Luận văn Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay

Nguồn vốn FDI đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Đối với Đà Nẵng, nguồn vốn này lại càng có ý nghĩa quan trọng. Nghị quyết Đại hội X của Đảng và các nghị quyết của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đều đã khẳng định rằng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng đối với các thành phần kinh tế khác.

pdf112 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 17/11/2013 | Lượt xem: 2519 | Lượt tải: 27download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
xử lý tất cả các vấn đề đó sau khi cấp phép cho nhà đầu tư. - Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở thành phố. Muốn vậy, phải xây dựng và ban hành quy định về trình tự thủ tục hành chính trong lĩnh vực thu hút dự án FDI theo hướng phân định rõ ràng quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ, thời gian hoàn thành công việc được giao của từng cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan trực tiếp đến FDI nhằm loại bỏ sự chồng chéo về thẩm quyền giữa các cơ quan quản lý nhà nước, bảo đảm thời gian giải quyết, phòng chống tệ nạn quan liêu, tham nhũng, tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thông thoáng, cởi mở, minh bạch; quy định cụ thể về phối hợp giữa các sở, ban, ngành liên quan đến lĩnh vực FDI trong cả 3 giai đoạn trước, trong và sau khi cấp phép đầu tư. Quy định thời hạn cụ thể mà mỗi đơn vị liên quan phải trả lời Trung tâm Xúc tiến đầu tư các vấn đề liên quan đến dự án, nếu quá thời hạn mà không trả lời thì coi như đã đồng ý với ý kiến của Trung tâm Xúc tiến đầu tư về vấn đề được hỏi. Thực hiện chế độ giao ban định kỳ giữa các cơ quan quản lý có liên quan, duy trì thường xuyên việc tiếp xúc trực tiếp giữa các cơ quan quản lý nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài để kịp thời xử lý những vướng mắc phát sinh do thủ tục hành chính gây ra. Sau khi nhà đầu tư được cấp giấy phép và nhận được thông báo của Trung tâm Xúc tiến đầu tư, các cơ quan và địa phương liên quan như: Trung tâm Kỹ thuật đo đạc địa chính (Sở Tài nguyên và Môi trường), Viện Quy hoạch xây dựng (Sở Xây dựng), Ban Giải toả đền bù các dự án đầu tư và xây dựng (Văn phòng UBND thành phố)... tiến hành nhanh các bước để giao mặt bằng sớm nhất có thể cho nhà đầu tư. Đây có thể được coi là khâu đột phá của cải cách thủ tục hành chính liên quan đến thu hút FDI ở Đà Nẵng nói riêng và các địa phương trong cả nước nói chung, đặc biệt là đối với các dự án nằm ngoài các KCN. Chính quyền thành phố phải quy định rõ ràng, công khai các thủ tục hành chính trên cơ sở đã đơn giản hóa và giảm bớt các thủ tục không cần thiết. Kiên quyết xử lý nghiêm khắc những trường hợp sách nhiễu, cửa quyền, tiêu cực, vô trách nhiệm của cán bộ có liên quan đến hoạt động đầu tư. Xóa bỏ tình trạng “phép vua thua lệ làng” đang tồn tại lâu nay ở nhiều cấp quản lý. Mọi vi phạm, không thực hiện nghiêm túc những quy định, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều phải làm rõ trách nhiệm theo quy định của pháp luật, không loại trừ người đó là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. 3.2.4. Xây dựng các khu công nghiệp tập trung và giải quyết vấn đề quyền sử dụng đất cho sản xuất công nghiệp, dịch vụ Đà Nẵng là thành phố có diện tích không lớn, do vậy, các KCN thực sự là địa điểm thu hút phần lớn vốn FDI. Số dự án FDI ở trong các KCN hiện nay chiếm trên 50% tổng số dự án FDI trên địa bàn, trong đó chủ yếu là các dự án quy mô lớn. Toàn thành phố đang có tổng cộng 5 KCN với tổng diện tích 1.450 ha, trong đó còn 600 ha, chiếm 41,3%, chưa có nhà đầu tư thuê đất, cần tập trung thu hút. Các KCN có lợi thế là được ưu đãi về chính sách, có kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, có dịch vụ hỗ trợ đi kèm, thời gian giao đất cho nhà đầu tư nhanh. Về phát triển và khai thác KCN để thu hút đầu tư, Đà Nẵng cần tập trung xử lý những vấn đề sau: - Đối với các KCN do chủ đầu tư là Công ty Phát triển và khai thác hạ tầng KCN dùng vốn ngân sách để đầu tư thì cần tiếp tục hoàn chỉnh một số công trình hạ tầng kỹ thuật dở dang, thu hút các dự án để lấp đầy. Cụ thể, đối với KCN dịch vụ thuỷ sản Thọ Quang, cần tiếp tục thực hiện chủ trương chuyển quyền sử dụng đất trong KCN cho các nhà đầu tư trong nước, đồng thời kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài có năng lực trong lĩnh vực chế biến thuỷ sản đầu tư vào KCN này. Ngoài ra, cần đẩy mạnh tiến độ thi công và hoàn chỉnh hạ tầng khu công nghệ cao Hoà Cầm. - Đối với KCN Đà Nẵng (khu chế xuất Masda cũ), tiếp tục kêu gọi các dự án công nghệ sạch, tuyệt đối không gây ô nhiễm môi trường vì gần các khu du lịch ven biển. - Thực hiện chủ trương xã hội hoá để huy động nguồn vốn từ nhiều thành phần kinh tế để đầu tư vào KCN Hoà Khánh (mở rộng) và KCN Liên Chiểu theo hướng đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, hoàn chỉnh, không thực hiện theo phương pháp cuốn chiếu như trước đây. Mục tiêu hướng tới là thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, với các dự án sử dụng ít lao động nhưng công nghệ cao, sạch, bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường. - Tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý nhà nước đối với các KCN. i) Tiếp tục thực hiện cơ chế “một cửa”. ii) Tin học hoá các hoạt động quản lý nhà nước trong các KCN, cập nhập thông tin kịp thời cung cấp cho các nhà đầu tư, tiếp nhận, xử lý và phản hồi những thông tin nhà đầu tư quan tâm. iii) Tiến hành đào tạo lại, nâng cao cả trình độ năng lực lẫn phẩm chất cho cán bộ làm việc tại Ban Quản lý các KCN và chế xuất, đáp ứng tốt yêu cầu của nhà đầu tư. 3.2.5. Đổi mới, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư Giải pháp này đòi hỏi phải có sự quan tâm của tất cả các cấp, các ngành, các cơ quan nhà nước, đồng thời phải được triển khai đồng bộ các biện pháp xúc tiến với sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ban ngành. Cần quan tâm củng cố các điều kiện cần thiết và lực lượng cán bộ cho Trung tâm Xúc tiến đầu tư Đà Nẵng. Phải thường xuyên đổi mới về nội dung và phương thức vận động, xúc tiến đầu tư. Các chương trình vận động xúc tiến đầu tư phải được thực hiện theo ngành, lĩnh vực, địa bàn với các dự án và đối tác cụ thể, hướng vào các đối tác nước ngoài có