Luận văn Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - Thư viện tại trường đại học ngoại thương Hà Nội

Có thể nói, trong bất kỳ cơ quan TT - TV nào, vai trò của các sản phẩm và dịch vụ TT - TV được cơ quan đó cung cấp đều có ý nghĩa quan trọng, phần nào quyết định đến sự phát triển của thư viện đó. Điều này càng đặc biệt đúng trong xã hội thông tin hiện đại, khi mà sự phát triển của xã hội, của thông tin là vô cùng nhanh chóng. Thêm vào đó là sự thay đổi về thói quen sử dụng thư viện, về cách thức tiếp cận thông tin của NDT. NDT có xu hướng ngày càng đòi hỏi cao hơn trong việc cung cấp hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT - TV ưu việt, mang tính hiện đại. Bởi lẽ đó, việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ như đã và đang được cung cấp cũng như việc nghiên cứu nhu cầu tin, tạo lập những sản phẩm, dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu đó là một công việc cần phải được tiến hành một cách liên tục và thường xuyên.

pdf28 trang | Chia sẻ: ngoctoan84 | Ngày: 18/04/2019 | Lượt xem: 181 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - Thư viện tại trường đại học ngoại thương Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội Thạch Lương Giang Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Thông tin – Thư viện Chuyên ngành: Khoa học thư viện; Mã số: 60 32 20 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thu Thảo Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Khái quát sản phẩm và dịch vụ thông tin trong hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Phân tích thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Keywords. Sản phẩm thông tin; Thông tin thư viện; Khoa học thư viện; Dịch vụ thông tin Content. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong các yếu tố cấu thành hoạt động thông tin - thư viện, sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện (SP&DV TTTV) đóng vai trò quyết định. SP&DV TTTV là kết quả của quy trình xử lý, bao gói thông tin, là cầu nối giữa giá trị nguồn lực thông tin và người dùng tin (NDT). Thông qua sản phẩm và dịch vụ thông tin, các cơ quan có thể khẳng định được vai trò cũng như vị trí của mình trong xã hội. Bên cạnh đó nhu cầu giao lưu, hội nhập và hợp tác giữa các thư viện trong và ngoài nước đòi hỏi các Trung tâm thông tin - thư viện (TT TT-TV) cần cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thông tin với chất lượng ngày một cao hơn, chính xác và kịp thời tới NDT. Trong những năm qua, TV Trường ĐHNTHN đã có sự đóng góp to lớn vào việc thực hiện các mục tiêu đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển của CNTT và xu thế hội nhập, SP&DV TTTV tại TV Trường ĐHNTHN hiện chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng NDT, nhiều nguồn tin chưa được tổ chức và khai thác. Vì những lý do đó, tôi lựa chọn vấn đề “Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học thư viện, với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học để nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các SP&DV TTTV, nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu tin của NDT tại TV Trường ĐHNTHN. 2. Tình hình nghiên cứu Vấn đề sản phẩm và dịch vụ trong cơ quan thông tin - thư viện đã được nghiên cứu trên bình diện lý thuyết ở cuốn Giáo trình “Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn xuất bản năm 1998. Nhiều khía cạnh trong hoạt động thông tin - thư viện tại Trường ĐHNTHN đã được nghiên cứu ở một số khóa luận tốt nghiệp, như: “Nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động thông tin tại Thư viện Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục của đất nước” của tác giả Hà Thị Ngọc (2009), “Nâng cao hiệu quả phục vụ người dùng tin tại Thư viện Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội đáp ứng sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học của đất nước” của tác giả Nguyễn Huyền Trang (2010)... Tuy nhiên, những đề tài trên mới chỉ giải quyết được một số khía cạnh trong hoạt động thông tin - thư viện tại Trường ĐHNTHN. Hiện chưa có đề tài nào đề cập nghiên cứu trực tiếp đến các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường ĐHNTHN. Để giải quyết vấn đề này tác giả luận văn sẽ kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và những kinh nghiệm của bản thân để làm rõ thực trạng SP&DV TTTV tại Trường ĐHNTHN, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phát triển các SP&DV TTTV trong giai đoạn mới. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu Luận văn đề xuất những giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của Thư viện Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu đặc điểm yêu cầu đối với SP&DV TTTV phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Trường ĐHNTHN - Nghiên cứu thực trạng SP&DV TTTV tại Thư viện Trường ĐHNTHN - Nghiên cứu các giải pháp phát triển, nâng cao chất lượng SP&DV TTTV hiện nay tại Trường ĐHNTHN. 4. Giả thuyết nghiên cứu Giả thuyết: SP&DV TTTV của TV Trường ĐHNTHN chưa phong phú, chưa phát huy được hết nguồn lực thông tin của thư viện, chưa đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ nhu cầu thông tin của NDT. Nếu phát triển phong phú các loại hình SP&DV TTTV thì sẽ nâng cao được hiệu quả phục vụ thông tin, góp phần đẩy mạnh chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường. 5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 5.1 Đối tượng nghiên cứu Các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của TV Trường ĐHNTHN. 5.2 Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Nghiên cứu thực trạng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại TV Trường ĐHNTHN. Về thời gian: Năm học 2010 - 2011. 6. Phƣơng pháp nghiên cứu 6.1 Phương pháp luận Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta về công tác sách báo và hoạt động thông tin - thư viện. 6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể - Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu - Phương pháp quan sát - Phương pháp thống kê - Phương pháp phỏng vấn chuyên gia - Phương pháp điều tra bằng phiếu 7. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 7.1 Về mặt khoa học Cho đến nay chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề phát triển SP&DV TTTV tại TV Trường ĐHNTHN. Do vậy, nghiên cứu này góp phần vào việc đánh giá vai trò của SP&DV TTTV trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Thư viện. Đưa ra cách thức xây dựng các loại hình SP&DV TTTV trên cơ sở phù hợp với quy mô và chức năng nhiệm vụ của TV Trường ĐHNTHN. 7.2 Về mặt ứng dụng Đề xuất các giải pháp phát triển SP&DV TTTV tại trường ĐHNTHN, từ đó cải thiện hình ảnh của thư viện, nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phục vụ trực tiếp cho việc cung ứng nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 8. Dự kiến kết quả nghiên cứu Về mặt học thuật : Hệ thống hóa lý thuyết về sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực thông tin - thư viện. Đánh giá được vai trò của SP&DV TTTV và sự cần thiết phải nghiên cứu phát triển SP&DV TTTV tại mỗi thư viện. Về mặt thực tiễn: Đưa ra các giải pháp phát triển SP&DV TTTV cụ thể cho TV Trường ĐHNTHN. Kết quả của nghiên cứu cũng là gợi ý để các thư viện đại học triển khai hoạt động phát triển SP&DV TTTV của mình. 9. Bố cục của đề tài Dự kiến luận văn sẽ gồm 3 chương: Chương 1: Sản phẩm và dịch vụ thông tin trong hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội Chương 2: Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội Chương 3: Các giải pháp nhằm phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội NỘI DUNG CHƢƠNG 1: SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG HÀ NỘI 1.1 Những vấn đề chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 1.1.1 Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 1.1.1.1 Sản phẩm thông tin - thư viện Sản phẩm thông tin - thư viện là kết quả của quá trình xử lý thông tin do cá nhân/tập thể thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT. Quá