủ tịch hội nông dân xã và 10 trưởng xóm đại diện cho 10 xóm trong xã. Cách thức phỏng vấn: i) Đối với Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện (Phó ban phòng chống lũ bão huyện), Chủ tịch UBND xã Tây Phong, chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng các bảng hỏi (phụ lục 4). ii) Đối với các thành viên còn lại được mời tới UBND xã Tây Phong để phỏng vấn trực tiếp theo danh mục câu hỏi (phụ lục 5). Phương pháp phân tích thông tin Để tổng hợp và phân tích thông tin chúng tôi đã sử dụng các pháp và công cụ theo bảng sau: Bảng 2.2: Phƣơng pháp/các công cụ phân tích trong nghiên cứu Phƣơng pháp/công cụ phân tích thông tin Mục đích sử dụng Cách làm Đối tƣợng tham gia Phương pháp thống kê đơn giản, số trung bình Để tổng hợp số liệu như nhiệt độ, lượng mưa trung bình, tỷ lệ hộ nghèo, thu nhập bình quân/đầu người/năm…. - Sau khi thu thập số liệu sử dụng bảng tính Excel và đồ thị biểu diễn - ….. Cán bộ văn thư xã Tây Phong, cán bộ trạm quan trắc khí tượng thành phố Hòa Bình Biểu đồ lịch sử Để thu thập thời gian, tần suất xuất hiện của các hiện tượng khí hậu cực đoan và tác động - Tại xã: Biểu đồ lịch sử được các trưởng xóm điền các thông tin vào bảng theo hướng dẫn - Tại các xóm: Các hộ dân được chia làm 3 nhóm ngẫu nhiên, các hộ thảo luận và điền thông tin vào bảng có sẵn (sau khi có kết quả tại xã biểu đồ lịch sử được so sánh với với biểu đồ của các hộ dân nếu có khác nhau cần kiểm tra lại thông tin) Cán bộ phụ nữ, hội nông dân, cán bộ địa chính, 10 trưởng xóm, hộ dân Lịch mùa vụ Để thu thập thời gian gieo trồng của lúa, mía, cây vụ đông Làm như biểu đồ lịch sử Cán bộ phụ nữ, hội nông dân, cán bộ địa chính, 10 trưởng xóm, hộ dân Bảng xếp hạng, đánh giá theo ma trận Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các hiện tượng cực đoan tới sinh kế của hộ Làm như biểu đồ lịch sử Cán bộ phụ nữ, hội nông dân, cán bộ địa chính, 10 trưởng xóm, hộ dân nghèo Phân tích SWOT Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của chính quyền địa phương, cộng đồng, hộ nghèo trong việc thích với các hiện tượng khí hậu cực đoan Sử dụng câu hỏi mở để phỏng vấn các hộ và cán bộ địa phương về điểm mạnh, điểm yếu trong kinh nghiệm thích ứng với các hiện tượng khí hậu cực đoan Cán bộ phụ nữ, hội nông dân, cán bộ địa chính, 10 trưởng xóm, hộ dân Các khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu - Số liệu trong báo cáo của xã, huyện có chỗ chưa thống nhất, thiếu thông tin, đặc biệt là các hiện tượng khí hậu cực đoan - Nghiên cứu còn thiếu thời gian, nguồn lực… - Tiếp cận nguồn thông tin còn hạn chế 2.3.3. Nội dung nghiên cứu - Xác định đặc điểm khí hậu của trong vùng nghiên cứu, đặc biệt tập trung vào các hiện tượng khí hậu cực đoan cũng như tác động của chúng; - Phân tích đánh giá sinh kế của cộng đồng địa phương, đặc biệt liên quan đến sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi; - Phân tích đánh giá tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan lên sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là thiệt hại lên cộng đồng địa phương và ảnh hưởng đến phát triển sinh kế; - Phân tích năng lực thích ứng của hộ nghèo tập trung vào năng lực tài chính và năng lực trình độ dựa trên quan điểm phát triển sinh kế bền vững; - Phân tích năng lực thích ứng của cộng đồng tập trung vào năng lực tài chính và cách thức hỗ trợ hộ nghèo; - Đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ nghèo để nâng cao sinh kế dựa vào cộng đồng. CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm khí hậu và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan 3.1.1. Nhiệt độ, lượng mưa Hiện nay, tại địa điểm nghiên cứu không có trạm quan trắc khí tượng do đó chúng tôi xem xét sử dụng số liệu trạm khí tượng gần với điểm điểm nghiên cứu nhất và có đặc điểm khí hậu tương đồng. trạm khí tượng thành phố Hòa Bình là phù hợp vì trạm khí tượng này gần với địa điểm nghiên cứu nhất (khoảng 23 km về phía Tây Bắc), đặc biệt là có sự tương đồng về đặc điểm khí hậu. Chính vì vậy chúng tôi quyết định sử dụng số liệu quan trắc tại trạm quan trắc khí tượng thành phố Hòa Bình từ năm 1985 đến nay. Nhiệt độ Nghiên cứu về nhiệt độ, chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu nhiệt độ trung bình hàng năm từ 1985 đến nay của thành phố Hòa Bình để biết được diễn biến trong 25 năm qua, kết quả thể hiện bảng phụ lục 1 và được biểu diễn dưới dạng đồ thị (hình 3.1) Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn nhiệt độ trung bình hàng năm (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn