Luận văn Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp

Phương pháp này có tác dụng là trong quá trình phân tích nêu ra được hết mọi nguyên nhân, mọi nhân tố tác động vào đầu ra, đồng thời các nguyên nhân chính , chủ yếu cũng được xác định rõ ràng, không trùng lặp. Phương pháp này là một phương pháp hữu hiệu để xử lý các trục trặc, điều chỉnh các sai lệch trong quá trình tác nghiệp thực hiện các quy trình công nghệ xây dựng, hoặc để phân tích dự báo trước các nguyên nhân tác động đến quá trình sử dụng xe máy thiết bị thi công.

pdf77 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/11/2013 | Lượt xem: 6119 | Lượt tải: 28download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n phẩm. Điều đó phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng có hiệu quả các công cụ quản lý, trong đó có phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh. Để phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp nói riêng đi vào nề nếp và phát huy được hiệu quả đối với công tác quản lý doanh nghiệp thì phải hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích. Việc hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích cần phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau: - Phải đáp ứng được các yêu cầu quản lý nhà nước về kinh tế, tuân thủ các chế độ quản lý kinh tế tài chínhcủa Nhà nước đã ban hành, phù hơpự với những xu hướng phát triển kinh tế và yêu cầu quản lý kinh tế trong giai đoạn tới. - Phải đáp ứng được những yêu cầu quản lý và đổi mới tổ chức, phù hợp với những đặc thù kinh tế của ngành xây dựng. - Các chỉ tiêu kinh tế cần phân tích phải phù hợp với các chỉ tiêu kế toán, thống kê, đồng thời phải phù hợp với quá trình thu thập, xử lí và cung cấp thông tin của các các loại hạch toán này. - Việc hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích phải đảm bảo tính khả thi trong quá trình thu thập, xử lý dữ liệu, tài liệu và tổ chức phân tích, phải đảm bảo các nội dung phân tích là thực sự hữu ích đối với doanh nghiệp. - Mục tiêu của việc hoàn thiện công tác phân tích là phục vụ cho công tác quản lý của doanh nghiệp, vì vậy nên tổ chức quá trình phân tích sao cho có hiệu quả, đảm bảo một kết quả cao nhất với một chi phí là ít nhất. Muốn vậy công tác phân tích phải kết hợp với các công cụ quản lý khác như kế hoạch, thống kê, kế toán (bao gồm cả kế toán tài chính và kế toán quản trị). - Phải đánh giá chính xác thực trạng hoạt động kinh doanh, tình hình chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. Dự tính được ảnh hưởng của môi trường kinh doanh cũng như xác định được bản chất, xu hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế cần phân tích. - Phải đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin trung thực cho công tác quản lý của công ty, cho các nhà đầu tư, các đối tác kinh doanh và các đối tượng quan tâm khác. - Việc hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích phải xuất phát từ mục đích và yêu cầu quản lý, phải phù hợp với cơ chế và sự phân cấp tài chính kế toán của công ty. Có thể biểu diễn mối quan hệ này trên mô hình sau: Cơ chế và sự phân cấp quản lý tài chính Việc giải quyết được các yêu cầu trên trong quá trình tổ chức công tác phân tích sẽ tạo điều kiện rất lớn để phân tích sản xuất kinh doanh phát huy được chức năng và nhiệm vụ của mình trong hoạt động quản lý. Trong quá trình phân tích cũng xần nhận diện được những thay đổi của môi trường bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh của công ty, điều chỉnh nội dung và phương pháp phân tích cho phù hợp với những sự thay đổi đó. Cũng phải nhận thấy rằng, phân tích chỉ là một công cụ trong hệ công cụ quản lý của công ty, vì Hoạt động sản xuất kinh doanh Yêu cầu quản lý Nội dung phân Phương pháp phân vậy sự kết hợp với các công cụ khác sẽ giúp cho việc đánh giá, phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của công ty sẽ được chính xác hơn. II. Nội dung hoàn thiện công tác phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp ở Công ty xây dựng Lũng Lô. 1. Hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho công tác phân tích ở Công ty Xây dựng Lũng Lô. Hoạt động quản lý luôn gắn liền với chức năng thông tin, thông tin vừa là cơ sở để tổ chức tốt công tác quản lý trong doanh nghiệp. Phân tích kinh tế với chức năng điều chỉnh và dự đoán các hoạt động kinh tế, sẽ liên quan đến việc thu thập, xử lí và cung cấp thông tin của hầu hết các cấp quản lý khác nhau trong doanh nghiệp. Vì vậy, tổ chức tốt hệ thống thông tin sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác phân tích: Giảm khối lượng công việc, nâng cao hiệu suất của quá trình xử lí và cung cấp thông tin, kết quả rút ra từ công tác phân tích sẽ chính xác và phù hợp hơn. Đối với công ty xây dựng Lũng Lô thì việc tổ chức hệ thống thông tin cho công tác phân tích là một vấn đề khó. Điều đó xuất phát từ đặc điểm hạch toán và tổ chức của công ty, việc phân chia nhiều cấp hạch toán đã tạo nên nhiều cấp độ thông tin khác nhau và quá trình thu thập, xử lý thông tin cũng khá phức tạp. Trong quá trình hoàn thiện công tác phân tích cần phải quan tâm đến việc xây dựng tổ chức một hệ thống thông tin khoa học phù hợp với đặc điểm của công ty trong điều kiện mới. Với quan điểm cho rằng: công tác phân tích hoạt động kinh tế đòi hỏi sự phối hợp của tất cả các bộ phận, các phòng ban chức năng khác nhau. Vì vậy, xây dựng các mô hình tổ chức thông tin phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng bộ phận trong mối quan hệ với các bộ phận chức năng khác là rất cần thiết trong phân tích. Một yêu cầu của tổ chức thông tin là phải nâng cao được chất lượng của công tác phân tích, để kết quả phân tích là thực sự là cơ sở định hướng và điều chỉnh các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp. Muốn vậy, tổ chức thông tin phải gắn với việc tạo ra cho công tác phân tích một nguồn số liệu, tài liệu cần thiết, đầy đủ, nhanh chóng. Đối với ngành xây dựng có đặc thù về sản xuất kinh doanh, đặc thù về sản phẩm, từ đó dẫn đến những đặc thù về tổ chức quản lý. Việc tổ chức hạch toán kinh doanh được tiến hành trên phạm vi toàn công ty, vì vậy công tác phân tích cũng được tập trung trụ sở chính của công ty. Có thể biểu diễn mô hình tổ chức hệ thống thông tin phục vụ công tác phân tích trong công ty: Mô hình phân