Luận văn Phân tích tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng công thương An Giang

MỤC LỤC –&— LỜI CẢM ƠNi TÓM TẮTii MỤC LỤCiii DANH MỤC BẢNGvi DANH MỤC HÌNHvii CHƯƠNG 1. PHẦN MỞ ĐẦU1 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.1 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.2 1.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.2 1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.2 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN3 2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGẮN HẠN.3 2.1.1. Một số khái niệm về tín dụng.3 2.1.2. Phân loại cho vay ngắn hạn .6 2.1.2.1. Cho vay kinh doanh:7 2.1.2.2. Cho vay tiêu dùng:10 2.1.3. Đối tượng cho vay, điều kiện và nguyên tắc vay vốn.11 2.1.4. Thời hạn, lãi suất, mức cho vay ngắn hạn.12 2.1.5. Các phương thức cho vay ngắn hạn.13 2.2. BẢO ĐẢM TÍN DỤNG.16 2.2.1. Vai trò của bảo đảm tín dụng.16 2.2.2. Các loại đảm bảo tín dụng.16 2.2.3. Các biện pháp bảo đảm tín dụng.16 2.3. RỦI RO TÍN DỤNG.17 2.3.1. Khái niệm:17 2.3.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.17 2.3.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng.18 2.4. MỘT SỐ CHỈ TIÊU DÙNG ĐỂ ĐỊNH GIÁ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG.18 2.4.1. Phân tích cơ cấu vốn và nguồn vốn của ngân hàng.18 2.4.2. Phân tích tình hình huy động vốn:18 2.4.3. Phân tích quy mô, chất lượng, nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn.18 CHƯƠNG 3. 20 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH AN GIANG.20 3.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN.20 3.1.1. Giới thiệu về Ngân Hàng Công Thương Việt Nam.20 3.1.2. Giới thiệu chi nhánh Ngân Hàng Công Thương An Giang.22 3.1.3. Những nghiệp vụ của Ngân Hàng Công Thương An Giang.22 3.2. CƠ CẤU TỔ CHỨC CÁC PHÒNG BAN.23 3.2.1. Ban giám đốc.24 3.2.2. Phòng tổ chức hành chính.24 3.2.3. Phòng khách hàng doanh nghiệp.24 3.2.4. Phòng khách hàng cá nhân.25 3.2.5. Phòng kế toán giao dịch.25 3.2.6. Phòng tiền tệ kho quỹ.25 3.2.7. Phòng quản lý rủi ro.25 3.2.8. Phòng thông tin điện toán.26 3.3. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG AN GIANG QUA 3 NĂM 2005-2006-2007.26 3.4. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG TRONG 5 NĂM TỚI. 28 CHƯƠNG 4. 30 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH AN GIANG NĂM 2005-2006-2007.30 4.1. TÌNH HÌNH NGUỒN VỐN CỦA VIETINBANK AN GIANG.30 4.1.1. Cơ cấu nguồn vốn cùa VietinBank An Giang.30 4.1.2. Vốn huy động của VietinBank An Giang.31 4.2. PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGẮN HẠN.34 4.2.1. Tình hình cho vay ngắn hạn của Ngân Hàng Công Thương An Giang.34 4.2.2. Tình hình thu nợ ngắn hạn của Ngân Hàng Công Thương An Giang.38 4.2.3. Tình hình dư nợ ngắn hạn của Ngân Hàng Công Thương An Giang.42 4.2.4. Tình hình nợ quá hạn ngắn hạn tại Ngân Hàng Công Thương An Giang.47 4.3. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGẮN HẠN.52 4.3.1. Dư nợ ngắn hạn trên tổng nguồn vốn.52 4.3.2. Dư nợ ngắn hạn trên vốn huy động.53 4.3.3. Hệ số thu nợ.53 4.3.4. Nợ quá hạn trên tổng dư nợ.54 4.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGẮN HẠN.54 4.4.1. Giải pháp tăng trưởng nguồn vốn huy động. 56 4.4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu.57 4.4.3. Giải pháp để thu hồi được nợ.588 4.4.4. Giải pháp để phát triển cho vay tín chấp 58 CHƯƠNG 5. 60 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ. 60 5.1. KẾT LUẬN.60 5.2. KIẾN NGHỊ.60 5.2.1. Kiến nghị đối với NHNN và chính quyền địa phương.60 5.2.2. Đối với Ngân Hàng Công Thương Việt Nam.611 TÀI LIỆU THAM KHẢO655

doc75 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 14/05/2013 | Lượt xem: 635 | Lượt tải: 9download
Tóm tắt tài liệu Luận văn Phân tích tín dụng ngắn hạn tại ngân hàng công thương An Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ân hàng. Đối với các doanh nghiệp: khi nói đến các doanh nghiệp, các công ty thì không thể nào không nhắc đến các ngành nghề sản xuất kinh doanh. Đây là một lĩnh vực, góp phần khá lớn đến quá trình giải quyết việc làm, rút ngắn thời gian nhàn rỗi của người dân. Song hai năm qua (2005,2006) tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp có gặp một số khó khăn do sự biến động giá cả, ảnh hưởng đến tình hình cho vay nên dư nợ của ngân hàng có giảm. Nhưng sang năm 2007, dư nợ đối với khách hàng này đã tăng lên đến 53% Đối với khách hàng là cá nhân: doanh số thu nợ khách hàng cá nhân năm 2006 tăng cao hơn doanh số cho vay từ khách hàng này nên dư nợ giảm hơn so với năm 2005 là 8%, tương đương 13.575 triệu đồng, tuy nhiên tốc độ giảm không nhiều so với tốc độ tăng của năm 2007 là 41%. Trong năm 2006, mặc dù phải đối mặt với nhiều biến động và khó khăn, cạnh tranh gay gắt trên thị trường tiền tệ, lãi suất thị trường quốc tế và trong nước tăng cao, hoạt động thị trường chứng khoán sôi động, giá vật tư nguyên liệu tăng, đóng băng thị trường bất động sản, bệnh dịch gia súc, gia cầm, thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp,.. nhưng với sự đoàn kết, nỗ lực phấn đấu và quyết tâm đổi mới, VietinBank An Giang đã vượt qua khó khăn và cụ thể là tình hình cho vay, thu nợ và dư nợ ngắn hạn đã tăng lên rất nhiều so với năm trước. Dư nợ ngắn hạn theo địa bàn. Bảng 4.2.6. Dư nợ ngắn hạn theo địa bàn ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Chênh lệch Chênh lệch 2006/2005 2007/2006 Số tiền % Số tiền % Long Xuyên 395.032 429.642 491.485 34.610 9 61.843 14 Các huyện khác 241.174 122.026 177.574 -119.148 -49 55.548 46 Tổng dư nợ NH 636.206 551.668 669.059 -84.538 -13 117.391 21 Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VietinBank AnGiang Cũng giống như tình hình cho vay và thu nợ, tình hình dư nợ theo địa bàn Long Xuyên cũng có sự chênh lệch so với các huyện khác. Ở Long Xuyên thì dư nợ ngắn hạn tăng dần qua các năm, cụ thể tình hình dư nợ như sau: Dư nợ cuối năm 2005 là 395.032 triệu đồng, cuối năm 2006 tăng lên 9%, tức đạt 429.642 triệu đồng, vào cuối năm 2007 lại tiếp tục tăng lên 14%. Mặt khác, dư nợ của địa bàn Long Xuyên cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ ngắn hạn. Cụ thể là năm 2005 chiếm 62%, năm 2006 chiếm 79%, và năm 2007 chiếm 74%. Nhìn chung, ở địa bàn Long Xuyên ngân hàng hoạt động ngày càng có hiệu quả . Song song đó thì ở các huyện khác, tình hình dư nợ có xu hướng giảm, cụ thể là năm 2006 giảm so với năm 2005 là 119.148 triệu đồng, tức giảm 49%, sang năm 2007 tình hình này được cải thiện hơn là tăng 46 % so với năm 2006, nhưng vẫn còn thấp hơn năm 2005. Điều này cho thấy sự chênh lệch về hiệu quả hoạt động giữa thành thị và nông thôn. Ngân hàng cần quan tâm hơn đến công tác tín dụng ở các huyện thị, cần có nhiều biện pháp hơn để sự chênh lệch này là không quá lớn. Dư nợ ngắn hạn theo ngành. Bảng 4.2.7. Dư nợ ngắn hạn theo ngành ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Chênh lệch Chênh lệch 2006/2005 2007/2006 Số tiền % Số tiền % Nông nghiệp 131.852 