Luận văn Nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Trà Vinh thực trạng và giải pháp phát triển

Khẩn trương quy hoạch tổng thể thủy lợi phục vụ NTTS, tăng mức hỗ trợ cho vùng để xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi như: thủy lợi, thủy điện, giao thông, nhất là những vùng nuôi tập trung mới khai thác đưa vào sử dụng. - Cần chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật đặc biệt là khoa học công nghệ, đồng thời tiến hành phổ biến các tiến bộ khoa học đến với người dân thông qua các cuộc hội thảo, khuyến ngư. - Tăng cường bộ máy quản lý của nhà nước đến trung ương và địa phương đối với những vùng nuôi, đã xuất hiện nhiều vùng nuôi tự phát không theo quy hoạch và quản lý, nên các địa phương phải chú trọng hơn những vấn đề này và hỗ trợ sự phát triển bền vững cho ngành

pdf146 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 12/08/2017 | Lượt xem: 84 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Trà Vinh thực trạng và giải pháp phát triển, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g công trình ao nuôi không đúng qui trình kỹ thuật, không có ao lắng, ao xử lý nước. Trong sản xuất thì giảm những khoản chi phí không phù hợp nên làm cho nghề nuôi trồng thủy sản phát triển thiếu tính ổn định. Nguồn vốn đầu tư vào ngành trên địa bàn tỉnh chưa thật sự ổn định. Nhiều năm nay nhiều hộ nuôi trên địa bàn tỉnh đã gặp không ít khó khăn trong việc tìm được nguồn vốn vai nhất là những lúc người nuôi bị thiệt hại, nhu cầu về vốn để tái sản xuất cho các hộ nuôi tôm hiện nay đang trở nên bức xúc nhất. Lợi nhuận từ hoạt động NTTS rất cao nhưng khi có rủi ro thì thiệt hại cũng rất lớn, dẫn đến tình trạng người nuôi thiếu vốn trầm trọng.  Trình độ nguồn lao động: Trình độ kỹ thuật của người nuôi chưa đều. Trình độ dân trí trong tỉnh còn hạn chế, nhất là nông dân ở các vùng sâu vùng xa, tiếp thu công nghệ và kĩ thuật mới còn chậm đây là đều mà các cấp quản lý luôn quan tâm giải quyết. Đa số người nuôi trong tỉnh còn dựa vào kinh nghiệm nuôi thực tế, số lượng qua đào tạo thực sự chưa nhiều. Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật 107 chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là cán bộ chuyên biệt về công nghệ sản xuất giống sạch bệnh, sản xuất thức ăn, xử lý môi trường và phòng trừ dịch bệnh.  Về con giống: nhiều khuyến cáo mở rộng diện tích vùng nuôi nhưng một thực trạng đặc ra cho ngành NTTS là vấn đề thiếu nguồn con giống chất lượng. Các cơ sở sản xuất giống trong tỉnh không đủ cung cấp từ đó dẫn đến vấn đề là phải nhập giống phải đối mặt với vấn đề chất lượng con giống, mặt khác lại chưa chủ động được nguồn giống nuôi, vì thế mà phong trào nuôi chưa ổn định và thiếu vững chắc, nguồn giống ngoại nhập thì không đảm bảo chất lượng, chưa kiểm dịch một cách triệt để. Ngoài ra, ngành NTTS của tỉnh cũng đang đối mặt với khó khăn trong công tác kiểm tra chất lượng thức ăn, thuốc thú y thủy sản. Người sản xuất và các cơ sở kinh doanh chưa có ý thức cao trong việc thực hiện, quán triệt các qui định trong nuôi trồng thủy sản, sử dụng các loại thuốc, thức ăn thủy sản thiếu sự kiểm tra về các sản phẩm trong việc mua và sử dụng. Về mặt giao thông thủy lợi điện phục vụ NTTS tuy được chú trọng phát triển nhưng chưa được hoàn thiện chưa đạt được hiệu quả cao nhất. 108 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 3.1. Định hướng về phát triển nuôi trồng thuỷ sản 3.1.1. Định hướng chung * Về cơ cấu diện tích nuôi: - Giảm dần về diện tích nuôi trồng theo hình thức nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh và tiến tới mô hình nuôi thâm canh. Đồng thời không chặt phá rừng để nuôi tôm, tân dụng ruộng lúa một vụ để nuôi tôm nhưng không lấn diện tích trồng lúa, tận dụng ruộng muối để nuôi tôm. - Mở rộng diện tích nuôi thâm canh, có năng suất cao, công nghệ sạch và bảo vệ môi trường. Nâng cao năng suất, sản lượng các vùng nuôi tôm quảng canh hiện có, trên cơ sở nâng cấp hệ thống thủy lợi, áp dụng rộng rãi công nghệ nuôi tiên tiến - Tăng diện tích nuôi cá, tôm trong ao, hầm, mương đây được xem là khu vực dễ chăm sóc và đạt năng suất cao. Tăng số lượng lồng bè trên sông, cải tiến kết cấu và vật liệu làm bè nhằm giảm đầu tư xây dựng cơ bản. * Về đối tượng nuôi: Tiến hành nuôi những giống loài có giá trị kinh tế cao vừa đáp ứng nhu cầu trong nước và cung ứng cho xuất khẩu đêm lại thu nhập cao: tôm sú, tôm càng xanh, nhuyễn thể,Tăng tỷ lệ các đối tượng trong sản lượng nuôi trồng, tăng tỷ lệ có giá trị xuất khẩu vào ao nuôi, hồ, mương và nuôi bè. - Phát triển nuôi trồng các loại có giá trị kinh tế cao, phục vụ xuất khẩu, đặc biệt là các loại tôm. Đa dạng hóa các loại tôm như tôm sú, tôm hùm, tôm càng xanh, đưa tôm thẻ chân trắng vào một trong các đối tượng nuôi trồng chính, tăng lợi thế cạnh tranh bằng tôm sú có kích cỡ với sức cạnh tranh cao trên thị trường. Cùng với nuôi công nghiệp sạch bệnh cần phát triển nuôi sinh thái ở những vùng phù hợp. Mở rộng nuôi các loại các như: cá basa, cá tra, rô phi đơn tính và các đối tượng nước ngọt xuất khẩu khác. 109 * Về giống: Quy hoạch lại hệ thống trại giống sản xuất, trại ương và cung cấp giống cho nghề nuôi. Tạo điều kiện cho việc sinh sản của các giống cá tôm nhằm góp phần hoàn chỉnh quy trình nuôi. - Nâng cấp các trại sản xuất giống tạo ra được nhiều loại giống có năng suất, chất lượng cao. Hoàn thiện hệ thống nghiên cứu, sản xuất, cung ứng giống thủy sản từ Trung ương đến các địa phương. Đến năm 2015: cung cấp 100% giống thủy sản cho nhu cầu nuôi; 70% giống các đối tượng nuôi chủ lực (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra, tôm càng xanh, rô phi, nhuyễn thể) là giống sạch bệnh. Phấn đấu đến năm 2020: 100% giống các đối tượng nuôi chủ lực là giống chất lượng cao, sạch bệnh. - Công tác kiễm dịch giống thủy sản cần được chú trọng hơn nữa. Nuôi thả đúng thời vụ và làm tốt việc hạn chế rủi ro, dịch bệnh.  Về công tác quy hoạch: Tiếp tục xây dựng và thực hiện tốt các quy hoạch phát triển NTTS theo tuyến, theo vùng, trên từng địa phương đảm bảo nâng cao giá trị sản phẩm của ngành một cách vững chắc, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có kết quả, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành. - Tiếp tục hoàn chỉnh việc chuyển đổi đất ruộng trũng, đất nông nghiệp kém hiệu quả sang NTTS. Nhanh chóng đưa các dự án đầu tư nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm trên cát.  