TP Hòa Bình) Qua Hình 3.1, cho thấy nhiệt độ trung bình năm trong 25 năm qua có những biến động tăng dần qua từng năm giao động từ 22,50C đến 24,50C. Phương trình biểu diễn nhiệt độ trung bình hàng năm (từ 1985 đến nay) như sau y = 0.0228x + 23.451 (R 2 = 0.1478) Qua phương trình và đồ thị cho thấy, sự biến động của nhiệt độ trung bình năm tại thành phố Hòa Bình phù hợp với xu thế biến động nhiệt độ trung bình năm của 90 năm (1990 -2001) tại vùng Tây Bắc của Nguyễn Đức Ngữ (2008) Tần suất xuất hiện nhiệt độ cao trên 390C - 400C là 12 lần/26 năm đặc biệt từ năm 2005 đến nay xuất hiện nhiều hơn. Nhiệt độ thấp nhất dưới 100C hầu như năm nào cũng xuất hiện 24lần/26 năm, nhiệt độ thấp này có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng phát triển của cây trồng vật nuôi. Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), nhiệt độ có tác dụng đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu. Trong phạm vi giới hạn (20-300C), nhiệt độ càng tăng cây lúa phát triển càng mạnh. Nhiệt độ trên 400C hoặc dưới 170C, cây lúa tăng trưởng chậm lại. Dưới 130C cây lúa ngừng sinh trưởng, nếu kéo dài 1 tuần cây lúa sẽ chết. Đặt biệt ở giai đoạn mạ, nhiệt độ thấp làm giảm hoặc ngưng hẳn sự nẩy mầm của hạt, làm mạ chậm phát triển, cây mạ ốm yếu, bị lùn, lá bị mất màu. Đối với mía, nhiệt độ bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng của cây mía là 15-260C. Giống mía nhiệt đới sinh trưởng chậm khi nhiệt độ dưới 210C và ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ 130C và dưới 50C thì cây sẽ chết, ở thời kì nảy mầm mía cần nhiệt độ trên 150C tốt nhất là từ 260C - 330C. Mía nảy mầm kém ở nhiệt độ dưới 150C và trên 400C Nhiệt độ thấp kéo dài cũng là nguyên nhân dẫn tới gia súc bị chết rét, năm 2008 xã Tây Phong chết 37 con trâu bò (UBND xã Tây Phong, 2008). Theo số liệu thống kê từ năm 2000 đến nay cho thấy, số ngày có nhiệt độ thấp dưới 150C, đặc biệt nhiệt độ dưới 100C có diễn biến tăng dần, kết quả được thể hiện qua Hình 3.2 và Hình 3.3 Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn số ngày có nhiệt độ < 150C (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn TP Hòa Bình) Hình 3.3: Đồ thị biểu diễn số ngày có nhiệt độ < 100C (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn TP Hòa Bình) Qua Hình 3.2 và Hình 3.3 thấy rằng, số ngày rét đậm rét hại có diễn biến tăng dần với cường độ khắc nghiệt hơn, phương trình diễn số ngày có nhiệt độ <150C có dạng: y = 0.8497x + 4.2273 (R2 = 0.3508) y = 0.0228x + 23.451 R 2 = 0.1478 21.5 22.0 22.5 23.0 23.5 24.0 24.5 25.0 19 85 19 86 19 87 19 88 19 89 19 90 19 91 19 92 19 93 19 94 19 95 19 96 19 97 19 98 19 99 20 00 20 01 20 02 20 03 20 04 20 05 20 06 20 07 20 08 20 09 20 10 20 11 Năm Nh iệt độ (đ ộ C ) Nhiệt độ TB năm Linear (Nhiệt độ TB năm) y = 0.8497x + 4.2273 R2 = 0.3508 0 5 10 15 20 25 200 0 200 1 200 2 200 3 200 4 200 5 200 6 200 7 200 8 200 9 201 0 201 1 Năm Số ng ày Số ngày có nhiệt độ <15 độ C Linear (Số ngày có nhiệt độ <15 độ C) y = 0.4545x + 2.2121 R2 = 0.1721 0 2 4 6 8 10 12 14 20 00 20 01 20 02 20 03 20 04 20 05 20 06 20 07 20 08 20 09 20 10 20 11 Năm Số ng ày Số ngày có nhiệt độ < 10 độ C Linear (Số ngày có nhiệt độ < 10 độ C) Phương trình diễn biến số ngày có nhiệt độ <10 0C có dạng: y = 0.4545x + 2.2121 (R2= 0.1721) Từ những kết quả trên cho thấy, nhiệt độ thấp trong năm kéo dài (rét đậm, rét hại) ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng phát triển cây trồng vật nuôi, chúng góp phần làm giảm năng suất, chất lượng cây trồng, làm chết gia súc làm giảm thu nhập của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo, làm cho họ khó khăn hơn, dễ bị tổn thương hơn (tài lực, vật lực). Kết quả quan trắc này cũng phù hợp với thông tin thu được từ cộng đồng tham khảo (bảng 3.5)  Lượng mưa Lượng mưa là yếu tố khí hậu quan trọng, nó phản ánh các hiện tượng khí hậu cực đoan như hạn hán, mưa lũ trong năm. Kết quả lượng mưa từ năm 1985 đến nay được thể hiện phụ lục 2 và diễn biến lượng mưa trung bình hàng năm được thể hiện qua đồ thị sau Hình 3.4: Đồ thị biểu diễn lƣợng mƣa trung bình hàng năm (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn TP Hòa Bình) Qua Hình 3.4 ta thấy, diễn biến lượng mưa từ 1985 đến nay có chiều hướng ổn định, có dạng phương trình: Y = 2.881x + 1777.4 (R2 = 0.004). Diễn biến này phù hợp với xu thế lượng mưa trung bình năm của 90 năm (1990 - 2001) tại vùng Tây Bắc của Nguyễn Đức Ngữ (2008). Nhưng từ năm 2005 đến nay lượng mưa trung bình có diễn biến giảm