Luận văn Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở Việt Nam

Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay là một trong những quan điểm cơ bản có tính nguyên tắc chỉ đạo tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm bảo đảm thắng lợi quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Để tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, không chỉ xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành thường xuyên và nghiêm chỉnh, đấu tranh kiên quyết với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Qua hơn 15 năm hoạt động, đặc biệt là sau gần ba năm thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước, địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước đã được nâng cao; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức được quy định đầy đủ, cụ thể hơn; nhận thức của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức và của toàn xã hội về cơ quan Kiểm toán Nhà nước và hoạt động kiểm toán nhà nước đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, nhất là sau khi Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc công bố công khai kết quả kiểm toán; hoạt động kiểm toán được tăng cường cả về quy mô kiểm toán và chất lượng kiểm toán; hiệu lực của các kết luận, kiến nghị kiểm toán được các đơn vị thực hiện đầy đủ và nghiêm túc hơn.

pdf121 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/01/2014 | Lượt xem: 1434 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
từ 3-5 năm, hoặc luân chuyển vị trí công tác của cán bộ quản lý và kiểm toán viên từ 3-5 năm; tái cơ cấu các phòng thuộc các KTNN khu vực để gắn kết và phối hợp được tổ chức các phòng với các Đoàn kiểm toán. Phân giao nhiệm vụ kiểm toán nợ công, nhiệm vụ đánh giá các chỉ số quốc gia trong kiểm toán NSNN để phù hợp với thông lệ quốc tế và của các cơ quan KTNN khác. Phân giao nhiệm vụ kiểm tra, phân tích, đánh giá và chuẩn bị ý kiến về dự toán NSNN, ngân sách trung ương, địa phương cho các KTNN chuyên ngành và khu vực. - Giai đoạn đến năm 2011: + Thành lập thêm 02 KTNN chuyên ngành (nâng tổng số KTNN chuyên ngành lên thành 09 đơn vị) để đủ năng lực kiểm toán các bộ, cơ quan trung ương. + Thành lập thêm 02 KTNN khu vực (nâng tổng số các KTNN khu vực của KTNN lên 11 đơn vị): 01 đơn vị kiểm toán các tỉnh thuộc khu vực Cao-Bắc-Lạng, 01 đơn vị kiểm toán các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên. - Giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015: Thành lập thêm 02 KTNN khu vực, (nâng tổng số các KTNN khu vực của KTNN lên 13 đơn vị); trong đó 01 đơn vị kiểm toán các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ, 01 đơn vị kiểm toán các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ. - Giai đoạn 2016-2020: Tiếp tục thành lập thêm 02 KTNN khu vực nâng tổng số các KTNN khu vực lên 15 đơn vị. Khi đó mỗi KTNN khu vực đảm nhiệm khoảng 4-5 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, riêng KTNN khu vực tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh chỉ kiểm toán ngân sách của 02 thành phố này. Sau khi thành lập đủ 15 KTNN khu vực sẽ thực hiện kiểm toán thường xuyên hàng năm hầu hết báo cáo quyết toán ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và báo cáo quyết toán ngân sách quận, huyện; phấn đấu kiểm toán khoảng 30 đến 40% báo cáo quyết toán ngân sách xã, phường. Kiểm tra, phân tích, đánh giá và chuẩn bị ý kiến về toàn bộ dự toán ngân sách của các địa phương; mở rộng kiểm toán hoạt động, kiểm toán chuyên đề, kiểm toán trách nhiệm kinh tế, những vấn đề bức xúc xã hội quan tâm Ba là, phát triển các đơn vị sự nghiệp theo hướng tự chủ về tổ chức, tài chính theo chủ trương của Nhà nước về xã hội hoá hoạt động sự nghiệp nhằm đảm bảo sự chủ động phát huy vai trò của các đơn vị; tiếp tục củng cố và phát triển Trung tâm Tin học và Tạp chí Kiểm toán. - Giai đoạn đến 2011: Thành lập Trung tâm Thông tin, tư liệu và thư viện thực hiện chức năng lưu trữ thông tin, tư liệu và thư viện phục vụ việc khai thác thông tin, tư liệu kiểm toán trong ngành và cho các cơ quan hữu quan. - Giai đoạn 2012-2015: + Thành lập trường (hoặc Trung tâm) Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ kiểm toán và Viện Nghiên cứu khoa học kiểm toán trên cơ sở Trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ hiện nay. Trường (hoặc Trung tâm) Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ kiểm toán thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Kiểm toán viên nhà nước theo quy định của Luật KTNN; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cho xã hội nói chung và cho KTNN nói riêng; cung cấp dịch vụ tư vấn phục vụ đối tượng là cán bộ của Hội đồng nhân dân các cấp; cán bộ chuyên trách ở các cơ quan Quốc hội, Kiểm toán viên nội bộ... Viện Nghiên cứu Khoa học kiểm toán thực hiện nghiên cứu khoa học kiểm toán nói chung, KTNN nói riêng và chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học ứng dụng vào thực tiễn; phối hợp đào tạo sau đại học; tổ chức nghiên cứu, điều tra, tổng hợp thông tin từ dư luận xã hội về chỉ đạo, điều hành, quản lý và sử dụng các nguồn lực cho phát triển kinh tế, khoa học, xã hội, an ninh quốc phòng. Từ cơ sở đó, xác định quy mô và phương thức tổ chức KTNN nói chung và các cuộc kiểm toán nói riêng đáp ứng nhu cầu xã hội và phát huy tối đa vai trò của KTNN. + Thành lập Thời báo Kiểm toán nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội về nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính nhà nước thông qua hoạt động kiểm toán. Bốn là, thực hiện phân cấp mạnh về tổ chức hoạt động, phân giao chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm cụ thể cho từng cấp trong hệ thống bộ máy KTNN, đảm bảo tính chủ động trong tổ chức và hoạt động, đồng thời nâng cao trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị; - Xây dựng đồng bộ chế độ trách nhiệm của từng cấp quản lý trong hệ thống bộ máy của KTNN để đảm bảo dân chủ hoá và tăng cường trách nhiệm trong tổ chức hoạt động; xây dựng chế độ công tác chặt chẽ, khoa học, tạo ra sự đồng bộ trong vận hành của hệ thống tổ chức.