tiềm lực về tài chính và công nghệ cao. Về ngành, lĩnh vực, cần tập trung vận động đầu tư vào các dự án sản xuất hàng xuất khẩu, các dự án áp dụng công nghệ cao, công nghệ thông tin, điện tử… Về đối tác, cần mở rộng, đa phương hóa quan hệ hợp tác với các nhà đầu tư thông qua các hoạt động đối ngoại, các diễn đàn quốc tế, các hoạt động xúc tiến đầu tư trong khuôn khổ hợp tác ASEAN, APEC, ASEM và các cuộc hội thảo về hợp tác đầu tư trong nước và ngoài nước. Cần xác định đối tác chiến lược của hoạt động xúc tiến đầu tư, trong đó rất chú trọng thu hút các công ty xuyên quốc gia, các nước có công nghệ nguồn, có năng lực tài chính, tiến tới xóa bỏ tình trạng thu hút các nhà đầu tư thiếu năng lực hay trung gian môi giới. Mặt khác, để nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư, cần chú ý đến đặc điểm của từng nước, từng đối tác, như đối với Hoa Kỳ chủ yếu là hoạt động của các công ty xuyên quốc gia; đối với EU chủ yếu là những quy định pháp lý trong nội bộ khối; đối với Nhật Bản là việc quan hệ chính phủ, cá nhân nguyên thủ quốc gia có tác dụng quan trọng trong việc khai thông mở đường cho hoạt động của các nhà đầu tư. Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo tình hình kinh tế, thị trường của các nước đối tác, đặc điểm và xu thế vận động của FDI trong từng giai đoạn; chú ý nâng cao chất lượng thông tin, nhất là thông tin về luật pháp, chính sách, kinh nghiệm của nước ngoài cũng như các địa phương trong nước, thông tin tuyên truyền, quảng cáo về môi trường đầu tư ở Đà Nẵng. Bố trí ngân sách thích đáng phục vụ hoạt động vận động, xúc tiến đầu tư, chú ý cho hoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư, các văn phòng đại diện của thành phố ở nước ngoài. Hình thức vận động đầu tư nước ngoài cần được đặc biệt chú ý. Thời gian qua, Đà Nẵng cũng như nhiều địa phương khác chủ yếu vận động theo kiểu “bán cả mớ”, chủ yếu đưa ra nhiều danh mục dự án để thu hút đầu tư mà không cần biết phía đối tác quan tâm đến những lĩnh vực nào. Việc xây dựng danh mục gọi vốn đầu tư nước ngoài chưa tính đến nhu cầu và điều kiện cụ thể của nhà đầu tư nước ngoài. Nội dung, hình thức tổ chức kêu gọi, thu hút đầu tư nước ngoài còn đơn giản, nặng về tuyên truyền luật pháp, chính sách mà chưa tập trung vào chương trình vận động, kêu gọi đối với từng đối tác, lĩnh vực hoặc dự án cụ thể, kinh phí phục vụ công tác xúc tiến đầu tư còn eo hẹp. Do vậy, cần nâng cao nghiệp vụ, tận dụng các nguồn lực bên ngoài để đa dạng hoá các hình thức vận động đầu tư. Đà Nẵng đã có Trung tâm Xúc tiến đầu tư, do vậy các hoạt động xúc tiến đầu tư phải được tập trung thực hiện tại cơ quan này. Để thực hiện có bài bản công tác xúc tiến đầu tư, trước hết phải tập trung xây dựng một chiến lược xúc tiến đầu tư cho giai đoạn 2006 - 2010, tầm nhìn đến 2020. Đây là công việc rất quan trọng, đòi hỏi sự đầu tư nghiêm túc, có tính đến cả việc mời cơ quan tư vấn có uy tín trong nước và quốc tế cùng tham gia xây dựng, nhằm tạo ra kim chỉ nam cho hoạt động xúc tiến đầu tư. Cơ sở để xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư cần bám sát mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đà Nẵng đến 2010; phương hướng nhiệm vụ phát triển Đà Nẵng đến năm 2020. Chiến lược cần dựa trên xu hướng đầu tư nước ngoài trên thế giới và khu vực; các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư. Xác định cụ thể các ngành nghề và đối tác ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài như đã trình bày ở phần định hướng về lĩnh vực và nước đầu tư. Tiếp theo, xúc tiến đầu tư còn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi kế hoạch hành động cụ thể, quy định rõ thời gian và các công việc cơ bản phải hoàn thành trong từng khoảng thời gian nhất định. Ngoài ra, cần nâng cao kỹ năng xúc tiến đầu tư, tập trung vào việc xây dựng và củng cố hình ảnh của Đà Nẵng trong con mắt nhà đầu tư nước ngoài, đây là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cải thiện, nâng cao nhận thức và đi đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Các hoạt động xây dựng nhận thức và hình ảnh là nền tảng của công tác xúc tiến đầu tư, khi nhà đầu tư thiếu hiểu biết hoặc có cảm nhận tiêu cực về một địa phương thì mọi cố gắng, nỗ lực để xúc tiến đầu tư sẽ không có hiệu quả. Xây dựng và củng cố hình ảnh làm sao để nhà đầu tư luôn nghĩ rằng Đà Nẵng là một địa điểm đầu tư hấp dẫn. Hình ảnh hiện nay về Đà Nẵng nói riêng, miền Trung nói chung trong nhận thức của nhiều nhà đầu tư nước ngoài vẫn là một vùng đất nghèo nàn, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, kinh tế - xã hội kém phát triển, thị trường tiêu thụ nhỏ bé, kết cấu hạ tầng yếu kém, ... Do vậy, Đà Nẵng cần tuyên truyền theo hướng tập trung vào những vấn đề để tác động trực tiếp, làm thay đổi nhận thức nêu trên của nhà đầu tư nước ngoài. Các thông tin phục vụ công tác tuyên truyền phải đảm bảo chính xác, trung thực và nhất quán; trong đó cần làm nổi bật những lợi thế so sánh của Đà Nẵng mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Chẳng hạn về du lịch, Đà Nẵng có lợi thế là nằm giữa vùng có các di sản văn hoá thế giới là Hội An, Mỹ Sơn, Huế; có bãi biển được tạp chí Forbes của Hoa Kỳ bầu chọn là một trong 6 bãi biển đẹp nhất hành tinh với hàng loạt bãi tắm sạch đẹp như Non Nước, Bắc Mỹ An, Mỹ Khê; khu vực bán đảo Sơn Trà đặc biệt thích hợp cho du lịch lặn; có Cảng biển nước sâu Tiên Sa công suất 5 triệu tấn/năm, đón được các tàu du lịch biển loại lớn; có sân bay quốc tế duy nhất ở miền Trung Việt Nam; là điểm cuối hành lang kinh tế Đông - Tây nối dài từ Myanmar, Đông Bắc Thái Lan, Lào, theo đường 9 ra quốc lộ 1, xuyên qua Hầm đường bộ Hải Vân về Cảng Tiên Sa. Cần sử dụng tổng hợp nhiều công cụ để xây dựng, quảng bá hình ảnh Đà Nẵng với các nhà đầu tư, gọi chung là công cụ quảng bá, tuyên truyền. Theo Công ty tư vấn Quốc tế Đức (có tên là Regionomica) thì các công cụ được các cơ quan xúc tiến đầu tư trên thế giới sử dụng nhiều nhất theo thứ tự như sau: tờ gấp giới thiệu, Internet, viếng thăm các công ty, hội chợ, các bài đăng trên tạp chí, quảng cáo, triển lãm, trao đổi thư từ, hội thảo, tiếp thị qua điện thoại và các công cụ khác. Đối với Đà Nẵng, công tác xúc tiến đầu tư thời gian qua đã sử dụng nhiều công cụ quảng bá, quảng cáo như tờ gấp, sách giới thiệu, các bản tin, các