Về khoa học công nghệ: - Phát triển nghiên cứu khoa học, công nghệ sinh học, công nghệ biến đổi gen để cung ứng đầy đủ và kịp thời giống thủy sản có chất lượng với giá bán hợp lý. - Thực hiện chuyển giao nhanh, phổ biến các kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến cho ngư dân. Khuyến khích các thành phần kinh tế đẩy mạnh giống sản xuất thương phẩm cung cấp cho thị trường. Đảm bảo sản xuất đủ các loại giống tôm, các rô phi, tôm càng xanh, các loại nhuyễn thể, cá nước ngọt và cá biển. Nhập khẩu một số loại giống cần thiết trên cơ sở có sự tính toán, cân đối hợp lý. 110  Tổ chức quản lý sản xuất: - Cần quản lý tốt việc nhập khẩu, sản xuất và lưu thông thức ăn, các chế phẩm dùng trong NTTS. Bên cạnh đó, cần đảm bảo sự thông thoáng theo môi trường chính sách đổi mới để phát huy, khai thác một cách hiệu quả các nguồn nhân lực trong nhân dân. - Tổ chức tốt việc thực hiện quy hoạch nuôi trồng thủy sản đảm bảo tuân thủ các quy định về điều kiện sản xuất, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời tạo mối liên kết chặt chẽ giữa nuôi trồng với chế biến, tiêu thụ sản phẩm. - Tiến hành quản lý vùng nuôi tốt, đảm bảo về sinh vùng nuôi, vệ sinh chất lượng sản phẩm từ vùng nuôi, xây dựng vào phổ biến mô hình quản lý cộng đồng ở các vùng nuôi thủy sản. Không sử dụng hóa chất kháng sinh bị cấm. - Xây dựng dự án phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ NTTS, tổ chức các chương trình đào tạo, cán bộ lao động nghề các phục vụ chiến lược phát triển lâu dài. 3.1.2. Định hướng cụ thể phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh Trà Vinh Trong tương lai sẽ đưa ngành thủy sản nói chung và NTTS nói riêng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh dựa trên những tiềm năng và phát huy những lợi thế sẵn có của Tỉnh. Thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất. Quản lý chặt chẽ lịch thời vụ, tăng cường kiểm soát và phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Nhân rộng mô hình sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là mô hình sản xuất, cung ứng giống theo phương thức xã hội hóa để đảm bảo nhu cầu giống chất lượng cao cho sản xuất. Tiếp tục chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất và sắp xếp tổ chức lại sản xuất để đạt hiệu quả cao hơn. - Triển khai quy hoạch chi tiết nuôi thủy sản các huyện; rà soát diện tích nuôi thủy sản đảm bảo các điều kiện nuôi thâm canh, an toàn dịch bệnh; đầu tư nâng cao năng lực sản xuất giống, thực hiện việc đánh số cơ sở, vùng nuôi đối với con nuôi chủ lực. 111 + Vùng nước mặn, lợ phát triển nhanh và vững chắc nuôi tôm sú theo hình thức công nghiệp, mở rộng diện tích nuôi cua, nghêu, sò ở các cồn nổi, bãi bồi, ven biển. + Vùng nước ngọt tiếp tục phát triển mạnh mô hình nuôi tôm càng xanh trong mương vườn và ruộng lúa, phát triển nuôi cá tra, các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ gắn với đầu tư chế biến xuất khẩu; tăng cường đầu tư các công trình thủy lợi, kiểm soát môi trường, quản lý chặt chẽ chất lượng con giống, đảm bảo lịch thời vụ và tăng cường phòng chống dịch bệnh nhằm đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản bền vững, phấn đấu tăng sản lượng nuôi trồng. - Diện tích nuôi: phấn đấu năm 2011 diện tích nuôi thủy sản vùng nước mặn, lợ trên 41.000 ha (có 25.300 ha nuôi tôm sú); diện tích nuôi thủy sản vùng nước ngọt 13.000 ha (phấn đấu trên 200 ha nuôi cá da trơn). Đến năm 2015 sẽ thực hiện quy hoạch mở rộng diện tích nuôi ở cả 3 vùng mặn, lợ và ngọt có 66.000 ha (trong đó, có khoảng 7.000 - 8.000 ha nuôi công nghiệp và bán công nghiệp tôm sú, 1.000 - 1.400 ha nuôi cá tra xuất khẩu, 5.700 ha nuôi nghêu, sò huyết, 1.830 ha nuôi tôm thẻ chân trắng, 12.000 ha nuôi cua biển kết hợp....). Diện tích nuôi tập trung ở các huyện: + Huyện Duyên Hải 530 ha (gồm Xã Long Hữu- khu vực trong đê bao thuộc Chương trình 773 và Dự án đê bao ngăn lũ chống triều cường (các cấp 15, 16, 17). Khu nuôi tôm của cơ sở giáo dục Bến Giá với tổng diện tích 370 ha; xã Ngũ Lạc- Khu đê bao ấp Đường Liếu 60 ha; Xã Long Vĩnh - Khu vực đê bao thuộc chương trình 773 ấp La Ghi, Gạch Cò khoảng 300 ha). + Huyện Cầu Ngang với 350 ha, (gồm Xã Mỹ Long Bắc 200 ha, Khu vực ngoài đê bao quốc phòng 150 ha; khu cồn Bần 100 ha; Xã Vĩnh Kim - Khu vực ngoài đê bao quốc phòng 150 ha). + Huyện Châu Thành khoảng 100 ha (Khu quy hoạch nuôi tôm thâm canh bậc cao thuộc xã Long Hòa). Huyện Trà Cú 200 ha, gồm ấp Bà Nhì, xã Đôn Châu 100 ha và ấp Bà Nhì, xã Đôn Xuân 100 ha. Quy hoạch thành những vùng nuôi tập trung các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Châu Thành nuôi nghêu, huyện Duyên Hải nuôi sò huyết, triển khai quy hoạch nuôi 112 cá da trơn trên tuyến sông Tiền và sông Hậu tra tập trung chủ yếu ở huyện Càng Long, Tiểu Cần, Cầu Kè và Châu Thành. Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa lớn trên các vùng nước mặn lợ, nước ngọt với hai đối tượng nuôi chủ lực là tôm nước lợ, cá tra. Tiếp tục phát triển mạnh mẽ nuôi trồng thủy sản với các hình thức, hệ thống và đối tượng phù hợp với mọi trình độ, vùng sinh thái, song ưu tiên cho nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh và tập trung. Chuyển sang nuôi trồng bán thâm canh và thâm canh, áp dụng công nghệ mới. Đẩy mạnh phát triển nuôi tôm sú ở các huyện Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú và Châu Thành và đạt diện tích nuôi đến năm 2020 khoảng 35.000 ha bao gồm nuôi thâm canh, bán thâm canh 13.900 ha, nuôi quảng canh cải tiến 12.300 ha, tôm rừng 2.500 ha. Sẽ tập trung phát triển NTTS vùng ven biển với những bãi bồi, cồn nổi với nhiều loại thủy sản đa dạng có giá trị kinh tế cao, tập trung đầu tư phát triển các đối tượng chủ lực (tôm sú, cá tra, tôm thẻ chân trắng, cá rô phi, nhuyễn thể, tôm càng xanh và các loài cá biển để phục vụ xuất khẩu). Đối với nuôi nhuyễn thể tỉnh sẽ thực hiện quy hoạch thành những vùng nuôi tập trung. Mở rộng quy mô diện tích nuôi trồng thủy sản ở những vùng sản xuất lúa kém hiệu quả, từng bước xây dựng các vùng chuyên canh, tăng nhanh diện tích vùng nuôi trồng kết kết hợp. Phấn đấu mở rộng trên 50.000 ha đất ven biển và 15.000 ha đất bãi bồi và cồn nổi để nuôi trồng thủy sản theo hướng đa dạng hóa vật nuôi như: tôm, cá, cua, nghêu, sò huyết phát triển nhanh và bền vững diện tích nuôi tôm sú theo hình thức công nghiệp, bán công nghiệp; tiếp tục phát triển nuôi tôm càng xanh trong mương vườn, ruộng lúa ở các vùng nước lợ thuộc lưu vực Láng Thé và Cái Hóp; nuôi cá da trơn ở lưu vực sông Cần Chông và Cầu Kè. - Cùng với việc thực hiện định hướng chung của cả nước, giảm dần diện tích nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh tiến dần đến nuôi thâm canh. 113 3.2. Các giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Trà Vinh 3.2.1 Giải pháp về nguồn vốn đầu tư 3.2.1.1. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước do Trung ương quản lý quý I năm 2012 ước thực hiện 41.257 triệu đồng, nguồn vốn này được đầu tư chủ yếu ở các công trình, dự án của các Bộ như: đồn biên phòng Long Hòa, đồn Cái Côn, hệ thống thủy lợi phục hồi nuôi trồng thủy sản Đồng Đon trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Nguồn vốn từ trung ương đầu tư trước tiên cần tập trung các hạn mục tiên quyết của ngành là những yếu tố cơ bản quyết định sự phát triển của ngành. - Nhà nước cần có chính sách cho vay lãi suất phù hợp với người nuôi theo từng loại hình dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. - Sử dụng nguồn vốn đầu tư một cách hợp lý vào quy hoạch vùng nuôi, xây dựng hệ thống thủy lợi, đường giao thông, điện, kênh cấp và thoát nước, trạm bơm, các cống dẫn và thoát nước chính, khu xử lý nước thải. Đặc biệt chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng chuyển đổi, vùng nuôi tạo sản phẩm tập trung. - Đầu tư nhập các đối tượng nuôi mới, công nghệ mới về sinh sản nhân tạo những giống thủy sản có giá trị cao và xuất khẩu. Đầu tư cho trợ giá một số giống thủy sản cần phát triển ở vùng xa, trong việc phát triển khoa học và công nghệ giống, nâng cấp các trại sản xuất giống hiện có ở địa phương, di nhập và thuần hóa các giống mới, chuyển giao sản xuất giống cho các trại sản xuất, hỗ trợ các giống mới, giống có giá trị kinh tế. Hỗ trợ trong xây dựng, thử nghiệm và chuyển giao công nghệ của các mô hình nuôi mới, đào tạo và tập huấn cho các cán bộ quản lý, các hộ dân và tổ chức tham gia NTTS. Hỗ trợ trong xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm. - Hỗ trợ cho các địa phương đầu tư cho các dự án mới đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở vật chất kỹ thuật thiết yếu phục vụ nuôi trồng thủy sản cho các vùng nuôi tập trung trên biển, eo vịnh, đầm phá. Cần có sự phân bổ nguồn vốn đầu tư từ trung ương một cách hợp lý, vốn ngân sách Trung ương cần đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho các trung tâm, cơ 114 sở hạ tầng cho các khu nuôi thâm canh tập trung, các khu công nghiệp sản xuất giống tập trung, hỗ trợ kinh phí cho các địa phương xây dựng cơ sở vật chất cho công tác kiểm định và quan trắc vùng nuôi. Đầu tư xây dựng các chợ thủy sản đầu mối, tăng đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học công nghệ nuôi, sản xuất giống, thức ăn và phòng chống dịch bệnh, đào tạo cán bộ nghiên cứu, cán bộ kỹ thuật cơ sở và cán bộ khuyến ngư. Chính phủ phân bổ một phần nguồn vốn đầu tư hạ tầng cơ sở phục vụ NTTS thông qua các tỉnh và thành phố nhằm giải quyết các giải pháp quy hoạch, điều chỉnh hệ thống thủy lợi, xây dựng hệ thống kênh cấp thoát nước riêng biệt từ cấp 2, 3 trở xuống, nạo vét các kênh bị bồi lắng, quy hoạch vùng nuôi theo mô hình sinh thái, đầu tư hệ thống điện và giao thông bộ tới các vùng nuôi. 3.2.1.2. Đầu tư từ vốn ngân sách địa phương Cùng với hỗ trợ từ ngân sách trung ương đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở vật chất kỹ thuật thiết yếu phục vụ nuôi trồng thủy sản cho các vùng nuôi tập trung trên biển, eo vịnh, đầm phá; xây dựng hệ thống thủy lợi đầu mối cấp I (cống, đê bao, kè, kênh cấp, kênh tiêu nước, trạm bơm), đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, khu xử lý nước thải ; tăng cường quản lý điều kiện vùng nuôi, xử lý và cải tạo môi trường; hỗ trợ kinh phí mua giống, làm lồng bè cho các hộ gia đình nuôi trồng thủy sản trên vùng biển, đảo xa; hỗ trợ kinh phí cho các cơ sở nuôi trồng thủy sản tập trung áp dụng Quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) và các chứng chỉ áp dụng các Quy trình nuôi tiên tiến; kinh phí cho công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thủy sản và khuyến ngư (đào tạo, tập huấn ngắn ngày cho cán bộ và nông ngư dân, xây dựng mô hình). - Sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ lãi suất vốn vay cho các dự án NTTS tập trung cho các địa phương có mức sống thấp. Đầu tư một số hạng mục hạ tầng cơ sở vùng nuôi (nội đồng), cải tạo nâng cấp ao nuôi; đầu tư các chi phí sản xuất (giống, thức ăn, thuốc và hoá chất) ở địa phương. Xây dựng dự án hỗ trợ người nghèo tham gia hoạt động NTTS các vùng tập trung được vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội (theo quy định hiện hành). Các tổ chức tín dụng ở cấp tỉnh và cấp 115 huyện có biện pháp đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn của các tổ chức (trong nước), cá nhân, hộ gia đình vay vốn. 3.2.1.3. Các nguồn vốn khác Nguồn vốn khác có thể là khoản vốn vay, vốn của các doanh nghiệp, khoản tự góp của dân. Đầu tư trang thiết bị phụ trợ cho hoạt động sản xuất, thuê mướn nhân công; mua giống, thức ăn, thuốc và hóa chất, nhiên liệu và các vật liệu mau hỏng, chi phí cho các hoạt động sản xuất giống, thức ăn. - Nguồn vốn doanh nghiệp, chủ trang trại đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng cho vùng nuôi, cơ sở sản xuất giống, xây dựng mới hoặc nâng cấp cơ sở chế biến theo hướng công nghiệp hiện đại, quảng bá thương hiệu và xúc tiến thương mại. - Nguồn vốn của cá nhân, hộ gia đình: đầu tư xây dựng các ao nuôi; hệ thống cấp, thải nước từ kênh mương cấp, thoát nước cấp II; mua giống, thức ăn, thuốc, hóa chất phòng trừ dịch bệnh và xử lý môi trường ao nuôi, cải tạo chính diện tích nuôi của hộ mình hoặc của các doanh nghiệp, được đầu tư vào các hạn mục nhỏ ở từng địa phương, chủ yếu đầu tư cho việc tu sửa và hoàn thiện ao nuôi. Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có cơ sở nuôi trồng thủy sản tập trung chủ động dành kinh phí đầu tư bảo đảm các điều kiện cho việc áp dụng Quy trình thực hành nuôi tốt (GAP) và các chứng chỉ áp dụng các Quy trình nuôi tiên tiến, áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Ngoài ra có thể tận dụng vốn nước ngoài để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật phục vụ mở rộng mặt nước nuôi thủy sản. Ðồng thời khuyến khích các tổ chức kinh tế đầu tư vào nuôi trồng thủy sản; vận động nhân dân tiết kiệm tích lũy vốn để mở rộng dần diện tích nuôi. 3.2.2. Giải pháp đầu tư có trọng điểm Tránh tình trạng đầu tư dàng trãi trên diện rộng sẽ không mang lại hiệu quả cao. Tập trung đầu tư ở những vùng nuôi tiềm năng và đã được tiến hành quy hoạch cụ thể, ưu tiên đầu tư các vùng có tiềm năng thế mạnh, tạo ra giá trị kinh tế cao, phục vụ chế biến xuất khẩu; lấy xuất khẩu và tiêu thụ làm động lực phát triển, trong đó 116 con tôm là sản phẩm chủ lực. Cụ thể hơn là tiến hành đầu tư cho cơ sở hạ tầng vùng nuôi, đặc biệt chú trọng hệ thống thủy lợi là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của ngành NTTS. Tập trung nguồn vốn vào những vùng thực sự có thế mạnh về điều kiện tự nhiên lẫn kinh tế xã hội. 3.2.3. Giải pháp về kinh tế 3.2.3.1. Giải pháp về quy hoạch Cần tổ chức thực hiện tốt qui hoạch các vùng nuôi tập trung theo từng hình thức nuôi và lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp với từng vùng sinh thái. Khuyến khích phát triển theo hướng thâm canh hóa và đa dạng hóa đối tượng con nuôi, ưu tiên phát triển những giống loài thủy sản có giá trị kinh tế cao, có thị trường tiêu thụ ổn định và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái của địa phương. Cần đẩy mạnh công tác quy hoạch tại địa phương khẩn trương hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể ngành, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch cho từng địa phương. Các đơn vị bộ ngành cần có sự phối hợp chặt chẽ với nhau để xây dựng chương trình một cách khoa học. Tiến hành quy hoạch ruộng trũng sang NTTS, quy hoạch nuôi thủy sản trên cát, cụ thể là các loại tôm có sức cạnh tranh; xây dựng quy hoạch và khai thác và bảo về nguồn lợi thủy sản. Xây dựng đề án phát triển một số loài thủy đặc sản nuôi xuất khẩu như: tôm, cá tra, basa,... đồng thời cần gắn liền việc phát triển NTTS với xây dựng các vùng nguyên liệu gắn với các cơ sở chế biến. Cần gắn liền quy hoạch phát triển cho ngành với phát triển chung của các ngành kinh tế khác, đặc biệt là công nghiệp chế biến, tạo sự phát triển cân đối hài hòa trong sự phát triển chung. Để sản phẩm sản xuất ra có thể tiêu thụ được, chất lượng là yêu cầu tiên quyết. Chính vì vậy mà, phát triển công nghiệp chế biến sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của NTTS. Có thể quy hoạch các vùng tập trùng nuôi trồng thủy sản và công nghiệp chế biến theo một quy trình khép kín, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quy hoạch NTTS cần phải cân nhắc kỹ đến sự cân bằng sinh thái trong khu vực nuôi, bảo tồn tính đa dạng sinh học ở khu vực rừng ngập mặn ven bờ xen với 117 các vùng nuôi tủy sản. Cần trồng thêm các vùng rừng ngập mặn đệm ở dưới các vùng nuôi trên các bãi triều để quản lý xử lý nước biển. Khi quy hoạch chuyển đổi được phê duyệt cần tiến hành quy hoạch chi tiết thiết kế cụ thể từng loại hình nuôi, sử dụng những cơ sở vật chất hiện có đặc biệt là hệ thống thủy lợi đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất trên diện tích canh tác. Đồng thời người nuôi phải tuân thủ các quy hoach phát triển tổng thể, tranh thủ sự tham gia toàn diện trong việc thảo luận ra quyết định liên quan đến quy hoạch thiết kế, xây dựng và giám sát trong NTTS. 3.2.3.2. Giải pháp về chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản Chính sách phát triển NTTS là rất quan trọng liên quan đến sự thành công hay thất bại của ngành. Chính vì vậy cần khuyến khích thực hiện các chính sách đã đang có nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của ngành. Từ năm 1995 đến nay, đã có hàng trăm văn bản chính sách liên quan đến phát triển nuôi trồng thủy sản được ban hành. Có những chính sách chỉ thể hiện một nội dung, nhưng cũng có nhiều chính sách có liên quan đến nhiều nội dung trong phát triển nuôi trồng thủy sản. Trong những năm qua, ngành thủy sản đã tham mưu và đề xuất UBND tỉnh phê duyệt qui hoạch chi tiết nuôi thủy sản huyện Duyên Hải, Cầu Ngang đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; Qui hoạch 1.830 ha vùng nuôi tôm thẻ chân trắng; Qui hoạch vùng nuôi thủy sản bãi bồi và cồn mới nổi ven biển 03 huyện Cầu Ngang, Châu Thành và Duyên Hải; Qui hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất Nông –lâm – diêm nghiệp và nuôi trồng thủy sản tỉnh Trà Vinh đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, nhằm có cơ sở để phát triển và xây dựng các vùng nuôi tập trung của tỉnh, góp phần đảm bảo môi trường sinh thái. Để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành cần có những chính sách nhất quán cụ thể: - Chính sách quy hoạch vùng nuôi có tiềm năng như nuôi thủy sản bãi bồi và cồn mới nổi ven biển 03 huyện Cầu Ngang, Châu Thành và Duyên Hải. 118 - Chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, thực hiện cụ thể việc chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả, đất trũng nhiễm mặn, ngập úng sang NTTS theo các quy hoạch phát triển. - Có chính sách hỗ trợ rủi ro cho các hộ nuôi thủy sản: rủi ro về dịch bệnh, thiên tai, để giúp các hộ này khắc phục rủi ro và có đủ vốn để tái đầu tư sản xuất. Đối tượng sẽ được hưởng những chính sách này là các tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư sản xuất, các cơ sở sản xuất, cung cấp giống. - Tạo môi trường ưu đãi để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư trong các lĩnh vực nuôi thủy sản, sản xuất giống, thức ăn, thuốc hóa chất phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, góp phần thúc đẩy nghề nuôi thủy sản phát tri ển nhanh và bền vững. - Có chính sách hỗ trợ các cơ sở sản xuất và các hộ nuôi chi phí kiểm tra giống đặc biệt là giống tôm sú, tôm thẻ chân trắng để nguồn giống cung ứng cho nuôi trồng đảm bảo sạch bệnh, hạn chế rủi ro trong nuôi trồng. - Về bao tiêu sản phẩm cần có chính sách quyết định cụ thể đảm bảo sự phát triển ổn định cho đầu ra sản phẩm cho người nuôi đồng thời đảm bảo nguồn cung nguyên liệu ổn định chi các doanh nghiệp. 3.2.3.3. Giải pháp về giống nuôi trồng thủy sản  Đối với nguồn giống nội địa: - Tận dụng khai thác những nguồn giống tự nhiên, đồng thời đầu tư nghiên cứu và tiếp nhận những qui trình sản xuất các loại giống mới có khả năng phát triển nuôi trồng trên địa bàn. Kiện toàn hệ thống sản xuất và cung ứng giống có chất lượng, đầy đủ. Xây dựng trung tâm giống của tỉnh với hệ thống các trại giống cả 3 vùng mặn, lợ, ngọt. Thực hiện tốt quản lý nhà nước trong lĩnh vực giống. Củng cố và nhân rộng các mô hình nuôi, các tổ chức sản xuất hiệu quả như: tổ hợp tác, HTX, các chi hội, tổ chức cộng đồng. Đặc biệt là nuôi rải vụ để có đủ nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu quanh năm. - Tổ chức nhân rộng những mô hình đã nghiên cứu và ứng dụng thành công trong sản xuất giống thủy sản. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích 119 các cơ sở sản xuất giống, đặc biệt là các cơ sở sản xuất giống tôm, ứng dụng các qui trình sản xuất theo tiêu chuẩn SQF-1.000. Tăng cường liên kết với các cơ sở sản xuất giống trong khu vực ĐBSCL và các vùng trên cả nước về phương diện liên doanh, liên kết sản xuất giống; tạo nên một chuỗi thị trường năng động giữa sản xuất giống - sản xuất và kinh doanh thức ăn, thuốc thú y-nuôi tôm - và chế biến xuất khẩu. - Xây dựng thêm các trại sản xuất giống có đủ trang thiết bị hiện đại trong sản xuất, kiễm định chất lượng giống. Nên đầu tư chiều sâu vào hệ thống trại giống hiện có, nâng cao về trình độ kỹ thuật lai tạo, sinh sản nhân tạo, chủ động linh hoạt trong khâu sản xuất các loại cá giống có giá trị thương phẩm và hiệu quả kinh tế. Cần quản lý chặt chẽ con giống trong mùa vụ thả tôm của huyện. Nên nhập các đối tượng nguồn giống mới nhưng phải được kiễm dịch rất kỹ càng,đãm bảo sạch bệnh chất lượng cao. - Quy hoạch các trại sản xuất giống theo khu vực nhằm chủ động phục vụ cho các vùng nuôi trong tỉnh và các tỉnh lân cận, nhằm giảm chi phí vận chuyển và chủ động kiểm soát được nguồn giống tại chỗ. - Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, kiểm dịch con giống; phát triển hệ thống dịch vụ cấp giấy chứng nhận kiểm dịch tôm nuôi và thay vì nhà nước trực tiếp kiểm tra từng cơ sở nhỏ lẻ, thì chỉ nên xây dựng các văn bản để kiểm soát họat động của các cơ sở kiểm dịch dịch của Bộ, các Sở NN&PTNT, Sở Thủy sản nhằm hạn chế chi phí nhân lực và nâng cao hiệu quả quản lý. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định 103/2000/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản và Quyết định 112/2004/QĐ- TTg về Phê duyệt Chương trình phát triển giống thủy sản.  Đối với nguồn giống ngoại nhập: phải kiểm tra rõ nguồn gốc xuất xứ, kiểm định chất lượng con giống khả năng kháng bệnh, năng suất cao, điều đặc biệt là có khả năng thích nghi với điều kiện sống của vùng nuôi ở địa phương. 120 3.2.3.4. Khoa học công nghệ Trước hết phải làm tốt việc chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật đến từng người nuôi. - Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học công nghệ xây dựng các trung tâm giống địa phương, các trung này cần hoạt động trên cơ sở chủ yếu cho phát triển ngư nghiệp, chuyên về phục vụ nuôi thủy sản. Khẩn trương thực hiện đề án phát triển tổng thể những loài thủy sản có giá trị cao (Giáp xác, nhuyễn thễ, cá tra, cá rô phi, các loài cá biển) cho mục tiêu lâu dài theo hướng bền vững và đa dạng hoá sản phẩm: gia hoá khép kín vòng đời, di truyền chọn giống theo hướng tăng trưởng nhanh, kháng bệnh. - Tỉnh tiếp tục triển khai hoàn thiện và nâng cấp công nghệ sản giống tôm càng xanh toàn đực. - Nghiên cứu công nghệ nuôi thủy sản hữu cơ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm sạch. - Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống các loài tôm bản địa, nhóm loài tôm sẽ phát triển trong tương lai. Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học tạo ra nguồn giống mới có năng suất cao, sức phát triển tốt, chất lượng đảm bảo. Công nghệ chuẩn đoán, phòng trừ dịch bệnh, công nghệ lưu trữ bảo quản giống và công nghệ bảo quản sau thu hoạch phải được quan tâm đặc biệt. Đồng thời phát triển công nghệ hóa chất tạo ra thuốc phòng trừ dịch bệnh có hiệu quả, tránh gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và chất lượng sản phẩm. - Công tác khuyến ngư cần được đẩy mạnh, kết hợp với việc phổ biến kỹ thuật và hiểu biết về các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh đến người sản xuất. Phải có sự kết hợp chặt chẽ từ trung ương cho đến địa phương. Thường xuyên tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm từ các hộ nuôi và tuyên truyền rộng rãi cho mọi người nuôi cùng nắm rõ và có thể áp dụng vào vùng nuôi của hộ. - Nghiên cứu hoàn thiện các biện pháp xử lý nguồn chất thải rắn và chất thải lỏng trong các nông hộ, trang trại của vùng nuôi tôm, cá. 121 - Chú trọng đầu tư nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh cho thủy sinh vật, tăng cường nghiên cứu thuốc, văc xin cho các đối tượng có giá trị kinh tế cao. - Khuyến khích nhập các công nghệ mới tiến bộ phục vụ NTTS nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, đưa ngành phát triển nhanh trên đường hội nhập. - Xây dựng trạm quan trắc cảnh báo môi trường, dịch bệnh phục vụ nuôi trồng thủy sản. 3.2.3.5. Sản xuất thức ăn, công nghiệp chế biến Trong bối cảnh hội nhập, tự do hóa thương mại, kinh tế thị trường và cạnh tranh khốc liệt hiên nay việc thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, mở rộng liên doanh liên kết là cần thiết, trên cơ sở đó tranh thủ các kinh nghiệm về kỹ thuật và quản lý để chủ động xây dựng cơ sở sản xuất thức ăn NTTS gắn với vùng nguyên liệu bột tôm, bột cá nhằm hoàn thiện hệ thống liên hoàn nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và tối đa hóa lợi nhuận trong chuỗi giá trị cho toàn vùng. Vấn đề sản xuất thức ăn: Từng bước hiện đại hóa nghề sản xuất thức ăn cho nuôi trồng, xây dựng và hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp hệ số thấp cho tất cả những đối tượng nuôi xuất khẩu chủ lực trên cơ sở sử dụng nguyên liệu sẵn có của địa phương. Xúc tiến các họat động thanh kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thức ăn, doanh nghiệp nhỏ trên các phương diện nhãn mác, kho bảo quản, kho lưu chứa. Từng bước sắp xếp tổ chức lại hệ thống dịch vụ kiểm soát các cơ sở kinh doanh, thực hiện có hiệu quả Nghị định 59/2005/CP và Thông tư 02/2005/TT-BTS trong việc quản lý các cơ sở kinh doanh thức ăn. Sản xuất ra những loại thức ăn có nhiều chất dinh dưỡng nhưng không gây ô nhiễm môi trường. Các cơ sở sản xuất thức ăn trong tỉnh cần phải có sự kết hợp với các Viện, Trường, Công ty nghiên cứu và sản xuất các loại thức ăn viên nổi cho các đối tượng như cá tra, cá quả, cá rô phi, tôm càng xanh và cá rô đồng với giá thành phù hợp với sức mua của dân; đồng thời đẩy mạnh xây dựng nhà máy thức ăn công nghiệp cho nuôi giáp xác. Nghiên cứu tạo ra những loại thức ăn cung cấp được nhiều chất dinh dưỡng, dễ hấp thu, đặc biệt là giá thành phải phù hợp với người nuôi. 122 Nâng cấp và xây dựng mới nhà máy chế biến thức ăn công nghiệp hiện có trong tỉnh với công suất bình quân 13.000-15.000 tấn/năm/nhà máy. Đối với các nhà máy chế biến thủy sản: xây dựng các khu công nghiệp chế biến công nghệ cao để thu hút khối lượng thuỷ sản nguyên liệu lớn, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, tăng giá