Luận văn Phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng của Việt Nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới

Ở Việt nam, các nghiệp vụ phái sinh mới bắt đầu được sử dùng từ đầu những năm 2000 và đến nay xuất hiện nhiều loại công cụ phái sinh chuẩn và không chuẩn đang được thực hiện. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý các các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn lẻ, ngoại trừ giao dịch hoán đổi lãi suất đã có qui chế của NHNN (Quyết định số 1133/2003/QĐ - NHNN, ngày 30/9/2003 ban hành kèm theo qui chế). Đồng thời số lượng các giao dịch còn ít khoảng gần 15 hợp đồng hoán đổi lãi suất và một số ít hợp đồng phái sinh không chuẩn khác đã được cho phép thực hiện (trong số đó có một số giao dịch đã chưa phát sinh giao dịch). Tuy nhiên, các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn lẻ. Số lượng giao dịch của các công cụ này còn hết sức khiêm tốn. Một số tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện giao dịch các công cụ phái sinh như: Chi nhánh Ngân hàng Citibank, Ngân hàng Standard Chartered, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương, HSBC, nhưng doanh số và số các khách hàng tham gia còn hết sức khiêm tốn. Tỷ lệ doanh thu từ các sản phẩm phái sinh trên tổng doanh thu của các ngân hàng thương mại trong các năm 1995, 2000 và 2006 chỉ là 11,7%, 15,4%, và 17,5%. Trong khi đó, theo báo cáo c ủa IMF, thị trường phái sinh quốc tế có sự tăng trưởng rất mạnh, tính riêng từ đầu năm 2007 đến nay đã tăng 30% và đạt quy mô khoảng 370 tỷ USD. Loại công cụ tài chính phái sinh được phổ biến nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay là công cụ tài chính phái sinh tiền tệ, tín dụng, hoán đổi lãi suất, quyền chọn về vàng, kỳ hạn về hàng hóa.

pdf102 trang | Chia sẻ: aquilety | Ngày: 28/03/2015 | Lượt xem: 1403 | Lượt tải: 7download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng của Việt Nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lệ trong tương lai. Tuy nhiên, trong một vài năm đầu làm quen với thị trường bảo đảm giá năng lượng, khối lượng được bảo đảm giá chỉ từ 2% - 10%. Với ước tính là 10%, khối lượng hàng hoá xăng dầu cần được bảo đảm tại Việt Nam năm 2007 sẽ khoảng 1,3 triệu tấn hay khoảng 11,7 triệu thùng. Tổng lượng - 72 - tiêu dùng xăng dầu ước tính sẽ tăng trưởng 10% hàng năm và khối lượng cần được bảo đảm dự tính cũng tăng nhanh bởi lúc đó khách hàng đã quen với dịch vụ và hiểu được lợi ích khi sử dụng dịch vụ. Do trên 95% lượng xăng dầu của Việt Nam được nhập khẩu thông qua Singapore nên loại hình sản phẩm chủ yếu được sử dụng trong bảo đảm giá sẽ là giao dịch hoán đổi giá cả hàng hoá FOB Singapore (MOPS). 3.1.4 Thực trạng sử dụng các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá Ở Việt nam, các nghiệp vụ phái sinh mới bắt đầu được sử dùng từ đầu những năm 2000 và đến nay xuất hiện nhiều loại công cụ phái sinh chuẩn và không chuẩn đang được thực hiện. Tuy nhiên, cơ sở pháp lý các các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn lẻ, ngoại trừ giao dịch hoán đổi lãi suất đã có qui chế của NHNN (Quyết định số 1133/2003/QĐ - NHNN, ngày 30/9/2003 ban hành kèm theo qui chế). Đồng thời số lượng các giao dịch còn ít khoảng gần 15 hợp đồng hoán đổi lãi suất và một số ít hợp đồng phái sinh không chuẩn khác đã được cho phép thực hiện (trong số đó có một số giao dịch đã chưa phát sinh giao dịch). Tuy nhiên, các nghiệp vụ phái sinh còn mang tính thí điểm và đơn lẻ. Số lượng giao dịch của các công cụ này còn hết sức khiêm tốn. Một số tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện giao dịch các công cụ phái sinh như: Chi nhánh Ngân hàng Citibank, Ngân hàng Standard Chartered, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương, HSBC,… nhưng doanh số và số các khách hàng tham gia còn hết sức khiêm tốn. Tỷ lệ doanh thu từ các sản phẩm phái sinh trên tổng doanh thu của các ngân hàng thương mại trong các năm 1995, 2000 và 2006 chỉ là 11,7%, 15,4%, và 17,5%. Trong khi đó, theo báo cáo của IMF, thị trường phái sinh quốc tế có sự tăng trưởng rất mạnh, tính riêng từ đầu năm 2007 đến nay đã tăng 30% và đạt quy mô khoảng 370 tỷ USD. Loại công cụ tài chính phái sinh được phổ biến nhiều nhất ở Việt Nam hiện nay là công cụ tài chính phái sinh tiền tệ, tín dụng, hoán đổi lãi suất, quyền chọn về vàng, kỳ hạn về hàng hóa. Mặc dù còn sơ khai nhưng các công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro đã được các doanh nghiệp Việt Nam vận dụng trong kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá như nông sản (cà phê, cao su), năng lượng (than đá, xăng dầu). Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng trong nước, các công cụ này mới chỉ được ứng dụng rất - 73 - hạn chế ở hợp đồng kỳ hạn. Có một thực tế là trong khi các doanh nghiệp về năng lượng còn tương đối bình chân thì ngược lại, có một số ít ngân hàng đã nghiên cứu, chuẩn bị sẵn các sản phẩm, dịch vụ phòng ngừa rủi ro, phát sinh nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp trước thềm hội nhập. Hiện nay, tại Việt Nam mới chỉ có hai ngân hàng là Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cung cấp dịch vụ giao dịch hàng hoá qua sàn giao dịch có tổ chức và thị trường OTC. Techcombank là ngân hàng đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước cho phép cung cấp các dịch vụ hàng hóa qua sàn từ năm 2004 với các mặt hàng giao dịch hiện nay là cà phê, cao su, kim loại, ngũ cốc. Cho đến nay, Techcombank vẫn đang trong quá trình chuẩn bị giới thiệu sản phẩm hợp đồng năng lượng phái sinh với khách hàng. Bên cạnh đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), ngày 5/10/2006 đã chính thức cho ra mắt sản phẩm giao dịch hợp đồng tương lai cà phê trên thị trường quốc tế. Và gần đây, ngày 22/7/2008, Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIC) đã cùng Công ty Ginga Vietnam Holdings Pte.Ltd (Singapore) ký kết hợp đồng liên doanh chính thức thành lập Công ty TNHH Kinh doanh và Dịch vụ Năng lượng BIDV (BEST). BEST được thành lập nhằm cung cấp dịch vụ quản lý rủi ro về giá cho các sản phẩm năng lượng trong thời gian ngắn, trung và dài hạn; Tham gia các giao dịch tài chính phái sinh (hợp đồng tương lai, kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn) với mục đích quản lý rủi ro về giá năng lượng cho khách hàng; Môi giới các giao dịch mua bán xăng dầu và các sản phẩm liên quan trong lĩnh vực năng lượng; Cung cấp thông tin, báo cáo phân tích, nghiên cứu về thị trường năng lượng Việt Nam và thế giới; Cung cấp dịch vụ tư vấn về quản lý rủi ro và các nghiệp vụ giao dịch hàng hóa năng lượng, bao gồm cả các giao dịch tài chính phát sinh liên quan; Cung cấp các dịch vụ, công cụ hỗ trợ và tư vấn cho khách hàng trong lĩnh vực quản lý/phòng ngừa rủi ro về giá xăng dầu và các sản phẩm năng lượng nói chung tại Việt Nam kể cả: than, nhiên liệu sinh học, các sản phẩm hóa dầu, khí thải… và đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng trong kinh doanh năng lượng. Như vậy, khi đi vào hoạt động, BEST sẽ là công ty bảo đảm giá năng lượng đầu tiên tại Việt Nam, mở ra triển vọng phát triển loại hình kinh doanh này tại thị trường nước ta. - 74 - 3.1.5 Đánh giá chung 3.1.5.1 Các kết quả dạt được Trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế, thị trường tài chính Việt Nam đã có những bước phát triển rất quan trọng theo hướng hội nhập với thông lệ và Chuẩn mực Quốc tế được chấp nhận chung. Theo đó, các công cụ phái sinh đã bắt đầu được sử dụng tại Việt Nam khoảng từ năm 2000 đến nay. Từ đó đến nay, đã có ngày càng nhiều các hàng hoá phái sinh được giao dịch, như tiền tệ, lãi suất, hàng hoá như cao su, cà phê, một số loại nông sản khác,... Các loại công cụ phái sinh cũng dần được phát triển, đến nay đã có đủ các loại hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi. Những thành tựu ban đầu này có được một phần là do Việt Nam đã và đang thực sự hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho nước ta có nhiều điều kiện khách quan thuận lợi để phát triển một thị trường tài chính hiện đại, trong đó có thị trường phái sinh. Các hợp đồng phái sinh năng lượng hiện vẫn chưa được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay, một số công ty kinh doanh năng lượng như Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn xăng dầu Việt Nam,... đã vận dụng hợp đồng kỳ hạn khá thành công để phòng ngừa, hạn chế rủi ro biến động giá năng lượng. Số lượng hợp đồng năng lượng kỳ hạn mà các doanh nghiệp này thực hiện được vào khoảng 20% kim ngạch nhập khẩu năng lượng tại Việt Nam. Đây có thể coi là một khởi đầu tốt, tạo đà cho việc áp dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá xăng dầu và giá các mặt hàng năng lượng khác tại nước ta. 3.1.5.2 Các hạn chế và nguyên nhân Dù thị trường phái sinh nói chung và thị trường hàng hoá phái sinh tại Việt Nam đã có một số thành tựu nhất định, nhưng các thị trường này còn rất nhỏ bé và chưa phổ biến. Việc mua/ bán công cụ tài chính phái sinh được rất ít doanh nghiệp hoặc tổ chức tài chính thực hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời thị trường chính thức chưa được thiết lập, thị trường phi chính thức nhỏ lẻ và hoạt động không thường xuyên. Các công cụ phái sinh hầu như không được sử dụng trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam. Sau đây là một số nguyên nhân chủ yếu - 75 - gây ra những hạn chế làm cho các công cụ phái sinh chưa được sử dụng phổ biến để phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại nước ta: Thứ nhất, mức độ tham gia thị trường vốn của các doanh nghiệp chưa lớn, các nhà quản trị doanh nghiệp chưa có nhu cầu và cũng chưa có hiểu biết nhiều về bản chất của các loại công cụ hàng hoá phái sinh, các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng vẫn còn được nhà nước bảo hộ giá nên chưa có động lực bảo hiểm biến động giá bằng các công cụ phái sinh. Các doanh nghiệp còn nhập nhằng giữa phòng ngừa rủi ro và đầu cơ. Các doanh nghiệp không nghĩ rằng sử dụng sản phẩm phái sinh là trả một khoản tiền để tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời chủ động trong các kế hoạch kinh doanh và kiểm soát được chi phí của mình trong tương lai. Thay vào đó, họ chỉ mong muốn kiếm đuợc lợi nhuận và không muốn lỗ. Khi mục tiêu chỉ nhằm vào đánh cuộc với biến động giá, thì khi biến động giá này không đúng như kỳ vọng, các doanh nghiệp lập tức không sử dụng tiếp các sản phẩm phái sinh nữa. Có trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng mua kỳ hạn xong, thấy biến động bất lợi thì đòi hủy hợp đồng. Như vậy doanh nghiệp hiện mới chỉ nhìn vào lợi nhuận của sản phẩm phái sinh, chứ không thấy được lợi ích phòng ngừa rủi ro mang lại. Thứ hai, các tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng thương mại có nguồn nhân lực chuyên sâu về công cụ phái sinh còn hạn chế, hệ thống thông tin quản lý chưa phát triển; đối tác mua, bán công cụ tài chính phái sinh với các ngân hàng thương mại là các doanh nghiệp lại hạn chế. Đồng thời, doanh thu từ các sản phẩm phái sinh vẫn còn hạn chế nên các ngân hàng chưa quan tâm đúng mức tới việc quảng bá sản phẩm. Do đó, các tổ chức tài chính cũng chưa có nhu cầu, chưa chủ động phát triển và cung ứng các hợp đồng công cụ năng lượng phái sinh. Thứ ba, Chính phủ còn chưa quan tâm đúng mức đến việc cố định các mức giá dự kiến trong hoạch định chiến lược. Trong hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô, hầu như chúng ta không bao giờ thấy Chính phủ chỉ đạo cho các bộ ngành làm thế nào để chốt giá đầu vào, mà thực chất là sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro hiện có sẵn trên các thị trường thế giới. Điển hình là các thị trường tương lai dầu, sắt thép, và các mặt hàng nông hải sản khác trên các sàn giao dịch tương lai quốc tế. Hậu quả của phương thức hoạch định chính sách còn nặng về tính chủ quan như thế khiến cho các - 76 - mục tiêu kinh tế vĩ mô liên tục thay đổi hoặc chệch hướng xa so với dự kiến. Giá các mặt hàng năng lượng trên thị trường thế giới biến động rất mạnh trong thời gian qua đã làm cho ngành tài chính nước ta liên tục phải điều chỉnh dự toán thu ngân sách từ các lĩnh vực này, đó là chưa kể những tác động tiêu cực khác đến đời sống và tâm lý của người dân. Thứ tư, khuôn khổ pháp lý: các luật lệ, các chính sách quản lý nhà nước còn thiếu; cơ chế nghiệp vụ chưa có. Hiện nay, nhà nước ta vẫn chưa có một cơ chế, chính sách nào dành cho các công cụ phái sinh năng lượng, cơ chế, chính sách dành cho các công cụ phái sinh nói chung còn thiếu và không phù hợp. Các quy định về chế độ ghi sổ kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm. Đồng thời, hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam còn chưa có các Chuẩn mực tương đồng với các Chuẩn mực kế toán Quốc tế về công cụ tài chính, đặc biệt trong đó là các Chuẩn mực IAS 39 "Các công cụ tài chính: Ghi nhận và xác định giá trị"; IAS 32 "Công cụ tài chính: Thuyết minh và trình bày thông