bài viết trên tạp chí, CD-ROM, Internet, hội thảo, triển lãm nhằm giới thiệu những thông tin cơ bản về Đà Nẵng. Trong giai đoạn 2006 - 2010, Đà Nẵng cần hướng ưu tiên vào việc tổ chức hội nghị, hội thảo xúc tiến đầu tư, triển lãm, hội chợ, giao dịch qua thư từ, điện thoại. Thông tin quảng bá giới thiệu cần chuyển hướng từ tổng quan sang chi tiết. Đặc biệt phải chọn lựa, viếng thăm các công ty để tiếp cận, theo đuổi đến cùng những nhà đầu tư nước ngoài cụ thể; hạn chế dần việc tiếp đón các nhà đầu tư vãng lai thường có năng lực kém. Sử dụng các nhà đầu tư lớn, đang làm ăn có uy tín ở Việt Nam hoặc ở Đà Nẵng để lôi kéo các nhà đầu tư khác, đây cũng là cách làm hiệu quả. Mặt khác, những nhà lãnh đạo cao nhất của thành phố như: Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố, Chủ tịch UBND thành phố trực tiếp tiếp kiến các nhà đầu tư cũng là cách xúc tiến đầu tư cần được chú trọng. Tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa Trung tâm Xúc tiến đầu tư với các cơ quan, tổ chức trong nước và nước ngoài. Hiện nay, với vai trò là cơ quan ngang sở trực thuộc UBND thành phố thì mối quan hệ phối hợp giữa Trung tâm Xúc tiến đầu tư với các cơ quan, tổ chức trong nước không đáng lo ngại, tuy nhiên mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức nước ngoài còn yếu. Đà Nẵng cần tập trung thiết lập quan hệ với các tổ chức xúc tiến, thương mại của các nước như JETRO (Tổ chức xúc tiến ngoại thương Nhật Bản), KOTRA (Cơ quan Xúc tiến đầu tư của Hàn Quốc). Đây là những tổ chức có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xúc tiến đầu tư, có khả năng cung cấp thông tin chính xác về các nhà đầu tư tiềm năng ở nước sở tại, là một kênh quảng cáo về Đà Nẵng, về môi trường và cơ hội đầu tư tại Đà Nẵng đến với các nhà đầu tư nước ngoài. Tăng cường hơn nữa hiệu quả hoạt động của Văn phòng đại diện Đà Nẵng tại TOKYO, làm cầu nối quan trọng để kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư Nhật Bản, nhất là trong bối cảnh đang có làn sóng đầu tư mới từ Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian tới. Thêm vào đó, cũng cần chú trọng việc thiết lập, duy trì mối quan hệ với các tổ chức xây dựng năng lực về xúc tiến đầu tư như MIGA (Cơ quan Đảm bảo đầu tư đa biên), UNESCAP (Uỷ ban Kinh tế và Xã hội Châu Á-Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc), Tổ chức Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) để học hỏi kinh nghiệm cũng như tranh thủ nguồn tài trợ cho việc tổ chức các hội nghị kêu gọi đầu tư ở nước ngoài, đào tạo, nâng cao năng lực xúc tiến đầu tư. Có chính sách khen thưởng, đãi ngộ thích đáng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động vận động, xúc tiến đầu tư. 3.2.6. Phát triển và nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng đô thị Kinh nghiệm thực tiễn ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới cho thấy, nơi nào có cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật tốt thì nơi đó có sức hấp dẫn hơn đối với nhà đầu tư. Ngược lại, nơi đâu dù có chính sách hấp dẫn nhưng kết cấu hạ tầng thấp kém vẫn khó có thể lôi kéo được nhà đầu tư. Vì vậy, phải coi xây dựng kết cấu hạ tầng như là điều kiện tiên quyết, bắt buộc không chỉ đối với đòi hỏi trước mắt và cả lâu dài, không chỉ tạo tiền đề cho thu hút đầu tư mà cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Trong thời gian qua, Đà Nẵng đã thực hiện nhất quán chủ trương chính sách kết cấu hạ tầng đi trước, làm đòn bẩy thu hút đầu tư trong và ngoài nước, bước đầu đạt được những thành công nhất định. Tuy nhiên, so với yêu cầu thì Đà Nẵng cần phải đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa chất lượng kết cấu hạ tầng nếu muốn thu hút nhiều hơn nguồn vốn FDI. Cần đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ. Tập trung đầu tư đúng mức kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện thuận lợi đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư, đồng thời chú trọng tạo lập môi trường kinh tế - xã hội và phát triển các công trình ngoài KCN. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đô thị, hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại đi đôi với nâng cao năng lực quản lý đô thị. Nghiên cứu cải tạo và xây dựng mới một số cầu qua Sông Hàn, trong đó đặc biệt chú trọng tập trung nguồn lực kể cả trong và ngoài nước xây dựng Cảng biển Liên Chiểu thành cảng trung chuyển hàng hoá quốc tế, cùng với Cảng Tiên Sa phục vụ tốt nhu cầu vận chuyển hàng hoá cho các nhà đầu tư, làm cảng cửa ngõ phục vụ phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Đẩy nhanh tiến độ thiết kế nhà ga quốc tế Sân bay Đà Nẵng để sớm khởi công xây dựng và đưa vào khai thác nhằm đạt công suất đón 1,5 triệu khách quốc tế hàng năm. Đẩy mạnh và tiến tới hoàn thiện đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng 5 khu công nghiệp: Hoà Khánh, Liên Chiểu, Hoà Cầm, Đà Nẵng, Thọ Quang. Đối với các KCN này, cần đầu tư các công trình trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh như cảng, điện, nước, hệ thống xử lý chất thải. Việc đầu tư cho các KCN không chỉ chú ý đến kết cấu hạ tầng kỹ thuật mà còn phải chú ý cả hạ tầng xã hội. Muốn vậy, phải đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào các KCN, như nhà ở cho công nhân, các khu vui chơi giải trí, trường học, bệnh viện, đáp ứng nhu cầu người lao động, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài theo hướng hiện đại, văn minh và tiêu chuẩn quốc tế. Để làm được điều đó, bên cạnh sự đầu tư vốn từ ngân sách nhà nước; của các doanh nghiệp nhà nước, Đà Nẵng cần có chính sách ưu đãi phù hợp nhằm thu hút các dự án tư nhân, kể cả FDI vào lĩnh vực dịch vụ cao cấp phục vụ nhu cầu an sinh, vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi. Đà Nẵng có thể nghiên cứu cải thiện điều kiện nhà ở cho công nhân bằng cách không thu tiền thuê đất để doanh nghiệp tự đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân của mình, thực hiện hỗ trợ vốn, các chính sách thuế ưu đãi khuyến khích và xã hội hoá dịch vụ nhà ở công nhân các KCN. Tiếp tục đẩy mạnh khai thác quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng. Phải có biện pháp thích hợp trong liên doanh liên kết, hợp tác, khuyến khích ưu đãi nhằm thu hút các doanh nghiệp có tiềm lực cùng bỏ vốn tham gia xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng dưới nhiều hình thức khác như BOT, BTO, BT. Những dự án mà nhà đầu tư tự bỏ vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng thì có kế hoạch chi trả hoặc động viên thích đáng để tạo niềm tin cho nhà đầu tư. Ngoài ra, cần thu hút nguồn vốn ODA và các nguồn vốn tư nhân khác phục vụ nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng. Hình thức trái phiếu công trình cũng là phương thức huy động vốn hữu hiệu trong thời kỳ tốc độ đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ. 