87.201 201.292 -44.650 -34 114.091 131 Công nghiệp 169.969 229.680 208.255 59.711 35 -21.425 -9 Xây dựng 37.828 20.967 4.099 -16.861 -45 -16.868 -80 TM-DV 238.205 198.913 242.620 -39.292 -16 43.708 22 Khác 58.353 14.907 12.793 -43.445 -74 -2.115 -14 Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VietinBank AnGiang Biểu đồ 4.2.5: Dư nợ ngắn hạn theo ngành Xây dựng TM-DV Công nghiệp Nông nghiệp Triệu đồng Trong 3 năm gần đây, dư nợ tại chi nhánh chủ yếu tập trung vào các ngành nghề truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và thương mại – dịch vụ…Trong đó ngân hàng đặc biệt quan tâm tới loại hình cho vay công nghiệp và thương mại – dịch vụ, đó cũng là lĩnh vực đầu tư chủ yếu nhất của ngân hàng và để cho phù hợp với hai từ “Công – Thương” trong tên pháp lý của ngân hàng. Bởi vậy dư nợ của hai ngành này chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng dư nợ ngắn hạn của VietinBank An Giang. Cụ thể như sau: Ngành thương mại – dịch vụ có dư nợ ngắn hạn năm 2005 đạt 238.205 triệu đồng, chiếm 37,4%, là cao nhất trong tổng dư nợ ngắn hạn, kế đến là ngành công nghiệp chiếm 26,7%. Sang năm 2006, dư nợ của ngành thương mại – dịch vụ có giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với các lĩnh vực khác, công nghiệp chiếm 41,6% và thương mại dịch vụ chiếm 36%. Qua năm 2007, dư nợ của hai ngành này vẫn đóng vai trò chủ chốt, mặc dù dư nợ của ngành công nghiệp có giảm, nhưng tốc độ giảm đó là không đáng kể so với tốc độ tăng của ngành Thương mại- Dịch vụ. An Giang là một tỉnh với những cánh đồng lúa bất tận, cho nên loại hình cho vay nông nghiệp cũng được ngân hàng duy trì và mở rộng. Những năm qua, với sự phát triển của các thành phần kinh tế, nhu cầu vốn cho sản xuất nông nghiệp ngày càng trở nên cấp bách và do đó nhu cầu vốn đầu tư cho nông nghiệp cũng ngày một tăng. Vì vậy, dư nợ ngắn hạn của ngân hàng đối với hộ sản xuất nông nghiệp cũng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ ngắn hạn của ngân hàng, chỉ sau ngành công nghiệp và thương mại-dịch vụ. Cụ thể dư nợ năm 2005 là 131.852 triệu đồng, chiếm 20,7% trong tổng dư nợ ngắn hạn. Sang năm 2006, tình hình dư nợ của ngành này có giảm 34%, nhưng sang 2007 đã tăng lên vượt bậc với tốc độ 131%. Xây dựng chỉ chiếm một phần nhỏ dư nợ trong tổng dư nợ ngắn hạn. Con số này có xu hướng giảm dần qua các năm. Cụ thể là dư nợ ngắn hạn của ngành này từ 37.828 triệu đồng vào năm 2005, giảm còn 20.967 triệu đồng vào năm 2006, tức giảm 45%. Sang năm 2007, con số này tiếp tục giảm xuống còn 4.099 triệu đồng, tức giảm 80%. Tình hình này đòi hỏi ngân hàng cần phải có biện pháp để nâng dần dư nợ của ngành này lên. Nhìn chung, dư nợ ngắn hạn năm 2007 có tốc độ tăng cao hơn năm 2006. Cũng tương tự như tình hình dư nợ đối với các tổ chức kinh tế, dư nợ theo địa bàn hay dư nợ theo ngành thì các luồng vốn huy động, thanh toán, cho vay,... của hệ thống ngân hàng vào năm 2007 cũng có tốc độ tăng trưởng cao ngoài dự kiến. Tình hình đó cho thấy những tác động và nguyên nhân sau: Một là, số đông người dân, các doanh nghiệp, hộ kinh doanh ngày càng làm quen với dịch vụ ngân hàng tiện ích, tin tưởng ngân hàng. Tăng khả năng tiết kiệm và sử dụng tiền nhàn rỗi gửi vào ngân hàng vừa an toàn, vừa có lãi, vừa được hưởng các tiện ích khác. Không chỉ mở tài khoản thanh toán, mở tài khoản sử dụng thẻ mà còn gửi tiết kiệm với các kỳ hạn khác nhau. Đây là xu hướng văn minh, tiến bộ của nền kinh tế, cho phép giảm tỷ trọng thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán thẻ, thanh toán điện tử liên ngân hàng, ... ngày càng được sử dụng phổ biến hơn. Hai là, về nguyên lý cũng như thực tiễn, vốn đầu tư cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng thời kỳ này sẽ tạo ra tăng trưởng ở thời kỳ sau, ít nhất là 6 tháng. Như vậy trong các tháng cuối năm cũng như năm 2008 và các năm tới có thể khẳng định nền kinh tế An Giang tiếp tục có tốc độ phát triển cao không chỉ dư vốn cho vay của hệ thống ngân hàng mà còn do tốc độ chu chuyển vốn trong thanh toán, khả năng huy động vốn để đáp ứng cho các kênh đầu tư khác: đầu tư trên thị trường chứng khoán, đầu tư trực tiếp nước ngoài, thành lập quỹ đầu tư và doanh nghiệp. Ba là, hệ thống ngân hàng đang đổi mới mạnh mẽ và cạnh tranh rất sôi động sau 1 năm nền kinh tế nước ta gia nhập WTO. Cụ thể mạng lưới của các ngân hàng được mở rộng với tốc độ rất nhanh đến gần dân, tiện lợi cho doanh nghiệp. Công nghệ ngân hàng đang sử dụng và chuẩn bị được lắp đặt ở vào trình độ hiện đại của thế giới. 4.2.4. Tình hình nợ quá hạn ngắn hạn tại Ngân Hàng Công Thương An Giang. Tín dụng ngân hàng là một trong những hoạt động mang lại lợi nhuận cao, chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng, nhưng đồng thời cũng là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Vấn đề nợ quá hạn và nợ xấu luôn là mối lo đối với tất cả cán bộ làm công tác tín dụng cũng như các nhà lãnh đạo ngân hàng, bởi vì việc thẩm định giải quyết một món vay đã khó, thu hồi đầy đủ gốc lẫn lãi là công việc khó hơn! Thông thường các khách hàng đều vay trả sòng phẳng, uy tín. Tuy nhiên cũng không hiếm khách hàng không chịu trả nợ với nhiều nguyên nhân khác nhau, làm phát sinh nợ quá hạn thậm chí trở thành nợ tồn động, cần có biện pháp xử lý để lành mạnh hoá tài chính ngân hàng. Vậy, đối với những khách hàng này chúng ta cần phải giải quyết như thế nào? Nợ quá hạn ngắn hạn của các tổ chức kinh tế. Bảng 4.2.8: Tình hình nợ quá hạn ngắn hạn của các tổ chức kinh tế. ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Chênh lệch Chênh lệch 2006/2005 2007/2006 Số tiền % Số tiền % Doanh Nghiệp 0 2.537 0 2.537 100 -2.537 -100 Cá nhân 2.671 9 1.977 -2.662 -99 1.968 219 Tổng nợ quá hạn NH 2.671 2.546 1.977 -125 -5 -569 -22 Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VietinBank An Giang Biểu đồ 4.2.6: Nợ quá hạn ngắn hạn Triệu đồng Nợ quá hạn Nhìn chung qua 3 năm, trong ngắn hạn tình hình nợ quá hạn của chi nhánh có xu hướng giảm dần, cụ thể vào năm 2005, nợ quá hạn là 2.671 triệu đồng, năm 2006 giảm còn 2.546 triệu đồng, tức giảm 5%, sang năm 2007, con số này tiếp tục giảm với tốc độ nhanh hơn trước, tức 22%. Điều này chứng tỏ ngân hàng đã có sự cố gắng trong công tác thu hồi và xử lý các khoản nợ. Nhưng ngân hàng cần có nhiều biện pháp hơn nữa để giảm thiểu đến mức thấp nhất các rủi ro do nợ quá hạn gây ra. Đối với các tổ chức kinh tế, tình hình nợ quá hạn tập trung chủ yếu ở các khách hàng là những thành phần kinh tế tư nhân, những hộ kinh doanh cá thể. Phần lớn nợ quá hạn tồn tại chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan, nhiều hộ đã cố tình không trả nợ vay khi đến hạn gây khó khăn nhiều cho ngân hàng. Những khoản nợ quá hạn này là những món nợ đã tồn động khá lâu chưa được xử lí kiên quyết do đó khó có thể thu hồi. Bên cạnh đó còn có những khoản nợ mà người vay không thanh toán được do chịu sự ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khách quan như: ảnh hưởng của nạn dịch cúm gia cầm vừa qua, giá cả biến động. Bởi vì hầu hết các hộ vay là để chăn nuôi gia cầm, gia súc, chăn nuôi cá; đôi khi thực tế có nhiều hộ quá nghèo không có khá năng thanh toán và chính bản thân hộ vay không phấn đấu vượt nghèo dù được sự hỗ trợ vốn sản xuất của ngân hàng. Bên cạnh đó, còn có những nguyên nhân là do khách hàng đã sử dụng vốn sai mục đích, làm cho việc sử dụng đồng vốn không đạt hiệu quả…từ đó cũng không thể trả nợ ngân hàng đúng hạn. Cụ thể trong năm 2005 và 2007 thì nợ quá hạn chiếm 100% trong tổng nợ quá hạn. Chỉ riêng năm 2006, tình hình nợ quá hạn tập trung ở khách hàng là doanh nghiệp. Vì trong năm này có một số khách hàng lớn đã làm ăn thua lỗ nên đã kéo dài thời hạn trả nợ, làm phát sinh nợ quá hạn trong ngân hàng. Nợ quá hạn ngắn hạn theo địa bàn. Bảng 4.2.9: Tình hình nợ quá hạn ngắn hạn theo địa bàn. ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Chênh lệch Chênh lệch 2006/2005 2007/2006 Số tiền % Số tiền % Long xuyên 373 2.544 1.758 2.171 582 -786 -31 Các huyện khác 2.298 2 219 -2.296 -99 217 109 Tổng nợ quá hạn NH 2.671 2.546 1.977 -125 -5 -569 -22 Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp NHCT AG Như phân tích ở trên, Long Xuyên là địa bàn có doanh số cho vay và dư nợ cao nhất so với các huyện khác. Tình hình này đã đem lại cho ngân hàng nguồn thu nhập đáng kể, nhưng bên cạnh những lợi ích đó là những rủi ro tiềm ẩn không thể nói trước được. Rủi ro này chỉ biểu hiện một phần thông qua nợ quá hạn. Cụ thể là năm 2006, nợ quá hạn đã tăng lên 582% so với năm 2005. Tức đạt 2.544 triệu đồng, hầu như là chiếm 100% trong tổng nợ quá hạn. Sang năm 2007, do ngân hàng có cố gắng khắc phục tình trạng này bằng cách đã kiên quyết thu hồi nợ bằng mọi biện pháp như động viên khách hàng dùng nguồn vốn khác để trả nợ, tự xử lý tài sản đảm bảo để trả nợ. Vì vậy, nợ quá hạn đã giảm 31% so với năm trước. Ở các huyện khác, tình hình nợ quá hạn có sự biến động, cụ thể là tập trung nhiều nhất là ở năm 2005, tỷ lệ nợ quá hạn chiếm tới 86% trong tổng nợ quá hạn. Và năm 2006, tỷ lệ nợ quá hạn ở các huyện này đã giảm xuống rất nhiều, hầu như là giảm đến mức thấp nhất. Sang năm 2007, có tăng lên nhưng chỉ chiếm 11% trong tổng nợ quá hạn. Nợ quá hạn ngắn hạn theo ngành. Bảng 4.2.10: Tình hình nợ quá hạn theo ngành ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Chênh lệch Chênh lệch 2006/2005 2007/2006 Số tiền % Số tiền % Nông nghiệp 2.156 969 0 -1.187 55 -969 -100 Công nghiệp 42 0 0 -42 100 - - Xây dựng 0 0 0 - - - - TM-DV 0 1.389 1.977 1.389 100 588 42 Khác 473 188 0 -285 -60 -188 -100 Tổng nợ quá hạn NH 2.671 2.546 1.977 -125 -5 -569 -22 Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VietinBank AnGiang Qua bảng số liệu ta thấy nợ quá hạn tập trung chủ yếu ở các ngành nông nghiệp, thương mại- dịch vụ. Cụ thể như sau: Nông nghiệp: Vào tháng 9 năm 2005, do giá cá ba sa xuống thấp người dân đã kéo dài thời gian chăn nuôi để đợi giá cá tăng trở lại mới bán ra. Vì thế, không thể trả nợ đúng thời hạn cho ngân hàng, làm cho nợ quá hạn ở ngành này cao, chiếm 81% trong tổng nợ quá hạn. Trước tình hình này, cán bộ tín dụng đã định ra kỳ hạn trả nợ phù hợp với thời điểm thu hoạch của khách hàng, nên nợ quá hạn có xu hướng giảm dần qua 2 năm sau. Năm 2006 nợ quá hạn đã giảm xuống còn 969 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ giảm là 55%. Và một điều bất ngờ là sang năm 2007, nợ quá hạn ở ngành này không còn nữa. Điều này chứng tỏ, sự cố gắng trong công tác thu hồi và xử lý các khoản nợ xấu của cán bộ tín dụng. Một phần là thời gian gần đây, giá lương thực tăng cao nên các hộ nông dân, các hộ chăn nuôi thủy hải sản đã trả được nợ cho ngân hàng đúng hạn. Thương mại- dịch vụ: năm 2006, ngành này đã dẫn đầu trong danh sách nợ quá hạn, tức chiếm 55% trên tổng nợ quá hạn, trong khi năm 2005 tình hình này không phát sinh. Và con số này tiếp tục tăng lên 42% vào năm 2007, với nợ quá hạn là 1.977 triệu đồng, đó cũng là tổng nợ quá hạn trong năm 2007. Sở dĩ, tình hình nợ quá hạn tăng lên như thế là do ảnh hưởng của dịch bệnh, tình hình lạm phát trong nước tăng nhanh làm cho giá cả các mặt hàng tăng lên nên nhiều khách hàng đã chậm trả các khoản nợ của ngân hàng. Ngân hàng cần có biện pháp ngăn chặn tình trạng này để bảo đảm cho các khoản nợ được trả đúng thời hạn, để trong ngắn hạn có thể hạn chế đến mức thấp nhất tình hình nợ quá hạn. Trong kinh doanh ngân hàng, đầu tư, cho vay vốn nhưng chậm hoặc không thu được vốn dẫn đến nợ quá hạn, thậm chí rủi ro mất vốn là điều khó tránh khỏi. Sở dĩ khách hàng không trả được nợ và lãi vay đúng hạn theo các cam kết có thể do sản xuất, kinh doanh chưa hiệu quả, hàng hoá sản xuất ra tiêu thụ chậm, hoặc tiêu thụ rồi nhưng tiền chưa thu được. Tuy nhiên, cũng không loại trừ trường hợp khách hàng thua lỗ, phải kéo dài thời hạn hoặc không chịu trả nợ cho ngân hàng. Ngoài những nguyên nhân khách quan nói trên còn do một số nguyên nhân chủ quan của khách hàng như sau: Đối với nhóm khách hàng chủ quan để phát sinh nợ quá hạn. Nguyên nhân là: Vay vốn rồi chỉ muốn trả lãi, còn gốc để xoay vòng vì họ ngại trả gốc phải làm lại thủ tục - vừa mất thời gian vừa tốn kém ít chi phí, nhất là hiện nay việc thế chấp, bảo lãnh vay vốn phải đăng ký thực hiện giao dịch đảm bảo. Vay ké, vay chung, vay nhưng chuyển vốn cho người khác sử dụng. Người sử dụng vốn không có khả năng trả nợ còn người vay thì đùn đẩy trách nhiệm cho người sử dụng vốn. Đây thực chất là việc sử dụng tiền vay sai mục đích, sai đối tượng tuy nhiên cũng rất phổ biến đối với cho vay hộ nông dân, mà cán bộ ngân hàng do vô tình hay cố ý đã cho vay. Do trước đây cho vay thế chấp bằng những giấy tờ mà theo quy định hiện hành ngân hàng không được nhận giấy tờ đó làm tài sản bảo đảm, nên khách hàng không chịu trả nợ vì không được vay lại để tiếp tục sản xuất kinh doanh. Do nhà xa, bận rộn kinh doanh, người vay nhờ người khác đi trả nợ gốc, lãi nhưng bị chiếm dụng vốn - không đòi lại được nên cũng không chịu trả nợ ngân hàng... Đối với những khách hàng gặp khó khăn, thực sự không có khả năng trả nợ. Nguyên nhân là: Do thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh. Do chính sách kinh tế, định hướng ngành nghề thay đổi, do biến động xấu của thị trường và giá cả... Do bản thân hoặc gia đình người vay bị tai nạn, ốm đau, bệnh tật kéo dài, ảnh hưởng đến nguồn tài chính và kế hoạch trả nợ của khách hàng. Do nhận thức, trình độ còn nhiều hạn chế của nông dân, họ thường ỷ lại vào sự hỗ trợ, chính sách ưu đãi của nhà nước đối với nông dân nên cố tình chây ỳ khi mất khả năng trả nợ. Ngoài ra còn có một số nguyên nhân từ phía cán bộ ngân hàng như: Thứ nhất, trong quá trình thẩm định đầu tư cho vay vốn, một số ít cán bộ tín dụng chưa thực hiện hoặc thực hiện nhưng chưa đúng các quy định của ngành đề ra. Đó là do trình độ, năng lực chuyên môn hạn chế; do chưa có cơ chế ràng buộc; hoặc chưa tận tâm với công việc... Thứ hai, chạy theo thành tích ảo (dư nợ) để được hưởng hệ số lương cao hơn những người khác. Thứ ba, khi đã xảy ra nợ quá hạn, nợ tồn đọng, thiếu cương quyết đôn đốc thu hồi. 4.3. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGẮN HẠN. Bảng 4.3.1: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng ngắn hạn. ĐVT: Triệu đồng Chỉ tiêu 2005 2006 2007 Chênh lệch 06/05 07/06 Dư nợ NH /Tổng nguồn vốn 85% 81% 78% -4% -3% Dư nợ NH/ Vốn huy động 151% 153% 135% 2% -18% Hệ số thu nợ NH(%) 91% 96% 93% 5% -3% Nợ quá hạn NH / Tổng dư nợ NH 0.4% 0.46% 0.29% 0.06% -0.17% Nguồn: Phòng khách hàng doanh nghiệp VietinBank AnGiang Để tiến hành nghiên cứu, đánh giá tình hình tín dụng ngắn hạn của VietinBank An Giang có thể dùng một số chỉ tiêu sau: 4.3.1. Dư nợ ngắn hạn trên tổng nguồn vốn. Tỷ lệ này cho biết cơ cấu của vốn tín dụng ngắn hạn chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng nguồn vốn. Số liệu tại chi nhánh cho thấy chỉ số này chiếm phần rất đáng kể. Cụ thể là trong 3 năm dao động từ 78% đến 85%, chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu tập trung vào hoạt động cho vay ngắn hạn. Nhất là năm 2005, dư nợ ngắn hạn chiếm đến 85% trên tổng nguồn vốn, năm 2006 giảm còn 81%, tức giảm 4%, và năm 2007 tiếp tục giảm còn 78%. Điều này chứng tỏ ngân hàng không chỉ tập trung vào việc cho vay ngắn hạn mà còn đa dạng hóa các hoạt động của mình bằng các hoạt động khác như đầu tư dài hạn… Tuy vậy, tỷ số này vẫn còn khá cao, vẫn thể hiện được ưu thế của hoạt động tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh vì nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi…trong ngắn hạn của người dân ngày càng tăng cao. 4.3.2. Dư nợ ngắn hạn trên vốn huy động. Dư nợ ngắn hạn trên vốn huy động giúp ta có thể so sánh khả năng cho vay của ngân hàng với khả năng huy động vốn, đồng thời để xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động được. Hay nói cách khác, đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng sử dụng vốn huy động của ngân hàng vào công tác cấp tín dụng. Dư nợ cho vay ngắn hạn trên vốn huy động của chi nhánh biến động như sau: Năm 2005, dư nợ cho vay ngắn hạn gấp 1,51 lần vốn huy động. Điều này cho thấy nguồn vốn huy động thấp không đủ để tài trợ cho hoạt động cho vay cụ thể là chỉ đáp ứng được có 66% nhu cầu vay vốn ngắn hạn của người dân. Do đó chi nhánh phải sử dụng nhiều đến nguồn vốn điều hòa. Việc này sẽ tạo thuận lợi cho chi nhánh trong việc mở rộng quy mô tín dụng, nhưng nó lại làm mất cân bằng trên bảng báo cáo tài chính thể hiện tính không bền vững, sử dụng vốn không đa dạng. Do đó ngân hàng cần có chính sách hợp lý để cân bằng giữa nguồn vốn huy động và nguốn vốn cho vay. Năm 2006, do Chi nhánh Ngân Hàng Công Thương Châu Đốc tách ra hoạt động độc lập nên đã làm cho dư nợ và vốn huy động của chi nhánh giảm xuống, nhưng tốc độ giảm của dư nợ ngắn hạn chậm hơn tốc độ giảm của nguồn vốn huy động làm cho tỷ lệ này tăng cao hơn năm trước. Cụ thể là dư nợ ngắn hạn vẫn còn gấp nguồn vốn huy động tới 1,53 lần. Tức ngoài vốn huy động, ngân hàng còn cần thêm 53 đồng nữa để đủ đáp ứng nhu cầu vay ngắn hạn của người dân. Năm 2007, nhằm thu hút khách hàng trong việc gửi tiết kiệm, ngân hàng đã có nhiều chính sách khuyến mãi như tăng lãi suất tiền gửi, với chương trình dự thưởng đặc biệt...Vì vậy vốn huy động tăng lên nhiều hơn so với dư nợ ngắn hạn, với tốc độ tăng là 37%, trong khi dư nợ ngắn hạn tăng lên chỉ có 21%. Vì vậy, dư nợ ngắn hạn chỉ còn gấp 1,35 lần vốn huy động. Tuy vậy vốn huy động đã tăng lên nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu vay của người dân. Nhìn chung, nhu cầu vay vốn ngắn hạn của người dân để mở rộng sản xuất, để phục vụ cho những nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng. Điều này làm cho nguồn vốn huy động được không đủ để đáp ứng cho các nhu cầu này. Điều này đòi hỏi ngân hàng càng đẩy mạnh hơn nữa công tác huy động vốn, khai thác triệt để mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân, có những chính sách đặc biệt đối với những khách hàng có nguồn tiền gửi lớn. Ngoài ra cần phải thường xuyên tìm hiểu nguyên nhân của những khách hàng ngừng giao dịch, rút tiền gửi chuyển sang ngân hàng khác để có biện pháp thích hợp nhằm khôi phục lại và duy trì quan hệ tốt với khách hàng. 4.3.3. Hệ số thu nợ. Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu hồi nợ của ngân hàng so với khả năng cho vay trong một thời điểm nhất định. Hay nói cách khác, trong 100 đồng vốn cho vay thì ngân hàng thu được bao nhiêu đồng nợ. Qua bảng số liệu ta thấy, hệ số thu nợ qua 3 năm rất cao, cụ thể là năm 2005, doanh số thu nợ chiếm 91% doanh số cho vay, tức từ 100 đồng vốn cho vay, ngân hàng đã thu lại được 91 đồng. Năm 2003, do tốc độ tăng của doanh số thu nợ nhanh hơn tốc độ tăng của doanh số cho vay, nên hệ số này đã tăng lên 96%, tức ngân hàng đã thu được 96 đồng từ 100 đồng vốn cho vay. Sang năm 2007, hệ số này có giảm nhưng không đáng kể. Nhìn chung, khả năng thu hồi các khoản nợ ngắn hạn của ngân hàng rất hiệu quả, chứng tỏ sự nổ lực của chi nhánh trong công tác quản lý và thu hồi nợ. 4.3.4. Nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác tín dụng của ngân hàng: Trong khi doanh số cho vay và doanh số thu nợ ngày càng tăng, thì tỷ lệ nợ quá hạn có xu hướng giảm dần. Từ 0,4% ở năm 2005, và không biến động nhiều trong năm 2006,và đã giảm xuống chỉ còn 0,29% trong năm 2007. Điều này chứng tỏ chất lượng các khoản vay khá cao. Và cũng thể hiện rõ quan điểm của ngân hàng khi cung cấp tín dụng là: “nếu không đủ tin tưởng thì không cho vay”, công tác cho vay luôn đảm bảo thực hiện đúng các nguyên tắc tín dụng, nguyên tắc phân tán rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các khoản tín dụng. Tuy đứng trước nhiều thử thách là tình hình nông nghiệp trong những năm qua tăng trưởng không ổn định, thiên tai và dịch gia cầm ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp nhưng bộ phận tín dụng đã không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động, thực hiện tốt công tác thu nợ và xử lý kịp thời các khoản nợ có vấn đề. Về phía khách hàng, tuy khó khăn nhưng họ cũng linh động và tranh thủ mọi nguồn lực để trả nợ ngân hàng. Nợ quá hạn là một việc phát sinh ngoài ý muốn của người đi vay cũng như cho vay. Nếu phấn đấu để đưa nó về con số không thì không thể thực hiện được. Chúng ta chỉ nên chấp nhận và cố gắng kiểm soát, duy trì nợ quá hạn ở một mức độ tối thiểu hợp lý. 4.