trình lao động để tạo ra sản phẩm là quá trình xử lý thông tin bao gồm: phân loại, biên mục, định từ khóa, tóm tắtcũng như quá trình phân tích, tổng hợp thông tin. * Một số đặc trưng của sản phẩm thông tin - thư viện: + Chu kỳ sống Mỗi loại sản phẩm thông tin - thư viện có một chu kỳ sống. Chúng tăng trưởng, suy giảm và cuối cùng được thay thế. Từ lúc sinh ra đến mất đi, chu kỳ sống của sản phẩm có thể được chia làm 5 giai đoạn: Giới thiệu, tăng trưởng, trưởng thành, suy giảm, và bỏ đi. + Những sản phẩm mới là cần thiết cho sự tăng trưởng Trong xu thế đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống ngày nay, sự đổi mới đã trở thành như là một triết lý. Thực tế đã chỉ ra rằng những cơ quan thông tin - thư viện đang phát triển hiện nay là những cơ quan đã định trước cho mình những sản phẩm mới. + Những nhân tố thúc đẩy việc phát triển sản phẩm mới Một số nhân tố bên ngoài sẽ thúc đẩy phát triển và giới thiệu những sản phẩm thông tin mới. Bao gồm: Những sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự thay đổi nhu cầu và thói quen, những chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn, và việc gia tăng sự cạnh tranh quốc tế. + Sự lựa chọn sử dụng thông tin gia tăng Trong những năm gần đây, NDT có quyền lựa chọn sản phẩm thông tin từ các nguồn thông tin khác nhau một cách rộng rãi hơn. Đặc biệt, trong điều kiện phát triển mạnh mẽ các phương tiện truyền thông và internet. NDT có thể tìm kiếm thông tin mọi lúc, mọi nơi không bị hạn chế bởi không gian và thời gian. + Môi trường tồn tại và nguồn tài nguyên Thực tế ngày nay khối lượng gia tăng nhanh chóng dẫn tới việc khó khăn cho việc xử lý thông tin và sử dụng tài liệu. Một cơ quan thông tin - thư viện dù có tiềm lực lớn đến đâu cũng khó có thể thu thập được đầy đủ các ấn phẩm xuất bản. Điều này bắt buộc các cơ quan phải có chính sách phát triển các SP TTTV phù hợp và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ để tổ chức phát triển các sản phẩm đồng thời cần phải thực hiện chia sẻ nguồn lực với các cơ quan thông tin - thư viện khác. Do đó, các cơ quan thông tin - thư viện phải không ngừng đổi mới và tự hoàn thiện mình trên tất cả phương diện: tăng cường nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các sản phẩm thông tin - thư viện, đa dạng hóa phương thức phục vụ. 1.1.1.2 Dịch vụ thông tin - thư viện Dịch vụ thông tin - thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan thông tin - thư viện nói chung. * Một số đặc tính của dịch vụ thông tin - thư viện: + Tính đồng thời Việc tạo ra các dịch vụ thông tin thư viện và cung cấp các dịch vụ ấy cho người dùng tin được diễn ra đồng thời. + Tính vô hình (intangibility) Khác với sản phẩm, dịch vụ thông tin không có hình hài rõ rệt, không thể hình dung trước khi nó bắt đầu, không thể lưu trữ như hàng hóa hay nhận diện được bằng giác quan. Chính vì vậy mà khi muốn marketing cho các dịch vụ thông tin, cần tạo cho NDT biết tiềm năng của nó bằng cách giới thiệu cho họ biết đến các dịch vụ đó. + Tính chất không đồng nhất (heterogeneity) Dịch vụ thông tin gắn với cá nhân/tập thể cung cấp dịch vụ. Chất lượng của dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào cá nhân/tập thể thực hiện dịch vụ , bên cạnh đó chất lượng của các dịch vụ thông tin - thư viện nhiều khi không đồng nhất, yêu cầu của người dùng tin cũng khác nhau, phong phú, đa dạng, thay đổi theo thời gian. + Tính không thể tách rời/chia cắt (inseparability) Thông thường để thực hiện một dịch vụ, người cung cấp dịch vụ thường phải tiến hành một số bước hoặc một số thao tác đi liền với nhau, không thể tách rời nhau để thu được kết quả mà người mua dịch vụ mong muốn. Ví dụ: trong dịch vụ tìm kiếm thông tin, để có thể cung cấp thông tin cần phải thực hiện một số thao tác như: Phân tích nhu cầu, xác định nguồn, thực hiện quá trình tìm, gửi kết quả tìm. 1.1.1.3 Mối quan hệ của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện Sản phẩm và dịch vụ TT - TV