so với giai đoạn trước đó. Hình 3.5: Đồ thị biểu diễn số tháng có lƣợng mƣa <150 mm (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn TP Hòa Bình) Qua Hình 3.5 cho thấy, số tháng có lượng mưa thấp hơn 150 mm tăng rõ rệt qua các năm diễn biến tăng dần các tháng được thể hiện qua phương trình: y = 0.0274x + 2.3231 (R2 = 0.0508) Qua kết quả này cho thấy rằng, tình hình hạn hán ở đây có chiều hướng tăng lên cả về thời gian và cường độ, kết quả này cũng phù hợp với kết quả điều tra thực địa tại xã Tây Phong nó làm thay đổi lịch thời vụ, thay đổi cơ cấu cây trồng, ảnh hưởng năng suất, chất lượng, diện tích cây trồng như cây lúa, nó tác động mạnh mẽ tới nguồn sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo là hộ dễ bị tổn thương. 3.1.2. Các hiện tượng khí hậu cực đoan Thông qua khảo sát tại cộng đồng kết hợp với thu thập số liệu từ các báo cáo phát triển kinh tế xã hội của xã Tây Phong và báo cáo phòng chống bão lũ của huyện Cao Phong (từ năm 2004 đến nay) thấy rằng, các hiện tượng khí hậu cực đoan do tác động của biến đổi khí hậu ở đây chủ yếu là các hiện tượng mưa lũ, hạn hán, rét đậm rét hại và mưa đá. Các hiện tượng này có những biến đổi bất thường có nhiều thay đổi, chúng tác động không nhỏ tới sinh kế của người dân đặc biệt là hộ nghèo. Hạn hán là hiện tượng khí hậu cực đoan gây y = 2.881x + 1777.4 R 2 = 0.004 0 500 1000 1500 2000 2500 3000 19 85 19 87 19 89 19 91 19 93 19 95 19 97 19 99 20 01 20 03 20 05 20 07 20 09 20 11 Năm Lư ợn g m ưa (m m) T. lượng mưa TB năm Linear (T. lượng mưa TB năm) y = 0.0274x + 2.3231 R2 = 0.0508 0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4 4.5 19 85 19 87 19 89 19 91 19 93 19 95 19 97 19 99 20 01 20 03 20 05 20 07 20 09 Năm Số th án g Số tháng có lượn mưa <150 mm Linear (Số tháng có lượng mưa <150 mm) hại lớn nhất với tần suất tăng hơn so với 5 năm trước 2-4 lần/năm tiếp đó là mưa lũ với 1- 3 lần/năm. Bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia và sử dụng công cụ biểu đồ lịch sử kết hợp với phỏng vấn bán cấu trúc, chúng tôi đã tìm hiểu về các hiện tượng khí hậu cực đoan trong thời gian là 25 năm qua và các tác động của chúng tới cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo Qua kết quả nghiên cứu tại cộng đồng kết hợp với kết quả phân tích số liệu quan trắc cho thấy các hiện tượng khí hậu cực đoan ở đây chủ yếu là hạn hán, rét đậm rét hại và mưa lũ, chúng xuất hiện nhiều hơn, khắc nghiệt hơn ảnh hưởng tới cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo như: năng suất cây trồng giảm, gia súc chết rét dẫn tới số tháng thiếu ăn tăng lên. 3.2. Các nguồn sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo Thông qua phỏng vấn tại cộng đồng (90 hộ nghèo, 10 cán bộ thôn, 5 cán xã, 1 cán bộ huyện) và khảo sát thực địa chúng tôi thấy rằng nguồn sinh kế của cộng đồng nói chung và hộ nghèo nói riêng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trong đó trồng trọt là chính. Bảng 3.1: Nguồn sinh kế Nguồn sinh kế Đơn vị tính Trung bình toàn xã Hộ nghèo Tổng thu nhập bình quân trên đầu ngƣời Đồng/ngư ời/năm 9.000.000 2.000.00 0 - 2.500.00 0 Trồng trọt % 75 85 o Lúa % 15 25 o Ngô % 5 10 o Mía % 53 50 o Khác % 2 0 Chăn nuôi % 20 10 o Chăn nuôi lợn % 13 7 o Chăn nuôi gia cầm % 5 3 o Chăn nuôi gia súc % 2 0 Lâm nghiệp % 4 0 Dịch vụ thƣơng mại % Khác % 1 5 (Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa xã Tây Phong, 2011) Qua bảng bảng 3.4 cho thấy, nguồn sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp chiếm 95%, trong đó trồng trọt chiếm 75-85%, chăn nuôi chiếm 10-20%. Hộ nghèo có thu nhập thấp hơn với thu nhập chung toàn xã chỉ đạt 2.000.000 – 2.500.000 đồng/người/năm, qua điều tra cho thấy hộ nghèo cũng có nguồn lực hạn chế như: thiếu đất canh tác, thiếu sức kéo, thiếu phương tiện đi lại, tiếp cận thông tin kém... 3.3. Tác động của các hiện tƣợng khí hậu cực đoan tới sinh kế của hộ nghèo Qua phỏng vấn trực tiếp kết hợp với thảo luận nhóm các hộ nghèo về mức độ và tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan tới hoạt động sản xuất nông nghiệp của hộ nghèo, kết quả được thể hiện ở bảng sau: Bảng 3.2: Bảng tổng hợp đánh giá mức độ và tác động của các hiện tƣợng khí hậu cực đoan tới nông nghiệp của hộ nghèo Đối tƣợng bị tác động Các hiện tƣợng khí hậu cực đoan Hạn hán Mƣa lũ Rét đậm, rét hại Mức độ tác động Các tác động Mức độ tác động Các tác động Mức độ tác động Các tác động Lúa Mức độ cao Giảm diện tích lúa - Giảm năng suất - Sâu bệnh tăng Mức độ cao - Mất trắng - Giảm năng suất Mức độ trung bình Tăng chi phí Ngô Mức độ trung bình Giảm năng suất Mức độ thấp Mức độ thấp Mía Mức độ trung bình Làm chết mía ở giai đoạn trồng Mức độ cao Mất trắng Giảm năng suất Mức độ trung bình Tăng chi phí CN lợn Mức độ thấp Mức độ thấp Mức độ trung bình CN gia cầm Mức độ thấp Mức độ thấp Mức độ trung bình CN gia súc Mức độ thấp Mức độ thấp Mức độ cao Làm chết (Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa xã Tây Phong, 2011) Thông qua các cuộc họp với các hộ nghèo, chúng tôi đã tiến hành xây dựng và thống nhất người dân trên địa bàn nghiên cứu các tiêu chí đánh giá tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan với 100% số người đồng ý cụ thể như sau: Mức độ tác động cao là mức làm mất trắng 1000 m2/năm/hộ trở lên, giảm diện tích, giảm năng suất từ 30% trở lên đối với cây trồng, làm chết 2 con trâu trở lên/năm/hộ đối với vật nuôi. Mức độ tác động trung bình là mức làm mất trắng từ 200-1000 m2/năm/hộ, giảm diện tích, giảm năng suất từ 20-30% đối với cây trồng, làm chết 1 con trâu/năm/hộ đối với vật nuôi. Mức độ tác động thấp là mức làm mất trắng dưới 200 m2/năm/hộ, giảm diện tích, giảm năng suất dưới 10% đối với cây trồng. Qua bảng trên ta thấy rằng, hạn hán và mưa lũ là hai hiện tượng khí hậu cực đoan tác động lớn nhất tới sinh kế của hộ nghèo. Hạn hán tác động tới trồng lúa ở mức độ cao làm giảm năng suất, giảm diện tích, góp phần gia tăng sâu bệnh. Đối với ngô và mía, hạn hán tác động ở mức trung bình làm giảm năng suất đối với ngô, làm chết mía ở giai đoạn trồng. Đối với chăn nuôi, tác động là không đáng kể. Mưa lũ cũng tác động rất lớn tới cây trồng đặc biệt là lúa và mía, chúng làm mất trắng, giảm năng suất, giảm giá trị. Đối với chăn nuôi, mưa lũ chỉ có tác động rất nhỏ. Bên cạnh hạn hán và mưa lũ, rét đậm rét hại cũng tác động rất lớn tới sản xuất nông nghiệp của hộ dân trong đó chăn nuôi làm chết rất nhiều gia súc lớn, trồng lúa và trồng mía bị tác động ở mức trung bình cụ thể làm tăng chi phí đầu vào sản suất như gieo mạ nhiều lần, trồng lại mía… Không những gây thiệt hại trực tiếp tới nguồn thu nhập của bà con, các hiện tượng khí hậu cực đoan còn tác động tới tập quán canh tác, thay đổi lịch thời vụ ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất, chất lượng cây trồng. Qua điều tra cho thấy trong những năm trở lại đây lịch thời vụ bị dịch chuyển do các hiện tượng khí hậu đặc biệt là hạn hán từ 1 – 1,5 tháng. Sự dịch chuyển này là rất bất lợi cho cây trồng đặc biệt là trồng lúa, nó làm giảm năng suất, gia tăng sâu bệnh…Điều đặc biệt hơn nữa là bà con bị mất một vụ đông do không thể cấy sớm hơn dự kiến, như vậy thu nhập của bà con giảm xuống rõ rệt (ước tính khoảng 20% thu nhập so với trước đó). Như đã phân tích ở trên kết hợp với kết quả thu được từ bảng 3.8 và 3.9 cho thấy, các hiện tượng thời tiết cực đoan đặc biệt là hạn hán ảnh hưởng rất rõ rệt tới sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo: năng suất lúa giảm 10-30% so với trước khi xuất hiện, năng suất ngô giảm từ 45 tạ/ha đầu năm 2009 xuống còn 35 tạ/ha 6 tháng cuối năm 2009 (UBND xã Tây Phong, 2009). Bên cạnh đó lịch thời vụ bị thay đổi, cây trồng không được gieo trồng đúng thời vụ đây cũng là nguyên nhân dẫn tới sâu bệnh gây hại ngày càng nhiều (dịch Rầy gây hại lúa, 2010, bệnh vàng lùn sọc đen hại lúa 2009, 2010). Đặc biệt nghiêm trọng hơn là diện tích lúa chuyển đổi sang trồng mía là rất lớn: năm 2004 là 157,3 ha đến năm 2009 chỉ còn 56,5 ha (UBND xã Tây Phong, 2009). Qua hình trên ta thấy, diện tích lúa giảm là do 2 nguyên nhân chính: i) hạn hán kéo dài không có nước để trồng lúa trên các diện tích ruộng bậc thang vốn dĩ mất nước rất nhanh, ii) mía trong mấy năm gần đây được giá so với các cây trồng khác mặc dù đầu tư lớn nhưng người dân vẫn chọn cây mía làm cây để sản xuất. Như chúng ta cũng biết, lúa là cây trồng cung cấp lương thực cho người dân đặc biệt là hộ nghèo mặc dù trồng lúa không mang lại kinh tế cao nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn về mặt an toàn lương thực, an sinh xã hội. Qua phỏng vấn các hộ dân thấy rằng, 100% các hộ đều trả lời nếu có đủ nước sẽ tiếp tục trồng lúa để đảm bảo lương thực. Mía là cây trồng mang lại lợi nhuận cao hơn một số cây trồng khác khi thị trường ổn định bán được giá cao, nhưng nếu rớt giá thì nông dân gặp rất nhiều rủi ro. Bên cạnh đó, đầu tư cho mía là gánh nặng đối với các hộ nghèo (gấp 6-7 lần so với trồng lúa) và đây cũng là nguy cơ tiềm ẩn gây ra những tổn thương khi mất mùa hay rớt giá. Mía là cây trồng gây hại cho