tích được tổ chức theo phương pháp tập trung trong đó chỉ có một bộ phận phân tích làm nhiệm vụ thu thập, xử lý thông tin từ các bộ phận chức năng khác và các đơn vị cơ sở, tổng hợp và đưa ra kết quả phân tích dưới dạng báo cáo cho các cấp quản lý tuỳ theo yêu cầu và chức năng. Trong phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, hệ thống thông tin kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng. Thông tin kế toán giúp cho việc đánh giá được các biện pháp quản lý đang thực hiện, trên cơ sở đó giúp cho người quản lý đề ra các quyết định kinh tế, các biện pháp quản lý hữu hiệu hơn để làm tăng kết quả sản xuất kinh doanh của công ty. Tổ chức hợp lý và khoa học hệ thống thông tin kế toán sẽ giúp nâng cao được hiệu suất của công tác phân tích và giúp cho công tác phân tích chính xác và có căn cứ khoa học. Thông tin kế toán có liên quan đến toàn bộ hoạt động kinh tế tài chính của công ty. Vì vậy, nó có liên quan đến các phòng ban và các bộ phận chức năng khác trong cơ cấu tổ chức của công ty. Thông tin phục vụ cho công tác phân tích từ được thu thập từ các bộ phận chức năng với trung tâm là bộ phận kế toán tài chính. Tồ chức thông tin như thế nào để nâng cao chất lượng của công tác phân tích, để kết quả phân tích thực sự là cơ sở định hướng và điều chỉnh các hoạt động kinh tế của công ty? Bộ phận Kế hoạch Bộ phận kế toán tài Bộ phận phân tích Phân tích các chỉ tiêu cần thiết để đưa ra kết Xử lý thông tin theo hệ thống để phân Thông tin về kế hoạch, định Thông tin về CPSX và giá thành sản phẩm Tổ chức cung cấp thông tin và các kết luận Các xí nghiệ p thành Thông tin về giá trị khối lượng xây Báo Kết quả Bộ phận kế toán Thông tin về chi phí sản xuất, giá thành Bộ phận phân tích Báo cáo phân tích Chi tiết cho từng khoản mục chi phí Chi tiết cho từng CT, HMCT Sơ đồ tổ chức thông tin phân tích cpsx, giá thành sản phẩm ở công ty Muốn vậy tổ chức thông tin phải gắn liền với việc tạo ra cho công tác phân tích một nguồn số liệu, tài liệu cần thiết, đầy đủ, nhanh chóng. Đối với hệ thống thông tin kế toán phải làm sao tổ chức phù hợp với các chỉ tiêu và nội dung phân tích. Từ các sổ sách, báo cáo kế toán phải thiết kế được các mẫu biểu để tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu cần thiết cho phân tích. Muốn đáp ứng được các yêu cầu trên, trước hết phải tổ chức hệ thống tài khoản chi tiết vừa đáp ứng được yêu cầu thông tin cho các đối tượng dùng tin, vừa phục vụ cho việc xây dựng và tính toán các chỉ tiêu phân tích cụ thể. Khi xây dựng hệ thống thông tin kế toán chi tiết cần căn cứ vào đặc điểm và yêu cầu quản lý, yêu cầu phân tích cụ thể của công ty cũng như mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và kết quả mang lại. Việc tổ chức hệ thống thông tin kế toán có liên quan chặt chẽ với các phân hệ thông tin khác, với phương tiện xử lý thông tin và bộ máy tổ chức kế toán của công ty. Tuy nhiên, các nội dung này phải dựa trên cơ sở tổ chức các nội dung kế toán theo yêu cầu quản lý cụ thể. Trong phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của công ty, vấn đề quan trọng là tổ chức hệ thống kế toán công ty và hệ thống báo cáo nội bộ để xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu phân tích và quản lý kinh doanh. Như vậy: vấn đề quan trọng trong tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho phân tích chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm là sự kết hợp giữa các bộ phận chức năng trong quá trình thu thập và xử lý tài liệu, số liệu cho công tác phân tích. Điều này gắn với quy chế và sự phân cấp chức năng, nhiệm vụ trong bộ máy tổ chức của công ty. 2. Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích chi phí sản xuất tại công ty xây dựng Lũng Lô. 2.1. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng Lũng Lô. Mỗi chỉ tiêu phân tích chỉ phản ánh được một khía cạnh nào đó của đối tượng phân tích. Vì vậy, để nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ các khía cạnh của một hiện tượng và quá trình kinh tế, người ta phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích. Hệ thống chỉ tiêu phân tích là tập hợp các chỉ tiêu phản ánh các hiện tượng hay quá trình kinh tế đã đựơc sắp xếp theo một nguyên tắc nhất định phù hợp với cấu trúc và các mối liên hệ giữa các bộ phận cấu thành với nhau của hiện tượng hay quá trình đó. Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích phải xuất phát từ yêu cầu uản lý của doanh nghiệp trên cơ sở đối tượng phân tích đã được xác định. Thực chất chỉ tiêu là sự cụ thể hoá của các nội dung cần phân tích theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Có thể biểu diễn mối quan hệ này như sau: Một hệ thống chỉ tiêu phân tích khi xây dựng cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau : - Các chỉ tiêu phân tích phải rõ ràng về nội dung, phương pháp tính, thuận tiện khi thu thập và đảm bảo tính đồng nhất khi so sánh. - Phải phù hợp với nội dung phân tích, phù hợp với đặc điểm của đối tượng phân tích, đáp ứng được các yêu cầu quản lý của đơn vị. - Số lượng các chỉ tiêu là ít nhất, dễ xác định, không trùng lặp và được xắp xếp theo một lôgíc phù hợp với nội dung kinh tế của chỉ tiêu. - Phục vụ cho phân tích tổng hợp cũng như phân tích chi tiết theo yêu cầu của các cấp quản lý khác. - Các chỉ tiêu trong hệ thống phải phù hợp với yêu cầu của kế toán và thống kê. Đối tượng phân tích Nội dung phân tích Chỉ tiêu phân tích Phương pháp phân Sơ đồ biểu diễn mối quan hệ giữa chỉ tiêu với nội dung và phương pháp PT - Hệ thống chỉ tiêu phải mang tính ổn định cao khi có sự biến động của môi trường hoạt động, việc điều chỉnh chỉ tiêu phải khoa học phù hợp với mục đích phân tích. Việc xác định các chỉ tiêu cơ bản và tổng hợp nhằm phân tích, đánh giá chính xác chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm là rất cần thiết đối với các doanh nghiệp xây dựng. Việc xác định các chỉ tiêu phân tích, giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý và sự phân cấp tài chính kế toán cho các đơn vị thành viên. Dựa trên những căn cứ trên có thể xác định các chỉ tiêu cơ bản để phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Bao gồm các chỉ tiêu sau:  Giá thành công trình hoàn thành bàn giao.  Tổng giá thành khối lượng công tác xây lắp hoàn thành bàn giao.  Tỷ suất chi phí trên giá thành công trình hoàn thành.  