- Xây dựng quy định về sử dụng các nguồn lực trong tổ chức để tạo cơ chế khích lệ, cạnh tranh hợp lý, công bằng giữa các đơn vị. - Định kỳ tổ chức đánh giá về tính hợp lý và hiệu quả của cơ cấu tổ chức, nhân sự để có biện pháp điều chỉnh phù hợp, kịp thời nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động KTNN. 3.2.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu chuyên môn, cơ cấu ngạch hợp lý, có năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Đối với hoạt động kiểm toán, đây là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần quyết định xây dựng Kiểm toán Nhà nước trở thành công cụ mạnh của Nhà nước trong kiểm tra tài chính và tài sản nhà nước, đưa Kiểm toán Nhà nước Việt Nam đạt trình độ kiểm toán ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Do vậy, phải phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đủ về số lượng, cơ cấu chuyên môn và cơ cấu ngạch hợp lý theo từng giai đoạn. Trong giai đoạn 2009-2015, tầm nhìn 2020 KTNN cần tăng số lượng cán bộ với quy mô ít nhất 2,5 đến 3 lần so với hiện nay, bình quân mỗi đơn vị thực hiện nhiệm vụ kiểm toán (KTNN chuyên ngành và khu vực) khoảng 100 người với cơ cấu hợp lý, trong đó: kiểm toán viên khoảng 85%, công chức làm công tác hành chính khoảng 10%, viên chức ở các đơn vị sự nghiệp khoảng 5%; kiểm toán viên cao cấp khoảng 3-5%; kiểm toán viên chính: 20-25%; kiểm toán viên: 40-45%; kiểm toán viên dự bị 20-25%; số cán bộ có trình độ đại học trở lên chiếm 95%, (trong đó chuyên môn đào tạo về tài chính - kế toán - kiểm toán - ngân hàng: 50%; xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, kiến trúc: 25%; quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, luật, công nghệ thông tin và khác: 20%); số có trình độ cao đẳng, trung cấp trở xuống khoảng 5% trong tổng số cán bộ, công chức. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức KTNN có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, tinh thông về nghiệp vụ chuyên môn, chuyên nghiệp, tương xứng với yêu cầu của nghề nghiệp kiểm toán và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đổi mới công tác tổ chức cán bộ và công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với từng loại hình kiểm toán, theo từng chức danh gắn với tiêu chuẩn hoá cán bộ; đa dạng hoá các loại hình và chuyên ngành đào tạo trong nước và ngoài nước; kết hợp trang bị kiến thức nghiệp vụ với việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức văn hoá nghề nghiệp, kiến thức pháp luật và kỹ năng thực hành; tăng cường đào tạo nghiệp vụ kiểm toán trong môi trường công nghệ thông tin, đào tạo ngoại ngữ, tin học; đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành đối với từng lĩnh vực chuyên môn, tiếp cận trình độ các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, kiểm toán viên nhà nước có năng lực chuyên môn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, tận tuỵ với công việc, yêu ngành, yêu nghề, cần thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp sau đây: Thứ nhất, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, kiểm toán viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật, yêu ngành, yêu nghề, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thường xuyên giáo dục chính trị tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức bằng các hình thức thích hợp; đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng bộ, chi bộ và các tổ chức đoàn thể quần chúng, thành lập các tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên tạm thời để duy trì sinh hoạt trong thời gian đi kiểm toán; cung cấp những thông tin có định hướng của Đảng cho cán bộ, đảng viên; bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên kỹ năng lãnh đạo, khả năng cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong hoạt động kiểm toán. Gắn việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Nghị quyết của Ban cán sự đảng và Đảng uỷ Kiểm toán Nhà nước với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; chỉ đạo các tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và các đơn vị trực thuộc xây dựng chương trình hành động thực hiện Cuộc vận động và các nghị quyết của Đảng một cách thiết thực, hiệu quả, khơi dậy lòng yêu ngành, yêu nghề, tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cán bộ, công chức, viên chức; phát huy tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, vai trò tiên phong gương mẫu của cấp uỷ, đảng viên, khả năng sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, công chức; động viên cán bộ, công chức, viên chức, kiểm toán viên phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thứ hai, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, đổi mới công tác tổ chức cán bộ, nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn, đào tạo, sắp xếp hợp lý đội ngũ cán bộ. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy nhằm phát huy hiệu quả trong quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ; tập trung kiện toàn đội ngũ cán bộ của Vụ Tổ chức cán bộ và những người theo dõi công tác tổ chức cán bộ tại các đơn vị trực thuộc, lựa chọn những cán bộ có phẩm chất đạo đức, có năng lực và kinh nghiệm để làm công tác tổ chức cán bộ. Nâng cao chất lượng công tác tuyển chọn cán bộ, nhất là đối với đội ngũ kiểm toán viên, tổ chức tuyển dụng, thi tuyển cán bộ, công chức bảo đảm công khai, dân chủ, chú trọng lựa chọn những cán bộ có lập trường, tư tưởng chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với ngành, tình nguyện công tác lâu dài tại Kiểm toán Nhà nước, có trình độ chuyên môn vững vàng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của ngành trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài. Tiến hành điều tra, đánh giá cơ cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, kiểm toán viên hiện có, trên cơ sở đó xây dựng đề án, kế hoạch tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo lộ trình ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; áp dụng đa dạng các loại hình đào tạo, khuyến khích và có cơ chế hỗ trợ kinh phí cho cán bộ tự học văn bằng hai, thạc sỹ, tiến sỹ, chứng chỉ kiểm toán viên quốc tế. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao chất lượng giảng dạy, kết hợp giữa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ, tin học với học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp; lựa chọn những cán bộ trẻ, có phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn đưa đi đào tạo ở trong và ngoài nước để trở thành những chuyên gia giỏi trong lĩnh vực kiểm toán; phối hợp với Học viện Tài chính và các trường đại học có liên quan để đào tạo nhân lực cho ngành nhằm từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ, kiểm toán viên có trình độ ngang tầm khu vực và thế giới. Bố trí, sắp xếp hợp lý, khoa học đối với đội ngũ cán bộ, nhất là cơ cấu đội ngũ kiểm toán viên, bảo đảm bố trí đúng sở trường, ngành nghề được đào tạo giúp cán bộ, công chức, viên chức và kiểm toán viên phát huy khả năng trong công tác, chú ý bố trí xen kẽ cán bộ có kinh nghiệm với những cán bộ trẻ mới vào ngành, hạn chế thấp nhất những rủi ro xẩy ra trong khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Thứ ba, tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Hoàn chỉnh các quy định của Kiểm toán Nhà nước về chuẩn mực kiểm toán, đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của kiểm toán viên, quy trình kiểm soát chất lượng kiểm toán, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của trưởng đoàn, tổ trưởng kiểm toán và kiểm toán viên; cụ thể hoá quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, từng cán bộ, công chức, viên chức, tăng cường trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị và các tổ chức trực thuộc Kiểm toán Nhà nước. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức, kết hợp giữa kiểm tra của Đảng với thanh tra ngành, thanh tra nhân dân, áp dụng các hình thức thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất, giải quyết kịp thời các đơn thư tố cáo đối với cán bộ, công chức, viên chức và kiểm toán viên trong ngành, nhất là những đơn thư tố cáo kiểm toán viên vi phạm phẩm chất đạo đức trong khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán, kiên quyết xử lý kỷ luật đối với những cán bộ, công chức vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật và quy định của ngành. Thứ tư, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm trong sạch hoá đội ngũ cán bộ; tăng cường thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí trong nội bộ ngành và trong thực hiện nhiệm vụ kiểm toán Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, tiến hành rà soát hồ sơ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhằm phát hiện và xử lý những trường hợp có vướng mắc về lịch sử chính trị, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết theo Quy định số 57-QĐ/TW ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị về một số vấn đề về bảo vệ nội bộ Đảng. Hoàn thiện và ban hành Quy tắc ứng xử kiểm toán viên nhà nước, quy định về kỷ luật công chức, công vụ, kiên quyết đưa ra khỏi ngành những cán bộ, công chức, viên chức thoái hoá, biến chất, năng lực chuyên môn yếu kém; tạm đình chỉ công tác đối với những cán bộ, đảng viên, kiểm toán viên vi phạm những điều đảng viên không được làm theo quy định của Bộ Chính trị, vi phạm Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Kiểm toán Nhà nước và các quy định của ngành. Ban cán sự đảng phối hợp với Đảng uỷ Kiểm toán Nhà nước thực hiện thí điểm việc liên hệ với cấp uỷ, tổ chức đảng của đơn vị được kiểm toán để nắm diễn biến tư tưởng, tinh thần, thái độ làm việc của cán bộ, đảng viên trong thời gian thực hiện nhiệm vụ kiểm toán tại đơn vị; tăng cường đối thoại với đơn vị được kiểm toán để đánh giá cán bộ và chất lượng kiểm toán. Lãnh đạo cán bộ, đảng viên thực hiện tốt các Chương trình hành động của Kiểm toán Nhà nước về phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như: Thực hiện nhiệm vụ kiểm toán; quản lý, sử dụng ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản và công tác tổ chức cán bộ; quản lý chặt chẽ nguồn kinh phí được cấp, thực hiện chi tiêu tiết kiệm trong tất cả các khâu nhằm tăng thêm thu nhập cho cán bộ, công chức. Thông qua hoạt động kiểm toán, kịp thời phát hiện, kiến nghị xử lý đối với những tập thể và cá nhân có sai phạm trong quản lý, sử dụng tiền và tài sản của Nhà nước. Thứ năm, thực hiện tốt chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, kịp thời động viên, khen thưởng đối với cán bộ có thành tích trong công tác và học tập. Nghiên cứu, vận dụng các quy định của Nhà nước về chế độ, chính sách để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công chức, viên chức, kiểm toán viên và người lao động; đề xuất với Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách đặc thù để đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài cho Kiểm toán Nhà nước, kiến nghị nhà nước áp dụng chế độ phụ cấp thâm niên cho nghề kiểm toán, chế độ phụ cấp trách nhiệm cho tổ trưởng, trưởng đoàn kiểm toán. Quan tâm đến hoạt động của tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, cán bộ nữ và những cán bộ, công chức, viên chức có hoàn cảnh khó khăn, chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. Kịp thời động viên, khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích trong công tác và học tập; đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nhân rộng các điển hình tiên tiến của Kiểm toán Nhà nước trên các phương tiện thông tin đại chúng tạo không khí thi đua sôi nổi trong toàn ngành. 