đất: cứ 2 năm trồng mía thì phải cho đất nghỉ một năm (phỏng vấn hộ dân), cây mía cũng là cây trồng yêu cầu đầu tư phân bón hóa học cao, cần sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, nếu không có biện pháp canh tác hợp lý sẽ gây tác động nguy hại tới môi trường đặc biệt là môi trường đất. Dầu tư cho sản xuất mía gấp 6-7 lần trồng lúa nhưng lợi nhuận thu được trên cùng một đơn vị diện tích cùng một thời gian chỉ gấp 2 lần trồng lúa. Điều này minh chứng rằng diện tích lúa giảm không chỉ bởi trồng mía thu được nhiều lợi nhuận. Như vậy, hạn hán là nguyên nhân lớn dẫn tới diện thích lúa giảm, ảnh hưởng tới an ninh lương thực và an sinh xã hội. Điều này phù hợp với kết quả điều tra: hộ nghèo là đối tượng chịu tác động lớn nhất bởi những hiện tượng khí hậu cực đoan và được thể hệ qua bảng sau: Bảng 3.3: Bảng xếp hạng loại hộ bị ảnh hƣởng bởi các hiện tƣợng khí hậu cực đoan Loại hộ Khá Trung bình Nghèo Xếp hạng 3 2 1 (Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa xã Tây Phong, 2011) Qua bảng trên cho thấy, hộ nghèo bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các hiện tượng khí hậu cực đoan tương ứng với số 1, các hộ trung bình bị ảnh hưởng ít hơn tương ứng với số 2, các hộ khá bị ảnh hưởng ít nhất tương ứng với số 3. Bằng phương pháp vẽ bản đồ và phương pháp cho điểm đánh giá mức độ tổn thương do tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu thấy rằng, các xóm có tỷ lệ hộ nghèo cao cũng là những nơi bị ảnh hưởng lớn do các hiện tượng khí hậu cực đoan, duy chỉ có 2 xóm Chao và xóm Khạ có tỷ lệ hộ nghèo cao mà không bị ảnh hưởng nhiều do các hiện tượng khí hậu cực đoan. Qua khảo sát thực tế thấy rằng, 2 xóm này có địa hình cao, giáp với núi đá nên diện tích trồng trọt ít và gần nguồn nước hơn, ít bị ảnh hưởng bởi hạn hán và mưa lũ. 3.4. Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu 3.4.1 Năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của chính quyền địa phương Hiện nay, tỉnh Hòa Bình nói chung, huyện Cao Phong nói riêng chưa có bộ phận phụ trách việc phòng chống hay thích ứng với BĐKH mà các hoạt động dựa vào ban phòng chống lũ bão ở các cấp từ tỉnh tới xã. Năng lực nhân lực: Cấp huyện: Chủ tịch UBND huyện là Trưởng ban phòng chống bão lũ huyện, Phó ban là các phó chủ tịch UBND huyện và Trưởng phòng NN&PTNT là phó ban trường trực, Ủy viên là trưởng các phòng ban ngành trong toàn huyện, chủ tịch UBND các xã, thị trấn. Cấp xã: Trưởng ban là Chủ tịch UBND xã, Ủy viên gồm xã đội trưởng, công an xã, đoàn thanh niên, trưởng xóm các thôn, đại diện phụ nữ xã Cấp thôn: Trưởng ban là Trưởng thôn, Ủy viên gồm công an viên thôn, chi hội trưởng hội nông dân, đoàn thanh niên, đại diện hội phụ nữ, đại diện hội cựu chiến binh thôn. Năng lực tài chính: Cấp huyện: Theo cán bộ NN&PTNT huyện Cao Phong cho biết, huyện được hỗ trợ 90 triệu đồng/năm từ vốn ngân sách nhà nước phục vụ cho công tác phòng chống bão lũ để mua các dụng cụ như: quốc, xẻng, bao tải, đèn pin, quần áo bảo hộ lao động, công trực phòng chống lũ bão… Cấp xã, thôn: Hiện nay, ở cấp xã chưa có kinh phí phân bổ phục phục vụ cho công tác phòng chống bão lũ. Năng lực chuyên môn Cấp huyện: Theo cán bộ NN&PTNT huyện Cao Phong cho biết, Ban phòng chống bão lũ huyện được tập huấn 1 lần/2-3 năm về các tình huống xử lý lũ bão khi xảy ra. Cấp xã: Trưởng ban phòng chống bão lũ xã 2 – 3 năm được tập huấn 1 lần về các tình huống xử lý lũ bão khi xảy ra, khi xảy ra thiên tai. Năng lực thông tin: Hiện nay, xã Tây Phong có hệ thống thông tin liên lạc hoạt động tốt khi sự cố xảy ra hoặc triển khai công tác phòng chống bão lũ đều được thông báo cho cấp huyện kịp thời xử lý và ngược lại. Quy trình triển khai công tác phòng chống lũ bão: Ban phòng chống lũ bão huyện phân công cán bộ trực phòng chống bão lũ 24/24 tại trụ sở. Khi xảy ra thiên tai, cấp huyện chỉ đạo trực tiếp xuống cấp xã triển khai công tác phòng chống bão lũ và thực hiện theo nguyên tắc 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, vật tư - phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ). Hạn chế Năng lực chuyên môn: Công tác phòng chống lũ bão tại địa phương còn mang tính sự vụ, chưa có kế hoạch chiến lược cụ thể. Tập huấn công tác phòng chống bão lũ còn ít, chưa được tập huấn nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu. Chính sách: Chưa có chính sách hỗ trợ tài chính phòng chống lũ bão cho cấp xã Tài chính: Theo cán bộ NN&PTNT huyện Cao Phong cho biết, tài chính dành cho phòng chống bão lũ là rất ít, không đủ để triển khai