3.2.7. Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Để nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động kêu gọi, thu hút vốn FDI, Đà Nẵng cần chú trọng đến công tác đào tạo cán bộ quản lý; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề có chất lượng cao. Theo hướng này, các cấp, các ngành có liên quan cần khẩn trương xây dựng, triển khai các đề án tổ chức đào tạo (bao gồm đào tạo mới và đào tạo lại) cán bộ kinh doanh, quản lý, công nhân kỹ thuật làm việc trong các doanh nghiệp FDI. Ngày nay, xu hướng sử dụng lao động giá rẻ, tay nghề phổ thông không còn phù hợp ở Đà Nẵng, nhất là với định hướng thu hút đầu tư của thành phố chuyển sang những lĩnh vực công nghệ cao, đòi hỏi đội ngũ lao động chất lượng cao trên các lĩnh vực như điện tử, công nghệ thông tin, điện kỹ thuật, cơ điện tử. Do vậy, cần tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, phổ cập giáo dục trung học, đảm bảo lao động ít nhất phải tốt nghiệp trung học phổ thông. Về đào tạo nghề, bên cạnh đầu tư và nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Kỹ thuật kinh tế (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội), thành phố cần đẩy mạnh hơn nữa chủ trương xã hội hoá trong đào tạo nghề, có cơ chế chính sách khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đầu tư vào lĩnh vực dạy nghề theo nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài. Việc đào tạo và cung cấp lao động, trước hết phải căn cứ vào định hướng phát triển các ngành kinh tế để có phương án bố trí hợp lý và đáp ứng được yêu cầu. Tập trung khắc phục điểm yếu lâu nay trong công tác đào tạo nghề là không đúng yêu cầu thực tế. Do vậy, cần khảo sát, đánh giá, xác định cụ thể những ngành nào cần phải đào tạo hiện nay và tương lai gần để định hướng cho các cơ sở đào tạo. Ngay từ giai đoạn đầu khi lập dự án đầu tư vào các KCN cần có sự phối hợp giữa nhà đầu tư với cơ quan quản lý lao động ở địa phương để nắm rõ nhu cầu nguồn lao động, từ đó chủ động tổ chức các khóa đào tạo lao động phù hợp cho dự án. Tạo cầu nối giữa nhà trường (nhà cung ứng nguồn nhân lực) với nhà đầu tư. Những ngành nghề cần ưu tiên đào tạo là điện, điện tử, tự động hoá, dịch vụ lễ tân, khách sạn, nhà hàng. Ngoài ra, tăng cường đào tạo tiếng anh giao tiếp cho lực lượng lao động để bảo đảm làm việc được với người nước ngoài, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Thành phố cần nghiên cứu hình thành Quỹ Đào tạo nghề chung cho công tác đào tạo lao động cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong KCN nhằm giảm bớt chi phí đào tạo của doanh nghiệp, đồng thời góp phần hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề ở thành phố. Quỹ Đào tạo nghề có thể được huy động từ nhiều nguồn, trong đó chú trọng sự đóng góp của các doanh nghiệp là những đơn vị được hưởng lợi từ chương trình này. Phát triển thị trường lao động cũng là biện pháp quan trọng để tăng tốc độ thu hút vốn FDI vào Đà Nẵng. Tổ chức “chợ việc làm” hàng tháng trên địa bàn thành phố. Củng cố lại các tổ chức đang làm nhiệm vụ tuyển dụng, tư vấn, cung cấp lao động cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Thành phố cần có chính sách thu hút nhân tài mạnh bạo hơn nữa để thu hút nhân lực cao cấp về làm việc trên các lĩnh vực liên quan đến hoạt động thu hút vốn FDI. Như vậy, cần gửi học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học, đi nước ngoài đào tạo bậc đại học, cán bộ đương chức đào tạo bậc tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ngoài. Thực hiện tốt chính sách thu hút nhân tài và cán bộ có trình độ cao trên các lĩnh vực, như quản lý sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ; tiếp tục thực hiện tốt chủ trương tuyển dụng, bố trí sinh viên khá, giỏi vào làm việc trong các cơ quan Nhà nước; chú trọng Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn nhằm chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho thành phố trong tương lai. Nghiên cứu, đề xuất Chính phủ xây dựng một Trung tâm dạy nghề hiện đại cho khu vực miền Trung và Tây Nguyên tại Đà Nẵng; kết hợp nhiều nguồn lực giữa trung ương, địa phương, các doanh nghiệp và tất cả các thành phần kinh tế mở rộng mạng lưới đào tạo nghề. Tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trong các trường dạy nghề. Mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề, theo hướng liên kết với các công ty xuyên quốc gia đưa người ra nước ngoài đào tạo nhằm cung cấp những chuyên gia có trình độ tay nghề cao cả về kỹ thuật và quản lý. 3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VÀ TỔ CHỨC TRONG NƯỚC 3.3.1. Đổi mới cơ chế, tổ chức bộ máy Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất, Trung tâm Xúc tiến đầu tư Hoạt động của Ban Quản lý các KCN và chế xuất lâu nay hiệu quả chưa cao, việc một Phó Chủ tịch UBND thành phố kiêm chức danh Trưởng Ban Quản lý các KCN và chế xuất chưa phải là giải pháp tối ưu về mặt nhân sự. Hoạt động xúc tiến đầu tư giữa Ban Quản lý các KCN và chế xuất thành phố và Trung tâm Xúc tiến đầu tư còn chồng lấn nhau, đôi khi gây mâu thuẫn với nhau. Có hai phương án cần nghiên cứu xử lý đối với cơ chế, tổ chức bộ máy của hai cơ quan này là: Phương án thứ nhất: Vẫn duy trì hai tổ chức như hiện nay, đều là các cơ quan trực thuộc UBND thành phố. Ban Quản lý các KCN và chế xuất làm nhiệm vụ quản lý nhà nước và xúc tiến các dự án đầu tư nước ngoài vào các KCN trên địa bàn thành phố, thẩm định và cấp giấy chứng nhận đầu tư theo thẩm quyền được giao. Trung tâm Xúc tiến đầu tư thực hiện chức năng xúc tiến các dự án đầu tư ngoài KCN, thẩm định và trình UBND thành phố cấp giấy chứng nhận đầu tư thuộc thẩm quyền của UBND thành phố. Phương án thứ hai: Sáp nhập hai tổ chức này thành một tổ chức gọi tên là Ban Quản lý các KCN và thu hút đầu tư, thực hiện