trị cho các loại sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thủy sản. Đồng thời nâng cấp đồng bộ về cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, đổi mới trang thiết bị các cơ sở chế biến thuỷ sản hiện có và phát triển thêm để nâng tổng công suất cấp đông. Các cơ sở chế biến thủy sản (theo phương thức công nghiệp) đều đạt tiêu chuẩn ngành về điều kiện an toàn vệ sinh và thú y thuỷ sản; phấn đấu áp dụng hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn quốc tế ở doanh nghiệp có điều kiện. 3.2.4. Giải pháp về xã hội 3.2.4.1. Tăng cường bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất NTTS. - Cần ban hành đầy đủ và hướng dẫn cụ thể, rỏ ràng các văn bản quản lý kinh doanh giống, thức ăn, thuốc hóa chất, dịch vụ phục vụ nuôi trồng thủy sản và các văn bản về quản lý nuôi, quản lý môi trường, quản lý chất thải trong nuôi trồng thủy sản, tránh sự chồng chéo nhau giữa các văn bản quản lý. Đối với cơ sở sản xuất giống, thức ăn, ngư y thủy sản thì nên giao cho Chi cục thủy sản các tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý. - Từng địa phương thành lập Ban quản lý vùng nuôi để chủ động trong việc triển khai các kế hoạch nuôi trồng như: lịch sên vét cải tạo ao hồ, lịch thời vụ thả nuôi, thời gian sản xuất kinh doanh giống thủy sản, công bố các qui hoạch nuôi trồng thủy sản,... Đồng thời tổ chức quản lý tốt các hoạt động như: quản lý sên vét cải tạo ao hồ, quản lý nguồn con giống cung ứng cho hộ nuôi, quản lý môi trường nước, quản lý dịch bệnh, để có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế thiệt hại thấp nhất cho người dân. - Hàng năm có tổ chức sơ, tổng kết và đánh giá rút kinh nghiệm trong việc chỉ đạo sản xuất, làm cơ sở cho các năm sau hoạt động tốt hơn. Thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội nuôi nhằm gắn kết giữa “4 nhà” 123 với nhau. Khuyến khích liên kết giữa các hộ nuôi trong sản xuất như hình thành các câu lạc bộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, để hỗ trợ nhau trong sản xuất, quản lý môi trường, quản lý dịch bệnh, cũng như sự liên kết giữa các nhà trong sản xuất kinh doanh. Khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế khác nhau vào quá trình phát triển NTTS như tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh giống, thức ăn, thuốc hóa chất phục vụ nuôi trồng thủy sản, các tổ chức nuôi trồng, thu mua, chế biến và xuất khẩu sản phẩm thủy sản tham gia v ào hiệp hội thủy sản để liên kết với nhau trong sản xuất, dịch vụ cung ứng đầu vào, đầu ra sản phẩm. Đối với các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào chế biến, NTTS tại các khu công nghiệp trong tỉnh sẽ được hưởng các ưu đãi theo quy định của Nhà nước và các ưu đãi riêng có của vùng cũng như của từng địa phương tạo điều kiện thu hút đầu tư phục vụ cho sự phát triển của ngành thủy sản trong vùng. Hiện nay một số khu vực ở các tỉnh xuất hiện mô hình tự liên kết để sản xuất cũng đem lại hiệu quả cao, cần có những chính sách phù hợp nhằm quản lý nhằm khuyến khích phát triển mang về năng suất cao hơn. Tùy vào đặc điểm tính chất của từng vùng nuôi mà giao cho các đơn vị chủ quản có thẩm quyền quản lý phù hợp với các cấp từ trung ương đến địa phương. - Khuyến khích các hộ nuôi thực hiện tốt chính sách dồn điền đổi thửa để sản xuất mang tính tập trung hơn và phát triển qui mô hơn. - Khuyến khích các hộ nuôi theo các hình thức nuôi sạch đảm bảo vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm theo các tiêu chuẩn: GAP, BMP, COC,... 3.2.4.2. Đào tạo nguồn nhân lực Đối với các cấp quản lý, chỉ đạo tập trung đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực NTTS, xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao. Tăng cường các hình thức đào tạo ngắn hạn phù hợp với trình độ, tập quán của lao động nghề cá, nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đảm nhận được nhiệm vụ chuyển giao công nghệ cho người nuôi đến từng vùng. Đủ trình độ tiếp thu các công nghệ tiên tiến, hiện đại của nước ngoài thực hiện liên kết, nhập khẩu một số loại hóa chất, thuốc phòng bệnh của nước ngoài. Tiến hành lai tạo các 124 loại, thủy sản có giá trị kinh tế, phục vụ xuất khẩu, xây dựng nguồn giống quý hiếm. Cụ thể, cần mở rộng phạm vi đào tạo cán bộ có trình độ đại học trong các lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ nuôi: Ngư y, khuyến ngư và phát triển nông thôn. Trung bình 50 ha NTTS cần một cán bộ quản lý chuyên ngành thủy sản (trung cấp trở lên Nên tập trung đào tạo loại cán bộ này ở Đại Học Cần Thơ và Đại học An Giang (mỗi năm mỗi trường khoảng 350 cán bộ), số còn lại đào tạo ở các trường đại học thủy sản (nay là ĐH Nha Trang) và nông nghiệp khác. Trong tỉnh thì Trường Đại học Trà Vinh là đơn vị đảm bảo đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn về lĩnh vực NTTS, cần phải nâng cao năng lực giảng dạy đa dạng hoá các loại hình đào tạo nhằm đảm bảo cung cấp nguồn cán bộ chuyên biệt phục vụ ngành. Số lượng cán bộ có trình độ dưới đại học và đại học có thể tính theo tỷ lệ sau: đào tạo 1 đại học, 3 cao đẳng và 10 trung cấp (có nghĩa là đào tạo theo mô hình 1/3/10). Riêng đối với cán bộ trình độ trên đại học thì đào tạo theo mô hình sau: 01 thạc sĩ/50 kỹ sư; 1tiến sĩ /100 kỹ sư. Công nhân kỹ thuật và lực lượng sản xuất trực tiếp cần phải được đào tạo vừa cơ bản vừa thường xuyên do các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ NTTS thường diễn ra rất nhanh. Vì vậy nên đưa các trường nghiệp vụ phát triển NTTS về sát với các vùng nuôi hoặc tổ chức các lớp học tại chỗ tập trung ngắn hạn tại các địa phương có lĩnh vực NTTS phát triển mạnh để người nuôi có thể tiếp xúc vận dụng và thực tế. Các trường này có thể mở các lớp đào tạo mới hoặc nâng cao trình độ ngắn ngày kết hợp với khuyến ngư, tăng cường đào tạo nâng cấp thường xuyên, mở các buổi khuyến ngư nâng cao đối với lực lượng lao động trực tiếp. Đào tạo một đội ngủ chuyên biệt với nhiệm vụ chính là nghiên cứu thị trường nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng, xu hướng phát triển của thị trường trong nước cũng như thế giới. Từ đó lập kế hoạch sản xuất phát triển của ngành cho phù hợp và đáp ứng được nhu cầu thị trường. Nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trên mọi lĩnh vực, vì vậy việc đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho tất cả các hoạt động kinh tế không 125 riêng gì ngành thuỷ sản là nhiệm vụ mang tính bức thiết. 3.2.4.3. Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Gia nhập vào những thị trường lớn luôn có nhiều thách thức cho việc phát triển của các ngành kinh tế nhưng đây lại là đều kiện thuận lợi thúc đẩy bản thân từng ngành phát triển. Trong hoạt động NTTS việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế sẽ mở ra nhiều hướng đi mới cho ngành, thuận lợi cho việc tiếp cận với những kỹ thuật hiện đại phục vụ nuôi trồng, nhập các trang thiết bị mới. Tiến hành đa phương hóa các mối quan hệ và đa dạng hóa các đối tượng nuôi, chính đều này sẽ mở rộng hơn thị xuất khẩu hàng hóa cho ngành, mang đến nhiều cơ hội cạnh tranh với các mặt hàng của các nước khác. Sẵn sàng giao lưu trao đổi kinh nghiệm học tập những tiến bộ của khoa học công nghệ nước ngoài du nhập vào đây sẽ là yếu tố giúp cho bản thân ngành phát triển vượt bậc, yêu cầu phải nhanh chóng điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo hướng phát huy lợi thế so sánh và nâng cao nhanh khả năng cạnh tranh. - Tăng cường hợp tác với các tổ chức của các nước trong khu vực và trên thế giới trên nhiều lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực sinh sản nhân tạo một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao. Hợp tác trong việc nghiên cứu di truyền, chọn giống một số loài quý, quản lý phòng ngừa dịch bệnh. - Tăng cường giao lưu giữa các hiệp hội giữa những người nuôi giữa các vùng nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp trong vùng. - Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế tạo đều kiện cho việc tham gia nhiều vào các dự án quốc tế như dự án hỗ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản mặn lợ, để nâng cao năng lực khuyến ngư tại địa phương, xây dựng các mô hình trình diễn tập huấn kỹ thuật cho nông dân. - Tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của các tổ chức quốc tế và khu vực thông qua các chương trình, dự án cụ thể, phù hợp với mục tiêu phát triển của ngành thuỷ sản, thực hiện tốt các hiệp định hợp tác nghề cá và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Các địa phương chủ động tìm kiếm đối tác để thu hút vốn đầu tư, công nghệ của nước ngoài nhằm tạo nguồn lực cho sự phát triển. Tích cực tìm kiếm 126 và hợp tác với nước ngoài để xuất khẩu lao động nghề cá và hợp tác nghề cá trên tất cả các lĩnh vực. 3.2.5. Giải pháp bảo vệ môi trường nước Môi trường nước là yếu tố quyết định sự sinh trưởng phát triển của sinh vật thủy sinh nên việc bảo vệ môi trường nước phải được quan tâm. Việc xử lý nước trước khi cho vào ao nuôi trồng cũng như lượng nước thải ra môi trường sẽ ảnh hưởng đến các vùng nuôi khác, cần có ao lắng xử lý nước trước khi cấp vào ao nuôi thông qua túi lọc nhằm hạn chế cá tạp vào ao nuôi; không sử dụng các loại thuốc diệt giáp xác có nguồn gốc thuốc bảo vệ thực vật để xử lý ao nuôi. Môi trường nước rất nhạy cảm với những tác động của các yếu tố xung quanh chính các chất thải từ NTTS đã tác động ngược trở lại đối với sự phát triển bền vững của ngành. Những vùng NTTS tập trung, quy mô công nghiệp rất dễ bị ảnh hưởng do chúng gây ra. Đối với nuôi cá Tra, mặc dù mức độ ô nhiễm chưa ở diện rộng nhưng trong phạm vi hẹp đã có sự cạnh tranh nguồn nước sạch giữa người nuôi cá với các hộ gia đình sinh sống quanh đó vì sinh hoạt của hộ thường vẫn dựa chủ yếu vào nước ngọt ven sông. Trong những vùng nuôi tôm do chưa đảm bảo các yếu cầu về nguồn nước cấp thoát dẫn đến sự lan truyền bệnh tật và ô nhiễm giữa các vùng với nhau. Nhằm hạn chế những tác động tiêu cực trên chúng ta cần hạn chế sử dụng các chế phẩm gây ô nhiễm nguồn nước, cần xây dựng hệ thống lắng lọc nước trước khi sử dụng và thải ra môi trường, tăng cường sử dụng máy quạt, máy sụt khí trong hệ thống ao nuôi. Bảo vệ môi trường nước chính là đảm bảo môi trường sống cho thủy sinh vật. 127 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ  KẾT LUẬN Trà vinh là một tỉnh ven biển của ĐBSCL có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp nói chung và đặc biệt là ngành thủy sản càng có nhiều ưu thế phát triển hơn như: vị trí địa lý, đất đai, nguồn nước, khí hậu,...Tỉnh lại có có điều kiện phát triển ngành NTTS ở cả 3 loại hình mặt nước mặn, lợ và ngọt. Nằm trong khu vực được xem như là trọng điểm phát triển ngành nuôi trồng thủy sản. Trong những năm qua Tỉnh đã thực hiện nhiều chính sách nhằm phát triển đưa ngành thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, xem nuôi trồng thủy sản là khâu đột phá trong phát triển nông nghiệp đã đóng góp nhiều vào các chỉ tiêu kinh tế trong tiến trình hội nhập vào kinh tế thế giới. Tiềm năng của tỉnh vẫn còn rất lớn, dựa trên những tiềm năng và lợi thế sẵn có đã tiến hành khai thác phát triển ngành nuôi một cách bền vững. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang nuôi trồng thủy sản của tỉnh nhiều năm qua đã thu được những thành tựu đáng kể: an ninh lương thực vẫn được giữ vững, đời sống của nhân dân nhiều vùng nuôi trồng thủy sản được cải thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng dần được cải thiện. Tuy nhiên do tốc độ phát triển NTTS ở tỉnh diễn ra quá nóng, cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí, trình độ canh tác chưa đủ đảm bảo cho phát triển NTTS một cách bền vững, nên đã đối mặt với những khó khăn nhất định. Qua quá trình tìm hiểu tôi đã hoàn thành đề tài “ Nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Trà vinh thực trạng và giải pháp phát triển” Đề tài đã tìm hiểu nghiên cứu những điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành NTTS, đồng thời đã xem xét phân tích đánh giá thực trạng phát triển, những mặt được cũng như những mặt còn hạn chế của ngành. Thông qua những vấn đề nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp cơ bản như quy hoạch, nguồn giống, thức ăn, vốn đầu tư,... nhằm góp phần củng cố, thúc đẩy sự phát triển của ngành mang về giá trị sản xuất cao cho nền kinh tế. 128  KIẾN NGHỊ - Khẩn trương quy hoạch tổng thể thủy lợi phục vụ NTTS, tăng mức hỗ trợ cho vùng để xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi như: thủy lợi, thủy điện, giao thông, nhất là những vùng nuôi tập trung mới khai thác đưa vào sử dụng. - Cần chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật đặc biệt là khoa học công nghệ, đồng thời tiến hành phổ biến các tiến bộ khoa học đến với người dân thông qua các cuộc hội thảo, khuyến ngư. - Tăng cường bộ máy quản lý của nhà nước đến trung ương và địa phương đối với những vùng nuôi, đã xuất hiện nhiều vùng nuôi tự phát không theo quy hoạch và quản lý, nên các địa phương phải chú trọng hơn những