Năng suất lao động bình quân của một công nhân xây lắp Năng suất lao động bình quân một công nhân xây lắp = Tổng giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành trong kỳ x100% Số công nhân bình quân trực tiếp xây lắp  Tổng số ca máy làm việc theo định mức.  Tổng số ca máy làm việc thực tế. ----------------------------------------------------------------------------------------------  Giá thành của một ca máy theo kế hoạch, thực hiện. Tỷ suất chi phí nguyên vật liệu vật liệu trực tiếp = Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp x100% Giá thành công trình hoàn thành Tỷ suất chi phí nhân công trực tiếp = Chi phí nhân công trực tiếp x100% Giá thành công trình hoàn thành Tỷ suất chi phí sử dụng máy thi công = Chi phí sử dụng máy thi công x100% Giá thành công trình hoàn thành Tỷ suất chi phí sản xuất chung = Chi phí sản xuất chung x100% Giá thành công trình hoàn thành Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không chỉ là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn là công cụ cải tiến cơ chế quản lý kinh doanh. Chỉ thông qua phân tích, công ty mới có thể nhận diện và khai thác có hiệu quả các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh, mới có cơ sở khoa học để đề ra các giải pháp quản lý. Trong điều kiện công ty đang có những thay đổi về cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý, việc xây dựng và lựa chọn các chỉ tiêu phân tích cần phải dựa trên những đặc điểm và tổ chức của ngành để công tác phân tích thực sự hữu ích trong quá trình quản lý. 2.2 Hoàn thiện nội dung phân tích: Trong phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, ngoài việc xác định mức độ tiết kiệm hay lãng phí của các khoản mục chi phí, chúng ta còn phải xác định xem việc sử dụng các khoản mục chi phí của giá thành sản phẩm đã hợp lý hay chưa, có tương xứng với kết quả đạt được hay không. Để từ đó đưa ra các biện pháp giải quyết phù hợp. 2.2.1. Hoàn thiện nội dung phân tích khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Trong nội dung phân tích này công ty nên sử dụng biểu mẫu 8 cột, và xây dựng thêm chỉ tiêu: tỷ suất chi phí nguyên vật liệu trên giá thành công trình hoàn thành. Tỷ suất chi phí nguyên vật liệu là tỷ lệ % giữa chi phí nguyên vật liệu bỏ ra với giá thành công trình hoàn thành, Đây là chỉ tiêu nhằm đánh giá xem việc bỏ ra chi phí nguyên vật liệu có tương xứng với kết quả đạt được hay không. Công thức xác định tỷ suất chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Tỷ suất chi phí nguyên vậtliệu vật liệu trực tiếp = Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp x100% Giá thành công trình hoàn thành ý nghĩa của chỉ tiêu: để hoàn thành 100đ giá thành sản phẩm thì ta phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí nguyên vật liệu. Tỷ suất này càng giảm càng tốt, nhưng để đảm bảo tính chất hợp lý trong việc quản lý và sử dụng chi phí nguyên vật liệu. Có nghĩa là tỷ lệ giảm của chi phí nguyên vật liệu phải lớn hơn tỷ lệ giảm của giá thành sản phẩm. Ví dụ: Khi phân tích chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong giá thành công trình Cấp Nước Tân Thuận. Ta sử dụng dạng bảng phân tích sau: ( Bảng 8): Bảng phân tích chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch khoản mụcchi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Đơn vị tính: nghìn đồng Nhận xét: Qua số liệu bảng trên ta thấy: Tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kỳ kế hoạch so với kỳ thực hiện giảm 20.226,1 (nghìn đồng), tương ứng với tỷ lệ giảm là -2,1%. Giá thành công trình thực hiện so với kế hoạch giảm 35.248 ( nghìn đồng), tương ứng với tỷ lệ giảm là -2,14 %. Như vậy, tỷ lệ giảm của chi phí nguyên vật liệu thấp hơn tỷ lệ giảm của giá thành sản phẩm, làm cho tỷ suất chi phí nguyên vật liệu trên giá thành công trình tăng 0,02 %. Nếu so sánh giữa chi phí nguyên vật liệu bỏ ra với kết quả đạt được thì việc tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu của công ty là chưa phù hợp với kết quả đạt được. Công ty cần phải có các biện pháp để giảm chi phí nguyên vật liệu hơn nữa. Các khoản chi của chi phí nguyên vật liệu thực hiện so với kế hoạch đều giảm ( trừ khoản chi phí mua Xi măng). Nếu so sánh chi phí của các khoản chi này với kết quả đạt được thì chỉ có việc tiết kiệm chi phí mua gạch, mua cát và mua đá là đã đạt kết quả tốt vì tỷ lệ giảm của các khoản chi phí này lớn hơn tỷ lệ giảm của giá thành công trình. Còn việc giảm chi phí mua Xi măng là chưa tốt vì tỷ lệ giảm của khoản chi này thấp hơn tỷ lệ giảm của giá thành công trình hoàn thành. Công ty cần phải có những biện pháp nhằm giảm thiểu các khoản chi phí này. Khoản chi phí mua thép thực hiện so với kế hoạch tăng ( bảng 2) , Các chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện So sánh ST TS ST TS CL ±TL% ±TS Chi phí mua gạch 278.640 16.87 271.625 16,82 -7.015 -2,52 -0,07 Chi phí mua Xi măng 547.150 33.16 541.593 33,54 -5.557 -1,02 +0,3 8 Chi phí mua Thép  10 7.080 0.43 7.440,9 0,46 +360,9 +5,1 +0,0 3 Chi phí mua Cát vàng 71.550 4.34 68.692 4,25 -2.858 -3,99 -0,09 Chi phí mua Đá 58.047 3.52 52.890 3,28 -5.157 -8,88 -0,24 Tổng cộng chi phí nguyên vật liệu 962.467 58.33 942.240,9 58,35 - 20.226,1 -2,1 +0,0 2 Giá thành công trình hoàn thành 1.650.12 3 - 1.614.875 - -35.248 -2,14 - nguyên nhân làm cho chi phí này tăng là do giá mua của loại vật liệu này thực hiện so với kế hoạch tăng, đây là nguyên nhân khách quan, song Công ty vẫn có thể đưa ra những biện pháp nhằm giảm chi phí của khoản chi này, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tốt. + Khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới khoản mục chi phí vật liệu, cần chú ý đi sâu tìm hiểu các nhân tố giá cả nào dẫn tới chênh lệch trong giá vật liệu và những nguyên nhân gây lên sự chênh lệch đó. Ví dụ: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến giá cả các loại nguyên vật liệu. ( Bảng 9): Bảng phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới giá mua nguyên vật liệu Đơn vị tính: 1000 đ Tên vật liệu Đơn vị tính Giá gốc Chi phí vận chuyển bốc dỡ Chi phí thu mua kho bãi Giá vật liệu KH TH +,- K H TH +,- KH TH +,- KH TH +,- Gạch 1000v 250 247 -3 14 14 0 6 4 -2 270 265 -5 Xi măng Tấn 152 9 152 4 -5 17 16 -1 4 3 -1 1550 1543 -7 Thép  10 Kg 4,3 4,7 +0,4 0,3 0.2 -0,1 0,2 