tin"; IFRS 7 "Các công cụ tài chính: công bố". Việc thiếu vắng các tiêu chuẩn kế toán chất lượng cao để ghi nhận, đánh giá giá trị công cụ tài chính nói chung và công cụ phái sinh nói riêng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định kết quả tài chính, đến quản trị rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời cơ quan giám sát tài chính- ngân hàng- chứng khoán cũng không thể có được thông tin đầy đủ, trung thực để giám sát thị trường chung, giám sát an toàn hoạt động của từng tổ chức tài chính. Hiện tại, cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam cũng chỉ cấp giấy phép hạn chế cho một số tổ chức tín dụng, một số doanh nghiệp được mua/bán đối với một số công cụ tài chính phái sinh nhất định. Một chính sách khác cũng cản trở đến sự phát triển của công cụ phái sinh là việc tính thuế. Đối với hợp đồng tương lai, lãi thì bị đánh thuế, còn lỗ không được khấu trừ vào phần thu nhập tính thuế, trong khi lợi nhuận thực tế mà doanh nghiệp có được chính là chênh lệch giữa mức giá theo hợp đồng tương lai và giá thành sản xuất. Điều này gây bất lợi cho doanh nghiệp tham gia giao dịch. Trong khi đó ở các nước khác, sản phẩm phái sinh không phải đóng thuế vì công cụ phái sinh mang bản chất phòng ngừa rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận chứ không phải vì mục đích kiếm lời. Các quy định này bóp chết sự phát triển của công cụ phái sinh. Nó vừa gây kìm hãm, vừa khó thực hiện. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu Việt Nam hiện nay, - 77 - việc phải nhập khẩu đầu vào gần như 100% với giá thả nổi trên thị trường năng lượng thế giới, trong khi không có công cụ để quản lý rủi ro về giá, là một rủi ro lớn. Rủi ro càng lớn khi hiện nay, Chính phủ khống chế giá bán xăng dầu, các doanh nghiệp hoàn toàn bị động trước diễn biến giá dầu thế giới và hoàn toàn bất ngờ với diễn biến giá xăng dầu trong nước. Là đơn vị kinh doanh nhưng các doanh nghiệp không chủ động quyết định được cả giá mua vào, lẫn giá bán ra. Bản thân cơ chế điều hành giá xăng dầu trong nước hiện nay làm cho các doanh nghiệp kinh doanh rất bị động, phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước. Các doanh nghiệp phải đảm bảo yêu cầu cung ứng đủ nhu cầu xăng dầu nội địa trong khi không biết trước được giá bán đầu ra. Sự chênh lệch như vậy giữa giá nhập khẩu và giá bán là hoàn toàn có thể xẩy ra. Thứ năm, chi phí giao dịch có liên quan để mua/bán/giao dịch công cụ tài chính phái sinh còn cao. Chi phí giao dịch bao gồm: chi phí tìm kiếm thông tin; chi phí thương lượng với đối tác; chi phí để điều chỉnh trạng thái nhằm thích nghi với điều kiện mới của thị trường và tài thương lượng; chi phí phát sinh từ những yếu tố bất định và rủi ro về thông tin, thể chế... (uncertaily cost - chi phí rủi ro không dự đoán được); chi phí ủy quyền tác nghiệp; chi phí thực hiện và giám sát. Thứ sáu, tại Việt Nam vẫn còn thiếu đào tạo thực tế về sản phẩm phái sinh. Đây là thực trạng ở Việt Nam. Các chuyên gia đào tạo về sản phẩm phái sinh hiện nay còn quá ít, hơn nữa số đơn vị cung cấp và tham gia giao dịch không bao nhiêu. Chính vì vậy, số chuyên gia có cơ hội tiếp cận với thực tiễn ứng dụng sản phẩm phái sinh ở Việt Nam là rất hạn chế. Các thông tin về sản phẩm phái sinh còn khó tiếp cận. Điều này liên quan đến mức độ “khó hiểu” và không đầy đủ của các hướng dẫn về sản phẩm phái sinh của tổ chức cung cấp sản phẩm phái sinh và của các tài liệu đào tạo. Sở dĩ như vậy là vì sản phẩm phái sinh là một chủ đề khó, đòi hỏi trình độ chuyên môn đáng kể. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn thiếu chuyên gia am hiểu sâu về sản phẩm phái sinh có thể giải thích một cách đơn giản, dễ hiểu vấn đề này cho doanh nghiệp. Thứ bảy, Việt Nam còn thiếu nhân sự có năng lực về sản phẩm phái sinh. Đây là một trở ngại khá lớn làm cho các doanh nghiệp tuy thấy những rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất sắp tới tác động rất lớn đến kết quả kinh doanh của mình, thậm chí nhiều doanh - 78 - nghiệp nhập khẩu còn thấy rõ rằng nguy cơ phá sản do tỷ giá tăng nhưng họ không biết tìm đâu ra nhân sự ở cơ quan mình để thực hiện các chương trình quản trị rủi ro bài bản. 3.2 ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NHẰM PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƢỢNG TẠI VIỆT NAM Để có thể phát triển việc sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng, Việt Nam cần đưa ra các giải pháp phù hợp trên cơ sở định hướng phát triển của Chính phủ như sau: 3.2.1 Định hƣớng phát triển thị trƣờng năng lƣợng Việt Nam Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, để thị trường năng lượng nước ta phát triển lành mạnh hơn, Chính phủ Việt Nam định hướng sẽ dỡ bỏ chính sách trợ giá đối với các mặt hàng xăng dầu, cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tính theo giá thị trường, từ đó từng bước tự do hóa thị trường năng lượng, thúc đẩy thị trường năng lượng Việt Nam ngày càng phát triển. Động thái này sẽ tạo ra thay đổi lớn trên thị trường năng lượng Việt Nam, mở ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam chủ động quyết định hoạt động kinh doanh của mình, nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn khi phải tự đối mặt với những biến động bất thường của giá xăng dầu trên thị trường quốc tế. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp phải tự tìm những giải pháp phòng ngừa rủi ro. Nếu như không có các biện pháp quản lý rủi ro trong khi phải nhập khẩu xăng dầu thả nổi theo thông lệ quốc tế và giá bán trong nước không được bù lỗ thì sự thiệt hại của các doanh nghiệp là rất đáng kể. 3.2.2 Định hƣớng phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lƣợng tại Việt Nam 3.2.2.1 Hình thành và phát triển đồng bộ thị trường các công cụ phái sinh Trong “Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo quyết định số 128/2007/QĐ- TTg ngày 02/08/2007, mục tiêu tổng quát Chính phủ hướng đến là “phát triển nhanh, đồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt Nam, trong đó thị trường chứng khoán đóng vai trò chủ đạo; từng bước đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị - 79 - trường tài chính, góp phần đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển và cải cách nền kinh tế; đảm bảo tính công khai, minh bạch, duy trì trật tự, an toàn, hiệu quả, tăng cường quản lý, giám sát thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầu tư; từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Phấn đấu đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam phát triển tương đương thị trường các nước trong khu vực” [2, tr.1]. Cấu trúc của thị trường vốn được đề cập trong Đề án này bao gồm “thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ phái sinh, thị trường tập trung, thị trường phi tập trung...”