Luận văn Những giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng y tế Nghệ An

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV là một yêu cầu khách quan của sự nghiệp giáo dục đào tạo tại các trường chuyên nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay có dấu hiệu xuống cấp về đạo đức của một bộ phận không nhỏ SV. Thực hiện tốt công tác đạo đức nghề nghiệp cho SV, góp phần đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, tiêu cực về đạo đức nói chung, đạo đức nghề nghiệp nói riêng, xây dựng môi trường SV trong sạch, lành mạnh góp phần hình thành đạo đức nhân cách tốt cho thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ cán bộ "vừa hồng, vừa chuyên". Đối với SV ngành Y, giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đó là hành trang nghề nghiệp của các em trước khi bước vào nghề. Trong bối cảnh hiện nay cả xã hội đang quan tâm đến vấn đề thực hiện y đức của cán bộ, nhân viên ngành Y, vì vậy việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Qua nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV tại Trường CĐYT Nghệ An chúng tôi nhận thấy: 1. Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV của trường CĐYT Nghệ An đã đạt được những kết quả nhất định. Đó là nhà trường đã thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV thông qua việc tổ chức các hoạt động với những hình thức tổ chức phong phú, đa dạng, đã tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của SV, hình thành ở các em những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho lao động của người thầy thuốc sau khi ra trường nhận công tác. Tuy nhiên, còn có một số nội dung chưa được nhà trường thực hiện thường xuyên, hoặc hiệu quả chưa cao. Do vậy, nhà trường cần phải chú trọng, phát huy tác dụng của từng nội dung và biết kết hợp đồng bộ các nội dung, tạo ra sự nhất trí với các lực lượng tham gia giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng. 2. Về phía SV, đa số các em đã nhận thức được các tiêu chuẩn phẩm chất cơ bản đối với lao động của người thầy thuốc, đặc biệt là những phẩm chất đặc trưng cho nghề thầy thuốc được các em lựa chọn cao. Bên cạnh đó, về thái độ của SV đối với nghề y, mức độ yêu nghề và rất yêu nghề tỷ lệ cũng rất cao. Đây là những yếu tố thuận lợi trong công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ SV nhận thức chưa đúng về đạo đức nghề nghiệp của nghề thầy thuốc, do các em chưa yêu thích ngành nghề đã lựa chọn hoặc do bộ phận SV này có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Do vậy nhà trường phải nắm được số lượng SV này và cần có biện pháp giáo dục phù hợp, giúp các em nắm được những phẩm chất nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. 3. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV Trường CĐYT Nghệ An với mục đích cuối cùng của luận văn là nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành Y nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường. Do vậy, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, bổ sung, nội dung và cách thức thực hiện công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV các trường chuyên nghiệp y tế nói chung và Trường CĐYT Nghệ An nói riêng phù hợp với thực tiễn công tác giáo dục đào tạo CBYT của đất nước ta hiện nay. Tuy nhiên, tác dụng mỗi giải pháp có những mức độ khác nhau, vì vậy nhà trường cần vận dụng, lồng ghép, phối kết hợp các giải pháp, các lực lượng giáo dục để đạt kết quả cao nhất.

doc92 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 17/02/2016 | Lượt xem: 1251 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Những giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường cao đẳng y tế Nghệ An, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ôn sùng, chạy theo cuộc sống vật chất tầm thường, biết trân trọng các giá trị tinh thần của nghề thầy thuốc, không lợi dụng vị trí nghề nghiệp để mưu cầu lợi ích cá nhân, biết đặt lợi ích của tập thể, của bệnh nhân lên trên lợi ích của bản thân. Giáo dục lòng yêu thương tôn trọng bệnh nhân: Giúp SV cảm thấy vui sướng khi được tiếp xúc làm việc với bệnh nhân; sẵn sàng chia sẻ hạnh phúc cũng như bất hạnh của bệnh nhân, thương yêu, giàu lòng nhân ái, vị tha đối với bệnh nhân; không định kiến đối xử vói bênh nhân; công bằng trong khám và điều trị với bệnh nhân; là chỗ dựa tinh thần của bệnh nhân, sẵn sàng phối hợp với người nhà bệnh nhân trong điều trị; động viên, an ủi bệnh nhân kịp thời; thương yêu bệnh nhân như con em của mình. Trong giai đoạn hiện nay, lòng yêu thương, tôn trọng bệnh nhân càng được đề cao hơn bao giờ hết. Chỉ có lòng yêu thương, tôn trọng bệnh nhân, người thầy thuốc mới có động lực để vượt qua khó khăn, những cám dỗ, cạm bẫy của đời sống vật chất và hoàn thành nhiệm vụ. Để giáo dục lòng yêu thương, tôn trọng bệnh nhân, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường SV ngành Y cần được tiếp xúc với bệnh nhân, thâm nhập vào công tác khám, chữa bệnh. Lòng yêu thương, tôn trọng bệnh nhân sẽ trở nên bền vững khi SV chính thức được hành nghề thầy thuốc, trải nghiệm và thử thách trước những khó khăn của nghề thầy thuốc. Bên cạnh đó nhìn vào kết quả trên chúng tôi cũng nhận thấy nội dung giáo dục tinh thần sẵn sàng nhận công tác ở những nơi khó khăn không được SV lựa chọn cao. Điều đó có nghĩa là nội dung này chưa được nhà trường quan tâm thực hiện. Đây là một vấn đề trong công tác giáo dục SV của nhà trường, thực ra nội dung này không thể thiếu được trong công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV, nó bổ sung cho bộ mặt đạo đức của người thầy thuốc thêm toàn diện và lý tưởng nghề nghiệp thêm cao cả. Theo chúng tôi, tinh thần sẵn sàng nhận công tác ở những nơi khó khăn, phải được xem là một nội dung quan trọng trong quá trình đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành Y. Bởi vì tại những nơi khó khăn rất cần đến thế hệ trẻ nói chung, SV ngành Y nói riêng. Việc giáo dục tinh thần sẵn sàng nhận công tác ở những nơi khó khăn là sự chuẩn bị tâm lý vững vàng cho SV trước khi ra trường, trước khi nhận công tác. Do vậy nếu làm tốt nội dung giáo dục này, ngành Y tế sẽ giải quyết được một bài toán rất phức tạp hiện nay: thừa thầy thuốc ở thành phố, thị xã, thiếu thầy thuốc ở những nơi khó khăn, vùng sâu vùng xa. Kết luận chương 2 Tìm hiểu thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp ở Trường CĐYT Nghệ An cho thấy, nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV đã được quan tâm, chú trọng và đã đạt được những kết quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Nhà trường đã đào tạo được đội ngũ thầy thuốc có được các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của xã hội và lao động nghề y, được chính quyền địa phương thừa nhận, đánh giá cao và nhân dân tin tưởng. Về cơ bản đội ngũ thầy thuốc do nhà trường đào tạo đã có những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp quan trọng như: có lý tưởng nghề nghiệp cao đẹp, thương yêu, tôn trọng bệnh nhân, bao dung, độ lượng, có ý chí, biết vượt qua những khó khăn của nghề nghiệp để hoàn thành nhiệm vụ với kết quả cao nhất. Tuy nhiên, một số nội dung giáo dục còn chưa phù hợp, các lực lượng tham gia chưa đồng bộ, đặc biệt nhà trường chưa đưa ra đựơc hệ thống các giải pháp giáo dục cho SV, trên cơ sở đó chúng tôi xin đề xuất một số các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV phù hợp với đặc thù của ngành Y và thực tế của nhà trường, góp phần đào tạo người CBYT vừa "hồng", vừa "chuyên", " lương y phải như từ mẫu". Vấn đề này được thực hiện ở chương 3. Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NGHỆ AN Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV là nhiệm vụ hàng đầu trong các trường đại học, cao đẳng và THCN hiện nay. Đây là mối quan tâm và trách nhiệm của ngành Giáo dục Đào tạo, của các trường đại học, cao đẳng và THCN cả nước nói chung và Trường CĐYT Nghệ An nói riêng. Là một trường đào tạo nguồn nhân lực y tế. Vì vậy quan điểm chỉ đạo, lãnh đạo trong suốt quá trình giáo dục đào tạo, phải biết tổ chức triển khai sáng tạo, vận dụng nhuần nhuyễn những quan điểm chung, quan điểm của ngành giáo dục - đào tạo và ngành Y tế đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần thắng lợi sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Việc xác định giải pháp và lựa chọn ưu tiên các giải pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV Trường CĐYT Nghệ An hiện nay là một yêu cầu khách quan của nhà trường. Đây là công việc thường xuyên liên tục và có tính hệ thống thì mới có thể đào tạo ra được những người CBYT đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng trường cao đẳng chỉ có nhiệm vụ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ có trình độ cao thuộc từng lĩnh vực, tuy nhiên đây là yêu cầu quan trọng nhất. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần yêu cầu người cách mạng vừa phải có tài và đức, vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Qua quá trình nghiên cứu, theo chúng tôi, để chuyển tải những nội dung cần giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV có thể sử dụng các giải pháp cơ bản như sau: 3.1. Đổi mới nội dung, biện pháp tổ chức thực hiện công tác giáo dục chính trị - tư tưởng theo hướng gắn liền với đặc thù của ngành Y Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước là một sự nghiệp vĩ đại, quyết định vận mệnh cũng như sự phát triển của dân tộc. Một trong những nhân tố quyết định cho sự thành công sự nghiệp đó là con người có trí tuệ, có đạo đức, giàu lòng yêu nước và trung thành với lý tưởng XHCN. “Vì vậy, vấn đề quan trọng số một hiện nay là chuẩn bị đội ngũ những người lao động, những tri thức mới có bản lĩnh chính trị và lòng trung thành với lý tưởng XHCN, có đạo đức công dân tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH. Công tác giáo dục thế hệ trẻ nói chung, công tác giáo dục đạo đức, chính trị cho học sinh, sinh viên nói riêng, càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng” [2, tr 47]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: "Đối với thế hệ trẻ, thường xuyên giáo dục chính trị, lý tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khuyến khích thanh niên tự học, tự nâng cao tay nghề, tự tạo việc làm" [11, tr 119 - 120]. Như vậy, giáo dục tư tưởng, chính trị cho SV là nhiệm vụ hàng đầu của các trường đại học và cao đẳng. Công tác giáo dục tư tưởng chính trị là giải pháp nhằm cung cấp cho SV một cách cơ bản và hệ thống nhất những tri thức, hiểu biết về quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước, của ngành Y, hình thành ở SV lý tưởng cách mạng, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, đây cũng là giải pháp giúp SV nhận thức rõ những luận điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch chống phá chế độ và những thành quả của cách mạng nước ta. Trong thời gian qua, Trường CĐYT Nghệ An thường xuyên quan tâm chú ý đến giải pháp này. Trường đã đề ra nhiều hình thức tổ chức phong phú như: tổ chức tuần sinh hoạt công dân đầu khoá và cuối khoá, đẩy mạnh công tác giảng dạy và học tập các môn học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, Bác Hồ, về ngành Y tế Thông qua đó lồng ghép tuyên truyền, phổ biến những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác y tế, giáo dục truyền thống của ngành Y, định hướng giá trị nghề nghiệp, khơi dậy ở SV lòng tự hào về nghề mình đã lựa chọn, tạo ra động lực phấn đấu của bản thân, để xứng đáng với truyền thống đó. Đây là giải pháp có tác động to lớn đến nhận thức, tình cảm và thái độ của SV đối với nghề y. Vì vậy, theo chúng tôi đây là giải pháp cơ bản, một điều kiện tiên quyết làm nền tảng và là cơ sở cho các giải pháp khác đạt hiệu quả cao, Trường CĐYT Nghệ An có thể vận dụng giải pháp này trong quy trình đào tạo CBYT. Để làm tốt giải pháp này trong tổ chức các hoạt động cần chú ý: thường xuyên đổi mới cách thức, phương thức tổ chức thực hiện công tác giáo dục chính trị - tư tưởng bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng làm cho SV được tham gia nhiều, được hiểu biết nhiều để lôi cuốn đông đảo SV tham gia, phát huy tính tích cực sáng tạo của các em theo hướng gắn liền với thực tiễn sôi động của đất nước, các đặc thù của ngành Y; huy động sự tham gia của các tổ chức đoàn thể trong công tác giáo dục tư tưởng - chính trị. Muốn vậy, nhà trường phải xây dựng nội dung, kế hoạch công tác giáo dục chính trị - tư tưởng khoa học, hợp lý đúng mục đích, chức năng, nhiệm vụ; tuyệt đối trách bệnh hình thức, thành tích; lồng ghép nhiệm vụ giáo dục chính trị - tư tưởng vào đặc thù nghề nghiệp một cách khéo léo và hiệu quả; gắn các hoạt động của nhà trường với thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện nay. 3.2. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp thông qua giảng dạy các môn học Đối với các nhà trường nhiệm vụ chính trị cơ bản là dạy và học. Dạy học là con đường chính giúp cho SV nắm vững tri thức các môn học, đồng thời đó cũng là con đường cơ bản nhằm hình thành những phẩm chất nhân cách cho SV. Do vậy, nhà trường có thể thực hiện tốt việc giáo dục đạo đức cho SV thông qua việc giảng dạy các môn học và thực hiện ngay trong quá trình dạy học. Đây là vấn đề vừa mang tính lý luận, vừa có giá trị thực tiễn cao, là điều cần thiết mà người làm công tác giáo dục phải chú trọng. Trong các nhà trường chuyên nghiệp, mỗi một môn học đều có những ảnh hưởng tích cực đến quá trình hình thành và phát triển phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho SV. Nhưng hiện nay do những quan niệm chưa thật đầy đủ về các môn học trong nhà trường đối với việc giáo dục nâng cao ý thức đạo đức nghề nghiệp cho SV, nên định hướng và hiệu quả giáo dục trong lĩnh vực này còn những hạn chế nhất định. Vì thế đổi mới cả nội dung lẫn phương pháp giảng dạy các môn học trong nhà trường theo hướng rèn luyện, giáo dục ý thức đạo đức