0,3 +0, 1 4,8 5,1 +0, 3 Cát Khối 47 48 +1 4 3 -1 1 1 0 54 52 -2 Đá Khối 27 25 -2 3 3 0 3 2 -1 33 30 -3  Một số giải pháp nhằm hạ thấp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành công trình. Vì vậy, việc tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có ảnh hưởng lớn đến mức hạ giá thành công trình hoàn thành. Để tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, công ty cần phải thực hiện một số biện pháp sau: - Đối với định mức tiêu hao nguyên vật liệu: Công ty cần phải quản lý chặt chẽ hơn nữa số vật liệu nhập và xuất kho của mình; thường xuyên kiểm tra đôn đốc các đơn vị thi công sử dụng tiết kiệm và đúng mục đích các loại nguyên vật liệu để tránh tình trạng lãng phí; giao trách nhiệm quản lý nguyên vật liệu đến từng đội thi công công trình; thường xuyên kiểm tra chất lượng thi công công trình để tránh thiệt hại do việc phá đi làm lại; kho, bãi dự trữ nguyên vật liệu phải đảm bảo phù hợp với đặc tính từng loại nguyên vật liệu để tránh tình trạng hao hụt trong quá trình bảo quản... - Đối với giá mua nguyên vật liệu, đây là nhân tố khách quan. Sự biến động của giá mua nguyên vật liệu phụ thuộc vào tình hình biến động giá cả thị trường vật liệu theo mùa xây dựng, do kết quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị sản xuất vật liệu. Song công ty vẫn có thể tác động được vào giá cả của từng loại nguyên vật liệu bằng các biện pháp như: Thường xuyên theo dõi, cập nhật những thông tin về giá cả vật liệu để có thể lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu với giá rẻ nhất; thiết lập mối quan hệ thường xuyên với các nhà cung cấp vật tư; giảm chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho, lưu bãi bằng cách: lựa chon địa điểm cung cấp nguyên vật liệu gần nơi thi công công trình để rút ngắn quãng đường vận chuyển, nhưng phải đảm bảo cung cấp đủ nguyên vật liệu (về số lượng, chất lượng), thời gian cung ứng vật liệu phải kịp thời để đảm bảo kịp tiến độ thi công công trình, giảm chi phí lưu kho, lưu bãi... Đối với những loại nguyên vật liệu quý hiếm trong nước chưa sản xuất được, phải nhập khẩu từ nước ngoài hoặc những nguyên vật liệu đắt liệu đắt tiền. Công ty có thể lựa chọn những loại nguyên vật liệu khác để thay thế, song phải đảm bảo điều kiện giá cả của vật liệu thay thế phải rẻ hơn, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tốt, tận dụng tối đa phế liệu thu hồi... 2.2.2. Hoàn thiện nội dung phân tích khoản mục chi phí nhân công trực tiếp. Để phân tích tình hình quản lý và sử dụng quỹ tiền lương của công nhân trực tiếp xây lắp tại công trình. Trong Phần nội dung phân tích của công ty, nên thêm chỉ tiêu năng suất lao động bình quân của một công nhân xây lắp, để xem xem việc sử dụng lao động của công ty có hiệu quả hay không. Công thức xác định năng suất lao động bình quân của một công nhân xây lắp Năng suất lao động bình quân một công nhân xây lắp = Tổng giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành trong kỳ x100% Số công nhân bình quân trực tiếp xây lắp Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động trong công ty, chỉ tiêu này càng tăng thì càng tốt. Ví dụ: Phân tích tình hình quản lý và sử dụng quỹ tiền lương của công nhân xây lắp tại công trình Cấp Nước Tân thuận (quý III/2003). (Bảng 10): Bảng phân tích tình hình quản lý và sử dụng quỹ tiền lương công nhân trực tiếp xây lắp công trình Cấp Nước Tân Thuận ( quý III/2003) Các chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện So sánh CL ± TL% 1. Tổng giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành trong kỳ (1000 đ) 612.117 596.879 - 15.238 - 2,49 2. Tổng quỹ lương của công nhân trực tiếp xây lắp công trình (1000) 65.052 60.971 -4.081 -6,27 3. Số công nhân xây lắp bình quân trong danh sách làm việc tại công trình ( người) 25 22 - 3 - 12 4. Mức lương bình quân người/ tháng (1000đ) 867,37 923,81 +56,44 +6,51 5. Tỉ suất tiền lương/ giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành ( % ) 10,63 10,22 - 0,41 6. Năng suất lao động bình quân (1000) 24.484,6 8 27.130,86 +2.646,18 10,8 Nhận xét: Qua bảng phân tích trên ta thấy Tổng quỹ lương của công nhân xây lắp trực tiếp trên công trình (trong quý III/ 2003) thực hiện so với kế hoạch giảm 4.081 (nghìn đồng), với tỷ lệ giảm là 6,27 %. Giá thành khối lượng công tác xây lắp thực tế so với kế hoạch giảm 15.238 (nghìn đồng), với tỷ lệ tăng là 2,49 %. Tỷ lệ giảm của tổng quỹ lương lớn hơn tỷ lệ giảm của tổng giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành, làm cho tyư suất chi phí tiền lương giảm 0,41%. Điều đó chứng tỏ tình hình quản lý và sử dụng quỹ tiền lương của công nhân xây lắp trực tiếp ở công ty là hợp lý. Thu nhập bình quân của một công nhân trực tiếp xây lắp trong kỳ thực hiện so với kế hoạch tăng, với tỷ lệ tăng là 6,51 %, năng suất lao động bình quân của một công nhân trực tiếp xây lắp thực hiện so với kế hoạch tăng 2.646,18 (nghìn đồng), với tỷ lệ tăng 10,8 %. So sánh tỷ lệ tăng của mức lương bình quân với tỷ lệ TLx NS Z QL  0 0 0 0 0 1 TLx NS Z TLx NS z QLz  0 0 1 0 1 1 TLx NS Z TLx NS z QL NS  0 1 1 1 1 1 TLx NS Z TLx NS z QL TL  tăng của năng suất lao động bình quân, ta thấy tỷ lệ tăng của năng suất lao động bình quân lớn hơn tỷ lệ tăng của mức lương bình quân. Chứng tỏ tình hình sử dụng lao động của công ty tại công trình là tốt, đời sống của người lao động được quan tâm hơn.  Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quỹ tiền lương của công nhân xây lắp trực tiếp. Quỹ lương của công nhân liên quan mật thiết với kết quả sản xuất. Nó biểu hiện ở chỉ tiêu năng suất lao động của công nhân. Vì vậy, Quỹ lương của công nhân được xác định như sau: Trong đó: Z Là tổng giá thành Khối lượng công tác xấy lắp hoàn thành NS năng suất lao động bình quân của một công nhân xây lắp. TL tiền lương bình quân của một công nhân xây lắp. Sử dụng phương pháp loại trừ để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới sự tăng ( giảm) của tổng quỹ lương: - Do ảnh hưởng của tổng giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành: - Do ảnh hưởng của năng suất lao động bình quân: - Do ảnh hưởng của tiền lương bình quân: ( trong đó: 1 kí hiệu là kỳ thực hiện, 0 kí hiệu là kỳ kế hoạch) Vận dụng nội dung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quỹ tiền lương vào việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp ở công ty. Dựa vào số liệu bảng 10 để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến quỹ lương của Công ty: Mức độ ảnh hưởng của nhân tố tổng giá thành khối lượng công tác xây lắp hoàn thành: 4,619.1337,867 68,484.24 117.612 337,867 68,484.24 879.596  xxxxQLz (Nghìn đồng) Mức độ ảnh hưởng của nhân tố năng suất lao động bình quân của một công nhân xây lắp: Mức độ ảnh hưởng của nhân tố tiền lương bình quân một công nhân xây lắp: (+ 2.015 x3 nghìn đồng). Nhận xét: Do tổng giá thành khối lượng công tác xây lắp hoàn thành giảm, làm cho quỹ lương giảm 1.619,4 nghìn đồng. Điều đó có nghĩa là chi phí tiền lương trong giá thành khối lượng công tác giảm, dẫn đến giá thành công trình giảm Do năng suất lao động bình quân tăng, làm cho quỹ tiền lương giảm 6.186,9 nghìn đồng. Năng suất lao động bình quân tăng, số công nhân sử dụng bình quân giảm, tất yếu làm giảm chi phí tiền lương dẫn đến giảm giá thành. Do tiền lương bình quân của người lao động tăng, làm quỹ tiền lương tăng 3.725 nghìn đồng. Công tác quản lý sản xuất nói chung, công tác quản lý và sử dụng quỹ lương nói riêng của công ty là tốt. Đạt được điều này là do, công ty đã thực hiện tốt các biện pháp như: Loại trừ được những tổn thất do ngừng viêc, loại bỏ những bất hợp lý trong tổ chức lao động, không sử dụng công nhân lành nghề trong các công việc phụ, tổ chức tốt các quá trình sản xuất, tăng năng suất lao động của công nhân trên công trường..Công ty đã thực hiện tốt các chế độ, chính sách tăng lương của nhà nước đối với người lao động, Công ty thường xuyên quan tâm đến đời sống vật chất, và tinh thần của người lao động thông qua việc tăng tiền lương, tiền thưởng cho công nhân. Các biện pháp này cần phải được phát huy trong các kỳ sản xuất tiếp theo. 2.2.3 Hoàn thiện nội dung phân tích khoản mục chi phí sử dụng máy thi công. 9,186.6337,867 68,484.24 879.596 337,867 86,130.27 879.596  xxxxQL NS (Nghìn đồng) 725.3337,867 86,130.27 879.596 381,923 86,130.27 879.596  xxxxQL NS (Nghìn đồng) Đối với nội dung phân tích này, Công ty nên sử dụng Biểu mẫu 8 cột, và sử dụng thêm chỉ tiêu: tỷ suất chi phí sử dụng máy thi công trên gía thành công trình hoàn thành. Đây là chỉ tiêu giúp Công ty đánh giá xem việc bỏ chi phí sử dụng máy thi công có phù hợp với kết quả đạt được hay không. Công thức xác định tỷ suất chi phí sử dụng máy thi công: Tỷ suất chi phí sử dụng máy thi công = Chi phí sử dụng máy thi công x100% Giá thành công trình hoàn thành Tỷ suất chi phí này càng giảm càng tốt. Tỷ lệ giảm của chi phí sử dụng máy thi công phải lớn hơn tỷ lệ giảm của giá thành công trình hoàn thành. Vận dụng nội dung này vào phân tích khoản mục chi phí sử dụng máy thi công trong giá thành sản phẩm ở công ty. Ta có bảng phân tích sau: (Bảng 11): Bảng phân tích chi tiết tình hình thực hiện kế hoạch chi phí sử dụng máy thi công trong giá thành công trình. Các chỉ tiêu Kế hoạch Thực hiện So sánh ST TS ST TS CL ±TL% ±TS 1. Chi phí sử dụng máy thi công tự có 199.509 12 190.228 11,78 -9.281 -4,65 -0,22 Trong đó: Chi phí tiền lương nhân viên phục vụ và điều khiển máy thi công 53.397 3,2 54.488 3,37 +1.091 +2,04 +0,17 Chi phí khấu hao máy thi công 102.128 6,19 95.540 5,92 -6.588 -6,45 -0,27 Chi phí nhiên liệu động lực 30.607 1,85 28.809 1,78 -1.798 -5,87 -0,07 Chi phí sửa chữa máy thi công 13.377 0,81 11.391 0,71 - 1.986 -14,84 - 0,1 2. Chi phí sử dụng máy thuê ngoài có công nhân điều khiển máy đi kèm 52.436 3,18 49.257 3,05 -3.179 -6,06 -0,13 Tổng chi phí sử dụng máy thi công 251.945 15,27 239.485 14,82 -12.460 -4,95 -0,45 Giá thành công trình hoàn 1.650.123 - 1.614.875 - -35.248 -2,14 - thành Nhận xét: Chi phí sử dụng máy thi công thực hiện so với kế hoạch giảm, với tỷ lệ giảm là 4,95 %, trong khi đó tỷ lệ giảm giá thành công trình là 2,14 %. So sánh ta thấy, tỷ lệ giảm chi phí sử dụng máy thi công lớn hơn tỷ lệ giảm giá thành công trìn, dẫn đến tỷ suất chi phí sử dụng máy thi công thực hiện so với kế hoạch giảm. Như vậy, hiệu việc sử dụng chi phí sử dụng máy thi công ở công ty là tốt. Trong đó: Chi phí sử dụng máy tự có của công ty thực hiện so với kế hoạch giảm, với tỷ lệ giảm 4,65%. So sánh với tỷ lệ giảm của giá thành công trình ta thấy, tỷ lệ giảm của chi phí sử dụng máy thi công tự có lớn hơn tỷ lệ giảm của giá thành công trình hoàn thành, dẫn đến tỷ suất chi phí sử dụng máy thi công tự có thực hiện so với kế hoạch giảm. Như vậy, hiệu quả việc sử dụng chi phí sử dụng máy thi công tự có của công ty là tố. Xem xét chi tiết từng mục chi phí trong khoản mục chi phí sử dụng máy thi công: Chi phí nhân viên phục vụ và điều khiển máy thi công thực hiện so với kế hoạch tăng với số tiền là 1.091 nghìn đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng là 2,04 %, việc tăng chi phí nhân viên phục vụ và điều khiển máy thi công là không hợp lý, công ty phải tìm hiểu nguyên nhân để có những biện pháp khắc phục.Còn các khoản chi phí khác đều giảm và tỷ lệ giảm của các khoản chi phí này lớn hơn tỷ lệ giảm của giá thành sản phẩm, dẫn đến tỷ suất của các khoản chi phí này cũng giảm. Như vậy, hiệu quả của việc sử dụng các khoản mục chi phí là cao. Chi phí sử dụng máy thuê ngoài có công nhân điều khiển máy đi kèm thực hiện so với kế hoạch giảm 3.179 nghìn đồng, với tỷ lệ giảm là 6,06 %. So sánh với tỷ lệ giảm của giá thành, tỷ lệ giảm của chi phí sử dụng máy thuê ngoài lớn hơn tỷ lệ giảm của giá thành, làm cho tỷ suất chi phí sử dụng máy thuê ngoài giảm. Như vậy, hiệu quả của việc sử dụng chi phí máy thuê ngoài ở công ty là cao.  Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sử dụng máy thi công. + Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sử dụng máy tự có Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sử dụng máy tự có bao gồm: - Khối lượng các công tác xây lắp được thực hiện bằng máy (Qim); - Thời gian ca - máy ( hoặc giờ - máy) cần thiết để máy thực hiện một đơn vị khối lượng công tác xây lắp (tim); - Giá thành một ca- máy ( Zim). Mối quan hệ giữa các nhân tố trên đối với chi phí sử dụng máy thi công được biểu diễn qua mô hình sau: ZM =  ( Qim x tim x Zim ) Sự biến động của chi phí sử dụng máy tự có : ZM1 – ZM0 =  Qim1 x tim1 x Zim1 -  Qim0 x tim0 x Zim0 Bằng phương pháp phân tích loại trừ ta xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố trên đối với chênh lệch cuả khoản mục chi phí sử dụng máy thi công giữa kì phân tích (thực tế) so với kì gốc ( kế hoạch): - ảnh hưởng của nhân tố khối lượng công tác xây lắp được thực hiện bằng máy (Qim): ZMq =  ( Qim1 – Qim0 ) x tim0 x Zim0 - ảnh hưởng của nhân tố thời gian máy thực hiện một đơn vị khối lượng công tác xây lắp (tim) ZMt =  Qim1 x (tim1 – tim0 ) x Z im0 - ảnh hưởng của nhân tố giá thành một ca máy (Zim):  ZMz =  Qim1 x tim1 x ( Zim1 – Zim0) Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: ZMq + ZMt +  ZMz =  ZM ( kí hiệu: i là loại công tác máy thực hiện; 1 kí hiệu là kỳ thực hiện; 0 kí hiệu là kì kế hoạch). Vận dụng nội dung phân tích này vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sử dụng máy sử dụng máy thi công ở công ty xây dựng Lũng Lô. Bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sử dụng máy thi công của công ty. Các chỉ tiêu Loại công tác Đào đất San nền … KH TH KH TH KH TH 1. Khối lượng công tác do máy thực hiện (100 3m ) 210 209,2 25 25.4 2. Hao phí thời gian máy thực hiện một đơn vị khối lượng (ca- máy) 0,67 0,6 0,08 0,077 3. Giá thành ca máy (1000đ) 280,3 281,5 227,6 229,2 Tổng chi phí sử dụng máy (1000đ) 39.438 35.334 455 448 Nhận xét: ở cả hai loại công tác đào đất và san đất giảm được chi phí sử dụng máy. Riêng công tác đào đất giảm được 4.104 nghìn đồng. Đi sâu phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc giảm chi phí sử dụng máy ở loại công đào đất ta nhận thấy, nguyên nhân chủ yếu là do công ty đã tìm được các biện pháp tổ chức thi công hợp lý, giảm được hao phí thời gian ca- máy trong thực hiện khối lượng công tác xây lắp, qua đó giảm được 4.105 nghìn đồng chi phí. Công tác san đất cũng đạt được thành tích đáng kể trong tổ chức thi công, giảm được hao phí ca máy trong thực hiện khối lượng công tác đề ra trong kế hoạch.  Một số giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí sử dụng máy thi công ở công ty xây dựng Lũng Lô. Tìm các biện pháp tổ chức thi công hợp lý, phù hợp với địa điểm thi công công trình; lập các biện pháp thi công cơ giới hoá hợp lý; lựa chọn các phương án tối ưu trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật; sử dụng tối đa công suất của máy máy; thường xuyên kiểm tra việc cung cấp vật liệu, nhiên liệu cần thiết cho máy để tránh tình trạng ngừng việc giữa ca do không đảm bảo đầy đủ nhiên liệu cho máy hoạt động; phải đảm bảo đủ số công nhân vận hành máy; tiến hành sửa chữa thường xuyên và định kỳ cho máy móc, đối với những máy đã hết thời gian sử dụng hoặc còn nhưng đã lạc hậu thì công ty nên thanh lý ngay để đầu tư những máy móc mới hơn, hiện đại hơn nhằm tăng năng suất của máy, giảm tiêu hao nhiên liệu...  Đối với máy thi công thuê ngoài kèm theo người điều khiển máy. Đối với máy thi công thuê ngoài có công nhân điều khiển máy đi kèm thì số chênh lệch về chi phí sử dụng máy chỉ chịu ảnh hưởng của nhân tố số lượng ca máy sử dụng. Đối với những máy thuê ngoài có công nhân điều khiển đi kèm, công ty không chịu trách nhiệm quản lý mọi phí tổn trong quá trình sử dụng máy mà chỉ theo dõi tiến độ thi công để bảo đảm khối lượng công tác cho máy có thể hoạt động được bình thường và liên tục, kiểm tra chất lượng các công tác đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật được quy định trong thiết kế. Bảng phân tích ảnh hưởng của nhân tố số lượng ca máy đến chi phí sử dụng máy thuê ngoài: Nội dung công việc Phí tổn sử dụng máy tính theo định mức (nghìn đồng) Tiền thuê máy thực tế đã trả theo số ca kí trong hợp đồng (nghìn đồng) Những ca làm việc Những ca ngừng việc Cẩu bê tông 6000 Trộn bê tông Cộng chi phí Nếu Công ty lập tốt kế hoạch thuê máy và sử dụng số lượng ca máy đi thuê trên cơ sở thiết kế tổ chức thi công hợp lý sẽ hạn chế và loại trừ được thời gian ngừng việc, tận dụng được công suất máy thi công và giảm được số ca máy cần thuê để hoàn thành khối lượng công tác xây lắp. 3. Hoàn thiện phương pháp phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. 3.1 Phương pháp liên hệ hàm số. Liên hệ hàm số là mối liên hệ của một biến số phụ thuộc với một hoặc nhiều biến số độc lập khác , mà ứng với một hoặc một tập hợp trị số của các biến số độc lập hoàn toàn có thể xác định một trị số của biến số phụ thuộc. Ví dụ: khối lượng công tác xây lắp hoàn thành có mối liên hệ với các chỉ tiêu năng suất lao động bình quân của một công nhân xây lắp và số lượng công nhân xây lắp. Q = S x W Trong đó: Q là khối lượng công tác xây lắp hoàn thành S là số lượng công nhân xây lắp bình quân trong kỳ W là năng suất lao động bình quân của một công nhân xây lắp trong kỳ. Giá trị vật liệu có mối liên hệ với số lượng vật liệu và đơn giá vật liệu; tiền lương bình quân tháng của một công nhân có mối liên hệ với số ngày làm việc bình quân trong tháng và tiền lương bình quân ngày. Trong phân tích kinh tế có thể gặp nhiều chỉ tiêu nghiên cứu như là những biến số phụ thuộc có mối liên hệ với các chỉ tiêu khác là những nhân tố ảnh hưởng như là các biến số độc lập. Biến số phụ thuộc và biến số độc lập có mối liên hệ với nhau bằng nhiều dạng hằng số khác nhau, tuy nhiên trong phân tích kinh tế thường gặp các mối liên hệ tương đối đơn giản như là một tích số hoặc một thương số. Trong phân tích thường gặp nhiều chỉ tiêu về phương diện tính toán được xác định bởi 2 chỉ tiêu khác mà giữa chúng có mối quan hệ là một thương số. Ví dụ: Chỉ tiêu hiệu suất chi phí sản xuất (HQ) được xác định theo công thức sau: H B HQ  Trong đó B: Giá trị khối lượng công tác hoàn thành trong kỳ. H: Chi phí sản xuất trong trong kỳ. Vấn đề đặt ra là HQ sẽ thay đổi như thế nào khi B và H biến đổi hay nói cách khác là sự thay đổi của B và H sẽ ảnh hưởng như thế nào đến HQ? Xem xét mối liên hệ này, ta thấy HQ sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với sự thay đổi của B hay là B có mối liên hệ thuận chiều với HQ, còn HQ sẽ thay đổi tỷ lệ nghịch với sự thay đổi của H hay là H có mối liên hệ ngược chiều với HQ. Vậy mối liên hệ thuận chiều là mối liên hệ của các chỉ tiêu cùng hướng, nghĩa là sự tăng lên của chỉ tiêu này cũng đẫn tới sự tăng lên của chỉ tiêu kia và ngược lại. Mối liên hệ ngược chiều là mối liên hệ của hai chỉ tiêu có hướng biến động trái ngược nhau, tức là làm tăng chỉ tiêu này sẽ dẫn đến làm giảm chỉ tiêu kia và ngược lại. Mối liên hệ của chỉ tiêu nghiên cứu với các