nhiệm vụ của hai bên gộp lại, tạo thành một đầu mối tập trung thống nhất về hoạt động, tạo cho nhà đầu tư cảm giác yên tâm và thông tin nhất quán, tinh giảm bớt bộ máy hành chính. Trong trường hợp này, bộ máy lãnh đạo cơ quan này phải có đủ năng lực, năng động, giỏi ngoại ngữ thì mới có thể đáp ứng được nhiệm vụ giao. Trong khi chưa có quyết định cuối cùng về sắp xếp, củng cố hai tổ chức này, để thực hiện tốt hơn chức năng xúc tiến đầu tư, thành phố cần tập trung đổi mới cơ chế, tổ chức bộ máy của các cơ quan này, trong đó đặc biệt chú trọng đối với Trung tâm Xúc tiến đầu tư, cụ thể là: - Khẳng định rõ hơn vai trò “một cửa” của Trung tâm, giao quyền Trung tâm là cơ quan duy nhất được trả lời chính thức với các nhà đầu tư nước ngoài về các thông tin liên quan sau khi được UBND thành phố đồng ý. - Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư, chọn lựa những cán bộ trẻ, khỏe, thực sự năng động, sáng tạo, tâm huyết, đồng thời nghiên cứu có chính sách hỗ trợ kinh phí phụ cấp ngoài lương cho đội ngũ này yên tâm công tác lâu dài, ổn định. - Xây dựng hệ thống thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu để theo dõi tình hình đầu tư nước ngoài, thường xuyên cập nhật nhằm phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, hoạch định chính sách và cho nhà đầu tư tham khảo khi cần thiết. - Thành lập Văn phòng đại diện của Trung tâm Xúc tiến đầu tư tại một số nước (Nhật Bản, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Hoa Kỳ) để thường xuyên bám sát các nhà đầu tư lớn. Thiết lập đội ngũ cộng tác viên với Trung tâm Xúc tiến đầu tư cả trong nước và nước ngoài nhằm hỗ trợ cho các hoạt động Trung tâm, nhất là trong việc viết dự án cơ hội, nghiên cứu thị trường, cung cấp thông tin. - Tăng cường kinh phí từ ngân sách cho hoạt động của Trung tâm Xúc tiến đầu tư để đẩy mạnh các hoạt động quảng bá hình ảnh, tổ chức các đoàn công tác ra nước ngoài kêu gọi đầu tư. 3.3.2. Nâng cao năng lực quản lý và uy tín thương hiệu của các doanh nghiệp trong nước để phát triển liên doanh với nước ngoài Chính quyền thành phố thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhằm phát hiện những khó khăn, những yêu cầu chính đáng của doanh nghiệp để có những biện pháp giải quyết, hỗ trợ thích đáng và kịp thời. Đẩy mạnh phát triển thành phần kinh tế tư nhân, khuyến khích thành lập các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề để các doanh nghiệp cùng liên kết, hỗ trợ nhau phát triển. Thành phố cần khảo sát, lựa chọn một số cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp nhà nước trẻ, giỏi, phẩm chất tốt đưa đi đào tạo ở nước ngoài để nâng cao kỹ năng quản lý điều hành, hợp tác quốc tế nhằm sẵn sàng đại diện cho phía Việt Nam khi tham gia liên doanh. Ngoài ra, Đà Nẵng cần đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư trong nước, kêu gọi một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp mạnh trong nước đến đầu tư, sản xuất kinh doanh tại Đà Nẵng nhằm góp phần tạo nên thị trường hàng hoá đa dạng, phong phú, chất lượng cao; tạo lập môi trường làm ăn sôi động đủ sức hấp dẫn, lôi kéo các nhà đầu tư nước ngoài đến Đà Nẵng. 3.3.3. Phát triển các dịch vụ phát triển kinh doanh và các ngành sản xuất phụ trợ cho các ngành công nghiệp, dịch vụ Ngành công nghiệp phụ trợ hoặc thầu phụ (outsourcing) đóng vai trò rất quan trọng trong việc thu hút vốn FDI. Ngoài hiệu quả tạo nhiều công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa, công nghiệp phụ trợ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình CNH theo hướng vừa theo chiều rộng (broadening) vừa theo chiều sâu (deepening). Công nghiệp phụ trợ không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu [43, tr.174]. Trong xu thế phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng cao thì công nghiệp phụ trợ sẵn có tại địa phương là không thể thiếu và góp phần làm giảm đáng kể giá thành cho doanh nghiệp FDI, nhất là đối với các nhà đầu tư về sản xuất, lắp ráp phương tiện vận tải, điện tử, dệt may. Thực tế, hoạt động của các ngành công nghiệp phụ trợ tại Đà Nẵng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài và cũng là yếu tố gây bất lợi trong vận động, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Đà Nẵng. Bên cạnh đó, các dịch vụ phục vụ cho nhà đầu tư nước ngoài đến phát triển kinh doanh ở Đà Nẵng cũng còn yếu kém. Từ dịch vụ hàng không, cảng biển, ngân hàng, bãi biển cho đến khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí. Do vậy, việc phát triển các dịch vụ và các ngành sản xuất phục vụ cho các ngành công nghiệp, dịch vụ là vô cùng quan trọng nếu Đà Nẵng muốn cải thiện môi trường đầu tư của mình. Các biện pháp cần tập trung là các doanh nghiệp trong nước cần nỗ lực và có sự hỗ trợ của Nhà nước đầu tư sản xuất các ngành công nghiệp phụ trợ trên một số lĩnh vực như điện tử, cơ khí, dệt may, hoá chất... thu hút các nhà đầu tư nước ngoài xây dựng thêm một số khu nghỉ mát 5 sao ven biển, các khách sạn 5 sao ở khu vực trung tâm, chung cư cao cấp, văn phòng cho thuê, phát triển dịch vụ ngân hàng, dịch vụ vận chuyển hàng hoá, hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng sân golf Hoà Hải, sân golf Hòa Ninh, tiếp tục mở thêm các trường quốc tế, bệnh viện quốc tế. Thực tế cho thấy, thành tích về số vốn đầu tư, số lượng dự án tất nhiên là quan trọng, nhưng nhìn trên toàn cục, việc “thông” giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa trong nền kinh tế mới quan trọng hơn cả. Một trong những mục đích lớn của thu hút FDI là tạo ra những hiệu ứng lan tỏa từ khu vực FDI tới khu vực doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp nước ngoài tiêu thụ các sản phẩm sẵn có trong nước, thay vì nhập khẩu sẽ dẫn đến tăng thu nhập và lợi nhuận cho công ty nội địa, mang lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân. 3.3.4. Những giải pháp mang tính kiến nghị về chính sách và quản lý đối với Trung ương Để khơi dậy, phát huy và khai thác mọi nguồn lực, tiềm năng, lợi thế so sánh, tạo bước đột phá để Đà Nẵng thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn FDI, phát triển nhanh và bền vững theo phương hướng mục tiêu đã được xác định đến năm 2010, vươn lên xứng đáng là đô thị loại 1, góp phần thúc đẩy phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước, một số giải pháp kiến