hỗ trợ tới tất các các xã phường trên địa bàn. 3.4.2 Năng lực thích ứng của hộ nghèo với biến đổi khí hậu Qua phỏng vấn 90 hộ dân và lãnh đạo địa phương, tác giả đã thống kê về sự hiểu biết chung về biến đổi khí hậu (khí hậu cực đoan, thiên tai) kết quả được thể hiện bảng sau: Bảng 3.4: Bảng tổng hợp đánh giá nhận thức ngƣời dân xã Tây Phong về BĐKH Nhận thức của ngƣời dân Số ngƣời trả lời Tỷ lệ Nguồn thông tin Không biết gì 55/95 57,8 % Biết một vài thông tin 45/95 42,2% Tivi, đài báo Biết rất rõ 0 0 (Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa xã Tây Phong, 2011) Nhìn chung, sự nhận thức rõ ràng của người dân về biến đổi khí hậu còn hạn chế, họ chỉ biết một số thông tin về biến đổi khí hậu thông qua phương tiện thông tin đại chúng, 100% người dân được hỏi chưa được tham gia bất kỳ cuộc truyền thông, hội thảo hay tập huấn về biến đổi khí hậu. Họ chưa nhận thức được rằng, các hiện tượng khí hậu cực đoan như hạn hán, mưa lũ, rét đậm rét hại… là các biểu hiện của BĐKH. Qua kết quả phỏng vấn thấy rằng, năng lực thích ứng của hộ nghèo được trình bày qua bảng sau: Bảng 3.5: Năng lực thích ứng của hộ nghèo Loại hiện tƣợng khí hậu cực đoan Năng lực thích ứng của hộ nghèo Điểm mạnh Hạn chế Hạn hán, mưa lũ, rét đậm rét hại Năng lực về tài chính: Thu nhập từ 2 triệu – 2,5 triệu động/người/năm. 70% số hộ nghèo phỏng vấn được vay vốn với vốn vay trung bình từ 2-5 triệu đồng/hộ với lãi suất ưu đãi (0,6%/năm) để đầu tư sản xuất từ Ngân hàng chính sách. Số vốn vay và hộ nghèo được vay còn ít so nhu cầu vay vốn của hộ nghèo Năng lực về kiến thức - Hàng năm hộ nghèo được tập huấn sử dụng vốn theo chương trình vay vốn của Ngân hàng chính sách. - 100% hộ nghèo được hỏi đều biết cách chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng mía - 100% hộ nghèo cho rằng số buổi tập huấn còn ít, thời gian tập huấn ngắn, nội dung tập huấn chưa sát với thực tế nhu cầu của nông dân - 77% hộ nghèo được hỏi chưa thực hiện thành thục hoạch toán trong đầu tư sản xuất - 100% hộ nghèo chưa biết sử dụng kỹ thuật phòng trừ dịch hại cho mía, kỹ thuật bón phân cho mía đúng cách… - 100% chưa biết cách áp dụng kỹ thuật phối trộn thức ăn, phòng trừ dịch bện đúng kỹ thuật - 100% chưa áp dụng đúng kỹ thuật bón phân cho lúa và phòng trừ dịch hại Năng lực về thông tin 67% hộ nghèo được hỏi có đài hoặc ti vi 100% hộ nghèo trả lời chưa được tiếp cận với các kênh thông tin về thị trường hay tư vấn kỹ thuật (Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra thực địa xã Tây Phong, 2011) Qua bảng trên cho thấy năng lực thích ứng của hộ nghèo còn nhiều hạn chế, họ chưa có khả năng thích ứng tốt với biến đổi khí hậu. 3.5. Đề xuất các cơ sở thích ứng với khí hậu cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu Qua các kết quả thu thập, điều tra và phân tích đã trình bày ở các phần trên, chúng tôi xin đề xuất một số cơ sở về tài chính, năng lực kỹ thuật, nhân lực, thông tin, chính sách… để làm tăng khả năng thích ứng với hiện tượng khí hậu cực đoan trong bối cảnh BĐKH, đặc biệt là hộ nghèo.  Tài chính Đối với cấp chính quyền địa phương: Cần có chính sách hỗ trợ tài chính cho ban phòng chống bão lũ cấp xã để triển khai công tác phòng chống bão lũ tránh các tổn thất đối với người dân. Đối với hộ nghèo: Ngân hàng chính sách xã hội huyện cần tạo điều kiện để số hộ nghèo được vay vốn nhiều hơn với vốn vay lớn hơn để hộ nghèo chủ động động hơn trong việc đầu tư tái sản xuất. Tiếp tục duy trì phát triển các nguồn sinh kế sẵn có bên cạnh phát triển các nguồn sinh kế khác như phát triển chăn nuôi, lâm nghiệp…  Năng lực kỹ thuật Đối với cấp chính quyền địa phương: Cần nâng cao kiến thức cho cán bộ phòng chống bão lũ địa phương đặc biệt là cấp xã thông qua các cuộc tập huấn về phòng chống bão lũ, thích ứng với hiện thượng khí hậu cực đoan. Cần có kế hoạch phòng chống bão lũ cụ thể và hiệu quả. Đối với các hộ nghèo: Nâng kiến thức, kỹ năng sử dụng vốn, kỹ thuật canh tác cải tiến cho lúa và mía thông qua các buổi tập huấn, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm.  Thông tin Duy trì hệ thống thông tin liên lạc thường xuyên giữa xã Tây Phong và Ban phòng chống bão lũ huyện Cao Phong, tiếp tục thực hiện việc trực phòng chống và thực hiện theo nguyên tắc 4 tại chỗ. Chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể xã hội như Hội cực chiến binh, Hội nông dân, Hội Phụ nữ tuyên truyền phổ biến các thông tin cho các hộ nghèo không có điều kiện tiếp cập với các nguồn thông tin về giá cả thị trường, tư vấn kỹ thuật. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Kết luận 1) Xã Tây Phong có đặc điểm khí hậu đặc trưng của vùng, nhiệt độ trung bình từ 1985 trở lại đây dao động từ 22,50 C đến 24,50 C có diễn biến tăng dần, số ngày có nhiệt độ <100C và <15 0C cũng có chiều tăng trong 10 năm trở lại dây.Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1082 mm (1991) đến 2507 mm (2005) nhưng chỉ tập chung vào các tháng giữa năm từ tháng 5 đến tháng 9, số tháng có lượng mưa <150 mm có diễn biến tăng dần; 2) Có 4 loại hiện tượng khí hậu cực đoan là: Mưa lũ, hạn hán, rét đậm rét hại và mưa đá, trong đó tần suất xuất hiện và mức độ ảnh hưởng lần lượt là hạn hán, mưa lũ và rét đậm rét hại, chúng có tác động mạnh mẽ tới sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo như giảm năng suất, giảm diện tích lúa, thay đổi lịch thời vụ, sâu bệnh tăng, chết gia súc, đổ nhà…. 3) Nguồn sinh kế của cộng đồng đặc biệt là hộ nghèo chủ yếu là trồng trọt chiếm 80% tập trung vào 2 loại cây trồng chính là lúa và mía. Tỷ lệ chăn nuôi là rất nhỏ trong sinh kế của hộ gia đình đặc biệt là hộ nghèo chỉ chiếm 10% trong tổng thu nhập. Hộ nghèo cũng là hộ bị tổn thương nhiều nhất bởi tác động của hiện tượng khí hậu cực đoan; 4) Năng lực thích ứng của cộng đồng xã Tây Phong trong đó có hộ nghèo còn nhiều khó khăn mặc dù đã được cải thiện trong khoảng 5 năm trở lại đây với sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương như: tài chính, kỹ thuật khi xảy ra sự cố. Hầu hết các hộ được hỏi đều không biết hoặc biết rất ít về biến đổi khí hậu, họ chưa nhận thức được rằng biến đổi khí hậu có các biểu hiện như các hiện tượng khí hậu cực đoan: hạn hán, mưa lũ, rét đậm rét hại… các hoạt động thích ứng chỉ mang tính thời vụ chưa có kế hoạch cụ thể. Khuyến nghị 1) Cần tiếp tục nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn, thời gian dài hơn về khả năng tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu; Đối với các cấp chính quyền địa phƣơng 2) Cần đưa kế hoạch phòng chống bão lũ hàng năm vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương để tăng cường khả năng thích ứng với các hiện tượng khí hậu cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu; 3) Thường xuyên tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực đối phó với với thiên tai nói chung và lũ lụt nói riêng cho cán bộ quản lý và cộng đồng dân cư; 4) Quy hoạch vùng sản xuất mía, tránh việc sản xuất tràn lan kết hợp với canh tác hợp lý bảo vệ đất như trồng xen với cây họ đậu, luân canh, hạn chế sử dụng phân hóa hóa học, tăng cường sử dụng phân vi sinh; 5) Bảo vệ rừng đầu nguồn, nâng cao hiệu quả của hệ thống tưới bằng cách cải tạo và nâng cấp hệ thống bai đập, kênh mương nội đồng; 6) Đối với hộ nghèo cần có chính sách hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật để hộ nghèo phát triển kinh tế, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; 7) Bên cạnh việc nâng cao nhận thức cho người dân về biến đổi khí hậu cần nâng cao kiến thức cũng như kỹ năng sản xuất tăng thu nhập, sử dụng vốn hợp lý thông qua các cuộc tập huấn kỹ thuật, hội thảo, xây dựng mô hình đặc biệt là các lớp tập huấn IPM, ICM trên lúa, trên mía, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tránh ô nhiễm môi trường; 8) Phát triển chăn nuôi lợn, gia cầm để đa dạng nguồn sinh kế của cộng động đặc biệt là hộ nghèo, giảm áp lực lên trồng trọt hạn chế rủi ro, nâng cao khả năng chống chịu với thiên tai. Đối với ngƣời dân 9) Nâng cao nhận thức của người dân về thích ứng với các hiện thượng khí hậu cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu thông qua các hội thảo, phương tiện truyền thông về các biện pháp phòng tránh thiên tai; 10) Phát huy tinh thần tự lực trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu, tích cực sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh, hạn chế sử dụng phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, áp dụng đúng kỹ thuật bảo vệ đất, phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia cầm tạo ra sinh kế bền vững. References Tài liệu tiếng Việt 1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu. 2. Cục trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2010. Báo cáo thích ứng của ngành trồng trọt với biến đổi khí hậu ở Việt Nam. 3. CARE International, 2009. Cẩm nang phân tích khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu. 4. Nguyễn Ngọc Đệ, 2010. Giáo trình cây Ngô, Trường đại học Cần Thơ. 5. Trương Quang Học và Per Bertilsson, 2008. Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Bộ Tài nguyên Môi trường. 