[2, tr.2]. Như vậy, thị trường các công cụ phái sinh sẽ được định hướng phát triển trên cở sở cơ cấu hợp lý trong thị trường vốn nhằm đảm bảo thị trường hoạt động minh bạch, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên thị trường. Để thị trường các công cụ phái sinh nói chung và thị trường các công cụ phái sinh đối với các mặt hàng năng lượng nói riêng được phát triển đồng bộ, nhà nước ta còn định hướng phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước cho thị trường; mở rộng hệ thống các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức; phát triển đầy đủ các định chế trung gian; đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp, … đảm bảo có đầy đủ các yếu tố cấu thành một thị trường vốn phát triển trong khu vực. Đồng thời, Việt Nam sẽ tăng cường quản lý nhà nước, thực hiện có hiệu quả chức năng thanh tra, kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên thị trường. Nhà nước ta sẽ chú trọng phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các loại hàng hoá để đáp ứng nhu cầu của thị trường: phát triển các loại công cụ phái sinh như: quyền chọn mua, quyền chọn bán; hợp đồng tương lai; hợp đồng kỳ hạn .... 3.2.2.2 Phát triển các định chế trung gian và dịch vụ thị trƣờng phái sinh Nhà nước ta chủ trương tăng số lượng hợp lý, nâng cao chất lượng hoạt động và năng lực tài chính cho các tổ chức, công ty kinh doanh năng lượng, các tổ chức tín dụng, ngân hàng cung cấp các sản phẩm phái sinh, trong đó có các sản phẩm phái sinh đối với mặt hàng năng lượng. Đồng thời Chính phủ chủ trương đa dạng hoá các loại - 80 - hình dịch vụ cung cấp trên thị trường, nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng các dịch vụ; đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng trên thị trường; áp dụng các chuẩn mực lưu ký quốc tế, thực hiện liên kết giao dịch thanh toán giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ; từng bước hình thành thị trường định mức tín nhiệm ở Việt Nam; cho phép thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm đủ điều kiện tại Việt Nam và cho phép một số tổ chức định mức tín nhiệm có uy tín của nước ngoài thực hiện hoạt động định mức tín nhiệm ở Việt Nam. 3.3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NHẰM PHÒNG NGỪA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ NĂNG LƢỢNG TẠI VIỆT NAM Sau khi nghiên cứu các bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới và xuất phát từ thực tiễn sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại nước ta, tác giả xin đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam như sau: 3.3.1 Các giải pháp vĩ mô 3.3.1.1 Xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý tạo điều kiện thúc đẩy việc sử dụng các công cụ phái sinh Hiện nay, môi trường pháp lý tại Việt Nam đối với thị trường tài chính nói chung còn kém phát triển, có rất ít quy định pháp luật đối với hoạt động kinh doanh các công cụ phái sinh, Đặc biệt, vẫn chưa có quy định cụ thể nào dành cho các công cụ phái sinh năng lượng. Một khung pháp lý phù hợp chính là nhân tố tích cực, là điều kiện rất quan trọng góp phần phát triển thị trường các công cụ phái sinh, nhất là thị trường này còn rất sơ khai tại Việt Nam. Để thị trường các công cụ phái sinh đối với các mặt hàng năng lượng của nước ta phát triển lành mạnh và đồng bộ, Chính phủ Việt Nam phấn đấu hoàn thiện khung pháp lý theo hướng:  Các quy định, quyết định ban hành luôn sát với những thay đổi của thị trường, đáp ứng yêu cầu chính đáng của các chủ thể tham gia thị trường là các tổ chức tín dụng tham gia cung ứng dịch vụ và các công ty tham gia giao dịch trên thị trường, mở rộng mạnh mẽ quyền tham gia thị trường các công cụ phái sinh của tổ chức, doanh nghiệp này. - 81 -  Tạo điều kiện tối đa để xây dựng một thị trường tài chính hiện đại, trong đó có thị trường các công cụ phái sinh đối với mặt hàng năng lượng  Đảm bảo tính cạnh tranh cao trên thị trường, nghĩa là thị trường giao ngay phải đủ lớn để đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, làm tăng nhu cầu tự bảo hiểm và quản lý rủi ro của các doanh nghiệp, đồng thời làm giảm nguy cơ lũng đoạn thị trường.  Phù hợp với điều kiện kinh tế cụ thể, các định hướng phát triển thị trường các công cụ phái sinh đối với mặt hàng năng lượng tại Việt Nam, tương thích với tập quán quốc tế nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập Do vậy, để có thể phát triển việc sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam, môi trường pháp lý nước ta cần được điều chỉnh thông qua các giải pháp cụ thể sau:  Hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ đáp ứng được yêu cầu quản lý, giám sát và hội nhập với thị trường các công cụ phái sinh của khu vực và quốc tế đối với các hàng hóa nói chung và đối với mặt hàng năng lượng nói riêng  Bổ sung các chế tài xử lý nghiêm minh về dân sự, hình sự để phòng ngừa và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động trên thị trường các công cụ phái sinh  Hoàn chỉnh các chính sách về thuế, phí, lệ phí đối với hoạt động kinh doanh các công cụ phái sinh năng lượng, khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng đẩy mạnh sử dụng các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng, đồng thời thông qua thuế, phí, lệ phí góp phần giám sát hoạt động của thị trường các công cụ phái sinh và của từng đối tượng, thành viên tham gia thị trường.  Áp dụng các tiêu chuẩn giám sát thị trường các công cụ phái sinh theo thông lệ quốc tế; đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các thành viên tham gia thị trường; kiểm tra, giám sát hàng hoá đưa ra thị trường, đảm bảo tính công khai, minh bạch; tăng cường năng lực giám sát, cưỡng chế thực thi của cơ quan giám sát thị trường  Củng cố bộ máy, nâng cao năng lực quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường các công cụ phái sinh; từng bước tách bạch chức năng quản lý với chức năng giám sát các hoạt động của thị trường; thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện giám sát, điều phối chính sách và công cụ cảnh báo, điều hành hoạt động kinh doanh - 82 - các công cụ phái sinh đối với các hàng hoá nói chung và đối với mặt hàng năng lượng nói riêng.  