nghị với Trung ương về chính sách và quản lý như sau: Thứ nhất, đề nghị Chính phủ chỉ đạo tập trung xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đặc biệt là các yếu tố tạo vùng như quy hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng về mạng lưới giao thông, cảng biển, sân bay, KCN…; thực hiện các cơ chế chính sách ưu đãi về nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, vốn ODA, về trái phiếu Chính phủ, tín dụng kế hoạch, các ưu đãi cao hơn về thuế, tiền thuê đất trong các KCN; đồng thời ban hành quy chế phối hợp giữa các ngành, các địa phương, tạo không gian kinh tế thống nhất của vùng, trong đó Đà Nẵng là một cực phát triển đóng vai trò động lực trong phát huy lợi thế so sánh của mỗi địa phương trong vùng để cùng phát triển. Trong vấn đề qui hoạch, chú ý các khu kinh tế, các KCN và hệ thống hạ tầng kỹ thuật, chủ yếu là các sân bay, bến cảng ở các tỉnh miền Trung. Việc qui hoạch các khu kinh tế, các KCN và hạ tầng kỹ thuật cho các tỉnh miền Trung hiện nay đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực trong tương lai. Tuy nhiên, Chính phủ cần có lộ trình đầu tư cho các dự án trên một cách phù hợp để có thể thu hút được nguồn vốn đầu tư, nhất là từ nước ngoài. Nếu ở miền Trung mà tỉnh, thành phố nào cũng muốn có một khu kinh tế lớn hoặc một cảng lớn thì sẽ rất lãng phí. Sự phân tán trong thu hút đầu tư và sử dụng hạ tầng kỹ thuật sẽ tạo nên một sự lãng phí lớn cho nguồn vốn đầu tư. Không có sự tập trung đầu tư thì sẽ không tạo nên sự đột phá trong phát triển. Một ví dụ về hạ tầng kỹ thuật là Cảng Đà Nẵng được đầu tư lớn trong nhiều năm qua nhưng chi phí vận chuyển đi quốc tế vẫn còn rất cao so với hai đầu đất nước, gây rất nhiều khó khăn cho nhà đầu tư. Muốn giảm giá thành thì phải nâng lưu lượng hàng hoá. Điều này đang bị cản trở do hiện nay có rất nhiều cảng đang được phát triển phân tán trong khu vực. Cần sắp xếp lại các hệ thống cảng và sân bay, dành ưu tiên cho Cảng biển và Sân bay quốc tế Đà Nẵng, nơi có nhiều điều kiện hơn được tổ chức vận chuyển quốc tế để tăng cường lượng hàng hoá và hành khách, tạo điều kiện cho địa phương này phát triển hết công suất trước khi mở rộng ra các địa phương khác. Vào thời điểm hiện nay, nên để các cảng và sân bay ở các địa phương khác có chức năng hỗ trợ, tập trung nguồn hàng và hành khách cho Đà Nẵng. Thứ hai, đề nghị Chính phủ ưu tiên bố trí các nguồn vốn và sớm triển khai đầu tư các công trình trọng điểm có tác động đến sự phát triển của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung như: đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi và đường sắt hai chiều Đà Nẵng - Quảng Ngãi; dự án Cảng biển Liên Chiểu, ga hàng không quốc tế Đà Nẵng; xây dựng Làng Đại học Đà Nẵng trở thành một trong ba trung tâm đại học của cả nước, xây dựng Khu liên hợp thể thao theo tiêu chuẩn hiện đại đóng vai trò là một trung tâm thể thao cấp quốc gia tại Đà Nẵng; xây dựng các viện nghiên cứu chuyên ngành tại Đà Nẵng; di dời ga đường sắt, các kho bom đạn, vũ khí, vật liệu nổ và các kho xăng dầu ra khỏi trung tâm thành phố, ra khỏi các khu dân cư và khu du lịch. Hỗ trợ vốn đầu tư đối với các công trình trọng điểm của Đà Nẵng có tác động thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh như: đường du lịch ven biển Sơn Trà - Điện Ngọc, đường Đà Nẵng - Hội An, Khu công nghệ cao Hoà Cầm. Thứ ba, cho phép thành phố được sử dụng khu vực bán đảo Sơn Trà, Hải Vân, phục vụ phát triển kinh tế, văn hoá, dịch vụ du lịch và sớm bàn giao sân bay Nước Mặn để phát triển du lịch. Đối với sân bay Nước Mặn, thành phố đảm bảo giữ nguyên trạng sân bay trong quá trình sử dụng cho hoạt động du lịch để khi cần thiết sẵn sàng đáp ứng nhu cầu quốc phòng - an ninh. Thứ tư, để tận dụng tối đa lợi thế về vị trí địa lý đặc thù, phát triển dịch vụ du lịch, cho phép thành phố được quy hoạch, kêu gọi đầu tư một số khu du lịch cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế với những dịch vụ vui chơi giải trí đa dạng, phong phú, hấp dẫn, hiện đại, trong đó có casino dành riêng cho người nước ngoài, sớm xây dựng Đà Nẵng thành một trong những trung tâm du lịch mang tầm cỡ khu vực và quốc tế. Thứ năm, cho phép thành phố được hưởng cơ chế tài chính ưu đãi, tăng thoả đáng tỷ lệ điều tiết cho ngân sách thành phố đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương và ổn định trong 5 năm; đồng thời hằng năm hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương để thành phố có thêm nguồn vốn đầu tư phát triển. Riêng đối với vốn xây dựng cơ bản tập trung hàng năm, đề nghị cân đối năm sau tăng hơn năm trước 50%. Cho phép thành phố được huy động thêm nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng bằng cách phát hành trái phiếu đô thị theo cơ chế tự vay, tự trả thông qua ngân sách thành phố; được vay tiền từ các tổ chức tài chính quốc tế, các địa phương nước ngoài trên cơ sở đảm bảo kiểm soát nợ của Chính phủ. Thứ sáu, cho phép được thực hiện thí điểm đối với những vấn đề mà thực tiễn thành phố đặt ra nhưng chưa có quy định hoặc đã quy định nhưng không còn phù hợp, sau khi có phương án được Chính phủ phê duyệt; cho phép thành phố được thí điểm bán nhà ở gắn liền với chuyển quyền sử dụng đất đối với người nước ngoài ở những vị trí hợp lý. Thứ bảy, ban hành quy chế phối hợp liên vùng nhằm triển khai thực hiện các chủ trương của cả vùng thống nhất, tuân thủ theo quy hoạch chung. Ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư chung cho miền Trung trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, tránh tình trạng mỗi địa phương tự ban hành các chính sách ưu đãi riêng đi ngược lại quy định của Trung ương, trên tinh thần mở rộng ngành nghề và lĩnh vực khuyến khích đầu tư nước ngoài vào khu vực, ưu đãi về thuế, tiền thuê đất so với 2 đầu của đất nước. Tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành Trung ương và các địa phương trong công tác xúc tiến đầu tư, đặc biệt trong xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư, quảng bá hình ảnh, tham gia các hoạt động xúc tiến đầu tư ở nước ngoài. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo Trung tâm Xúc tiến đầu tư miền Trung cần soạn thảo một chiến lược xúc tiến đầu tư chung cho cả khu vực, xác định rõ những lĩnh vực ưu tiên thu hút vốn FDI của từng địa phương và của cả khu vực, điều phối hoạt động xúc tiến đầu tư giữa các địa phương, loại bỏ những rào cản, những cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương. Thứ tám, Trung ương cần có chính sách hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng đối với miền Trung, đặc biệt là hệ thống giao thông, trong đó có mở thêm các tuyến bay quốc tế từ Đà Nẵng đi các nước như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Tạo điều kiện cho các địa phương miền Trung tiếp cận với các nguồn vốn từ các tổ chức nước ngoài phục vụ cho công tác xúc tiến đầu tư, đặc biệt là trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư, quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài khi mà Chính phủ đã quyết định phân cấp mạnh mẽ cho các địa phương về thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư. Thứ chín, đề nghị Chính phủ thông qua chính sách vĩ mô, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tăng sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài để có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực về thu hút FDI; giải quyết nhanh một số vấn đề liên quan đến việc thi hành Luật Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, áp lực cạnh tranh sẽ không giảm mà còn tăng. So với các nước trong khu vực, môi trường đầu tư của Việt Nam đang kém cạnh tranh hơn. Vì vậy, việc cải thiện môi trường đầu tư là hết sức quan trọng và cần thiết [1, tr.114]. Đề nghị các Bộ, ngành có liên quan ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể đối với các dự án đầu tư thuộc Danh mục Lĩnh vực đầu tư có điều kiện ban hành kèm theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006. Hiện nay, có rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động đầu tư của Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên mà các nhà đầu tư cũng như các cơ quan làm công tác đầu tư chưa có điều kiện để nghiên cứu, do đó các Bộ, ngành có liên quan cần có các văn bản hướng dẫn các điều kiện mà pháp luật Việt Nam đã có qui định và các điều kiện đã qui định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đối với các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện. Nếu không có các hướng dẫn này, các cơ quan làm công tác đầu tư tại địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn trong công tác xúc tiến dự án. Nếu mỗi dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện đều phải xin ý kiến các Bộ, ngành Trung ương trước khi hướng dẫn cho nhà đầu tư thì tốn kém thời gian và không tạo được niềm tin ở nhà đầu tư đối với năng lực của các cơ quan xúc tiến đầu tư tại các địa phương. Ngoài ra, qua nghiên cứu Nghị định 108, các cơ quan làm công tác đầu tư đều nhận thấy rằng vẫn còn rất nhiều qui định chung chung, không cụ thể; do đó dẫn đến tình trạng áp dụng Luật không thống nhất trên toàn quốc. Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần có Thông tư hướng dẫn chi tiết các qui định của Nghị định, nhất là các qui định cụ thể liên quan đến các dự án có công trình xây dựng, việc lập báo cáo năng lực tài chính của chủ đầu tư, việc thực hiện hồ sơ đăng ký kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu thực hiện dự án tại Việt Nam và các vấn đề có liên quan khác. Tóm lại, hệ thống các giải pháp nêu trên có tính chiến lược, tổng thể và liên quan rất nhiều đến hoạt động của tất cả các cấp, các ngành trong đó có cả cơ chế chính sách tầm vĩ mô liên quan đến thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất từ trung ương đến thành phố và cơ sở, huy động mọi lực lượng trong xã hội để triển khai thực hiện. Công tác tổ chức điều hành phải hết sức được coi trọng mới đảm bảo thực hiện đồng bộ, ăn khớp và hiệu quả với các biện pháp, chương trình cụ thể. Cần có sự nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo, có phương thức triển khai phù hợp với đặc điểm từng dự án, từng nơi, dự tính đến các tình huống khác nhau có thể xảy ra. KẾT LUẬN Nguồn vốn FDI đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Đối với Đà Nẵng, nguồn vốn này lại càng có ý nghĩa quan trọng. Nghị quyết Đại hội X của Đảng và các nghị quyết của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đều đã khẳng định rằng, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng đối với các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, đẩy mạnh thu hút vốn FDI nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ mang tính chiến lược, lâu dài, là yếu tố quyết định sự phát triển của cả nước cũng như của Đà Nẵng. Đà Nẵng là thành phố động lực của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, là Trung tâm của miền Trung, thời gian qua đã có nhiều cố gắng trong thu hút vốn FDI nhưng nhìn chung còn nhiều hạn chế, yếu kém. Để đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH thành phố trong thời gian tới thì vấn đề thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đà Nẵng. Nhìn lại 20 năm đổi mới, nhất là 10 năm Đà Nẵng trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng đã đạt được những thành quả bước đầu khá quan trọng trong thu hút vốn FDI. Trong điều kiện hội nhập, đặc biệt là Việt Nam đã gia nhập WTO, cùng với những tiềm năng, lợi thế sẵn có của mình, Đà Nẵng cần có những biện pháp có hệ thống, triệt để, mạnh dạn hơn về chính sách và phát huy nội lực để nâng cao tính hấp dẫn của địa bàn, thu hút mạnh hơn và có hiệu quả hơn FDI. Các biện pháp đòi hỏi phải có nỗ lực cao, cố gắng lớn và sự đồng tâm nhất trí giữa các cơ quan, tổ chức liên quan. Chắc chắn rằng, trong tương lai gần, Đà Nẵng sẽ là điểm đến đầu tư lý tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh, góp phần vào sự nghiệp phát triển của Đà Nẵng nói riêng và sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Phần tiếng Việt: 1 Lê Xuân Bá (2006), Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 2 Ban Kinh tế Trung ương (2003), Những chủ trương và giải pháp cơ bản nhằm thu hút mạnh hơn và sử dụng hiệu quả cao nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo tinh thần nghị quyết Đại hội IX, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội. 3 Đỗ Đức Bình (2005), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) tại Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 4 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2005), Báo cáo kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, Hà Nội. 5 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Báo cáo tình hình và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn tới, Hà Nội. 6 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), Báo cáo tình hình thu hút FDI 11/2006, Hà Nội. 7 Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2003), Kỹ năng xúc tiến đầu tư, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 8 Bộ Thương mại (2002), FDI với kinh tế - thương mại Việt Nam, Hà Nội. 9 Chính phủ (2001), Nghị quyết của Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài thời kỳ 2001 - 2005, Hà Nội. 10 Chính phủ (2003), Nghị định số 38/2003/NĐ-CP về việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, Hà Nội. 11 Công ty cổ phần thông tin kinh tế đối ngoại (2005), Đà Nẵng thế và lực mới trong thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12 Cục Thống kê Đà Nẵng, Niên giám thống kê từ năm 1997 đến năm 2005. 