vấn đề này và hỗ trợ sự phát triển bền vững cho ngành. - Các cơ quan chức năng cần đảm bảo ngoài nguồn giống trong tỉnh tự cấp thì nguồn giống cho nuôi thủy sản từ ngoài khi vào nhập tỉnh phải sạch bệnh, có năng suất cao, có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường sống tự nhiên của tỉnh. Hơn nữa cần xem xét đảm bảo đầu ra sản phẩm ổn định. - Tập trung nguồn vốn từ trung ương và địa phương hỗ trợ phát triển NTTS, đầu tư cho cơ sở hạ tầng..., đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn của các cấp đầu tư. - Đảm bảo thị trường tiêu thụ, giá cả ổn định cho người nuôi. Đối với người nuôi phải tuân thủ lịch thời vụ, tổ chức hoạt động nuôi trồng theo quy hoạch tránh phát triển tràn lang dẫn đến tình trạng khó kiễm soát vùng nuôi. 129 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo tham luận của Sở Nông Nghiệp – Phát triển nông thôn Trà vinh (2009). Về thực trạng và xu hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng ven biển tỉnh Trà Vinh. 2. Nguyễn Duy Khoát (2003), Hỏi đáp về nuôi cá nước ngọt, Nhà xuất bản Hà Nội. 3. Lê Tiêu La (2009), Kinh tế - quy hoạch phát triển thủy sản, NXB nông nghiệp Hà Nội. 4. Dương Tấn Lộc, Hướng dẫn kỹ thuật Nuôi thuỷ đặc sản nước ngọt và phòng trị bệnh, Nhà xuất bản Thanh Niên. 5. Dương Tấn Lộc, Thức ăn cho thuỷ sản nuôi (tôm – cá), Nhà xuất bản Thanh Hoá. 6. Lê Thị Nga (2000), Giáo trình Thuỷ sinh vật học, Trường Trung học thuỷ sản IV, Nhà xuất bản Nông Nghiệp. 7. Nền kinh tế các tỉnh vùng biển Việt Nam, NXB Lao Động. 8. Nghị quyết 09/2000/NQ-TTg của Chính phủ: Một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (15/06/2000), Chính Phủ. 9. Niên Giám thống kê 2006 – 2010 (2011), nhà xuất bản Thông tin và truyền thông. 10. Quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng ĐBSCL đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Bộ Nông Nghiệp và phát triển Nông Thôn, Viện kinh tes và quy hoạch thuỷ sản, tháng 4/2009. 11. Quyết định số 38/QĐ-UBT ngày 20/8/2001 của UBND tỉnh, về việc phê duyệt định hướng “quy hoạch chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản và trồng màu, trồng cây ăn trái trên địa bàn tỉnh đến năm 2010”. 12. Nguyễn Trung Thành – Phạm Văn Trang, Công nghệ nuôi trồng thủy đặc sản theo hướng trang trại. 130 13. Lê Bá Thảo (2008), Thiên nhiên Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục. 14. Lê văn Thắng, Giáo trình kinh tế và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Trường Trung cấp thuỷ sản IV, Nhà xuất bản Nông Nghiệp. 15. Lê Thông(chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ, Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học sư phạm. 16. Nguyễn Văn Thường, Trần Khánh Hưng, Giáo trình kinh tế Việt Nam, Trường Đại Học kinh tế Quốc Dân Khoa Kinh tế học. 17. Tổng cục thống kê Việt Nam 2000 - 2012. 18. Vũ Văn Toàn (2003), Hợp phần Nuôi trồng thuỷ sản Biển và nước lợ, DANIDA, Bộ Thuỷ Sản 19. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh, Lê Thông, Địa lý kinh tế đại cương, Nhà xuất bản Đại học sư phạm. 20. Trần Văn Vỹ (2005), Giáo trình thuỷ sản, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. 21. Trần Văn Vỹ, Huỳnh Thị Dung, Nuôi cá nước ngọt (Ao, hồ, ruộng, nuôi cá lồng), Nhà xuất bản Nghệ An. 22. Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Trà vinh, Báo cáo kinh tế xã hội 2007, 2008, 2009, 2010. 23. www.Agroviet.gov.vn 24. www.travinh.gov.vn 25. www.thuysanvietnam.com.vn 1 PHỤ LỤC Phụ lục 1: Giá trị sản xuất theo giá thực tế phân theo ngành nông – lâm – thủy sản. Đơn vị: Triệu đồng Năm Ngành 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng số 9.648.296 12.019.011 15.527.180 16.518.146 21.281.295 Ngành nông nghiệp 6.329.854 7.903.824 11.691.9 85 12.203.662 14.975.520 Lâm nghiệp 104.562 131.285 195.665 195.483 196.718 Thủy sản 3.213.880 3.983.902 3.665.785 4.119.001 6.109.057 Nguồn: NGTK – 2010 Phụ lục 2: Sản lượng thủy sản tỉnh Trà vinh (2006 – 2010). Đơn vị: Tấn Năm Ngành 2006 2007 2008 2009 2010 Khai thác 58.088 68.385 70.820 72.200 77.276 Nuôi trồng 75.980 83.349 83.627 83.423 82.777 Tổng số 133.988 151.734 154.447 155.624 160.053 Nguồn: NGTK 2006 – 2010 2 N gu ồn : T ác G iả 20 10 65 ,0 2 25 ,3 9, 68 20 09 66 ,0 7 20 ,9 13 ,0 2 20 08 65 ,0 23 ,7 11 ,3 4 20 07 57 ,7 29 ,8 12 ,5 3 20 06 62 ,3 9 31 ,7 7 5, 84 20 05 64 ,3 9 26 ,6 4 9, 0 20 04 71 ,1 4 20 ,0 7 8, 8 20 03 65 ,1 19 ,9 15 ,0 20 02 67 ,3 9 13 ,1 19 ,5 1 20 01 67 ,0 15 ,3 9 17 ,6 1 20 00 82 ,4 2 10 ,6 6 6, 92 N ăm Lo ại T S C á Tô m TS k há c Ph ụ lụ c 3: C ơ cấ u sả n lư ợn g ng àn h nu ôi tr ồn g (2 00 0– 20 10 ). Đ ơn v ị: % 3 Phụ lục 4: Sản lượng tôm nuôi phân theo huyện của tỉnh Trà vinh (2006 – 2010). Đơn vị: tấn Năm Huyện/Thị 2006 2007 2008 2009 2010 Tp. Trà Vinh 43 42 45 44 14 Càng Long 115 172 215 180 156 Châu Thành 1.016 1.267 1.297 1.041 1.207 Cầu kè 1 1 - - - Tiểu Cần 75 194 - 1 - Cầu Ngang 7.050 9.706 8.106 8.337 10.773 Trà Cú 1.010 885 430 404 421 Duyên Hải 11.627 11.763 9.696 7.436 8.372 Nguồn: Cục thống kê tỉnh Trà vinh (Niên Giám thống kê 2010) Phụ lục 5: Sản lượng cá nuôi phân theo huyện của tỉnh Trà vinh (2006 – 2010). Đơn vị: tấn. Năm Huyện/Thị 2006 2007 2008 2009 2010 Tp. Trà Vinh 920 914 2.382 4.274 4.800 Càng Long 8.052 7.177 9.375 9.071 7.873 Châu Thành 7.120 5751 8.932 10.101 11.016 Cầu kè 9.397 8.115 12.166 8.025 9.316 Tiểu Cần 13.510 12.323 14.418 14.415 12.260 Cầu Ngang 3.984 4016 2.407 2.413 1.982 Trà Cú 3.436 2.508 2.690 4.275 3.077 Duyên Hải 985 7.281 1.979 2.540 3.500 Nguồn: Cục thống kê tỉnh Trà vinh (Niên giám thông kê 2006 – 2010) 4 Phụ lục 6: Một số hình ảnh về nuôi trồng thủy sản tỉnh Trà Vinh Hình 1: Một ao tôm chuẩn bị cho mùa vụ 2012 ầ ồ Hình 2: Nuôi cua biển xen canh trên đất rừng-tôm, xã Quãng Đông, Duyên Hải. (Nguồn Báo Trà Vinh) Hình 3: Thu hoạch tôm sú tại xã Mỹ Long Nam (Nguồn: Báo Nhân Dân) Hình 4: Đầm nuôi tôm tại Hiệp Mỹ Tây, Cầu Ngang. (Nguồn: Agroviet.gov.vn) Hình 5: Rừng ngập mặn Duyên Hải trên đất tôm – cua. (Nguồn: travinh.gov.vn) Hình 6: Chăm sóc cá tra theo mô hình GAP. (Nguồn: TTXVN) 5 Hình 7: Nuôi tôm sú theo hình thức thâm canh mô hình GAP ở Mỹ Long Nam, Cầu Ngang, Trà Vinh.( Ảnh: Huy Hoàng) Hình 6: Hệ thống giao thông ở vùng nuôi thủy sản tỉnh Trà Vinh (Ảnh: Đình Huệ/TTXVN) 6 Hình 8: Sản phẩm tôm đã qua sơ chế tại cơ sở sản xuất thuỷ sản Long Toàn.(Nguồn Báo Thuỷ Sản)

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnuoi_trong_thuy_san_tinh_tra_vinh_thuc_trang_va_giai_phap_phat_trien_9199.pdf
Luận văn liên quan