Thay đổi các quy định về thủ tục giao dịch: Đây là giải pháp giúp khuyến khích các doanh nghiệp tích cực sử dụng các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá nói chung, và biến động giá năng lượng nói riêng. Việt Nam đã có một số văn bản cho phép và hướng dẫn tiến hành các giao dịch phái sinh, tuy nhiên, các văn bản này mới chỉ mang tính dạo đầu và vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Ngoài ra, hiện nay vẫn chưa có quy định về thủ tục giao dịch nào đối với các giao dịch phái sinh năng lượng. Do đó, nhà nước ta cần tạo ra sự thay đổi hướng đến sự đơn giản, rõ ràng trong thủ tục giao dịch.  Sớm ban hành hướng dẫn quy định về hạch toán kế toán và cơ chế thuế trong hoạt động kinh doanh sản phẩm phái sinh, đảm bảo phản ánh chính xác kết quả kinh doanh của doanh nghiệp; cơ chế thuế đảm bảo sự công bằng khi doanh nghiệp sử dụng các công cụ phái sinh để bảo đảm giá cho kinh doanh hàng vật chất (cụ thể là mặt hàng năng lượng).  Có hướng dẫn cụ thể các doanh nghiệp trong việc sử dụng các sản phẩm phái sinh để bảo đảm biến động giá trong kinh doanh năng lượng, xây dựng cơ chế xác nhận kết quả kinh doanh chính xác của doanh nghiệp khi sử dụng các sản phẩm tài chính phái sinh. 3.3.1.2 Xây dựng thị trường tài chính hiện đại và ổn định Xây dựng thị trường tài chính hiện đại là giải pháp có tính tiên quyết và đột phá đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế bền vững một cách chủ động và có hiệu quả. Trong một thị trường tài chính hiện đại, các yếu tố thị trường liên quan đến hoạt động quản lý rủi ro biến động giá bao gồm thị trường các công cụ phái sinh và các tổ chức tham gia vào thị trường này cần được chú trọng phát triển. Thị trường tài chính hiện đại chính là cơ sở vững chắc để hoạt động phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng có nền tảng để phát triển. - 83 - Để xây dựng được một thị trường tài chính hiện đại và ổn định tại Việt Nam cần có các giải pháp sau:  Thực hiện mở cửa từng bước thị trường các công cụ phái sinh theo lộ trình hội nhập đã cam kết; mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế trên các mặt tư vấn chính sách, tư vấn pháp luật và phát triển thị trường; đảm bảo tính tương thích của thị trường tài chính Việt Nam với các thị trường trong khu vực và quốc tế  Tạo độ mở và thông thoáng cao cho thị trường tài chính Việt Nam  Tạo sự thống nhất và tương hỗ lẫn nhau giữa các loại thị trường: giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, giữa các thị trường quyền chọn, kỳ hạn, hoán đổi, tương lai với nhau..., đảm bảo sự đa dạng, đồng bộ và cạnh tranh lành mạnh giữa các yếu tố của thị trường  Đảm bảo an ninh tài chính quốc gia: thực hiện tốt việc giám sát các giao dịch phái sinh; thực hiện cơ chế giám sát đặc biệt với các định chế trung gian yếu kém để giảm thiểu tác động tiêu cực có tính chất dây chuyền trong toàn hệ thống.  Xây dựng lộ trình để từng bước đổi mới và thực hiện có hiệu quả các chính sách tự do thương mại có sự điều tiết linh hoạt của nhà nước sao cho vừa phù hợp với tình hình kinh tế trong nước cũng như kinh tế thế giới nhằm thúc đẩy kinh tế tăng trưởng một cách bền vững. 3.3.1.3 Hiện đại hoá hệ thống thông tin kinh tế-tài chính Hiện nay, hệ thống thông tin kinh tế-tài chính, nhất là khả năng thu thập xử lý thông tin về rủi ro biến động giá của các doanh nghiệp, của hệ thống ngân hàng, tổ chức tài chính còn nhiều bất cập về nhân lực, trang thiết bị, công nghệ và cơ chế tổ chức. Vì vậy, việc hiện đại hoá hệ thống thông tin kinh tế-tài chính thông qua việc tạo cơ chế và hỗ trợ là rất cần thiết, đặc biệt là trong các khâu thu thập, phân tích, dự báo và đề xuất các quyết định quản lý rủi ro biến động giá. Đó còn là điều kiện quan trọng giúp các doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng tại Việt Nam quản lý, phòng ngừa rủi ro biến động giá. Để xây dựng được một hệ thống thông tin kinh tế-tài chính hiện đại, nhất là hệ thống thông tin về rủi ro biến động giá, nhà nước ta cần định hướng, tạo cơ chế và tiến - 84 - hành các hỗ trợ cần thiết để giúp các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính vận hành tốt hệ thống thông tin kinh tế-tài chính, hệ thống thông tin về quản lý rủi ro biến động giá. 3.3.1.4 Xây dựng một chính sách an ninh năng lượng quốc gia Đây là một khái niệm và cũng là một chiến lược mà giờ đây không còn xa lạ với Chính phủ các nước trên thế giới, nhưng hầu như chưa được Chính phủ Việt Nam quan tâm và xử lý đúng mức. Một trong những phương tiện để có thể quản lý được các rủi ro do giá năng lượng tăng cao là Chính phủ sử dụng các hợp đồng tương lai nhằm chốt lại các mức giá dự kiến. Chỉ có như thế, Chính phủ mới có thể chốt lại một số các biến chủ yếu là giá cả đầu vào nhằm hoạch định các mục tiêu kinh tế vĩ mô dài hạn khác. Nếu không có chính sách này, chúng ta phải thay đổi thường xuyên các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Khi tham gia vào các hợp đồng tương lai với các sàn giao dịch trên thế giới, Chính phủ có thể thoát khỏi hợp đồng bằng các giao dịch ngược lại. Chẳng hạn, để đề phòng giá dầu tăng cao trên thị trường thế giới, khi hoạch định các mục tiêu kinh tế vĩ mô dài hạn Chính phủ sẽ mua các hợp đồng tương lai dầu trên các sàn giao dịch quốc tế với một mức giá tương lai đã được chốt trước. Nếu sau này giá cả có những diễn biến thuận lợi, Chính phủ có thể thoát khỏi hợp đồng bằng cách bán lại một hợp đồng tương lai với các mức giá tương ứng. Tính linh hoạt này của hợp đồng tương lai có nhiều ưu thế hơn so với hợp đồng kỳ hạn. Theo đó, khi tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn Chính phủ không thể thoát khỏi vị thế mua kỳ hạn mà bắt buộc phải thực hiện chúng cho đến tận thời gian đáo hạn. 3.3.2 Các giải pháp vi mô 3.3.2.1 Nâng cao hiểu biết về việc sử dụng các công cụ phái sinh, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng Như đã phân tích ở trên, năng lực quản lý rủi ro biến động giá năng lượng của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều bất cập, nhất là về nhận thức, năng lực và tổ chức của đội ngũ tham gia hoạt động này. Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của nguồn nhân lực trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng, các doanh nghiệp cần có chiến lược cụ thể để giải quyết tốt các vấn đề sau: - 85 - Thứ nhất, cần có nhận thức đúng, đầy đủ và hiện đại về rủi ro và quản lý rủi ro biến động giá trong hoạt động kinh doanh của mình.  