3.2.6. Phát triển đồng bộ và hiện đại cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán Đảm bảo đầy đủ, kịp thời phương tiện, điều kiện kinh phí và cơ sở vật chất là một trong những nhân tố quyết định để bảo đảm tính độc lập của KTNN. Do vậy, đây là một giải pháp quan trọng, cần được quan tâm thực hiện: Thứ nhất, phát triển cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ thoả đáng phù hợp đặc thù nghề nghiệp đối với cán bộ, công chức, kiểm toán viên của KTNN Xây dựng chính sách ưu tiên để tạo bước mạnh mẽ trong việc huy động nguồn lực nhằm đảm bảo cơ sở vật chất mang tính đặc thù cho toàn hệ thống KTNN. Việc xây dựng cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, Kiểm toán viên của KTNN cần tập trung vào một số vấn đề sau: - Xây dựng, trang bị đầy đủ hệ thống trụ sở, phương tiện làm việc cho KTNN ở trung ương và các địa phương theo tiến độ phát triển của KTNN, chú trọng việc đầu tư thiết bị phục vụ công tác kiểm toán. Phấn đấu đến 2015 xây dựng xong và cơ bản trang bị đầy đủ, đồng bộ trang thiết bị, phương tiện làm việc tại tất cả các đơn vị trực thuộc KTNN theo tiêu chuẩn, định mức Chính phủ quy định. - Phối hợp với Bộ Tài chính và các đơn vị có liên quan nghiên cứu, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, định mức sử dụng kinh phí, ngân sách và phương tiện phù hợp với tính chất và đặc thù của hoạt động kiểm toán và chức trách, nhiệm vụ của Kiểm toán viên. Đảm bảo đầy đủ kinh phí cho các hoạt động kiểm toán, có chế độ đãi ngộ thích hợp cho cán bộ, công chức, Kiểm toán viên nhà nước; đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và các phương tiện, máy tính, công cụ trợ giúp hoạt động kiểm toán. - Đẩy mạnh việc huy động, khai thác có hiệu quả nguồn vốn tài trợ, viện trợ quốc tế nhằm trang bị, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ tốt cho hoạt động của KTNN. Thứ hai, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm toán - Đẩy mạnh hoạt động khoa học với phát triển công nghệ thông tin trong hoạt động của KTNN nhằm tạo ra một bước phát triển vượt bậc về hoạt động quản lý và hoạt động chuyên môn kiểm toán dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin. Gắn hoạt động nghiên cứu khoa học với đào tạo, bồi dưỡng công chức KTNN và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn kiểm toán. Nghiên cứu hoàn thiện các mô hình, phương pháp quản lý, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ kiểm toán. - Để phát triển KTNN đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, việc ứng dụng công nghệ thông tin là yếu tố quan trọng. Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong Kiểm toán Nhà nước từng bước đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá các hoạt động của Kiểm toán Nhà nước: + Cơ bản hoàn thiện xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin trong phạm vi toàn ngành, đảm bảo phương tiện thông tin và truyền thông phục vụ quản lý điều hành và hoạt động kiểm toán. Củng cố và nâng cấp hệ thống mạng diện rộng, đảm bảo sự hoạt động ổn định thông suốt của hệ thống mạng và an toàn bảo mật hệ thống thông tin dữ liệu. + Xây dựng, hoàn thiện và đưa vào khai thác có hiệu quả hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin kiểm toán, các phần mềm ứng dụng phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạt động kiểm toán, hệ thống giao ban trực tuyến toàn ngành. + Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đồng bộ; bồi dưỡng đào tạo kiến thức tin học cho cán bộ, công chức tiếp cận sử dụng công nghệ mới trong công việc thường xuyên, đáp ứng yêu cầu cao về chất lượng và hiệu quả. + Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong KTNN đồng bộ và hiện đại, tạo bước đột phá trong ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động kiểm toán, đưa ứng dụng công nghệ thông tin ngang tầm với các cơ quan Kiểm toán trên thế giới. 3.2.7. Tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về kiểm toán nhà nước Đối với nước ta, hoạt động kiểm toán nhà nước còn khá mới mẻ; cơ quan KTNN mới được thành lập (từ năm 1994), do vậy, chưa có nhiều kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động kiểm toán, nhất là loại hình kiểm toán hoạt động; nhiều việc vừa làm, vừa đúc rút kinh nghiệm. Trong khi đó, trên thế giới, Kiểm toán Nhà nước có lịch sử phát triển hàng trăm năm, nhiều quốc gia có nền KTNN rất phát triển; do vậy, tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về kiểm toán nhà nước là một giải pháp quan trọng để phát triển KTNN trở thành cơ quan kiểm tra tài chính công có trách nhiệm và uy tín, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Để tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về kiểm toán nhà nước, cần duy trì, củng cố và tăng cường phát triển các mối quan hệ hợp tác song phương và đa phương sẵn có và mang tính truyền thống với các thành viên của Tổ chức các Cơ quan Kiểm toán Tối cao Châu á (ASOSAI) và Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (INTOSAI); đa dạng hóa các loại hình hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, các tổ chức quốc tế về lĩnh vực KTNN; khai thác có hiệu quả các thành tựu từ sự trợ giúp của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế phù hợp với sự phát triển của KTNN Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chất lượng hoạt động kiểm toán và trình độ của kiểm toán viên. Tăng cường phối hợp, tổ chức các cuộc kiểm toán chung với các cơ quan kiểm toán tối cao khác trên thế giới phù hợp với yêu cầu hợp tác và hội nhập quốc tế hiện nay. Việc tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về kiểm toán nhà nước được thực hiện theo hai giai đoạn: - Giai đoạn hội nhập tích cực (đến 2011) Tiếp tục duy trì và củng cố các mối quan hệ và hợp tác hiện có, phát triển các hình thức hợp tác và đối tác mới; tích cực thực hiện các nghĩa vụ của thành viên tổ chức INTOSAI và ASOSAI; cử cán bộ trực tiếp tham gia các nhóm làm việc của INTOSAI và ASOSAI; tham gia làm giảng viên cho các khóa đào tạo về kiểm toán trong khu vực; đẩy mạnh thực hiện chương trình hợp tác song phương, chú trọng việc ký kết các thoả thuận hợp tác với các nước; tham gia tích cực vào các hoạt động đào tạo quốc tế và các cuộc kiểm toán phối hợp với nước ngoài đối với các chương trình, dự án ODA; chủ trì và tổ chức hội thảo, đào tạo quốc tế tại Việt Nam; khai thác có hiệu quả các hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước; tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về KTNN Việt Nam trên các kênh thông tin hiện có theo khuôn khổ của ASOSAI và INTOSAI, nâng cao chất lượng website bằng tiếng Anh và phát hành bản tin KTNN Việt - Anh theo định kỳ. - Giai đoạn hội nhập, hợp tác sâu rộng (2012-2015 và tầm nhìn 2020) Có cán bộ tham gia vào các Uỷ ban của INTOSAI và ASOSAI, có thành viên trong Ban điều hành của ASOSAI; tiến hành đăng cai tổ chức Đại hội các Cơ quan Kiểm toán Tối cao châu á (ASOSAI) vào năm 2012 tại Việt Nam. Nâng cao hiệu lực hợp tác và ký kết các hiệp định song phương, hiệu quả của các dự án hỗ trợ kỹ thuật từ các tổ chức quốc tế, Chính phủ các nước. 3.2.8. Phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật về kiểm toán nhà nước Pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm kỷ cương, duy trì trật tự pháp luật và trật tự xã hội. Vì vậy, việc phát hiện và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật là vấn đề có tính nguyên tắc. Để đấu tranh chống và phòng ngừa những vi phạm pháp luật và tội phạm có hiệu quả, phải giải quyết kịp thời từ những vụ việc vi phạm pháp luật không lớn cho đến những vụ việc lớn nguy hiểm cho xã hội. Cũng như các lĩnh vực khác của quản lý nhà nước, trong hoạt động kiểm toán nhà nước, trách nhiệm pháp lý là bắt buộc đối với tất cả những ai đã vi phạm pháp luật kiểm toán nhà nước. Những người vi phạm pháp luật nhất thiết phải bị xử lý. Không một người nào có thể biện bạch cho những hành vi vi phạm pháp luật của mình, dù người đó ở cương vị gì trong xã hội, hoặc do bất kỳ lý do nào gây nên. ở đây, điều quan trọng là phải làm cho mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được phát hiện và xử lý công minh theo pháp luật. Kiên quyết đấu tranh chống những biểu hiện lợi dụng chức quyền để vi phạm pháp luật, hoặc dung túng bao che cho những hành vi phạm pháp. Nếu những hành vi phạm pháp không bị xử lý, thì sự buông lỏng đó sẽ là tiền đề gây ra những hành vi phạm pháp tiếp theo. Hơn nữa nó còn gây nên tâm lý coi thường pháp luật, gây tổn hại cho pháp chế và trật tự pháp luật. Để có cơ sở pháp lý xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm, trước hết phải xác định rõ trách nhiệm pháp lý của KTNN, của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật về kiểm toán nhà nước. Điều này thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: - Kiểm toán Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm toán của mình và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp gây thiệt hại cho đơn vị được kiểm toán; - Đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi có hành vi vi phạm các điều cấm của Luật KTNN; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước; - Kiểm toán viên nhà nước phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Tổng KTNN về kết quả kiểm toán của mình và có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp gây thiệt hại cho đơn vị được kiểm toán; trong quá trình thực hiện kiểm toán nếu có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể nêu trên là: tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Đây là những nội dung chế tài cần thiết phải được nghiên cứu để quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật về kiểm toán nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý kịp thời, nghiêm minh mọi hành vi vi phạm, góp phần bảo đảm hiệu lực hoạt động của KTNN và tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, điều quan trọng là các cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không được vì bất kỳ lý do gì mà bỏ qua không xử lý, dù vụ việc nặng hay nhẹ. Kiên quyết chống mọi biểu hiện nương nhẹ, nể nang, bao che hành vi phạm pháp cũng như người vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật về kiểm toán nhà nước nói riêng dưới bất kỳ hình thức nào. 3.2.9. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Kiểm toán Nhà nước Đây là biện pháp cơ bản, bao trùm, xuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển Kiểm toán Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện trước hết ở việc Đảng đề ra chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đề ra chiến lược toàn diện về phát triển Kiểm toán Nhà nước. Trong từng thời kỳ, Đảng đề ra phương hướng kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực hoạt động của Kiểm toán Nhà nước; Đảng bồi dưỡng, lựa chọn giới thiệu với Nhà nước những đảng viên có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức để Nhà nước bầu hoặc bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo cơ quan Kiểm toán Nhà nước theo quy định của pháp luật; Đảng kiểm tra hoạt động của Nhà nước, của cơ quan Kiểm toán Nhà nước trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách phát tiển KTNN của Đảng đề ra. Qua công tác kiểm tra, một mặt, Đảng phát hiện, uốn nắn, giáo dục và xử lý những sai lệch, vi phạm; mặt khác, Đảng kiểm tra tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối, chính sách do Đảng đề ra từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện... Đó là sự lãnh đạo toàn diện, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của KTNN. Sự lãnh đạo của Đảng đối Kiểm toán Nhà nước còn được thể hiện thông qua sự gương mẫu của các đảng viên và các tổ chức Đảng ở cơ sở trong việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Kiểm toán Nhà nước nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có các cơ quan tư pháp, Kiểm toán Nhà nước. Nghị quyết đại hội X đã khẳng định: Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên các mặt: hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động. Định rõ những việc Nhà nước phải làm và bảo đảm đủ các điều kiện để làm tốt; khắc phục tình trạng buông lỏng hoặc làm thay, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan của Đảng và cơ quan nhà nước; hiện đại hóa nền hành chính nhà nước [14, tr.253]. Để thể chế hoá và cụ thể hoá những quan điểm, chủ trương về cải cách hành chính mà Nghị quyết Đại hội X đã đề ra, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (Khoá X) đã có Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 30/7/2007 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Đối với các hoạt động của các cơ quan tư pháp và Kiểm toán Nhà nước, Nghị quyết đã chỉ rõ: Bộ Chính trị lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân, Luật Kiểm toán nhà nước làm cơ sở cho việc kiện toàn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân các cấp, Kiểm toán Nhà nước; lãnh đạo việc sửa đổi bổ sung các luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp làm cơ sở cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; chuẩn bị tốt việc giới thiệu đảng viên để Quốc hội bầu vào vị trí lãnh đạo chủ chốt của các cơ quan tư pháp và Kiểm toán Nhà nước. Kiện toàn Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm toán Nhà nước trực thuộc Ban Bí thư. Xác định chức năng, nhiệm vụ, quy chế làm việc của Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban Cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban Cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước; quy định quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với các Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước; quan hệ công tác giữa Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao, Ban Cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban Cán sự đảng Kiểm toán Nhà nước với Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng các bộ, ngành, với tập thể lãnh đạo, đảng uỷ cơ quan, vơia Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước, với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đảng đoàn các đoàn thể, các ban của Đảng và cấp uỷ địa phương [19, tr.123-124]. Để thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (Khoá X) về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, mà cụ thể là đối với cơ quan KTNN, Bộ Chính trị, Ban Bí cần quan tâm: Thứ nhất, lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thiện hệ thống pháp luật về KTNN, nghiên cứu để bổ sung trong Cương lĩnh của Đảng những vấn đề cơ bản cần thiết về vị trí của KTNN trong hệ thống chính trị tạo điều kiện có thể bổ sung một số điều về vị trí pháp lý của KTNN và Tổng KTNN trong Hiến pháp ở thời điểm phù hợp, hoàn thiện Luật KTNN và các luật có liên quan tạo cơ sở cho việc kiện toàn tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của KTNN. Thứ hai, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Ban cán sự Đảng KTNN, bảo đảm Đảng lãnh đạo toàn diện tổ chức và hoạt động của KTNN để KTNN triển khai hoạt động đúng định hướng, thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc, cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thứ ba, Đảng, Nhà nước quan tâm đến việc sắp xếp, hoàn thiện hệ thống các cơ quan thanh tra, kiểm tra, KTNN. Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét để thông qua Đề án ‘Tăng cường hiệu lực của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát và sự phối hợp giữa các cơ quan trên trong việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát” (do Uỷ ban Kiểm tra Trung ương chủ trì đã trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư), nhằm nâng cao năng lực hoạt động của từng cơ quan; đồng thời tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa các cơ này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, phục vụ đắc lực việc kiểm tra, giám sát của Đảng, Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nư- ớc, góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Thứ tư, lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng các quy chế, quy định về mối quan hệ phối hợp giữa Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ, Ban Cán sự Đảng các Bộ, ngành có liên quan và Ban Cán sự Đảng KTNN; nghiên cứu để có Chỉ thị của Ban Bí thư về “nâng cao hiệu lực pháp lý và chất lượng kiểm toán nhà nước như một công cụ mạnh của Nhà nước”, góp phần nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp về hoạt động kiểm toán nhà nước và thực hiện nghiêm các kết luận, kiến nghị của KTNN. Thứ năm, Đảng, Nhà nước quan tâm hơn nữa để hoàn thiện tổ chức, biên chế và hoạt động của KTNN: thành lập thêm các KTNN khu vực, bổ sung biên chế, đảm bảo kinh phí, phương tiện, trụ sở, thiết bị và phương tiện làm việc nhất là về công nghệ thông tin, để KTNN ngày càng hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao; quan tâm hơn nữa đến đời sống vật chất và tinh thần đối với cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; có hình thức phù hợp để tôn vinh những kiểm toán viên, thanh tra viên, kiểm tra viên có bản lĩnh, dũng khí, có nhiều thành tích đóng góp trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí. Kết luận Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay là một trong những quan điểm cơ bản có tính nguyên tắc chỉ đạo tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm bảo đảm thắng lợi quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Để tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, không chỉ xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, mà quan trọng hơn là tổ chức thực hiện pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành thường xuyên và nghiêm chỉnh, đấu tranh kiên quyết với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. Kiểm toán Nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Qua hơn 15 năm hoạt động, đặc biệt là sau gần ba năm thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước, địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước đã được nâng cao; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức được quy định đầy đủ, cụ thể hơn; nhận thức của các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức và của toàn xã hội về cơ quan Kiểm toán Nhà nước và hoạt động kiểm toán nhà nước đầy đủ hơn, đúng đắn hơn, nhất là sau khi Kiểm toán Nhà nước thực hiện việc công bố công khai kết quả kiểm toán; hoạt động kiểm toán được tăng cường cả về quy mô kiểm toán và chất lượng kiểm toán; hiệu lực của các kết luận, kiến nghị kiểm toán được các đơn vị thực hiện đầy đủ và nghiêm túc hơn. Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, khối lượng công việc kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước không ngừng tăng lên với yêu cầu về chất lượng cũng ngày càng nâng cao; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về KTNN đã được hoàn thiện một bước quan trọng, song còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong bối cảnh đó tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước là yêu cầu khách quan và cấp bách nhằm xây dựng KTNN trở thành công cụ quan trọng về kiểm tra tài chính nhà nước, góp phầm làm minh bạch và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia. Bằng phương pháp tiếp cận và nghiên cứu khoa học, về cơ bản Luận văn "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động kiểm toán nhà nước ở Việt Nam" đã đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề ra. Kết quả nghiên cứu có thể được khái quát: 1. Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật và pháp chế XHCN; nghiên cứu, phân tích những quan điểm về pháp chế xã hội chủ nghĩa của các nhà khoa học trong và ngoài nước, Luận văn đã xây dựng được khái niệm, nội dung cơ bản của pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước phù hợp với quan điểm của Đảng và thực tiễn hoạt động của Kiểm toán Nhà nước. 2. Đề tài cũng làm rõ những đặc trưng của pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước. Đây là vấn đề hoàn toàn mới, có ý nghĩa về lý luận và phương pháp luận trong việc đưa ra những giải pháp tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước. 3. Đề tài đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước trong những năm qua, làm rõ thực trạng hoạt động kiểm toán của KTNN trên các mặt: thực trạng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về kiểm toán nhà nước; thực trạng thực hiện các văn bản QPPL về kiểm toán nhà nước; thực trạng vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp pháp luật về kiểm toán nhà nước; đồng thời, chỉ ra những nguyên nhân hạn chế của thực trạng pháp chế XHCN trong hoạt động KTNN ở nước ta hiện nay. Đây là cơ sở quan trọng để đề ra các giải pháp tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động KTNN ở nước ta trong những năm tới có tính khả thi cao. 4. Căn cứ vào những yêu cầu khách quan và xuất phát từ thực trạng pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước trong những năm qua, Luận văn đã đề xuất những quan điểm định hướng và những giải pháp cơ bản tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, cụ thể như sau: Một là: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm toán nhà nước. Hai là: Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật kiểm toán nhà nước cho cán bộ, công chức của Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan, đơn vị, tổ chức Ba là: Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Luật Kiểm toán nhà nước và các luật có liên quan về hoạt động kiểm toán và không ngừng nâng cao chất lượng kiểm toán. Bốn là: Tiếp tục phát triển, hoàn thiện tổ chức bộ máy Kiểm toán Nhà nước theo mô hình quản lý tập trung thống nhất, bao gồm các đơn vị tham mưu, các KTNN chuyên ngành ở trung ương và các KTNN khu vực. Năm là: Xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có cơ cấu chuyên môn, cơ cấu ngạch hợp lý, có năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Sáu là: Phát triển đồng bộ và hiện đại cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kiểm toán Bảy là: Tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế về kiểm toán nhà nước. Tám là: Phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật về kiểm toán nhà nước. Chín là: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Kiểm toán Nhà nước. Những giải pháp cơ bản nêu trên ngoài tác động tổng thể có tính hệ thống, nền tảng, cơ sở, điều kiện bảo đảm tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước còn có tác động độc lập tương đối có tính cộng hưởng của từng giảỉ pháp. Do vậy, để tăng cường pháp chế XHCN trong hoạt động kiểm toán nhà nước cần phải thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các giải pháp cơ bản nêu trên. Đó chính là nền tảng, cơ sở, điều kiện để xây dựng KTNN từng bước trở thành cơ quan kiểm tra tài chính nhà nứơc có uy tín và có trách nhiệm đáp ứng lòng mong đợi của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần làm minh bạch và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Danh mục công trình của tác giả 1. Đặng Văn Hải (2008), “Một số kết quả sau hai năm thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước”, Tạp chí Kiểm toán, (2). 2. Đặng Văn Hải (2008), “Hoàn thiện Quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực hoạt động của Kiểm toán Nhà nước”, Tạp chí Kiểm toán, (8, 12). 3. Đặng Văn Hải (2009), “Hoàn thiện Quy trình lập và ban hành Kế hoạch kiểm toán năm góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước”, Tạp chí Kiểm toán, (5). 4. Đặng Văn Hải, (2008), “Bàn về tính khoa học trong các quy định của Luật Kiểm toán nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học Kiểm toán, (2, 3, 4, 7, 11, 12). 5. Đặng Văn Hải, (2009), “áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là yêu cầu cấp bách nâng cao hiệu lực hoạt động của Kiểm toán Nhà nước”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học Kiểm toán, (5, 7, 8). 6. Đặng Văn Hải (đồng chủ biên) (2006), Tài liệu tập huấn Luật Kiểm toán nhà nước (Dự án DANIDA/KTNN). 7. Đặng Văn Hải (đồng chủ biên) (2007), Luật Kiểm toán nhà nước-Hỏi và đáp (Dự án DANIDA/KTNN), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 8. Đặng Văn Hải (2008), Thực trạng, giải pháp hoàn thiện cơ chế và phương thức chuyển giao hồ sơ cuộc kiểm toán có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan chức năng xử lý, Đề tài khoa học cấp cơ sở, đã được nghiệm thu năm 2008, đạt kết quả xuất sắc. 9. Phó chủ nhiệm 2 đề tài và tham gia 1 đề tài (2008, 2009), Địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước trong đạo luật cơ bản là Hiến pháp; Cơ sở lý luận và thực tiễn sửa đổi, bổ sung Luật Kiểm toán nhà nước; Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm Luật Kiểm toán nhà nước, Đề tài khoa học cấp bộ. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Ann Seidman - Robert B.Seidman - Nalin Abeyeseskere (2003), Soạn thảo luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Alvin A.Arens (1995), Kiểm toán, Nxb Thống kê, Hà Nội. 3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2005), Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, ngày 24-5, Hà Nội. 4. Ban Cán sự Đảng - KTNN (2008), Nghị quyết số 01-NQ/BCS về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, kiểm toán viên nhà nước trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 16-4, Hà Nội. 5. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994), Nghị định số 70/CP về việc thành lập cơ quan Kiểm toán Nhà nước, ngày 11-7, Hà Nội. 6. Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Tờ trình Quốc hội về Dự án Luật Kiểm toán nhà nước, ngày 20-5, Hà Nội. 7. Chính phủ nớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Nghị định số 91/2008/NĐ-CP về công khai kết quả kiểm toán và kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, ngày 18-8, Hà Nội. 8. Chính phủ (2009), Nghị quyết số 01/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, ngày 12-5, Hà Nội. 9. PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2002), Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ơng khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. TS. Nguyễn Minh Đoan (2002), Hiệu quả pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (tái bản có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. G.B. Atamantruc (2004), Lý thuyết quản lý nhà nước, Nxb Omega, Mátxcơva, tiếng Nga. 22. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, tập 1, Hà Nội. 23. Học viện Tài chính (2007), Giáo trình lý thuyết kiểm toán, Nxb Tài chính, Hà Nội. 24. GS.TS Vương Đình Huệ (2007), "Nhìn lại một năm triển khai thực hiện Luật Kiểm toán nhà nước", Tạp chí Kiểm toán, (3). 25. Kiểm toán Nhà nước (1995), Tăng cường các thể chế Kiểm toán Nhà nước ở các nước đang phát triển, Tài liệu dịch, Hà Nội. 26. Kiểm toán Nhà nớc (1997), So sánh quốc tế về địa vị pháp lý và các chức năng của cơ quan Kiểm toán tối cao, Tài liệu dịch, Hà Nội. 27. Kiểm toán Nhà nước (2002), Phương hướng và giải pháp xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật pháp luật về kiểm toán nhà nước, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội. 28. Kiểm toán Nhà nước (2003), Những điều khoản quy định về địa vị pháp lý và tính độc lập của Kiểm toán Nhà nước trong Hiến pháp của một số nước trên thế giới, Tài liệu dịch, Hà Nội. 29. Kiểm toán Nhà nước (2003), Luật Kiểm toán nhà nước của một số nước trên thế giới, Tài liệu dịch, Hà Nội. 30. Kiểm toán Nhà nước (2004), 10 năm xây dựng và phát triển Kiểm toán Nhà n- ước Việt Nam, Hà Nội. 31. Kiểm toán Nhà nước (2005), Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Tài liệu Hội thảo quốc tế, Hà Nôi. 32. Kiểm toán Nhà nước (2006), Định hướng chiến lược và giải pháp phát triển Kiểm toán Nhà nước Việt Nam, Đề tài khoa học cấp nhà nước, Hà Nội. 33. Kiểm toán Nhà nước, Các báo cáo kết quả kiểm toán năm từ 1995 đến năm 2008, Hà Nội. 34. Kiểm toán Nhà nước, Báo cáo tổng kết ngành các năm từ 1995 đến 2008, Hà Nội. 35. Kiểm toán Nhà nước (2008), Đề án trình Bộ Chính trị số 12/KTNN- VP về Tăng cường năng lực hoạt động của KTNN và các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát của Đảng và Nhà nước, ngày 15-6, Hà Nội. 36. Kiểm toán Nhà nước (2009), Tờ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Chiến l- ợc phát triển Kiểm toán Nhà nước giai đoạn 2009–2015 và tầm nhìn đến năm 2020, Hà Nội. 37. Kiểm toán Nhà nước (2009), Kiểm toán Nhà nước Việt Nam- 15 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội. 38. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Mạnh (đồng chủ biên) (2001), 55 năm xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. PGS. TS Nguyễn Văn Mạnh, (2008), “Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật”, Thông tin Nhà nước và Pháp luật, (4). 41. Lê Hữu Nghĩa, (2007), “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, (22). 42. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp 1992, Hà Nội. 43. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Luật Doanh nghiệp nhà nước, Hà Nội. 44. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1996), Luật ngân sách nhà nước, Hà Nội. 45. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hà Nội. 46. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Luật các tổ chức tín dụng, Hà Nội. 47. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1998), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ngân sách nhà nước, Hà Nội. 48. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, Hà Nội. 49. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Luật ngân sách nhà nước sửa đổi, ngày 16-12, Hà Nội. 50. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Kiểm toán nhà nước, ngày 14-6, Hà Nội. 51. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Phòng, chống tham nhũng, ngày 14-6, Hà Nội. 52. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Hà Nội. 53. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật cán bộ công chức, ngày 13-11, Hà Nội. 54. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nộị. 55. Nguyễn Hữu Quỳnh (1999), Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội. 56. Thủ tướng Chính phủ (1995), Quyết định 61/TTg ban hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước, ngày 24-01, Hà Nội. 57. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định số 136/2001/QĐ- TTg về việc ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010, ngày 17-9, Hà Nội. 58. Thủ tướng Chính phủ (2008), Chỉ thị số 33/2008/CT-TTg về thực hiện nghiêm chỉnh chính sách tài khoá và các kết luận thanh tra, kiểm toán nhà nước, ngày 20-11, Hà Nội. 59. PGS.TS Lê Minh Tâm (2000), "Pháp luật - yếu tố quan trọng bảo đảm tăng tr- ưởng kinh tế và phát triển bền vững", Tạp chí Luật học, (3). 60. Tổ chức Quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao – INTOSAI (1997), Tuyên bố Lima về các chỉ dẫn kiểm toán, (sửa đổi, bổ sung năm 2008). 61. Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 62. Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội. 63. GS.TSKH Đào Trí úc (1995), “Tăng cường tính thống nhất của pháp chế, nghiêm chỉnh tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật”, Tạp chí Cộng sản, (3). 64. GS.TSKH Đào Trí úc (1997), Nhà nước và pháp luật trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 65. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2005), Nghị quyết số 916/2005/NQ-UBTVQH11 về tổ chức bộ máy của Kiểm toán Nhà nước, Hà Nội. 66. V.I.Lênin (1970), Bàn về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội. 67. V.I.Lênin (1977), Về pháp chế xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội. 68. V.N.Kyđriaxép (1998), Pháp chế: nội dung và trạng thái hiện nay "pháp chế ở Liên bang Nga", Nxb Iurixt, Matxcơva, tiếng Nga. 69. PGS.TS Võ Khánh Vinh (2003), Lợi ích xã hội và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf8_9726.pdf
Luận văn liên quan