13 Cục Thuế Đà Nẵng (2006), Báo cáo kết quả công tác thuế năm 2005, nhiệm vụ - biện pháp công tác thuế năm 2006. 14 Bùi Thị Dung (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh doanh và Quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 15 Nguyễn Ngọc Dũng (2006), Hỏi và đáp Luật Đầu tư, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16 Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Các nghị quyết của Trung ương Đảng 2001 - 2004, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19 Nguyễn Bích Đạt (2005), “Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Kế hoạch và Đầu tư”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (12), tr.28. 20 Nguyễn Bích Đạt (2004), Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: vị trí, vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đề tài KH - CN cấp nhà nước KX 01.05, Hà Nội. 21 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi (2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Khoa Quản lý kinh tế (2004), Giáo trình Quản lý kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Đà Nẵng (2000), Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở một số tỉnh miền Trung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24 Nguyễn Văn Hùng (2002), Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 25 Lê Hữu Quang Huy (2006), “Đẩy mạnh thu hút nguồn vốn FDI góp phần phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền Trung”, Tạp chí Kinh tế - Xã hội (8), tr. 24. 26 Nguyễn Văn Luân (2006), Kinh tế đối ngoại Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. 27 Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài (1987), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28 Luật Đầu tư (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29 Trần Văn Minh (2002), “Thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư”, Tạp chí Kinh tế - Bộ Thương mại, (19), tr.19 30 Trần Văn Nam (2005), Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 31 Phùng Xuân Nhạ (2001), Giáo trình Đầu tư quốc tế, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội. 32 Hà Thị Ngọc Oanh (2006), Kinh tế đối ngoại – Những nguyên lý và vận dụng tại Việt Nam, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội. 33 Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng (1999), Báo cáo tóm tắt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2010. 34 Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng (2005), Báo cáo tình hình đầu tư nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng các năm 1997 - 2005. 35 Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng (2005), Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh trên địa bàn thành phố giai đoạn 2006 - 2010. 36 Sở Kế hoạch và Đầu tư Đà Nẵng (2004), Thông tin những cơ chế chính sách của UBND thành phố Đà Nẵng. 37 Sở Tài nguyên và Môi trường Đà Nẵng (2006), Báo cáo về tình hình môi trường tại các KCN, cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Đà Nẵng. 38 Phan Minh Thành (2000), Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 39 Thành ủy Đà Nẵng (2001), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII (2001 - 2005). 40 Thành ủy Đà Nẵng (2006), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIX (2006 - 2010). 41 Thành ủy Đà Nẵng (2005), Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 33 của Bộ Chính trị. 42 Đinh Trọng Thịnh (2006), Quản trị dự án đầu tư và quản trị tài chính doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nxb Tài chính, Hà Nội. 43 Trần Văn Thọ (2005), Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 44 Thời báo kinh tế Việt Nam (2005), Việt Nam – Tiềm năng và cơ hội đầu tư. 45 Tổng cục Thống kê (2006), Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội 2001 - 2005, Nxb Thống kê, Hà Nội. 46 Nguyễn Anh Tuấn (2005), “Để tạo nên một làn sóng đầu tư mới từ Nhật Bản”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo (12), tr.73. 47 Nguyễn Anh Tuấn (2006), “Làn sóng đầu tư mới: cơ hội và thách thức”, Tạp chí Kinh tế - Xã hội, (8), tr.3. 48 Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 49 Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng (2005), Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội, quốc phòng an ninh thời kỳ 2001 - 2005, kế hoạch 2006 - 2010. 50 Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng (2005), Báo cáo ước thực hiện thu chi ngân sách năm 2005, dự toán thu chi ngân sách năm 2006 của thành phố Đà Nẵng. 51 Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng (2005), Báo cáo tổng quyết toán ngân sách nhà nước năm 2004. 52 Ủy ban nhân dân Thành phố Đà Nẵng, Website: www.danang.gov.vn 53 Viện Chiến lược phát triển (2006), Báo cáo định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ đến năm 2020. 54 Ngô Quang Vinh (2003), Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng. Phần tiếng nước ngoài: 55 V.N. Balasubramanyam (2001), FDI in Developing Countries: Determinants and Impact, Mexico City 56 Imad A. Moosa (2002), Foreign Direct Investment Theory, Evidence and Practice, Palgrave. 57 Steve Chan (1995), Foreign Direct Investment in a Changing Global Political Economy, Macmillan. 58 UNCTAD (2006), World Investment Report 2006, United Nations, New York and Geneva.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLuận văn- Những giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.pdf