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGẮN HẠN. Trong những năm qua hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung và Ngân hàng Công thương nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực, bằng nhiều chế tài tín dụng thích hợp, cụ thể hơn đã làm cho diện mạo của công tác đầu tư, cho vay thêm phần sinh động và hiệu quả. Mặc dù vậy, trong quá trình vận hành vẫn còn một số vấn đề cần được xem xét và trao đổi. Như chúng ta đã biết, tín dụng ngân hàng là một hoạt động rất nhạy cảm, không rập khuôn, không máy móc, nhưng cũng cần phải đảm bảo tính nguyên tắc cho nó phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể theo đúng pháp luật và cơ chế hiện hành. Tín dụng là cho vay, là đầu tư vào những phương án, dự án cụ thể nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cho chủ phương án, dự án... đồng thời đem lại hiệu quả về mặt xã hội. Đó là mong muốn của người cho vay, cũng như người đi vay, nhưng làm thế nào để đạt được mục đích đó, quả thật là một vấn đề không hề đơn giản. Qua thực tế hoạt động kinh doanh tín dụng tại VietinBank AnGiang, bản thân tôi nhận thấy rằng để hoạt động kinh doanh ngân hàng có hiệu quả, chúng ta cần phải đổi mới và nâng cao chất lượng tín dụng, coi đây là vấn đề sống còn trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Nhưng để làm được điều đó, rất cần nhiều biện pháp, giải pháp cụ thể. Một là: Trước hết phải đổi mới về nhận thức, về tầm nhìn, coi đây là một tiêu chí bắt buộc, yêu cầu phải làm ngay và làm thường xuyên. Mỗi cán bộ công nhân viên nhất là những người trực tiếp làm công tác tín dụng trong Ngân hàng Công thương phải nhận thức được mục tiêu và định hướng kinh doanh của Ngân hàng Công thương mình như thế nào? để rồi tư duy và vận hành một cách đúng đắn. Phải đánh giá được khách hàng của mình là ai? Hoạt động sản xuất kinh doanh của họ ra sao? để có hướng đầu tư thích hợp. Phải nhận thức được nhiệm vụ của mình đang làm để có chiến lược thực hiện và có những tham mưu chính xác cho Ban lãnh đạo. Hai là: Vấn đề con người. Cần xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng có đầy đủ phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, có trình độ, năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm và có hiểu biết về kiến thức pháp luật. Thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo lại cán bộ tín dụng. Ba là: Thực hiện tốt các chính sách tín dụng của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Mở rộng tín dụng một cách thận trọng, đảm bảo phát triển bền vững và hiệu quả, đầu tư những dự án trọng điểm trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế của địa phương để mở rộng đầu tư vốn đến mọi thành phần kinh tế. Sàng lọc, chọn lựa khách hàng, chỉ đầu tư đối với những khách hàng đủ điều kiện tín dụng, những phương án, dự án có tính khả thi cao, hạn chế và giảm đầu tư đối với những món vay không có tài sản bảo đảm. Thực hiện tốt các tỷ lệ an toàn và phát triển bền vững, cấp tín dụng và đầu tư phù hợp. Thực hiện tốt công tác tư vấn cho khách hàng nhằm giảm thiểu rủi ro, đúng quy trình cho vay. Bốn là: Thường xuyên phân tích khách hàng, trong đó cần chú ý đến: + Phân tích tư cách, năng lực pháp lý. + Phân tích năng lực điều hành, quản lý. + Phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. + Phân tích tình hình tài chính. Việc phân tích này nhằm đánh giá một cách chính xác, khách quan, toàn diện về khách hàng của mình, để từ đó có chính sách đầu tư hợp lý. Năm là: Cần nắm bắt thông tin nhanh nhạy, kịp thời, thông tin cần được cập nhật hàng ngày, nhất là các thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của khách hàng, thông tin về ngành hàng, về giá cả thị trường... Sáu là: Rà soát, lập kế hoạch trong việc thu hồi nợ quá hạn, cần xử lý nghiêm túc và quyết liệt đối với nợ quá hạn. Hạn chế việc gia hạn nợ khi thấy việc gia hạn không đem lại hiệu quả. Tiếp tục xử lý nợ tồn đọng nhằm làm lành mạnh hoá tình hình tài chính. Đây cũng là một trong những biện pháp rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng tín dụng. Cần rà soát, phân tích từng khoản nợ, từng tài sản bảo đảm, trên cơ sở đó đưa ra các phương pháp, biện pháp xử lý thích hợp, nó được thể hiện thông qua các quy trình quy định của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, cũng như của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Bảy là: Đổi mới về phương pháp giao tiếp, tiếp cận. Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ. Thực hiện tốt phương châm “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”, được thể hiện bằng: Tác phong khiêm tốn, thân thiện, cởi mở, vui vẻ và dứt khoát. Mỗi cán bộ công nhân viên đều là những tuyên truyền viên tích cực giới thiệu các sản phẩm về ngành và ngân hàng mình. Thực hiện tốt công tác Marketing ngân hàng. Tám là: Cho vay tín chấp đối với cán bộ công nhân viên (CBCNV) – Một hướng đi cần được chú trọng. Cho vay tín chấp đối với CBCNV tuy không phải là một nghiệp vụ mới mẻ nhưng đặc biệt phù hợp trong giai đoạn hiện nay và xu hướng, điều kiện phát triển tốt trong tương lai. Đây là một trong những đối tượng khách hàng tiềm năng của các ngân hàng bán lẻ nhằm đa dạng hóa danh mục đối tượng khách hàng, phân tán rủi ro, phát triển các dịch vụ ngân hàng khác đi kèm với nghiệp vụ cho vay. Trong gian đoạn hiện nay sở dĩ Ngân hàng cần quan tâm tăng trưởng tín dụng đối với đối tượng khách hàng CBCNV là do: Nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, tổng sản phẩm trong nước GDP liên tục tăng trưởng, năm sau cao hơn năm trước. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp “ăn nên làm ra”, sản phẩm hàng hóa – dịch vụ phong phú, đa dạng; thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng nên đương nhiên thu nhập và nhu cầu tiêu dùng của bộ phận CBCNV cũng gia tăng. Tuy nhiên, giữa thu nhập và nhu cầu chi tiêu của họ thường có độ lệch về thời gian nên phát sinh nhu cầu vay vốn ngân hàng. Nghĩa là, quy mô tăng trưởng tín dụng đối với CBCNV đồng biến với tốc độ phát triển của nền kinh tế. Đa số CBCNV đều có trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu pháp luật nên dễ dàng tiếp cận với hồ sơ, thủ tục và các công nghệ ngân hàng hiện đại. Khi người vay không trả nợ được, việc xử lý thu hồi nợ tương đối dễ dàng hơn các đối tượng khách hàng tư nhân, cá thể khác bằng cách quản lý và trích các khoản thu nợ hoặc tác động uy tín, lòng tự trọng của họ. Sau đây là một số giải pháp cụ thể: 4.4.1. Giải pháp tăng trưởng nguồn vốn huy động Nhằm mục đích tiếp tục tăng trưởng số dư tiền gửi các tổ chức và dân cư, đồng thời đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ nhằm tăng thu phí trên địa bàn Thành Phố Long Xuyên và các vùng lân cận, giải pháp tăng trưởng huy động vốn và các sản phẩm, dịch vụ... là cần thiết, tạo điều kiện để VietinBank AnGiang quảng bá các sản phẩm, dịch vụ của mình đến với khách hàng. Đồng thời, tạo động lực để nâng cao tính chủ động và tinh thần trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, chủ chốt của VietinBank An Giang, mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh, góp phần tăng uy tín và lợi thế cạnh tranh của Chi nhánh trên địa bàn. Để góp phần tăng trưởng nguồn vốn một cách ổn định, hiệu quả, đáp ứng được mục tiêu kinh doanh của chi nhánh, cần thực hiện một số giải pháp sau: Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách khách hàng. Xem xét phân loại khách hàng để có những chính sách đặc biệt đối với những