chỉ tiêu nhân tố có thể được biểu diễn bằng một hàm số có hai biêns số, trong đó một biến số là một chỉ tiêu có mối liên hệ thuận, biến số còn lại là chỉ tiêu có mối liên hệ nghịch với chỉ tiêu nghiên cứu đóng vai trò là biến ó phụ thuộc. Phương pháp xác định ảnh hưởng của sự biến động các chỉ tiêu nhân tốđối với chỉ tiêu nghiên cứu trong mối liên hệ thuận - nghịch này như sau: - Mức độ ảnh hưởng của nhân tố có mối liên hệ thuận đến chỉ tiêu nghiên cứu được tính toán theo công thức: n t tM     100 .100 Trong đó Mt : Mức độ ảnh hưởng của nhân tố có mối liên hệ thuận chiều đối với chỉ tiêu nghiên cứu tính băng %. t, n : Mức tăng hoặc giảm của chỉ tiêu nhân tố có mối liên hệ thuận chiều và ngược chiều với chỉ tiêu nghiên cứu tính bằng %. - Mức độ ảnh hưởng của sự thay đổi chỉ tiêu nhân tố có mối liên hệ ngược chiều đối với chỉ tiêu nghiên cứu được tính toán theo công thức: t n nM     100 .100 Trong đó Mn : Mức độ ảnh hưởng của nhân tố có mối liên hệ ngược đối với chỉ tiêu nghiên cứu tính bằng %. 3.2 Phương pháp liên hệ tương quan. Trong phân tích kinh tế, việc đưa các mối liên hệ của các chỉ tiêu kinh tế về dạng liên hệ hàm số thường chỉ có ý nghĩa về phương diện tính toán hoặc ít nhiều đã đơn giản hoá mối liên hệ của chúng bởi vì các chỉ tiêu nhân tố đặc trưng cho các hiện tượng, quá trình kinh tế ngoài sự tác động đồng thời đối với chỉ tiêu nghiên cứu, chúng còn tác động qua lại lẫn nhau. Bản thân các chỉ tiêu nhân tố chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, một số các yếu tố hoạt động có tính chất khách quan, một số các yếu tố khác lại là kết quả của sự hoạt động có mục đích và sáng tạo của con người, đồng thời không loại trừ những tác động hoàn toàn ngẫu nhiên. Tính quy luật không biểu thị trong lĩnh vực kinh tế với sự chính xác tuyệt đối như trong lĩnh vực tự nhiên. Vì vậy, khi nghiên cứu các mối liên hệ qua lại giữa các chỉ tiêu kinh tế thường áp dụng phương pháp phân tích tương quan. Hai đại lượng X và Y được gọi là có mối liên hệ tương quan nếu với mối giá trị của biến số X tương ứng có một dãy phân phối các đại lượng của Y; Biến số X thay đổi thì dãy số phân phối của Y cũng thay đổi một cách có quy luật. Phân tích tương quan trong kinh tế nhằm xác định sự tồn tại và dạng của mối liên hệ giữa các đại lượng ngẫu nhiên, đồng thời cũng cho phép đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ đó. Với việc áp dụng phương pháp phân tích tương quan và hồi quy không những có thể tính tới ảnh hưởng riêng của từng nhân tố, mà còn tìm ra tác động đồng thời của cả nhóm nhân tố đối với chỉ tiêu nghiên cứu. Trong phân tích kinh tế, áp dụng phương pháp phân tích tương quan để xác định vai trò của các nhân tố đối với hiện tượng nghiên cứu, dự báo các chỉ tiêu kinh tế. Nhược điển của phương pháp liên hệ tương quan là phải tiến hành trên cơ sở khối lượng lớn các số liệu quan sát bằng phương pháp tính toán riêng của thống kê và áp dụng các phương tiện kĩ thuật tính toán hiện đại. 3.3 Phương pháp liên hệ phân tổ. Phân tổ là sự phân chia các chỉ tiêu, hiện tượng kinh tế thành các nhóm (tổ) có tính chất giống nhau theo một tiêu thức nhất định. Việc phân tổ các hiện tượng quá trình kinh tế chỉ có thể tiến hành trên cơ sở nghiên cứu một cách tỷ mỉ bản chất kinh tế của các hiện tượng, quá trình đó. Nhờ phương pháp phân tổ có thể xác định được đặc trưng của mối liên hệ, nguyên nhân, kết quả và sự phụ thuộc, tác động qua lại lẫn nhau của các hiện tượng nghiên cứu, xác định được phương hướng tác động và đặc trưng ảnh hưởng của các nhân tố đối với hiện tượng nghiên cứu. Phân tổ còn được sử dụng để tìm ra kết cấu của một quá trình, một hiện tượng kinh tế và sự biến động của chúng. Tuỳ theo mục đích và yêu cầu phân tích mà người ta có các phương thức phân tổ khác nhau: - Phân tổ phân loại là sự phân chia một tổng thể gồm các hiện tượng, quá trình kinh tế không đồng nhất về nội dung hoặc có chất lượng khác nhau thành các nhóm (tổ) có nội dung hoặc chất lượng giống nhau. Ví dụ: nghiên cứu tổng thể lực lượng lao động của doanh nghiệp xây lắp được chia thành các nhóm (tổ): công nhân viên xây lắp và công nhân viên ngoài xây lắp. Tổng khối lượng công việc xây lắp hoàn thành được chia ra là khối lượng công việc do bản thân doanh nghiệp thực hiện và khối lượng công việc do các bên thầu phụ thực hiện. Nhờ có phân tổ phân loại, việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu phân tích được rễ ràng chính xác tạo điều kiện thuận lợi để tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng tới kết quả của các chỉ tiêu phân tích, thấy được khâu yếu, khâu mạnh trong tổng thể. - Phân tổ kết cấu là sự phân chia các hiện tượng, quá trình kinh tế tổng hợp thành các nhóm (tổ) theo các yếu tố cấu thành của hiện tượng, quá trình đó. Ví dụ: Giá thành các công tác xây lắp có thể được phân tổ theo các khoản mục cấu thành nên toàn bộ giá thành các công tác xây lắp: Chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy và chi phí chung. Đối với chi phí mua sắm máy móc thiết bị cho các công trình có thể phân chia thành: Giá gốc, chi phí vân chuyển, bốc dỡ, lắp đặt… Phân tổ kết cấu cho phép thấy rõ kết cấu của từng hiện tượng, quá trình kinh tế, vai trò của từng bộ phận cũng như khuynh hướng biến động của từng bộ phận, của hiện tượng, Nguyên nhân phụ Tác động Nguyên nhân chính quá trình kinh tế đó. Nhờ phân tổ kết cấu đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phân tích so sánh, tìm ra các nguồn dự trữ tiềm tàng cũng như nguyên nhân gây ra kết quả. Cần thấy rõ sự khác nhau cơ bản giữa phân tổ phân loại và phân tổ kết cấu thể hiện ở chỗ: Phân tổ kết cấu chỉ tiến hành đối với các hiện tượng, quá trình kinh tế đồng nhất có cùng chất lượng. - Phân tổ phân tích – là sự phân chia các hiện tượng, quá trình kinh tế theo mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau của chúng. Phân tổ phân tích thường được sử dụng khi phân tích các báo cáo tổng hợp để nghiên cứu mối liên hệ của các chỉ tiêu kinh tế khác nhau, sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau của chúng. Ví dụ: nghiên cứu tình hình quỹ lương của doanh nghiệp có thể phân tổ theo các tổ: lương chính, lương phụ và phụ cấp lương. Việc sử dụng phương pháp phân tổ tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu phân tích và có thể kết hợp các cách phân tổ khác nhau để kết quả phân tích được tỉ mỉ và sâu sắc hơn. Sự phân tổ các chỉ tiêu hợp lý và đúng đắn bao nhiêu thì kết quả phân tích càng sâu sắc và chính xác bấy nhiêu. 