nghề nghiệp cho SV là việc làm mà mọi nhà giáo, mọi trường học chuyên nhiệp và cấp quản lý giáo dục phải quan tâm. Hiện nay, ở Trường CĐYT Nghệ An về nội dung chương trình các môn học một mặt phản ánh trình độ khoa học cơ bản bậc cao đẳng, một mặt bao gồm những tri thức cơ bản nhằm phục vụ việc đào tạo người CBYT có năng lực thực hành với kỹ năng, kỹ xảo cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Rõ ràng việc dạy học trong các trường y tế một mặt cung cấp kiến thức khoa học cơ bản, một mặt là dạy nghề cho SV. Do vậy, việc giáo dục những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp ở trường y tế cho SV trong hoạt động dạy học phải được thực hiện đồng bộ trong tất các các môn học và phải được tất cả các giáo viên nhận thức và thực hiện một cách nhất quán có hiệu quả “Đặc biệt phải tận dụng khả năng đặc thù của các môn học” [10, tr 28] như môn tâm lý học và đạo đức y học. Vậy, thực tế hiện nay của công tác giáo dục đạo đức này thông qua giảng dạy các môn học ở Trường CĐYT Nghệ An như thế nào? trả lời câu hỏi này trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu phỏng vấn một số SV, đa phần khi chúng tôi hỏi các em đều trả lời mỗi một môn học đều có những ảnh hưởng nhất định đến tâm tư, tình cảm của các em đối với nghề nghiệp. Các môn chuyên môn vừa được học lý thuyết trên lớp, vừa được đi lâm sàng, thực tập, thực tế ứng dụng những nội dung tri thức mới thành những kỹ năng, kỹ xảo. Bên cạnh đó các môn khác như chính trị, ngoại ngữ, tin học cũng rất thiết thực và bổ ích, chính trị cung cấp cho các em thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và phương pháp luận cho người học, hình thành niềm tin, giúp các em giải quyết các vấn đề nảy sinh của cuộc sống, ngoại ngữ giúp các em nhận biết một cách nhanh nhất các loại thuốc, tin học giúp các em mở rộng tri thức, nâng cao hiểu biết trên mọi lĩnh vực... vì vậy vấn đề đặt ra là vai trò của người giáo viên với nhiệm vụ là người hướng dẫn hỗ trợ các em để các em nhận thức một cách đúng đắn về giá trị nghề nghiệp của mình. Chúng tôi dự giờ một bộ môn mang tính nghiệp vụ để khẳng định chức năng đặc thù của bộ môn đối với công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, lớp Y sỹ đa khoa năm thứ hai bài "Đạo đức y học” môn Tâm lý và y đức, bao gồm những nội dung kiến thức cơ bản sau đây: 1. Đạo đức y học là gì. 2. Tính chất đặc thù của ngành Y tế. 3. Những yêu cầu trong các mối quan hệ của người thầy thuốc. 4. Thầy thuốc trong cơ chế thị trường. Quá trình dự giờ chúng tôi nhận thấy nội dung bài giảng của giáo viên đã đi sâu phân tích để SV nhận thức được những phẩm chất đạo đức cần có của người thầy thuốc, sự cần thiết phải trau dồi nhân cách đối với người thầy thuốc. Liên hệ thực tế với việc học tập, rèn luyện của SV khi đang ngồi trên nghế nhà trường. Sau khi tiết giảng kết thúc chúng tôi đã phối hợp giáo viên trực tiếp giảng dạy đưa ra một tình huống trong thực tế công tác khám chữa bệnh và đặt ra các câu hỏi để SV trả lời, cụ thể như sau: Tình huống: Anh Nguyễn Văn B đã có vợ, con, bị mắc bệnh đường tình dục. Bác sỹ A khám xác định anh B bị bệnh lậu. Bác sỹ A đã chữa khỏi bệnh cho anh B không có vấn đề gì xảy ra. Ba tháng sau xảy ra mâu thuẫn giữa gia đình anh B và người con trai của Bác sỹ A. Vào buổi tối, Bác sỹ A sang nhà con trai mục đích phân tích điều hay, lẽ phải. Khi phân tích, Bác sỹ A nói: “Anh B cũng chẳng hay ho gì về đạo đức, cậu ta vừa bị bệnh lậu (do quan hệ tình dục không lành mạnh)”. Chuyện anh B bị mắc bệnh đã lan ra cả xóm làng làm cho gia đình anh B vợ chồng phải ly dị. Câu hỏi 1: Anh (chị) hãy cho biết Bác sỹ A nói về anh B trong hoàn cảnh nào? bác sỹ có đắn đo khi nói điều đó không? Bác sỹ nói như vậy đúng hay sai? Câu hỏi 2: Với tư cách là người thầy thuốc trong tương lai anh (chị) hãy cho biết thầy thuốc phải có thái độ và cách ứng xử với người bệnh như thế nào cho đúng? Từ đó cần bồi dưỡng và rèn luyện cho mình những phẩm chất và năng lực gì? Kết quả SV đã đưa ra được một số tiêu chí cụ thể của việc rèn luyện phẩm chất đạo đức và năng lực đối với người thầy thuốc, cụ thể như sau: 1. Tích cực học tập để nắm vững chuyên môn nghiệp vụ. 2. Rèn luyện tay nghề thành kỹ năng, kỹ xảo. 3. Trau dồi phẩm chất đạo đức. 4. Tích cực đọc tài liệu, tham gia nghiên cứu khoa học . 5. Thương yêu, tôn trọng bệnh nhân. 6. Tôn trọng, tin tưởng đồng nghiệp. 7. Luôn học hỏi, cầu thị. 8. Thực hiện đúng nội quy, quy chế nhà trường. 9. Trung thực thật thà. 10. Thực hiện đúng 12 điều y đức. Với kết quả trên, chúng tôi có nhận xét: Về cơ bản nội dung các bài học đã ảnh hưởng tích cực đến nhận thức của SV, làm cho các em đã xác định được những yêu cầu cần phải học tập, rèn luyện ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Tình hình đó đặt ra yêu cầu rất nặng nề cho những người làm công tác giảng dạy, nó đòi hỏi một mặt phải có kiến thức sâu, rộng ở nhiều lĩnh vực, mặt khác, phải có khả năng truyền tải hệ thống thông tin đến cho người học một cách khác, đó là nghệ thuật truyền đạt, khả năng sư phạm phù hợp cho từng đối tượng. Chính vì thế, yêu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giảng dạy là một yêu cầu bắt buộc đối với mỗi giáo viên. Và thực tế những giáo viên có tri thức vững vàng, hiểu biết rộng, say mê nghề nghiệp, tinh thần làm việc trách nhiệm cao, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, họ luôn tất cả vì học sinh thân yêu đã có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của SV. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV, không chỉ thông qua các môn học lý thuyết, thực tế cho thấy, việc hình thành nhân cách con người phụ thuộc rất nhiều đến nghề nghiệp. Sự tinh thông nghiệp vụ, thành thạo về chuyên môn là biểu hiện cao đẹp của đạo đức nghề nghiệp của từng cá nhân, họ ý thức về trách nhiệm, bổn phận về một công việc cụ thể là điều kiện để tạo nên ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ trước người thân, gia đình, quê hương và cao hơn cả là dân tộc và Tổ quốc. Do vậy ở đây các khoa chuyên môn có vai trò rất quan trọng theo chức năng, nhiệm vụ riêng của mình để giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV. Và để làm tốt biện pháp này cần chú ý: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV thông qua hoạt động giảng dạy các môn học là một giải pháp quan trọng, nhưng phải tiến hành đồng bộ ở tất cả các khoa, phòng, bộ môn, không được thực hiện một cách phiến diện. Đối với người giáo viên phải luôn trau dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về chuyên môn, uyên thâm về tri thức, rèn luyện phẩm chất đạo đức, là tấm gương sáng cho SV noi theo. Đó là những hậu thuận vững chắc duy nhất có sức mạnh lôi cuốn SV đến với tri thức khoa học, có niềm say mê nghề nghiệp mà các em đã lựa chọn. 3.3. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp thông qua thực tập thực tế lâm sàng tại các cơ sở y tế Thực tập thực tế lâm sàng là một khâu quan trọng trong quá trình đào tạo CBYT, nó có giá trị thực tiễn cao trong việc hình thành phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp cho SV. Đây là một trong những hoạt động mang đặc trưng bản sắc của SV ngành Y và nhà trường y tế. Thực tập thực tế lâm sàng là hoạt động rèn luyện tay nghề cho SV, giúp các em vận dụng những kiến thức đã học thành những kỹ năng, kỹ xảo cho lao động của người thầy thuốc trên cơ sở đó để hình thành những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần thiết: yêu nghề, thương yêu người bệnh, lòng nhân ái và các phẩm chất khác. “Kỹ năng là năng lực SV có thể hoàn thành những năng lực nào đó gắn liền với việc áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Còn kỹ xảo được coi là kỹ năng thành thạo, đã tới mức tự động hoá và đặc trưng bởi một trình độ hoàn hảo nhất định” [19, tr 28]. Kỹ xảo là trình độ mà kỹ năng vươn tới. Hoạt động rèn luyện tay nghề thông qua thực tập, thực tế lâm sàng tại các cơ sở y tế bao gồm rất nhiều hoạt động như: tổ chức cho SV rèn luyện các kỹ năng thăm khám, giao tiếp với bệnh nhân: tổ chức cho SV làm quen với các trang thiết bị y tế, tham gia làm các thủ thuật với các CBYT của các bệnh viên. Trường CĐYT Nghệ An thực hiện kế hoạch thực tập, thực tế lâm sàng thông qua việc tổ chức cho SV đi lâm sàng tại các bệnh viện tạo điều kiện để SV tiếp xúc với thực tiễn công tác khám chữa bệnh. Thời gian thực tập, thực tế của SV ngành Y chiếm gần 1/2 thời gian học của SV. Cụ thể là: Hết năm thứ nhất SV bắt đầu đi thực tập ở các cơ sở y tế. Ngày một buổi học lý thuyết trên lớp, một buổi học thực tập lâm sàng. Ngoài ra còn phải trực một số buổi tối và thứ bảy, chủ nhật. Cuối khoá sau khi học xong lý thuyết, SV phải đi thực tập liên tục bốn tháng ở cơ sở. Do vậy việc học thực tập thực tế lâm sàng tại các cơ sở y tế ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức nghề nghiệp của SV. Đây là nơi mà các em được tham gia vào công tác khám chữa bệnh (công việc của các em sau khi ra trường), trực tiếp tiếp xúc với người bệnh, với các cán bộ, nhân viên y tế, ứng dụng các kiến thức học được trên sách vở vào thực tiễn góp phần biến những kiến thức thành kỹ năng, kỹ xảo. Chúng tôi đã điều tra 100 SV sau khi các em đi thực tập thực tế lâm sàng được 5 tháng (kết quả ở bảng 9) Bảng 9 : Kết quả thu được sau khi thực tập thực tế lâm sàng của sinh viên STT Nội dung Kết quả SL % 1 Yêu nghề hơn 92 92 2 Bình thường 8 8 3 Được thực hành với công tác khám chữa bệnh 100 100 4 Vận dụng kiến thức đã học thành các kỹ năng, kỹ xảo 92 92 5 Rất thiết thực, bổ ích 100 100 6 Thích thú với nghề nghiệp 88 88 7 Chững chạc hơn 100 100 8 Mạnh dạn, tự tin trước tập thể 100 100 9 Năng động, sáng tạo 86 86 10 Tạo thói quen làm việc độc lập 79 79 Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy: Tất cả SV khẳng định thực tập, thực tế lâm sàng là những hoạt động vô cùng quan trọng đối với SV ngành Y. Chúng tôi cũng đã trò chuyện với SV, và nhận thấy các em có nhiều thay đổi trong suy nghĩ và tình cảm đối với nghề thầy thuốc. Các em cho rằng, sau khi được tiếp xúc với công tác khám, chữa bệnh, các em rất vinh dự, tự hào về nghề thầy thuốc của mình và sẽ luôn cố gắng phấn đấu trở thành người thầy thuốc giỏi sau này. Bên cạnh đó, thực tập thực tế lâm sàng cũng giúp SV thấy được những khó khăn, vất vả của nghề y để từ đó các em tự giác tu dưỡng, rèn luyện những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần thiết, những phẩm chất ý chí để có thể vượt qua những khó khăn trong công việc sau này, và sẵn sàng nhận công tác ở những nơi khó khăn, xa xôi sau khi tốt nghiệp. Như vậy có thể nói, thực tập thực tế lâm sàng là một môi trường tốt để giáo dục, hình thành ở SV những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần thiết mà xã hội và nghề thầy thuốc yêu cầu đối với người thầy thuốc nhân dân. Chính vì vậy, chúng ta có thể xem thực tập, thực tế lâm sàng là một giải pháp cơ bản trong việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành Y. Để nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV thông qua thực tập thực tế lâm sàng. Thời gian qua Trường CĐYT Nghệ An đã cử các giáo viên của nhà trường phụ trách giảng dạy, hướng dẫn lâm sàng đến tận các khoa phòng của các bệnh viện. Mỗi cơ sở y tế SV thực tập, thực tế lâm sàng có ít nhất một đến hai giáo viên phụ trách. Tuy nhiên việc SV đi thực tập, thực tế lâm sàng có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự phối hợp của các cơ sở y tế trong công tác quản lý, giáo dục đào tạo. Trong điều kiện nhà trường chưa có đủ cán bộ, giáo viên phủ kín các cơ sở thực tập của SV thì việc kết hợp viện - trường càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để làm tốt công tác này Trường CĐYT Nghệ An đã phối hợp với các cơ sở y tế xây dựng nội dung, chương trình kết hợp viện trường. Nhà trường mời các bác sĩ của bệnh viện tham gia giảng dạy lý thuyết tại trường (làm giáo viên thỉnh giảng) và giảng dạy lâm sàng tại các bệnh viện. Về phía bệnh viện cho phép giáo viên của nhà trường ngoài hướng dẫn lâm sàng, giáo viên còn được tham gia điều trị tại các khoa phòng của bệnh viện nhằm nâng cao tay nghề cho giáo viên. Bên cạnh đó hàng năm nhà trường tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề chuyên môn nghiệp vụ, công tác kết hợp viện - trường, y đức đẩy mạnh các hoạt động VHVN, TDTT nhân các ngày lễ lớn nhằm thắt chặt tình đoàn kết giữa nhà trường với các cơ sở y tế. Tuy nhiên, để thực hiện tốt nội dung này cần lưu ý một số vấn đề sau: Công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện thực tập, thực tế lâm sàng phải được thống nhất chặt chẽ từ Ban Giám hiệu, phòng đào tạo, ban chủ nghiệm khoa, giảng viên giảng dạy chuyên môn và SV; nhà trường cần xây dựng kế hoạch thực tập thực tế lâm sàng cụ thể cho từng kỳ, từng năm và cả khoá học để chủ động trong khâu quản lý và tổ chức nhằm đảm bảo chất lượng cao cho hoạt động này; hàng năm trước khi SV bắt đầu tham gia thực tập, thực tế lâm sàng nhà trường phải giúp SV nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của hoạt động thực tập thực tế lâm sàng đối với người thầy thuốc; giáo viên là khâu quan trọng trong công tác hướng dẫn, giảng dạy SV thực tập, thực tế lâm sàng, là người giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng hoạt động thực tập, thực tế lâm sàng và đặc biệt chú ý tới việc phối hợp, lựa chọn các cơ sở thực hành; thường xuyên đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động thực tập thực tế lâm sàng; hình thành các cơ sở thực tập, thực tế ổn định, lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho SV công việc thực tập, thực tế lâm sàng. 3.4. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp thông qua hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên và các hoạt động VHVN, TDTT Tổ chức đoàn, hội sinh viên có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo dục SV về mọi mặt. Hoạt động của đoàn thanh niên phải hướng vào việc học tập, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, góp phần to lớn vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Chính vì vậy, đoàn thanh niên và hội sinh viên phải có các cuộc vận động, các phong trào cách mạng nhằm giáo dục, động viên và phát huy tinh thần sáng tạo, lối sống cách mạng trong SV xung kích đi đầu trong học tập rèn luyện, nghiên cứu khoa học, phát triển tài năng tham gia đóng góp cho xã hội, nhất là trong sự nghiệp đổi mới giáo dục đào tạo, biến quá trình này thành quá trình tự đào tạo; biến lập nghiệp trở thành sáng nghiệp, và coi sự nghiệp đào tạo trở thành sự rèn luyện, phát triển thực hiện các mục tiêu của con người mới - nguồn nhân lực trẻ chất lượng cao của quá trình CNH, HĐH đất nước, thông qua phong trào thanh niên tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện tham gia xây dựng đất nước. Trong những năm qua hoạt động của đoàn thanh niên, hội sinh viên Trường CĐYT Nghệ An luôn đạt được nhiều thành tích cao trên tất cả các mặt, cả bề rộng lẫn chiều sâu. Hình thức hoạt động có nhiều đổi mới, phù hợp với nhu cầu nguyện vọng của SV, tạo được sân chơi bổ ích cho SV, hạn chế được các tệ nạn xã hội trong SV. Tích cực động viên SV thi đua học tập, rèn luyện đẩy mạnh các phong trào: Thanh niên lập nghiệp, tuổi trẻ giữ nước, uống nước nhớ nguồn, xung kích tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, hiến máu nhân đạo Trong đó phong trào xung kích tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng thu hút được đông đảo SV hưởng ứng tham gia tích cực. Tìm hiểu chúng tôi được biết đây là phong trào rất thiết thực, bổ ích thường gắn với công tác chuyên môn đối với các em, bởi vì phần lớn các hoạt động tình nguyện của SV trường y là khám chữa bệnh, cấp phát thuốc miễn phí, tuyên truyền công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình ở những nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành điều tra nhận thức thái độ của SV sau thời gian tham gia hoạt động tình nguyện tại những nơi khó khăn xa xôi, chúng tôi nhận thấy: Thời gian tham gia hoạt động tình nguyện tuy không nhiều (khoảng 1 đến 2 tháng trong dịp nghỉ hè), nhưng đa số các em đã có thay đổi theo chiều hướng tích cực trong suy nghĩ và tình cảm của mình về nghề nghiệp. Các em cho rằng ở những nơi còn rất khó khăn rất cần đến những người CBYT như mình, bản thân cần phải học tập, rèn luyện thật tốt ngay khi còn ngồi trên nghế nhà trường chuẩn bị cho công tác sau này có thể làm việc ở bất cứ nơi đâu với khẩu hiệu: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Với những thay đổi đó trong nhận thức và thái độ của SV sau thời gian tham gia hoạt động tình nguyện là một trong những nội dung để hình thành ở các em động cơ đúng đắn về nghề thầy thuốc, ý chí lập thân, lập nghiệp tinh thần sẵn sàng làm việc tại những nơi khó khăn sau này. Hoạt động VHVN, TDTT là mặt mạnh trong việc xây dựng đời sống văn hoá, tinh thần cho SV. Bên cạnh việc học tập nâng cao tri thức, SV được tham gia các hoạt động văn hoá ngoài giờ lên lớp là sự bổ trợ cần thiết và ưu việt những phẩm chất chính trị đạo đức lối sống, thể lực và khả năng cảm thụ vốn văn hoá. Các hoạt động văn hoá tinh thần góp phần định hướng giá trị thẩm mỹ, tạo sân chơi lành mạnh, tích cực cho SV. Các hoạt động này đã và đang là đối trọng hiệu quả, tích cực góp phần ngăn chặn, đẩy lùi lối sống tha hoá, phi đạo đức, phản văn hoá tiêu cực do mặt trái của nền KTTT ảnh hưởng đến SV. Như lời của Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Thái Nguyên đã khẳng định: “Chúng tôi quan tâm phát triển mạnh các câu lạc bộ SV, các hoạt động phong trào xã hội góp phần giáo dục y đức cho thế hệ trẻ. Tinh thần tận tâm vì người bệnh, hết mình với cộng đồng phải được xây dựng ngay khi ngồi trên nghế nhà trường” [25]. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của đoàn viên, thanh niên, trong thời gian qua, tổ chức đoàn thanh niên và hội sinh viên Trường CĐYT Nghệ An luôn đẩy mạnh các hoạt động VHVN, TDTT, câu lạc bộ học tập, hội thi kiến thức chuyên môn, các buổi nói chuyện chuyên đề, tham quan dã ngoại... thu hút được đông đảo SV tham gia tạo không khí vui vẻ, lành mạnh phù hợp với đời sống tinh thần của SV, mang tính giáo dục thiết thực, sâu sắc được đông đảo SV hưởng ứng tích cực. Trong thời gian thực hiện đề tài này, nhân dịp kỷ niệm ngày Thành lập Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh 26/3, Đoàn thanh niên của Trường CĐYT Nghệ An đã tổ chức buổi hội thảo nói về tình hình đạo đức lối sống của SV hiện nay trong đó đi sâu về đạo đức, lối sống của SV ngành Y. Chúng tôi đã được tham dự buổi hội thảo này, bằng hình thức các em SV phát biểu các tham luận về chủ đề trên với sự tham gia của lãnh đạo nhà trường, các khoa, phòng và đại diện ban chấp hành đoàn trường, đã có nhiều ý kiến nêu ra xung quanh nội dung này, nhưng vấn đề được quan tâm, tranh luận nhiều nhất là lối sống đạo đức của SV ngành Y và SV Việt Nam nói chung giống và khác nhau như thế nào. Một số ý kiến SV cho rằng đời sống SV hiện nay đều giống nhau, đó là phải hoàn thành nhiệm vụ của mình là học tập và rèn luyện, vì vậy không cần phân biệt rõ ràng giữa SV ngành Y với SV các trường khác về các chuẩn đạo đức và lối sống. Tuy nhiên đa số cho rằng đạo đức lối sống của SV ngành Y cần có những yêu cầu riêng để phù hợp với đặc trưng nghề nghiệp bên cạnh những yêu cầu chung của SV cả nước. Cuối cùng buổi hội thảo cũng đi đến thống nhất quan điểm, bên cạnh những yêu cầu chung, SV ngành Y phải có những yêu cầu riêng mang đặc trưng của nghề y đó là: Có lương tâm trách nhiệm, yêu nghề, không vụ lợi. Tích cực học tập, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ. Tiếp xúc niềm nở tận tình, động viên an ủi bệnh nhân. Bao dung, độ lượng, giàu lòng nhân ái. Trung thực, thật thà, tôn trọng đồng nghiệp. Tự rèn luyện và hoàn thiện nhân cách người thầy thuốc. Tôn trọng quyền khám chữa bệnh của người bệnh và bí mật của người bệnh. Tôn trọng pháp luật, tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức trong nghiên cứu khoa học, không dùng người bệnh vào mục đích riêng. Như vậy, hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên có một ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung và tới việc hình thành những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, để làm tốt giải pháp này đoàn thanh niên, hội sinh viên phải không ngừng đổi mới các nội dung hoạt động, cách thức tổ chức theo hướng rèn luyện, giáo dục ý thức chính trị, đạo đức và lối sống, làm cho các hoạt động này luôn hấp dẫn, lôi cuốn, gần gũi, có tác dụng giáo dục và đóng góp quan trọng cho việc đào tạo CBYT của nhà trường. Trong giai đoạn hiện nay các hoạt động của đoàn thanh niên, hội sinh viên của nhà trường cũng cần quan tâm tới những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với SV trong nền KTTT. Từ đó, phát huy những yếu tố tích cực: tính năng động, sáng tạo, ý thức lập thân, lập nghiệp, đồng thời phải hạn chế những tác động tiêu cực: lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, quan hệ tình cảm không lành mạnh, lô đề, rượu chè... Bên cạnh đó để phát huy vai trò của mình trong công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp, tổ chức đoàn, hội cũng phải làm tốt công tác phối hợp với các khoa, phòng, bộ phận khác trong nhà trường; chú trọng hơn đến chất lượng các hoạt động, không nên chỉ quan tâm tập trung vào việc phát triển số lượng, thành tích. Đó chính là nhiệm vụ chính trị của tổ chức đoàn, hội của nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV. 3.5. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp thông qua kỷ niệm các ngày lễ, hội mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc và phát huy tính năng động sáng tạo của sinh viên Đối với đất nước ta, hàng năm các ngày lễ, hội diễn ra rất nhiều và được tổ chức rất trang nghiêm và trọng thể. Các ngày lễ này thường gắn với các sự kiện quan trọng, trọng đại của đất nước, của các ngành nhằm ôn lại truyền thống lịch sử văn hoá của đất nước, của ngành. Ở nhà trường, việc tổ chức các ngày lễ, hội giúp SV có cuộc sống vật chất và tinh thần vui vẻ, yêu đời, yêu quê hương đất nước, tự hào với nghề nghiệp đã lựa chọn, đồng thời qua đó các em được thể hiện và khẳng định bản thân, được phát huy tính năng động, sáng tạo của tuổi trẻ. Đây là những phẩm chất vô cùng quan trọng đối với quá trình hình thành các phẩm chất nghề nghiệp của SV ngành Y. Đối với SV ngành Y, trong số các ngày lễ, hội thì ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2) là quan trọng nhất. Cùng với hoạt động mít tinh kỷ niệm, trong dịp kỷ niệm ngày 27/2 năm nay Trường CĐYT Nghệ An đã tổ chức buổi gặp mặt giao lưu giữa SV với các thế hệ cán bộ của nhà trường đặc biệt là các bậc đã nghỉ hưu, họ vừa là nhà giáo lão thành, vừa là các thầy thuốc ưu tú. Trong buổi giao lưu này SV được nghe các nhà giáo - thầy thuốc tâm sự, trao đổi những kinh nghiệm về cuộc đời làm nghề thầy giáo - thầy thuốc của mình, các em được nghe quá trình học tập, công tác mà các thầy đã trải qua về những khó khăn, gian khổ trên con đường sự nghiệp... nhưng bằng vinh dự, tự hào, yêu nghề, thương yêu bệnh nhân, bằng lối sống trong sáng, tận tuỵ trong công việc, bằng vốn hiểu biết sâu rộng các thầy đã vượt qua mọi khó khăn, theo đuổi lý tưởng nghề nghiệp đã lựa chọn, luôn cố gắng phấn đấu không ngừng để hoàn thành nhiệm vụ của mình “Người thầy thuốc nhân dân”. Có thể khẳng định rằng, những cuộc giao lưu như thế này có ý nghĩa rất quan trọng đối với SV. Bởi vì đây thực sự là những cuộc trò chuyện chân tình về nghề nghiệp, qua đây giúp cho SV nhận thức ý nghĩa cao cả của nghề thầy thuốc một cách sâu sắc hơn. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: “Một tấm gương sáng còn hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Thế hệ trẻ luôn có tinh thần vươn lên cái đẹp, tâm hồn họ trong sáng nên dễ tiếp cận với cái Chân, Thiện, Mỹ. Vì vậy cần phải lấy gương người tốt việc tốt hàng ngày để giáo dục lẫn nhau” [16, tr 712]. Cũng nhân dịp này, chúng tôi đã trò chuyện với một số SV năm thứ nhất sau khi dự lễ kỷ niệm ngày 27/2, các em tâm sự: Các em tự hào về nghề thầy thuốc, và sẽ quyết tâm phấn đấu học tập, rèn luyện để trở thành người CBYT trong tương lai. Đặc biệt những SV với lý do vào học bố mẹ áp đặt, hoặc vì hoàn cảnh, hoặc do các lý do khác, các em thừa nhận những nhận thức của mình trước đây về nghề y là chưa đúng, chưa công bằng và các em hy vọng sẽ sớm được đứng trong hàng ngũ CBYT ngay sau khi ra trường. Như vậy, ngày 27/2 có ý nghĩa rất đặc biệt đối với SV ngành Y, nhà trường cần chú trọng tổ chức ngày này một cách đầy đủ, trọng thể. Và chúng ta có thể khẳng định hoạt động tổ chức các ngày lễ, hội ở nhà trường cũng là giải pháp quan trọng nhằm giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV, thông qua các hoạt động này lôi cuốn SV tham gia một cách nhiệt tình, hình thành ở họ những phẩm chất tích cực của thế hệ trẻ: năng động, sáng tạo, ý thức lập thân, lập nghiệp, thích ứng nhanh với môi trường mới và sự phát triển của xã hội, hạn chế những tác động tiêu cực: lối sống thực dụng, ích kỷ, đề cao lối sống vật chất, hưởng thụ. Tuy nhiên để đạt hiệu quả cao đối với giải pháp này cần chú ý: Việc tổ chức hoạt động các ngày lễ, hội phải theo đúng nội dung, chủ đề, có ý nghĩa giáo dục thiết thực; đa dạng hoá các hình thức tổ chức để lôi cuốn được tất cả SV tham gia với tinh thần trách nhiệm cao; bên cạnh đó, công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức phải khoa học, đảm bảo phù hợp với đặc thù nghề y và đặc điểm tâm - sinh lý của từng đối tượng SV; không được phô trương, hình thức trong việc tổ chức, tránh gây tốn kém về kinh phí mà không có tác dụng giáo dục; phải có sự thống nhất, phối hợp chặt chẽ của Ban Giám hiệu và các khoa, phòng, bộ phận trong nhà trường; sự tham gia tích cực của toàn bộ SV. 3.6. Giáo dục đạo đức nghề nghiệp thông qua quá trình tự giáo dục của sinh viên Con đường hình thành và phát triển nhân cách người thầy thuốc là quá trình lâu dài, là quá trình các em tự tu dưỡng, tự rèn luyện những phẩm chất đạo đức và năng lực thực hành. Trường y tế có nhiệm vụ trang bị cho SV những phẩm chất cơ bản của nhân cách người thầy thuốc. Vì vậy thời gian học tập tu dưỡng, rèn luyện của SV trong trường y tế là vô cùng quan trọng, tạo ra những tiền đề cần thiết cho việc hình thành nhân cách người thầy thuốc như giáo sư Trần Trọng Thuỷ đã nói “Hình thức cao nhất của quá trình giáo dục đạo đức là sự tự giáo dục” [21]. Trước hết, việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp của nhà trường phải làm chuyển biến về nhận thức của SV, giúp họ biến quá trình giáo dục đạo đức nghề nghiệp thành quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện của bản thân. Do vậy việc tự giáo dục, tự rèn luyện của SV là sự khẳng định một trình độ cao về ý thức đạo đức của các em. Ở độ tuổi này, cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên, SV có thể nhanh chóng nhận thức được những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần có của người thầy thuốc, từ đó các em có các hình thức tự giáo dục, tự rèn luyện hướng tới mục đích cuối cùng là trở thành một người thầy thuốc thực thụ. Thực tế cho thấy những SV có ý thức tự giáo dục, tự rèn luyện ngay khi còn ngồi trên nghế nhà trường luôn có kết quả học tập cao, hình thành sớm những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cần thiết và sau này ra trường trở thành người CBYT quá trình công tác các em thường có những bước trưởng thành nhanh chóng hơn.Và thực tiễn cũng khẳng định: những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp được hình thành thông qua con đường tự giáo dục, tự rèn luyện thường bền vững và sâu sắc hơn đối với mỗi người. Vậy, những yêu cầu về nội dung của sự tu dưỡng, rèn luyện của SV ngành Y là gì? để làm rõ nội dung này, chúng tôi đã đưa một số tiêu chí quan trọng phải có về phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp trên cơ sở các tiêu chí rèn luyện phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp do SV (rút ra từ giải pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp thông qua giảng dạy các môn học), để SV đánh giá mức độ quan trọng của sự tự tu dưỡng, rèn luyện, kết quả ở bảng 10. 