khách hàng có nguồn tiền gửi lớn. Thực hiện chính sách tiếp thị, khuyến mãi theo hướng dẫn của Ngân Hàng Công Thương. Tìm hiểu nguyên nhân của khách hàng ngừng giao dịch, rút tiền gửi chuyển sang ngân hàng khác để có biện pháp thích hợp nhằm khôi phục lại và duy trì quan hệ tốt với khách hàng. Cử cán bộ nghiệp vụ giỏi, đạo đức tốt có khả năng giao tiếp tốt để giao dịch, chăm sóc khách hàng có số dư tiền gửi lớn, sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng. Thành lập tổ chuyên trách giúp lãnh đạo chi nhánh đáp ứng các yêu cầu chăm sóc, tiếp thị phục vụ nhóm khách hàng. Triển khai các sản phẩm dịch vụ, cung cấp sản phẩm trọn gói cho khách hàng. Trên cơ sở các sản phẩm đã được Ngân Hàng Công Thương hướng dẫn thực hiện, chi nhánh tìm hiểu, nghiên cứu khách hàng để đưa ra các sản phẩm phù hợp với từng đối tượng khách hàng cụ thể. Chú ý cung cấp sản phẩm trọn gói, đảm bảo tính hiệu quả đối với khách hàng và Ngân Hàng Công Thương. Đối với những khách hàng đã có quan hệ tín dụng cần có chính sách khuyến khích mở tài khoản thực hiện dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác. Có kế hoạch phát triển, quy hoạch, đào tạo cán bộ chuyên sâu, chuyên nghiệp về kỹ năng nghiệp vụ, đáp ứng điều kiện hiện đại, hội nhập, tác phong giao dịch, nghiêm túc, văn minh, hiện đại, hướng dẫn chu đáo khách hàng. Khảo sát, đánh giá tiềm năng nguồn vốn ở từng thị trường, từng nhóm khách hàng. Gắn kết các dịch vụ với các nghiệp vụ khác như mở L/C thanh toán, mua bán ngoại tệ và giao dịch qua tài khoản khác tại Ngân Hàng Công Thương. Có chính sách khách hàng hấp dẫn, linh hoạt đảm bảo cạnh tranh được với các ngân hàng khác. Giao dịch một cửa giảm thiểu các thủ tục hành chính gây phiền hà cho khách hàng, cán bộ phải đủ năng lực, có trách nhiệm để đáp ứng. Chấp hành nội quy, quy chế làm việc của cán bộ, đánh giá chất lượng phục vụ khách hàng. Chăm sóc khách hàng chiến lược, khách hàng có nguồn tiền gửi lớn tại chi nhánh. 4.4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu. Theo tôi, trước hết chúng ta cần phân tích tìm rõ nguyên nhân phát sinh nợ quá hạn để có hướng xử lý cho phù hợp, vừa có lý, có tình. Việc chọn lựa phương pháp xử lý phải tuỳ đặc điểm từng vụ chứ không có một đáp án chung cho tất cả. Có thể tóm gọn các giải pháp sau: Nâng cao trình độ thẩm định của cán bộ tín dụng, đặc biệt là thẩm định tư cách của khách hàng vì điều này có ảnh hưởng rất lớn đến thiện chí hoàn trả tiền vay của khách hàng. Kiểm tra chặt chẽ quá trình trước, trong và sau khi cho vay để kịp thời có biện pháp xử lý nếu khách hàng sử dụng vốn sai mục đích. Khi khách hàng có dấu hiệu phát sinh nợ xấu, phải tìm hiểu nguyên nhân để có giải pháp thích hợp. Thực tế có những trường hợp khách hàng bắt đầu gặp khó khăn nhưng đã được phát hiện kịp thời, có biện pháp xử lý ngay từ đầu như quản lý kho hàng, kho nguyên vật liệu, phong toả tài sản, tiến hành khởi kiện sớm nên khả năng thu hồi nợ rất cao do máy móc thiết bị lúc này còn đang hoạt động có giá hơn lúc đã bị bỏ hoang. Cần phải xây dựng hệ thống thẩm định nợ xấu để thúc đẩy nhanh việc xử lý nợ tồn đọng tại các ngân hàng thương mại. 4.4.3. Giải pháp để thu hồi được nợ. Trước hết từng cán bộ tín dụng cần bám sát đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương từng năm và từng giai đoạn để đầu tư đúng hướng, có hiệu quả. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng để hạn chế thấp nhất nợ quá hạn do thẩm định yếu, thiếu kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay. Khi đã phát sinh nợ quá hạn phải phân tích kỹ, tìm rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan để có hướng đề xuất xử lý thích hợp. Nếu do nguyên nhân chủ quan, chúng ta phải kiên quyết thu hồi nợ bằng mọi biện pháp như động viên khách hàng dùng nguồn vốn khác để trả nợ, tự xử lý tài sản đảm bảo để trả nợ. Nếu khách hàng vẫn không trả nợ thì tranh thủ sự hỗ trợ của các đoàn thể, chính quyền địa phương cũng như cơ quan pháp luật trong thu hồi nợ xấu. Nếu do nguyên nhân khách quan, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể để có những giải pháp thích hợp như: gia hạn thời hạn cho vay, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, tư vấn sản xuất kinh doanh theo sự hiểu biết của cán bộ ngân hàng, động viên khách hàng tự xử lý tài sản bảo đảm trả nợ hết không có phương án nào khác. Trường hợp xử lý tài sản quá khó khăn và đủ điều kiện thì đề nghị xử lý nợ bằng nguồn dự phòng rủi ro. Tóm lại, xử lý nợ xấu là công việc hết sức gian nan, mất nhiều thời gian, công sức đòi hỏi nhiều tâm huyết của cán bộ tín dụng nhưng theo tôi cách tốt nhất vẫn là kiên trì bám trụ, thường xuyên lui lới nhắc nhở, động viên, đánh vào tâm lý của người vay vốn: “mưa dầm thấm đất”, vì vậy tôi tin rằng nếu như chúng ta tích cực, kiên trì bám trụ để thu nợ sẽ đem lại kết quả nhất định. 4.4.4. Giải pháp để phát triển cho vay tín chấp. Để phát triển cho vay tín chấp đối với CBCNV an toàn – hiệu quả, ngân hàng cho vay cần chú ý một số vấn đề sau đây: Một là, phải thiếp lập được mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan quản lý thu nhập của người vay (cơ quan Bảo hiểm xã hội, cơ quan nơi người vay công tác) trong việc quản lý, khấu trừ các khoản thu nhập để trả nợ trong trường hợp cần thiết theo cam kết và ủy quyền trong Giấy đề nghị vay vốn của người vay. Hai là, đối tượng khách hàng nào cũng có người tốt, kẻ xấu, do vậy ngân hàng cho vay cần phải thẩm định, lựa chọn khách hàng cho vay về phương diện sau: -Thành tích hoạt động trong quá khứ và xu hướng tương lai của cơ quan, doanh nghiệp nơi người vay làm việc. Uy tín, thiện chí của Ban lãnh đạo cơ quan trong việc đôn đốc, nhắc nhở người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng. -Uy tín, đạo đức, sức khỏe, hoàn cảnh gia đình của bản thân người vay. -Mục đích vay vốn rõ ràng, hợp pháp, phù hợp với khả năng trả nợ từ thu nhập của người vay. Đặc biệt, đối với những nhu cầu vay vốn để tiêu dùng cần loại trừ những nhu cầu tiêu dùng theo kiểu “vung tay quá trán”, xa xỉ, không thiết thực. -Số tiền cho vay phải được tính toán tương ứng với mức thu nhập từ cơ quan, số năm thâm niên công tác và thời gian đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Trong tình hình hiện nay, thu nhập của người lao động và chỉ số giá cả đều tăng hơn trước nên NHTM có thể xem xét, điều chỉnh quy định về mức cho vay tối đa là “12 lần thu nhập thương xuyên hàng tháng của khách hàng nhưng không quá 100 triệu đồng/1người”. -Thời hạn cho vay phải phù hợp với khả năng trả nợ, tuổi tác và thời gian còn được làm việc của người vay theo quy định của Luật lao động; NHTM cần xét điều chỉnh tăng thời gian cho vay từ 5 đến 7 năm (đối với nhu cầu vay để xây dựng, sữa chữa, mua nhà, đất không vì mục đích kinh doanh bất động sản) thay vì 3 năm như quy định hiện nay để tạo điều kiện cho người vay trả nợ dễ dàng hơn. Ba là, kết hợp phát triển dịch vụ ngân hàng khác như chi trả lương qua ATM; mở rộng hơn đối tượng được sử dụng thẻ tín dụng; đẩy mạnh triển khai dịch vụ bảo hiểm tín dụng kết hợp với nghiệp vụ cho vay tiêu dùng cá nhân. CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ @&? 