Đội ngũ quản lý của các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng cần phải tích cực tiếp cận hoạt động quản lý rủi ro biến động giá xét trên từng mặt cụ thể như tầm quan trọng, chiến lược, quy trình, phương pháp cũng như tác dụng và những hệ luỵ của quản lý rủi ro.  Các trường đại học, các tổ chức đào tạo, các tổ chức tài chính, các nhà nghiên cứu cũng như các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu, hợp tác trong và ngoài nước nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến rủi ro biến động giá. Việc hợp tác có thể thể hiện dưới nhiều mục tiêu, hình thức khác nhau như: thu hút và sử dụng nhân lực, hợp tác nghiên cứu và phát triển, hợp tác đào tạo nhân lực, hợp tác chia sẻ kinh nghiệm,…  Các ngành, các cấp, các tổ chức tài chính, các hiệp hội liên quan đến hoạt động kinh doanh năng lượng cần tuyên truyền, tổ chức hội thảo về lợi ích của việc sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng  Các hiệp hội liên quan đến hoạt động kinh doanh năng lượng cần nghiên cứu và tiếp cận các kinh nghiệm và bài học, các yếu tố, các giải pháp quản lý rủi ro biến động giá năng lượng của các nước trên thế giới để phổ biến lại cho các doanh nghiệp Việt Nam. Thứ hai, cần thu hút và tổ chức sử dụng hợp lý đội ngũ quản lý rủi ro biến động giá năng lượng tại các doanh nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nước, nhân sự của bộ phận quản lý rủi ro này cần bao gồm giám đốc marketing, giám đốc kinh doanh, giám đốc tài chính và những chuyên gia quản lý rủi ro. Cơ cấu nhân sự này cho phép doanh nghiệp kinh doanh năng lượng quản lý được rủi ro biến động giá trong mối quan hệ tổng thể thống nhất với các hoạt động về marketing, tài chính, đầu tư, kinh doanh và mục tiêu phát triển bền vững. Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng cũng cần có cơ chế, chính sách, quy định cụ thể về quyền hạn và trách nhiệm đối với đội ngũ quản lý rủi ro biến động giá. - 86 - 3.3.2.2 Phát triển đa dạng và hoàn thiện các công cụ phái sinh Thị trường các dịch vụ tài chính của Việt Nam trong thời gian qua hầu như hoàn toàn thiếu vắng một dạng dịch vụ cao cấp là các công cụ phái sinh, đặc biệt là công cụ phái sinh đối với mặt hàng năng lượng. Việc phát triển các công cụ phái sinh nói chung và đối với mặt hàng năng lượng nói riêng nhằm mục đích chính là giúp cho các nhà đầu tư có thêm các công cụ phòng ngừa rủi ro để họ có thể yên tâm hoàn toàn dành toàn bộ sức lực của mình cống hiến cho các hoạt động kinh doanh mà không phải lo ngại những nguy cơ rủi ro tài chính như các biến động tăng giá tiềm ẩn bất ngờ có thể ập xuống bất kỳ lúc nào như trong thời gian qua. Hiện nay trên thị trường Việt Nam mới có một số các công cụ phòng ngừa rủi ro giá cả như các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi, quyền chọn tiền tệ. Tuy nhiên, các công cụ phòng ngừa rủi ro trên chỉ tồn tại cho có, và cũng rất ít các doanh nghiệp sử dụng các công cụ trên. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng mới chỉ sử dụng các hợp đồng kỳ hạn làm công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá. Do vậy, để tận dụng được lợi ích này của các công cụ phái sinh, phát triển đa dạng và hoàn thiện các công cụ phái sinh là giải pháp tiên quyết cần thực hiện ngay. 3.3.2.3 Xây dựng quy trình quản lý rủi ro biến động giá tại mỗi doanh nghiệp kinh doanh năng lượng, gắn liền quản lý rủi ro biến động giá với hoạt động kinh doanh Để quản lý rủi ro biến động giá năng lượng một cách chuyên nghiệp, các doanh nghiệp cần phải tự xây dựng cho mình một quy trình quản trị rủi ro nhằm điều chỉnh rủi ro của biến động giá cả thị trường theo đặc điểm kinh doanh riêng của ngành năng lượng. Nội dung cơ bản của một quy trình quản lý rủi ro phải kết hợp linh hoạt được các quyết định kinh doanh với dự báo giá cả và sử dụng các công cụ phái sinh hiện đại, được thực hiện bởi một bộ phận chuyên trách quản trị rủi ro ở doanh nghiệp. Dưới đây (hình 3.2) là đề xuất của tôi về một quy trình quản lý rủi ro biến động giá năng lượng của doanh nghiệp tại Việt Nam: - 87 - Hình 3.2 : Đề xuất về quy trình quản lý rủi ro biến động giá năng lƣợng của các doanh nghiệp Việt Nam 3.3.2.4 Xây dựng chiến lược và chính sách quản lý rủi ro biến động giá tương thích tại doanh nghiệp kinh doanh năng lượng Một giải pháp nữa để phát triển việc sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng là doanh nghiệp cần lựa chọn, xây dựng được chiến lược và chính sách quản lý rủi ro biến động giá tương thích với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Chiến lược này được xây trên cơ sở một tập hợp các mục tiêu hành động đối với các vấn đề liên quan đến rủi ro biến động giá năng lượng. Các mục tiêu này là:  Tối thiểu hoá rủi ro chuyển đổi  Tối thiểu hoá rủi ro giao dịch  Tối thiểu hoá rủi ro kinh tế Nhận thức đúng về rủi ro biến động giá Đánh giá về rủi ro biến động giá năng lượng Xác định chiến lược, kế hoạch quản lý rủi ro biến động giá năng lượng Đánh giá, giám sát và hoàn thiện hoạt động quản lý rủi ro biến động giá năng lượng Tổ chức thực hiện Lựa chọn phương pháp và công cụ quản lý rủi ro biến động giá năng lượng - 88 -  Tối thiểu hoá chi phí quản lý rủi ro biến động giá năng lượng  Tránh những đột biến Tuỳ theo tình hình kinh doanh thực tế của mỗi doanh nghiệp kinh doanh năng lượng mà doanh nghiệp xây dựng chiến lược quản lý rủi ro biến động giá đáp ứng các mục tiêu trên theo thứ tự ưu tiên hợp lý. Để lựa chọn, xây dựng được một chiến lược quản lý rủi ro biến động giá năng lượng hiệu quả và toàn diện, doanh nghiệp cần:  Xây dựng các mục tiêu, định hướng và hướng dẫn về việc giải quyết mâu thuẫn có thể xảy ra giữa những mục tiêu này  Các mục tiêu quản lý rủi ro biến động giá năng lượng phải tương thích với việc tối đa hoá giá trị cổ đông và có tính khả thi  Xác định rõ người chịu trách nhiệm quản lý rủi ro biến động giá để đánh giá hiệu quả thực hiện của họ  Xác định rõ các ràng buộc và hạn chế đối với từng công cụ quản lý rủi ro biến động giá  Xác định những kênh thông tin cần thiết nhằm kết hợp chặt chẽ giữa quản lý rủi ro biến động giá với những chiến lược, phương án kinh doanh của doanh nghiệp 3.3.2.5 Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin kinh doanh hiện đại có chức năng quản lý rủi ro biến động giá Đây là giải pháp đặc biệt hiệu quả đối với các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng để phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Hệ thống này cần đáp ứng những yêu cầu sau:  Nhanh chóng, kịp thời, có