6. Nguyễn Đức Ngữ (chủ biên), 2008. Biến đổi khí hậu. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 7. Đặng Đình Khá 2011, luận văn thạc sĩ “nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do lũ lụt hạ lưu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị”, Đại học khoa học tự nhiên, ĐHQGHN. 8. Mai Kim Liên, 2010 luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến phát triển kinh tế, xã hội Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”, ĐHQGHN. 9. Ngân hàng thế giới, 2010. Báo cáo nghiên cứu chính sách 5342. Tổ nghiên cứu Môi trường và Năng lượng. 10. Lâm Thị Thu Sửu, Phạm Thị Diệu My, Philip Bubeck và Annelieke Douma, 2010. Báo cáo nghiên cứu “thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng, Tổ chức CSRD. 11. Oxfam tại Việt Nam, 2009. Báo đánh giá thích ứng với biến đổi khí hậu tại Lào Cai, Nghệ An, Quảng Trị và Bến Tre. 12. Lê Nguyên Tường và nnk, 2008. Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường. 13. UBND xã Tây phong, báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội từ năm 2004 đến 2009 14. UNDP, 2008, Báo cáo người nghèo thích ứng với biến đổi khí hậu nghiên cứu tại 4 xã ven biển các tỉnh Hà Tĩnh và Ninh thuận, Việt Nam. 15. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, 2011. Tài liệu hướng dẫn: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng. Tài liệu tiếng anh 16. Australian Government Department of Climate Change and Energy Efficiency, 2011. Hunter & Central Coasts New South Wales – Vulnerability to climate change impacts. 17. Alex de Sherbinin, Andrew Schiller and Alex Pulsipher (Eds.), 2007. The vulnerability of global cities to climate hazards, Environment & UrbanizationVol. 19, No. 1, Publications Ltd, Colombia. 18. Brian Blankespoor, Susmita Dasgupta,(Eds.), 2010, Adaptation to Climate Extremes in Developing Countries, The World Bank. 19. Carlos J. Perez, Raffaele Vignola and Hernan Perez E, 2007. Community based adaptation to climate variability and change in agriculture and water resources in the dry tropics of Nicaragua, Tropical Agricultural Reasearch and Higher Education Cente, Costa Rica. 20. CARE International, 2010. Community-Based Adaptation Toolkit Digital Toolkit – Version 1.0 – July. 21. Daniel G. Huber and Jay Gulledge, 2011. Extreme weather & climate change: understanding the link and managing the risk, Center for Climate and Energy Solutions. 22. Department for International Development - DFID, 2001. Sustainable livelihoods guidance sheets, UK. 23. Hannah Reid (Eds), 2009, Community-based adaptation to climate change, International Institute for Environment and Development, Russell Press, Nottingham, UK. 24. Hari Bansha Dulal ( Eds), 2010, Do the poor have what they need to adapt to climate change, Local Environment, Vol. 15, No. 7, The World Bank. 25. Heru Santoso, 2007. A rapid vulnerability assessment method for designing national strategies and plans of adaptation to climate change and climate variability, Center for International Forestry Research (CIFOR), Indonesia. 26. Helal Ahammad, 2007. Consumer Magazine, Department of Resource Economics and Agriculture in Australia (ABARE), Vol.14, No.1,Canberra, Australia. 27. Hennessy K. (Eds), 2008. An assessment of the impact of climate change on the nature and frequency of exceptional climatic events, Commonwealth Scientific and Industrial Research Organisation, Australia. 28. IPCC, 2007: Climate Change: Synthesis Report. Contribution of Working Groups I, II and III to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change. 29. Noralene Uy, Yukiko Takeuchi và Rajib Shaw, 2011. Local adaptation for livelihood resilience in Albay, Philippines Environmental Hazards, vol 10, Philippines. 30. Oxfam Internationa, 2007. Climate Alarm Disasters increase as climate change bites. 31. Rosamond L. Naylor, Rosamond L. Naylor, (Eds.), 2007. Assessing risks of climate variability and climate change for Indonesian rice agriculture, Stanford University. 32. Siri E.H. Eriksen, 2007. Report for Cooperation and Development Norway (Norad), Global Environmental Change and Human Security (GECHS), University of Oslo, Norway. 33. UNEP RRCAP, 2011, Climate Change Adaptation:Finding the appropriate, response, Bangkok, Thailand. Trang web 34. ENT/0,,contentMDK:22923088~menuPK:337184~pagePK:148956~piPK:216618~th eSitePK:337178,00.html

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf01050000529_0719.pdf
Luận văn liên quan