5.1. KẾT LUẬN. Sau 20 năm hoạt động, Ngân Hàng Công Thương An Giang đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của tỉnh An Giang. Nhất là trong những năm qua, chi nhánh đã hoạt động hiệu quả. Trong quá trình hoạt động, ngân hàng đã không ngừng vươn lên đổi mới từ việc huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư cho đến việc mở rộng đầu tư tín dụng, cung ứng nhiều dịch vụ khác…Song song đó, ngân hàng cũng đã làm tốt công tác thu nợ và xử lý kịp thời những khoản nợ quá hạn; điều này thể hiện qua việc kinh doanh có hiệu quả và lợi nhuận tăng đều hàng năm. Với thế mạnh về mạng lưới khách hàng, VietinBank ngày càng phát triển hoạt động kinh doanh, hấp dẫn nhiều nhà đầu tư chiến lược. Đặc biệt tiềm năng về nguồn nhân lực nữ đã tạo thế mạnh tuyệt đối cho VietinBank trong lĩnh vực đàm phán thu hút khách hàng. Với câu định vị thương hiệu “ nâng giá trị cuộc sống” VietinBank An Giang đã thật sự đem lại niềm tin cho khách hàng. Từ nay thương hiệu mới càng cần thêm niềm tin ấy để tiếp tục đem lại sự thịnh vượng cho khách hàng và cùng khách hàng phục vụ tốt nhất cho phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn chưa thật sự khai thác triệt để nguồn vốn huy động của các tổ chức kinh tế và đa số người dân. Nên phần lớn vốn vẫn còn phụ thuộc vào Hội sở. Vì thế ngân hàng nên quan tâm nhiều đến công tác huy động vốn tại địa phương, để góp phần làm cho nguồn vốn hoạt động của ngân hàng ngày càng dồi dào và đủ lớn để đáp ứng nhu cầu các thành phần kinh tế, hộ sản xuất, tổ chức dân cư, doanh nghiệp…Bên cạnh đó, chi nhánh vẫn còn gặp một số trở ngại mà bản thân không thể tự mình tháo gỡ được mà cần có sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo tỉnh An Giang và Ngân Hàng Công Thương Việt Nam, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Những trở ngại đó được trình bày trong phần kiến nghị sau. 5.2. KIẾN NGHỊ. 5.2.1. Kiến nghị đối với NHNN và chính quyền địa phương. Từ những vấn đề nêu trên, để đạt được hiệu quả tín dụng cho ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung, ngoài sự cố gắng của mỗi ngân hàng, cần có sự giúp đỡ từ phía nhà nước. Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo môi trường thông thoáng và an toàn cho hoạt động tín dụng. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách và hệ thống các văn bản pháp luật bao gồm các nghị định, quyết định của thủ tướng chính phủ, quyết định và thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, để có đủ khuôn khổ pháp lý cho việc thực hiện tốt luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và luật các tổ chức tín dụng, đảm bảo cho hệ thống Ngân hàng hoạt động có hiệu quả, năng động và an toàn. Đổi mới phương thức và thủ tục tín dụng theo phương thức tạo điều kiện tín dụng theo hướng tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho các đơn vị, các hộ kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế có dự án kinh doanh khả thi được vay vốn ngân hàng. Bên cạnh đó, việc ban hành bất kỳ một chính sách kinh tế nào cũng cần phải xem xét kỹ lưỡng trước khi đưa vào thực hiện. Vì bất kỳ một sự thay đổi về chính sách kinh tế tài chính đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nếu chính sách ban hành không phù hợp với thực tế hoạt động của ngân hàng thì thiệt hại không chỉ riêng đối với ngân hàng mà hậu quả đối với nền kinh tế thật khó lường. Một khi chính sách mới ban hành hoặc sửa đổi những chính sách trước thì nhất thiết phải có những văn bản kèm theo để hướng dẫn việc thực hiện cụ thể cho từng thành phần kinh tế có liên quan. Vai trò giám sát của Ngân hàng Nhà Nước (NHNN): NHNN Việt Nam hiện nay chưa phát huy hết vai trò giám sát, nhận dạng và đưa ra được đánh giá độc lập về chiến lược, chính sách, quy trình cấp tín dụng và quản trị danh mục của các Ngân hàng thương mại (NHTM), từ đó đảm bảo cho sự khoẻ mạnh của cả hệ thống NHTM. Thanh tra NHNN hiện mới chỉ xem xét được các NHTM có làm đúng các quy chế, quy định của NHNN hay không, đánh giá hoạt động tín dụng dựa trên tỷ lệ nợ quá hạn chứ không phải trên mức độ rủi ro được dự báo của các giao dịch mà các ngân hàng đang tham gia và cũng chỉ có kiến nghị hay can thiệp khi đã xảy ra các trường hợp rủi ro về tín dụng. Khẩn trương xúc tiến nhanh tiến độ cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất, quyền sở hữu nhà ở cho các hộ sản xuất ở khu vực nông thôn. Trước mắt nên có giải pháp tạm thời thay thế-tạo điều kiện cho nông dân có đủ điều kiện pháp lý về tài sản thế chấp để vay vốn. Đề nghị Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh chỉ đạo bằng văn bản về việc tăng cường trách nhiệm của Uỷ Ban Nhân Dân xã trong việc ký xác nhận, công chứng. Thực hiện tốt chương trình phòng chống lũ lụt hằng năm nhằm ngăn ngừa và giảm bớt thiệt hại do lũ gây ra. Hiện nay, nhờ thực hiện tốt việc chống lũ bằng cách đắp đê ở thượng nguồn-ngăn không cho lũ về mà nông dân ở một số huyện đã thực hiện được lúa 3 vụ/năm thay vì 2 vụ/năm như các năm trước. Thông tin chính xác về thời tiết và có biện pháp phòng tránh nhằm bớt thiệt hại cho người dân. Tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp. Nhà nước cần nâng cao vai trò điều tiết đối với nông nghiệp nông thôn. 5.2.2. Đối với Ngân Hàng Công Thương Việt Nam. Để bứt phá khỏi nhiều bất cập trong công tác tín dụng về mọi mặt, phục vụ có hiệu quả tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, thiết nghĩ ngành ngân hàng còn phải tiếp tục phấn đấu cật lực hơn nữa. Sau đây là một số kiến nghị được đưa ra xuất phát từ đặc điểm hoạt động tại chi nhánh. Về nguồn vốn huy động. Cần quan tâm đúng mức đến công tác nghiên cứu xây dựng chiến lược, dự báo khả năng nguồn vốn để chủ động trong đầu tư cho vay, tránh bị động lúng túng trước biến động của thị trường. Chi nhánh phải tích cực huy động vốn trên địa bàn để tạo nguồn cho việc cho vay, giảm dần số dư điều chuyển vốn từ Hội sở. Tăng cường công tác tiếp thị các sản phẩm nhằm thu hút nguồn tiền gửi tiết kiệm trong dân cư. Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn: huy động tiết kiệm bằng VNĐ, vàng, USD dưới hình thức tiết kiệm có dự thưởng hoặc không dự thưởng. Quảng cáo giới thiệu về ngân hàng và các dịch vụ của ngân hàng, đồng thời nghiên cứu về những chiến lược của ngân hàng cạnh tranh. Nghiên cứu nhằm xác định rõ nhu cầu hiện tại và thực tại của khách hàng từ đó đề ra chính sách khách hàng phù hợp. Bên cạnh việc chú trọng đẩy mạnh công tác tiếp thị, nên tiếp tục đổi mới phong cách giao dịch của cán bộ ngân hàng, không ngừng học tập nghiên cứu để nâng cao trình độ và chất lượng phục vụ khách hàng. Phát hành kỳ phiếu có mục đích nhằm thu hút nguồn vốn để cho vay trung-dài hạn. Công tác đào tạo cán bộ Đặc biệt chú trọng việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ cán bộ tín dụng đủ sức thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của việc hiện đại hoá và hội nhập trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Cần phải có những cơ chế thưởng phạt nghiêm minh. Chẳng hạn nếu sau khi cho vay, cán bộ tín dụng thu được nợ và lãi có hiệu quả thì được hưởng hệ số lương và thưởng lương kinh doanh. Ngược lại, nếu để phát sinh nợ quá hạn, chỉ được hưởng một mức lương kinh doanh tượng trưng. Còn xảy ra mất vốn, bất luận lý do gì đều phải bố trí làm công việc khác, còn nếu do chủ quan để xảy ra mất vốn thì cán bộ tín dụng phải bồi thường. Định kỳ phải luân chuyển cán bộ quản lý địa bàn để tránh tiêu cực. Hiện nay một số ngân hàng thương mại, nhất là NHTM nhà nước, tình trạng cán bộ không chịu đi học để mở mang kiến thức vẫn còn nhiều. Có thể do tuổi cao, trình độ hạn chế nên không thể tiếp tục theo học. Thế nhưng họ vẫn được bố trí vào những vị trí công việc mà lẽ ra phải là những người có trình độ cao hơn. Vấn đề này, các NHTM nhà nước, mặc dù đã có những quy định về trình độ để bố trí công việc nhưng cũng chỉ mới dừng ở quy định, chưa kiểm tra, xử lý cương quyết. Xuất phát từ thực tế trên, tôi thấy rằng: Để kinh doanh có hiệu quả, ngân hàng cần cương quyết sắp xếp, bố trí lao động một cách hợp lý. Những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu trình độ và công việc cần được chuyển sang làm nhiệm vụ khác. Nâng cao chất lượng tín dụng. Cần nghiên cứu và xử lý một số vướng mắc cho vay: Thủ tục vay áp dụng chung cho các hình thức cấp tín dụng khác nhau, cũng như cho nhiều phương thức cho vay nên thực tế chỉ giống nhau ở những điểm cơ bản mà thôi. Còn đi sâu vào chi tiết thì các thủ tục phải khác nhau để phù hợp với yêu cầu và biện pháp đảm bảo an toàn vốn. Do đó những thủ tục này cần phải được hướng dẫn đầy đủ cụ thể. Xây dựng cơ chế đảm bảo tiền vay, cùng với những chế tài nghiêm ngặt nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế tối đa tình trạng nợ xấu và nguy cơ mất khả năng thanh toán của Ngân hàng. Rút ngắn thời gian nghiên cứu-xét duyệt hồ sơ và có thể trả lời khách hàng bằng phiếu trả lời qua bưu điện hoặc đưa đến tận nhà nhằm giảm bớt thời gian chờ đợi và thời gian đi lại của khách hàng đồng thời qua công tác này góp phần phục vụ tốt hơn khách hàng của mình Cán bộ tín dụng nên thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc sử dụng vốn và hiệu quả của đồng vốn tín dụng nhằm phát hiện kịp thời các trường hợp sử dụng vốn sai mục đích để có biện pháp xử lý ngay. Thường xuyên theo dõi để giúp đỡ khách hàng tháo gỡ những khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Cần có một quy trình cho vay tiêu dùng cụ thể: So với các ngân hàng thương mại cổ phần thì VietinBank đang thiếu những mô hình dịch vụ ngân hàng cá nhân cụ thể. Cho vay tiêu dùng là một nhóm sản phẩm chung, trong đó có nhiều sản phẩm mà khách hàng cá nhân cần đến Ngân hàng như: cho vay trả góp tại chợ, cho vay trả góp mua động sản (ô tô, máy tính, thiết bị gia đình...), cho vay mua nhà ở, đất ở, cho vay du học, cho vay phát hành thẻ tín dụng quốc tế... Ở mỗi đối tượng cho vay có đặc thù riêng nên các ngân hàng thương mại cổ phần đều có riêng qui trình, thủ tục hồ sơ, chính sách lãi suất, phí dịch vụ, chính sách marketing khai thác thị trường... quảng bá trên hệ thống tờ rơi, cẩm nang dịch vụ. Tăng tỷ trọng cho vay kinh tế tư nhân, tăng tỷ trọng cho vay các lĩnh vực ngành và các sản phẩm được đánh giá là có lợi thế so sánh và sức cạnh tranh cao trên cơ sở phối hợp với các sở, ngành hữu trách để xác định rõ danh mục ngành, nghề, sản phẩm cần ưu tiên đầu tư. Song song đó thực hiện tốt việc cung cấp thông tin, tư vấn giúp người dân và doanh nghiệp vay vốn xây dựng, hoàn thiện các dự án vay vốn có tính khả thi và thực hiện đạt hiệu quả. Trong quá trình giám sát sau khi cho vay, giúp các doanh nghiệp vay vốn hoàn thiện quản trị, điều hành, thực hiện tiết kiệm, ngăn ngừa lãng phí vốn. Nhanh chóng ứng dụng công nghệ, thông tin để gia tăng tiện ích, tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường, đồng thời kiến tạo các dịch vụ có thu phí. Những tiện ích dịch vụ internet banking, home banking, phone banking mà khách hàng đang đòi hỏi VietinBank tiếp tục nâng cấp, bổ sung là: Dịch vụ gửi tin nhắn vào điện thoại di động thông tin kết quả giao dịch tài khoản, thông tin số dư theo định kỳ, thông báo mời nhận tiền ... Hộp thư thoại trả lời tự động số dư tài khoản Các tiện ích internet banking như: ra lệnh giao dịch tài khoản cá nhân, giao dịch thẻ ATM, mở tài khoản cá nhân qua mạng. Tích hợp chung tài khoản thẻ ATM với tài khoản tiền gửi cá nhân, tiền gửi tiết kiệm, giúp khách hàng có thể giao dịch tại ATM 24h/24h. Tạo thêm nguồn vốn từ ngân sách địa phương, các nguồn uỷ thác trong và ngoài nước, các quỹ chuyên dùng... để bổ sung nguồn vốn cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách. Ngoài việc hỗ trợ người nghèo bằng nguồn vốn cho vay ưu đãi, chúng ta cần chú trọng các biện pháp khuyến nông, khuyến ngư, chuyển giao kỹ thuật phù hợp, đặc biệt là cần xây dựng mô hình liên kết sản xuất ở nông thôn. Trong mô hình này phải có người khá giả, biết tính toán làm ăn tham gia để từ đó cộng lực lại đất đai, về sức lao động, góp vốn, về khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất đặc biệt là khả năng quản lý. Tóm lại, chúng ta sử dụng nguồn lực tín dụng ngân hàng như một công cụ để thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời phát huy vai trò kiểm soát bằng đồng tiền của nó gắn liền với hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các thành phần kinh tế. Và muốn đạt được tăng trưởng tín dụng đáp ứng tốt các nhu cầu vay vốn phục vụ cho phát triển kinh tế địa phương, các ngân hàng trên địa bàn ra sức tạo lập nguồn vốn bằng nhiều biện pháp, trong điều kiện vốn huy động tại chỗ không đủ để cho vay. Ngoài việc cố gắng nâng dần tỷ trọng vốn huy động tại chỗ gắn liền với kết quả phát triển kinh tế - xã hội, một biện pháp thiết nghĩ hết sức quan trọng là đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế tối đa nợ xấu, có như thế chi nhánh mới có điều kiện tranh thủ vốn điều hoà trong từng hệ thống để chủ động nguồn vốn, đủ sức phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân ngày càng nhiều hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO –&— PGS. TS. NGUYỄN ĐĂNG DỜN. 1998. NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ. PGS. TS. NGUYỄN THỊ MÙI. 2001. QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH. PTS. NGUYỄN NGỌC HÙNG. 1998. LÝ THUYẾT TIỀN TỆ NGÂN HÀNG. NHÀ XUẤT BẢN TÀI CHÍNH. TS. LÊ VĂN TƯ. 1997. TIỀN TỆ TÍN DỤNG VÀ NGÂN HÀNG. NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ. TS. NGUYỄN VĂN TIẾN. 2003. ĐÁNH GIÁ VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG. NHÀ XUẤT BẢN THỐNG KÊ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLâm_hồng_bảo_chinh_Dh5kt_Phân_tích_tín_dụng_ngắn_h.doc
Luận văn liên quan