70 Bảng 10: Nhận thức của sinh viên về mức độ quan trọng của sự tự tu dưỡng, tự rèn luyện TT Nội dung tự tu dưỡng, rèn luyện SL trắc nghiệm Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng SL % SL % SL % 1 Tích cực học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 100 58 58 42 42 2 Tích cực nghiên cứu tài liệu 100 12 12 41 41 47 47 3 Tham gia tích cực công tác nghiên cứu khoa học 100 10 10 34 34 56 56 4 Có lối sống trong sạch, lành mạnh 100 59 59 40 40 1 1 5 Gương mẫu ở mọi nơi, mọi lúc 100 76 76 34 34 6 Luôn học hỏi, cầu thị 100 73 73 27 27 7 Thực hiện đầy đủ các nội quy, quy chế của nhà trường 100 18 18 82 82 8 Luôn trau dồi phẩm chất đạo đức 100 96 96 4 4 9 Lịch sự, tế nhị trong giao tiếp, ứng xử 100 83 83 17 17 10 Chống lối sống ích kỷ, thực dụng 100 56 56 44 44 Nhìn vào kết quả trên chúng tôi có nhận xét: số đông SV đã ý thức được tầm quan trọng của tự tu dưỡng, tự rèn luyện trong quá trình trau dồi những phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp đối với người thầy thuốc. Bên cạnh đó còn có một số tiêu chí, có một bộ phận SV cho là không quan trọng như: Đọc tài liệu, nghiên cứu khoa học điều này có thể xem tình hình đọc thêm, học thêm các thông tin, kiến thức ngoài chương trình chính khoá của SV không nhiều. Tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi đã phỏng vấn một số SV, các em cho rằng hiện nay tại Trường CĐYT Nghệ An thư viện của nhà trường còn hạn chế về đầu sách cũng như trang thiết bị, hơn nữa đối với SV ngành Y đa phần các em học cả ngày, một số buổi tối đi trực tại các bệnh viện nên không có thời gian nghiên cứu thêm. Chúng tôi cho rằng đây cũng là một vấn đề mà Trường CĐYT Nghệ An cần quan tâm hơn nữa trong công tác giáo dục SV. Vì vậy, theo chúng tôi để làm tốt giải pháp này nhà trường cần phải làm cho các em SV nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của quá trình tự tu dưỡng, tự rèn luyện để trở thành người thầy thuốc, biến quá trình giáo dục, rèn luyện thành quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện. Muốn vậy nhà trường phải nêu cao vai trò trách nhiệm của phòng công tác học sinh sinh viên, đoàn trường và giáo viên chủ nhiệm. Đây là các bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp nhất đến quá trình hình thành phẩm chất đạo đức của SV. Các bộ phận này có nhiệm vụ trang bị cho SV những phương pháp, cách thức và kinh nhiệm trong quá trình tự tu dưỡng, tự rèn luyện, đồng thời là bộ phận theo dõi, giúp đỡ, uốn nắn SV kịp thời. Bên cạnh đó nhà trường cần phải cải tiến nội dung, hình thức, tạo ra các sân chơi lành mạnh, bổ ích, đẩy mạnh các hoạt động VHVN, TDTT cho SV tham gia sinh hoạt, phòng chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma tuý đang có xu hướng tấn công học đường. Kết luận chương 3 Nhà trường là một trong những môi trường quan trọng mang tính định hướng tư tưởng cho việc hình thành và phát triển nhân cách của SV. Việc bồi đắp tố chất con người là niềm vinh dự lớn lao, vừa là trách nhiệm nặng nề. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy, công tác đổi mới nội dung, mục tiêu và giáo dục nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của SV, phải được nhà trường nhận thức một cách sâu sắc. Các hoạt động giáo dục của nhà trường không ngoài mục đích mang tính giáo dục cao, truyền tải đến các em tư tưởng yêu nước, ý thức rèn luyện bản lĩnh, ý chí vươn lên chiếm lĩnh tri thức hiện đại, tính cộng đồng, thống nhất, đoàn kết; nhà trường là môi trường học đường để SV có điều kiện rèn luyện và chủ động phát triển cá nhân về đạo đức, nhân cách và chuyên môn nghề nghiệp. Đề xuất một số giải pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV chúng tôi nhận thấy các giải pháp tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau: nó vừa là tiền đề, vừa là điều kiện, bổ sung cho nhau. Có nghĩa là, giải pháp này có thể là tiền đề, tạo ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện những giải pháp khác; mặt khác, mỗi giải pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ưu điểm của giải pháp này sẽ bổ sung cho khiếm khuyết của giải pháp khác. Việc thực hiện các giải pháp cũng có tính chất thời điểm, vì ở thời gian này có thể sử dụng một hay một số giải pháp này nhưng ở thời điểm khác thì các giải pháp khác sẽ lại trở thành trọng yếu. Tuy nhiên, để có những cộng hưởng tới nhân cách của SV ngành Y thì nhà trường phải phối kết hợp các giải pháp khác nhau. C. KẾT LUẬN Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV là một yêu cầu khách quan của sự nghiệp giáo dục đào tạo tại các trường chuyên nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay có dấu hiệu xuống cấp về đạo đức của một bộ phận không nhỏ SV. Thực hiện tốt công tác đạo đức nghề nghiệp cho SV, góp phần đẩy lùi các biểu hiện suy thoái, tiêu cực về đạo đức nói chung, đạo đức nghề nghiệp nói riêng, xây dựng môi trường SV trong sạch, lành mạnh góp phần hình thành đạo đức nhân cách tốt cho thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ cán bộ "vừa hồng, vừa chuyên". Đối với SV ngành Y, giáo dục đạo đức nghề nghiệp là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đó là hành trang nghề nghiệp của các em trước khi bước vào nghề. Trong bối cảnh hiện nay cả xã hội đang quan tâm đến vấn đề thực hiện y đức của cán bộ, nhân viên ngành Y, vì vậy việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Qua nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV tại Trường CĐYT Nghệ An chúng tôi nhận thấy: 1. Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV của trường CĐYT Nghệ An đã đạt được những kết quả nhất định. Đó là nhà trường đã thực hiện các nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV thông qua việc tổ chức các hoạt động với những hình thức tổ chức phong phú, đa dạng, đã tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của SV, hình thành ở các em những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cho lao động của người thầy thuốc sau khi ra trường nhận công tác. Tuy nhiên, còn có một số nội dung chưa được nhà trường thực hiện thường xuyên, hoặc hiệu quả chưa cao. Do vậy, nhà trường cần phải chú trọng, phát huy tác dụng của từng nội dung và biết kết hợp đồng bộ các nội dung, tạo ra sự nhất trí với các lực lượng tham gia giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và giáo dục đạo đức nghề nghiệp nói riêng. 