độ chính xác cao, hiệu quả  Đồng bộ và có tính tương hỗ giữa các yếu tố, các nhánh thông tin về marketing, kinh doanh và quản lý rủi ro  Có khả năng cao trong thu thập và xử lý thông tin kinh doanh, tài chính, rủi ro, nhất là năng lực phân tích và dự đoán rủi ro biến động giá năng lượng  Có khả năng cao thích ứng với những thay đổi trên thị trường quốc tế - 89 -  Đáp ứng được mục tiêu và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp 3.3.2.6 Gắn việc sử dụng hiệu quả các công cụ phái sinh với lợi ích doanh nghiệp Để các công cụ phái sinh thực sự trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng, các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng cần gắn việc sử dụng hiệu quả các công cụ phái sinh với lợi ích doanh nghiệp. Trên thực tế tại Việt Nam thời gian qua, nhiều doanh nghiệp kinh doanh năng lượng không muốn mất khoản chi phí phải bỏ ra khi tiến hành các giao dịch phái sinh, nhất là khi thị trường đang có diễn biến có lợi cho doanh nghiệp (trước mắt họ không có lợi khi thực hiện giao dịch như vậy). Tuy nhiên, quan điểm này là không phù hợp, bởi chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến hành giao dịch phái sinh nhỏ hơn rất nhiều so với lợi ích mà doanh nghiệp kinh doanh năng lượng có thể thu được. Khoản phí này phải được hiểu là cái giá phải trả đương nhiên trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với những bất ổn của loại hàng hoá rất nhạy cảm là mặt hàng năng lượng. 3.3.2.7 Kết hợp giữa lợi ích ngân hàng, tổ chức tài chính cung cấp các sản phẩm phái sinh với lợi ích doanh nghiệp kinh doanh năng lượng Hiện nay trên thế giới, các ngân hàng đã trở thành thành viên thường xuyên của thị trường năng lượng. Ước tính các ngân hàng chỉ chiếm khoảng 5-10% hoạt động giao dịch trên lĩnh vực năng lượng, nhưng vai trò trung gian giữa người sản xuất và người sử dụng năng lượng lại rất quan trọng trên thị trường năng lượng. Vai trò của ngân hàng trên thị trường năng lượng thể hiện ở các kỹ năng quản trị rủi ro, kỹ năng đặt giá giúp tăng tính thanh khoản của thị trường và khả năng chuyển đổi rủi ro với tư cách là trung gian tài chính. Các sản phẩm phái sinh đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp năng lượng trong hoạt động quản lý rủi ro biến động giá như đã phân tích ở trên, vai trò của ngân hàng đối với hoạt động phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng cũng rất rõ ràng nên các doanh nghiệp năng lượng rất cần sự tham gia của các ngân hàng vào thị trường năng lượng. Song bản thân các ngân hàng, tổ chức tài chính cung cấp các sản phẩm phái sinh cũng thu được lợi ích. Sở dĩ như vậy là vì thị trường các công cụ phái sinh là một địa - 90 - chỉ tốt cho hoạt động đầu cơ, nên ở một mức độ nào đó, khi tham gia vào các giao dịch phái sinh với các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng, các ngân hàng, tổ chức tài chính cũng thu được lợi nhuận đáng kể. Do vậy, các ngân hàng, tổ chức tài chính cung cấp các sản phẩm phái sinh cần xác định rõ mục tiêu kinh doanh là phát triển việc cung cấp các công cụ phái sinh vừa đem lại thu nhập cho mình vừa góp phần giúp doanh nghiệp kinh doanh năng lượng giảm thiểu, phòng ngừa rủi ro biến động giá. 3.4 CÁC KIẾN NGHỊ VỀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN Để thực hiện được các giải pháp nêu trên nhằm ứng dụng và phát triển công cụ phái sinh tại Việt Nam, tôi xin đề xuất một số điều kiện thực hiện như sau:  Về phía Chính phủ: Chính phủ cần có cơ chế điều hành kinh doanh năng lượng linh hoạt hơn, tạo ra một thị trường năng lượng phản ánh đúng quan hệ cung cầu năng lượng.  Về phía các tổ chức tín dụng: Cần tiếp cận khách hàng, tổ chức hội thảo để giới thiệu và tư vấn nhằm mục đích vừa nâng cao nhận thức của khách hàng về rủi ro biến động giá năng lượng vừa giúp cho khách hàng hiểu biết về các công cụ phái sinh. Phát triển các công cụ phái sinh và thị trường phái sinh là giúp cho các doanh nghiệp có thêm cơ hội lựa chọn loại hình giao dịch phái sinh phù hợp với mục tiêu kinh doanh. Khi sử dụng các công cụ phái sinh doanh nghiệp có được sự lựa chọn giá năng lượng mong muốn. Mặt khác, cần tập trung ưu tiên đào tạo và bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp kinh doanh trên thị trường phái sinh năng lượng quốc tế về các công cụ phái sinh vì đây là những sản phẩm mới, phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực tiễn áp dụng. Ngoài ra cần trang bị thêm những kiến thức và kinh nghiệm về thị trường năng lượng và thị trường phái sinh, kỹ năng phân tích kỹ thuật, phân tích cơ bản trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp và phân tích thông tin để dự đoán xu hướng diễn biến của thị trường nhằm sử dụng các công cụ phái sinh một cách hiệu quả nhất. Thông qua đó để có thể tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ cho khách hàng của mình hiểu biết hơn về thị trường phái sinh năng lượng.  Ba là, về phương tiện, thiết bị: Ngoài những phương tiện, thiết bị hiện có của Reuters, Thomson, SowJones News hay Metastock, các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp cần trang bị thêm phần mềm xử lý, quản lý rủi ro và tính phí đối với các nghiệp vụ phái sinh. Mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân hàng nước ngoài trên thị trường - 91 - ngoại hối quốc tế, để tranh thủ sự hỗ trợ về kiến thức, về hệ thống phân tích quản lý rủi ro đối với các công cụ phái sinh nói chung và công cụ phái sinh năng lượng nói riêng. KẾT LUẬN - 92 - Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới, hoạt động của nền kinh tế Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới. Các nhân tố gây tác động lên hoạt động của nền kinh tế thế giới đều có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của nền kinh tế Việt Nam. Sự biến động giá năng lượng là một điển hình như vậy. Năng lượng là nguồn nguyên liệu không thể thiếu phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của toàn thế giới. Trong những năm gần đây, giá năng lượng biến động mạnh gây ra nhiều khó khăn cho nhiều hoạt động kinh tế, khiến việc sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro biến động giá là một hoạt động có ý nghĩa to lớn, không chỉ có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng mà còn có giá trị đối với cả nền kinh tế. Nhận biết được tầm quan trọng của các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng, các nước trên thế giới đều có chính sách khuyến khích việc sử dụng các công cụ này, đặc biệt là tại các trung tâm kinh doanh các công cụ phái sinh năng lượng lớn trên thế giới như Mỹ, Anh, Singapore,… Kinh nghiệm phát triển các công cụ phái sinh năng lượng của các nước phát triển trên thế giới chính là bài học quan trọng, có ý nghĩa lớn lao đối với các nước đi sau như Việt Nam. Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn, bám sát mục tiêu, phạm vi nghiên cứu, Luận văn đã hoàn thành các nội dung cơ bản sau: 1. Nêu lên các vấn đề chung, khái niệm, đặc điểm của các công cụ phái sinh, rủi ro, rủi ro biến động giá, biến động giá năng lượng và các công cụ phái sinh năng lượng 2. Nghiên cứu thị trường năng lượng, thực trạng sử dụng các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng và kinh nghiệm phát triển các công cụ này tại Mỹ, Anh, Singapore và Ấn Độ 3. Khái quát và đánh giá thực trạng sử dụng các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng tại Việt Nam 4. Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các công cụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá năng lượng của Việt Nam - 93 - Với sự hiểu biết còn hạn chế, tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để luận văn có điều kiện bổ sung và hoàn thiện hơn. Tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến PGS. TS. Nguyễn Thị Quy, người đã nhiệt tình hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành luận văn này. Cảm ơn các thầy các cô giáo Khoa Sau đại học Trường Đại học Ngoại thương đã giúp đỡ động viên tôi hoàn thành luận văn này. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Nguyễn Duệ (2001), Quản trị ngân hàng, NXB Thống Kê. 2. Nguyễn Tấn Dũng (2007), Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg ngày 02/08/2007 về việc phê duyệt Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội. 3. Nguyễn Tấn Dũng (2007), Nghị định số 55/2007/NĐ-CP ngày 06/4/2007 về kinh doanh xăng dầu , Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội. 4. Nguyễn Đức Dỵ (2000), Từ điển kinh tế-kinh doanh Anh-Việt, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, trang 911. 5. Châu Giang (2007), Doanh nghiệp năng lượng trước cánh cửa WTO: Làm thế nào giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh?, Thời báo Kinh tế Việt Nam (số 137). 6. Vũ Giang (2007), Thị trường phái sinh: Hạn chế nhưng tiềm năng, Đầu tư chứng khoán online (trang tin điện tử số ngày 16/11/2007). 7. Nguyễn Trọng Hải (2006), Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý rủi ro giá cả tài chính trong kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Đại học Ngoại thương. 8. Nguyễn Hoài (2007), Công cụ phái sinh: Cơ hội và rủi ro, Thời báo kinh tế Việt Nam (trang tin điện tử số ngày 08/11/2007). 9. Lê Hường (2008), Công cụ phái sinh: Chọn không dễ dàng, Thời báo kinh tế Việt Nam (trang tin điện tử số ngày 11/03/2008). 10. Vũ Khoan(2003), Quyết định số 187/2003/QĐ-TTg về quy chế kinh doanh xăng dầu, Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội. 11. Nguyễn Đại Lai (2007), Xu hướng phát triển thị trường các công cụ tài chính ở Việt Nam, Báo Người Lao Động (số ngày 20/11/2007). 12. Nguyễn Văn Lịch (2003), Năng lượng nguyên tử của Ấn Độ và khả năng hợp tác với Việt Nam, Năng lượng Việt Nam (Số 938) trang 18. 13. Phòng Chính sách tiền tệ - Vụ Chính sách tiền tệ (2006), Nghiệp vụ tài chính phái sinh và thực trạng sử dụng tại Việt Nam, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Hà Nội. 14. Trần Thị Thuận Thành (2007), Công cụ tài chính phái sinh ở Việt Nam - mới hay cũ, Saga (trang tin điện tử bài viết ngày 12/10/2007). 15. Đinh Xuân Trình (1999), Giáo trình Thanh toán quốc tế trong Ngoại Thương, NXB Giáo dục, Hà Nội. Tiếng Anh 16. Australian Bureau of Statistics (2006), Australian Economic Indicators Glossary 2006 , Canberra 17. Braam van den Berg(2003) Understanding Financial Markets & Instruments, Eagle Rock Financial Services , South Africa 18. Charles W. Smithson (1998), Managing Financial Risk, McGraw-Hill, Columbus OH. 19. David Long (2002), Oil Trading Manual, Woodhead Publishing Limited, Cambridge. 20. David W.Pearce (1992), The MIT Dictionary of Modern Economics: 4th Edition, Massachusetts Institute of Technology Press, Cambridge, MA,p.414. 21. Dragana Pilipovic (1998), Energy Risk: Valuing and Managing Energy Derivatives, McGraw-Hill, Columbus OH. 22. Edward N. Krapels (2004), The Past, Present and Future of Energy Trading, Energy Security Analysis Inc, Boston. 23. Energy Information Administration (2002), Derivatives and Risk Management in Energy Industries, Washington DC. 24. Energy Information Administration (2008), Annual Energy Outlook 2008, Washington DC. 25. Energy Information Administration (2008), Short-Term Energy Outlook 8/2008, Washington DC. 26. Financial Markets Unit of the Supervision and Regulation Department (1995), Energy Derivatives, Federal Reserve Bank of Chicago, Chicago. 27. Flexible Energy, Inc (2001), Energy Review, California. 28. GuideStone Funds (1997), GuideStone Investments Glossary, King of Prussia, PA 29. International Financial Services London (2007), IFSL Research: Derivatives 2007, London. 30. Mark Jickling (2006), CRS Report for Congress Regulation of Energy Derivatives, Government and Finance Division, Washington DC. 31. Michel Crouhy, Dan Galai and Robert Mark (2000), Risk Management, McGraw-Hill, Columbus OH. 32. Narender L. Ahuja (2006), Commodity Derivatives Market in India: Development,. Regulation and Future Prospects, EuroJournals Publishing, Inc., New Delhi. 33. NASEO 2008/09 Winter Fuels Outlook Conference (2008), EIA Short-Term and Winter Fuels Outlook, Washington DC. 34. New York Mercantile Exchanges (2007), Press Release, New York. 35. Orice M. Williams (2007), Energy derivatives: Preliminary Views on Energy Derivatives Trading and CFTC Oversight, United States Government Accountability Office, Washington DC. 36. Princeton University (2006), WordNet 3.0, Princeton, NJ 37. Robert Bacon, Masami Kojima (2008), Coping with Oil Price Volatility, The International Bank for Reconstruction and Development, Washington DC. 38. Singapore Exchange Limited (2007), Annual Report 2007, Singapore. 39. TIAA-CREF Brokerage Services (2007), Investment Glossary, New York, NY. 40. UNCTAD Commodities Branch (2006), Survey of the World's Commodity Exchanges 2005, Geneva. 41. Wiktionary, Dictionary, 42. WordPress organization, Fund Investor, -----------------

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf3259_9703.pdf
Luận văn liên quan