3.4 Phương pháp mô hình xương cá. Đối với phương pháp này các nguyên nhân, các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu hoặc hiện tượng nghiên cứu được sắp xếp một cách khoa học. Mỗi nguyên nhân chính được quy thành các nguyên nhân nhỏ và các nguyên nhân nhỏ này có thể lại đuực chia nhỏ nữa. Phương pháp này có tác dụng là trong quá trình phân tích nêu ra được hết mọi nguyên nhân, mọi nhân tố tác động vào đầu ra, đồng thời các nguyên nhân chính , chủ yếu cũng được xác định rõ ràng, không trùng lặp. Phương pháp này là một phương pháp hữu hiệu để xử lý các trục trặc, điều chỉnh các sai lệch trong quá trình tác nghiệp thực hiện các quy trình công nghệ xây dựng, hoặc để phân tích dự báo trước các nguyên nhân tác động đến quá trình sử dụng xe máy thiết bị thi công. IV. Những điều kiện để thực hiện những nội dung hoàn thiện đã nêu ở công ty xây dựng Lũng Lô. Mục lục Chương I những vấn đề lý luận chung về phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp. ..................................................................... 1 I. Khái niệm, phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. ............. 2 1. Đặc điểm của nghành xây dựng cơ bản và sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến quá trình hình thành chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. .................................................... 2 2 Chi phí sản xuất xây lắp. ........................................................................................ 3 3. Giá thành sản phẩm xây lắp. ................................................................................... 7 4. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp. ......................... 9 II Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp. ................................................................................................................................... 9 1. Những nhân tố khách quan. .................................................................................. 10 2. Những nhân tố chủ quan bên trong doanh nghiệp. .............................................. 11 III. Những yêu cầu cơ bản trong quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. ...................................................................................... Error! Bookmark not defined. IV. Mục đích và ý nghĩa phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở một doanh nghiệp . ........................................................................................................ 12 1. Mục đích phân tích chi phí và giá thành sản phẩm ở một doanh nghiệp. ............... 12 2. ý nghĩa phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở một doanh nghiệp. ... 13 3. Các phương pháp phân tích. ................................................................................. 15 Chương II Thực trạng về công tác phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng Lũng lô .............................................................................................. 19 I. Khái quát chung về công ty xây dựng Lũng Lô. ............................................... 19 1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty xây dựng Lũng Lô… ... 19 2. Chức năng và ngành nghề kinh doanh của công ty............................................... 20 3. Đặc điểm tổ chức và quy trình hoạt động chung ................................................... 21 4. Tổ chức bộ máy quản lý và phân cấp tài cấp tài chính của Công ty....................... 23 5 Tổ chức công tác kế toán tại công ty xây dựng Lũng Lô. ...................................... 27 6. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty xây dựng Lũng Lô trong năm 2002- 2003. ........................................................................................................................ 30 II Thực trạng về công tác phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng Lũng Lô. ............................................................................................. 34 1. Thực trạng công tác phân tích kinh tế ở công ty xây dựng Lũng Lô. ..................... 35 2 Thực trạng phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng Lũng Lô. ................................................................................................................................. 36 Cộng ........................................................................................................................ 46 III. Đánh giá công tác phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng Lũng Lô. ........................................................................................................ 47 Chương III hoàn thiện công tác phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty xây dựng Lũng Lô ................................................................................................. 49 I. Sự cần thiết và những yêu cầu hoàn thiện nội dung, phương pháp phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty xây dựng Lũng Lô. ............. 50 II. Hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho công tác phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng lũng lô. ..................................... 52 III Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích chi phí sản xuất tại công ty xây dựng Lũng Lô. ........................................................................................................ 55 1. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty xây dựng Lũng Lô. ................................................................................................... 55 2. Xây dựng mẫu biểu phục vụ cho công tác phân tích chi phí sản xuất.Error! Bookmark not defined. 3. Hoàn thiện phương pháp phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. ......... 70 IV Những điều kiện để thực hiện những nội dung hoàn thiện đã nêu ở công ty xây dựng Lũng Lô. ........................................................................................................ 75

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp trong các doanh nghiệp xây lắp.pdf
Luận văn liên quan