2. Về phía SV, đa số các em đã nhận thức được các tiêu chuẩn phẩm chất cơ bản đối với lao động của người thầy thuốc, đặc biệt là những phẩm chất đặc trưng cho nghề thầy thuốc được các em lựa chọn cao. Bên cạnh đó, về thái độ của SV đối với nghề y, mức độ yêu nghề và rất yêu nghề tỷ lệ cũng rất cao. Đây là những yếu tố thuận lợi trong công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ SV nhận thức chưa đúng về đạo đức nghề nghiệp của nghề thầy thuốc, do các em chưa yêu thích ngành nghề đã lựa chọn hoặc do bộ phận SV này có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Do vậy nhà trường phải nắm được số lượng SV này và cần có biện pháp giáo dục phù hợp, giúp các em nắm được những phẩm chất nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn. 3. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV Trường CĐYT Nghệ An với mục đích cuối cùng của luận văn là nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành Y nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường. Do vậy, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, bổ sung, nội dung và cách thức thực hiện công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV các trường chuyên nghiệp y tế nói chung và Trường CĐYT Nghệ An nói riêng phù hợp với thực tiễn công tác giáo dục đào tạo CBYT của đất nước ta hiện nay. Tuy nhiên, tác dụng mỗi giải pháp có những mức độ khác nhau, vì vậy nhà trường cần vận dụng, lồng ghép, phối kết hợp các giải pháp, các lực lượng giáo dục để đạt kết quả cao nhất. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Lê Hữu Ái và Lê Thị Tuyết Ba (2008), Các nội dung và hình thức giáo dục đạo đức cho sinh viên Đại học Đà Nẵng hiện nay, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Nguyễn Quốc Anh (1997), “Công tác giáo dục đạo đức, chính trị cho học sinh, sinh viên”, Tạp chí Cộng sản, (2). Bộ Y tế (1999), Quy định về y đức và tiêu chuẩn phấn đấu, Nxb Y học. Bộ Y tế (2001), Quy chế bệnh viện, Nxb Y học. Bộ Y tế (2001), Quản lý bệnh viện, Nxb Y học. Bộ Y tế, (2003) Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, Nxb Y học. Bộ Y tế (2007), Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân, Nxb Y học. Nguyễn Trinh Cơ (dịch, 1986), Đạo đức y học, Nxb Y học. Nguyễn Thị Minh Chiến (2009), Giáo dục đạo đức cho học sinh, Trường Đại Sư phạm Hà Nội. Lê Duẩn (1962), Càng yêu người bao nhiêu, thì càng yêu nghề bấy nhiêu, Bài nói chuyện của đồng chí Lê Duẩn tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngày 29/6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. Giáo trình đạo đức học (2000), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. Giáo trình tâm lý học và y đức (2009), Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An PGS. TS. Bùi Minh Hiền (2000 - 2001), Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. C. Mác và F. Ăng-ghen, Toàn tập, tập 21. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9. Hoàng Phê (1998), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng. Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào (1979), Tập 1, Nxb Giáo dục. PGS. TS. Trần Quốc Thành (1999 - 2000), Thực trạng và giải pháp ngăn ngừa tệ nạn xã hội trong sinh viên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trần Trọng Thuỷ (1993), “Một số khía cạnh tâm lý học trong giáo dục đạo đức cho học sinh PTTH”, Nghiên cứu Giáo dục, (1). PGS.TS. Nguyễn Xuân Uẩn (1996 - 1997), Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên Đại học Sư phạm phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH, Đại học Quốc gia Hà Nội. Một số website: Đại cương về đạo đức y học và đạo đức người thầy thuốc Việt Nam. http:/thegioitoi, Y đức còn quan trọng hơn cả nghiệp vụ, theo Báo sức khoẻ và đời sống (2005). “Lăn” vào cuộc sống để rèn y đức, ra ngày 24/01/2009. PHỤ LỤC PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN CỦA SINH VIÊN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NGHỆ AN 1. Theo anh, chị những về các tiêu chuẩn, phẩm chất cần thiết của người thầy thuốc là: 1. Có phẩm chất đạo đức tốt 2. Có tình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi 3. Yêu thương mọi người 4. Có năng lực thực hành tốt 5. Có lòng thương yêu bệnh nhân 6. Say mê nhiệt tình với nghề nghiệp 7. Có niềm tin nghề nghiệp 8. Tin yêu tôn trọng đồng nghiệp 9. Sẵn sàng phục vụ sự nghiệp y tế 10. Luôn học hỏi trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ 2. Động cơ anh, chị chọn vào nghề y là: 1. Tự nguyện 2. Do gia đình 3. Theo bạn bè 4. Xu thế xã hội 5. Lý do khác 3. Thái độ của anh, chị đối với ngành nghề đang học: - Yêu thích - Bình thường - Không thích 4. Theo anh, chị công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên có tầm quan trọng như thế nào: - Quan trọng - Bình thường - Không quan trọng 5. Theo anh, chị nhà trường quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp như thế nào: - Rất quan tâm - Bình thường - Chưa quan tâm 6. Theo anh, chị các lực lượng giáo dục của nhà trường tham gia công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên như thế nào (tích cực, bình thường, chưa tích cực): 1. Đảng uỷ nhà trường 2. Ban giám hiệu 3. Phòng Đào tạo 4. Phòng Công tác học sinh sinh viên 5. Đoàn thanh niên, Hội sinh viên 6. Các khoa chuyên môn 7. Giáo viên chủ nhiệm 8. Giáo viên giảng dạy 9. Tập thể lớp và Chi đoàn 10. Ban quản lý ký túc xá 7. Theo anh, chị nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên nhà trường thực hiện ở mức độ nào: Thường xuyên, không thường xuyên, Không thực hiện: 1. Giáo dục lòng yêu nghề 2. Giáo dục lòng yêu thương, tôn trọng bệnh nhân 3. Giáo dục ý thức học tập, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ 4. Giáo dục ý thức tự rèn luyện, tự bồi dưỡng 5. Giáo dục tác phong mẫu mực, quan hệ ứng xử tốt 6. Giáo dục tinh thần sẵn sàng nhận công tác ở những nơi khó khăn 7. Giáo dục phẩm chất trung thực, thật thà, đoàn kết 8. Giáo dục ý thức rèn luyện tay nghề 9. Giáo dục lòng nhân ái, vị tha 10. Giáo dục ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao 8. Theo anh, chị có suy nghĩ gì sau khi đi thực tập thực tế lâm sàng tại các cơ sở y tế: 1. Yêu nghề hơn 2. Bình thường 3. Được thực hành với công tác khám chữa bệnh 4. Vận dụng kiến thức đã học thành các kỹ năng, kỹ xảo 5. Rất thiết thực 6. Thích thú với nghề nghiệp 7. Chững chạc hơn 8. Mạnh dạn, tự tin trước tập thể 9. Năng động, sáng tạo 10. Tạo thói quen làm việc độc lập 9. Anh, chị đánh giá như thế nào về sự cần thiết của sự tự tu dưỡng, tự rèn luyện của bản thân ở các mức độ: Rất cần thiết, cần thiết, không cần thiết: 1. Tích cực học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ 2. Tích cực nghiên cứu tài liệu 3. Tham gia tích cực công tác nghiên cứu khoa học 4. Có lối sống trong sạch, lành mạnh 5. Gương mẫu ở mọi nơi, mọi lúc 6. Luôn học hỏi, cầu thị 7. Thực hiện đầy đủ các nội quy, quy chế của nhà trường 8. Luôn trau dồi phẩm chất đạo đức 9. Lịch sự, tế nhị trong giao tiếp, ứng xử 10. Chống lối sống ích kỷ, thực dụng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docla_006975_4294 (1).doc
Luận văn liên quan