được tạo ra nhằm khai thác, tìm kiếm thông tin cũng như được tiến hành hoạt động để thỏa mãn nhu cầu của NDT. Sản phẩm thông tin - thư viện và dịch vụ thông tin - thư viện có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Sản phẩm thông tin - thư viện là một trong những tiền đề để cơ quan thông tin - thư viện triển khai và phát triển các dịch vụ thông tin - thư viện khác nhau. Chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm thông tin - thư viện có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và sự đa dạng của dịch vụ thông tin - thư viện. Để đáp ứng yêu cầu của NDT, thông thường các cán bộ TT - TV phải tiến hành đồng thời việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ TT - TV tương ứng. Với mỗi sản phẩm đều có một hoặc một số dịch vụ tương ứng, mục đích là nhằm giúp cho sản phẩm được sử dụng, khai thác. Ngược lại, ứng với mỗi dịch vụ đều có một hoặc một số sản phẩm phù hợp để dịch vụ đó được triển khai tốt nhất, hiệu quả nhất. Tổ chức tốt các dịch vụ thông tin - thư viện sẽ đưa các sản phẩm thông tin - thư viện đến với người dùng một cách nhanh chóng và thuận tiện. Từ đó, mức độ khai thác sản phẩm thông tin của NDT sẽ nhiều hơn, góp phần phát huy hiệu quả và nâng cao giá trị của sản phẩm thông tin - thư viện. Đồng thời dịch vụ thông tin - thư viện còn là kênh thông tin phản hồi từ phía NDT, giúp cho cơ quan thông tin - thư viện có cơ sở đánh giá, điều chỉnh và hoàn thiện hệ thống sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện của mình để đáp ứng tốt hơn nhu cầu tin (NCT) ngày càng đa dạng và phức tạp của NDT. Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là một phức thể bao hàm nhiều yếu tố cấu thành, đóng vai trò công cụ để thực hiện các mục tiêu của các cơ quan thông tin - thư viện. Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện thích hợp giúp cho con người ở mọi nơi, vào mọi lúc đều có điều kiện để truy nhập và khai thác nguồn di sản trí tuệ của con người giúp mọi cá nhân và tổ chức có thể tìm đến với nhau và trao đổi mọi thông tin một cách thuận tiện và nhanh chóng. Sản phẩm và dịch vụ đều do quá trình lao động tạo ra. Dịch vụ và sản phẩm thông tin đều là kết quả của quá trình xử lý thông tin, đều nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin và giúp con người trao đổi thông tin với nhau. Trong mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ có sự kết hợp chặt chẽ giữa cái mới và cái cũ, giữa truyền thống và hiện đại, giữa con người và công nghệ. Mối liên hệ giữa các loại sản phẩm và dịch vụ TT - TV là hết sức chặt chẽ, ảnh hưởng, tác động, hỗ trợ nhau và nhiều khi không thể tách rời để hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn và đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin của NDT. Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ TT - TV có tính liên kết chặt chẽ và tương tác cao như vậy nên vấn đề hoàn thiện, phát triển sản phẩm TT - TV phải luôn đi liền với việc tổ chức, đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ dịch vụ TT - TV phù hợp. Đây là vấn đề cần được quan tâm, nhận định và triển khai toàn diện, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của cơ quan TT - TV. 1.1.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 1.1.2.1 Yếu tố chủ quan Năng lực chuyên môn của người thực hiện dịch vụ có ý nghĩa quyết định tới chất lượng của nó. Có thể hiểu một cách đơn giản đó là các kỹ năng mà người thực hiện cung cấp thông tin phải có, như: + Có năng lực chuyên môn + Có thể giao tiếp với NDT (hiểu đầy đủ và chính xác NCT của NDT) + Thông thạo ngoại ngữ (có thể tổng hợp tin từ nhiều nguồn tài liệu, giúp NDT vượt qua rào cản ngôn ngữ để họ tiếp cận với thông tin) + Có khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại để khai thác các nguồn tin 1.1.2.2 Yếu tố khách quan Cuộc cách mạng công nghệ, mà hệ quả của nó là hiện tượng “bùng nổ thông tin” đã khiến cho các nguồn thông tin hiện nay trở nên quá tải, NCT của NDT cũng vì thế mà ngày càng đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chất lượng tốt hơn (nhanh chóng, đầy đủ, chính xác), do đó cần có trang thiết bị hiện đại mới có thể đáp ứng được yêu cầu đối với việc truyền tải thông tin. Nắm bắt nhu cầu và thói quen sử dụng thông tin của NDT, bởi lẽ với mỗi nhóm NDT lại hướng tới nhu cầu tin khác nhau. Triển khai được những SP&DV TTTV phù hợp NCT sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tiếp theo đó, các công cụ hỗ trợ để cung câp thông tin cho NDT cũng cần được quan tâm đến, đó là các phần mềm chuyên dụng cho lĩnh vực thông tin - thư viện. Đặc biệt, một yếu tố khách quan có ảnh hưởng khá quan trọng đến việc tạo ra SP&DV TTTV đó là nguồn lực thông tin. Nguồn lực thông tin mạnh, có giá trị cao sẽ giúp nâng cao chất lượng các dịch vụ và sản phẩm mà TT TT-TV đó tạo ra. 1.2 Hoạt động thông tin - thƣ viện tại Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội 1.2.1 Khái quát về Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội 1.2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội là trường đại học công lập nằm trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Trường được thành lập vào năm 1960, sơ khai là một bộ môn trong khoa Quan hệ Quốc tế do Bộ Ngoại giao trực tiếp quản lý nhưng đặt tại Trường Đại học Kinh tế Tài chính. Từ khi thành lập đến năm 1984 Trường thuộc Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Công Thương). Trong thời gian này, Trường ĐHNTHN là trường đại học duy nhất có nhiệm vụ đào tạo cán bộ có trình độ đại học cho ngành Ngoại thương. Năm 1984, Trường Đại học Ngoại thương chuyển từ Bộ Ngoại thương sang Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo). Thời gian này, phần lớn các Trường Đại học chuyển từ các Bộ ngành chủ quản sang Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp trực tiếp quản lý. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý Nhà nước về đào tạo đại học và Trung học chuyên nghiệp. Cho đến cuối những năm 1980, cơ cấu tổ chức của Trường như Ban Giám hiệu, Đảng ủy, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, các Phòng chức năng, các Khoa và Bộ môn tiếp tục được củng cố. Công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế,đã được đẩy mạnh và phát triển thêm một bước. Trước đây, ĐHNTHN là một trường đơn ngành đến nay đã và đang đào tạo theo hướng đa ngành, chương trình học đa dạng và chất lượng cao nhằm thích ứng với quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới. Từ năm học 1999 - 2000 Trường đã chính thức được phép đào tạo 3 ngành: ngành Kinh tế đối ngoại, Tiếng Anh thương mại, Ngành Quản trị kinh doanh. Nhà trường đã chú trọng tới việc đa dạng hóa các loại hình đào tạo: chính quy, tại chức, văn bằng hai, các lớp liên thông,Mở rộng cơ cấu đào tạo đại học và sau đại học. Trong nhiều năm qua Trường đã cung cấp cho đất nước một đội ngũ khá đông đảo gần 9000 sinh viên hệ chính quy và hơn 3000 sinh viên hệ tại chức với gần 300 Thạc sỹ trong lĩnh vực Kinh tế đối ngoại. 1.2.1.2 Chiến lược phát triển Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội Từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Trường Đại học Ngoại thương phấn đấu trở thành một trong những trường đại học trọng điểm quốc gia, có danh tiếng trong khu vực và trên thế giới; có đội ngũ giảng viên có trình độ chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế; có các trường trực thuộc, các viện nghiên cứu, doanh nghiệp, trường phổ thông chất lượng cao. 1.2.2 Đặc điểm hoạt động thông tin - thƣ viện Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội 1.2.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển của Thư viện Thư viện Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội được thành lập từ năm 1960, tiền thân là một kho sách được phân chia từ Thư viện Trường Cán bộ Ngoại Giao - Ngoại thương với số lượng sách hạn chế khoảng chừng 4000 cuốn, cơ sở vật chất rất khiêm tốn. Do chưa được Nhà trường quan tâm đúng mức về việc đầu tư xây dựng, tu sửa, nâng cấp cho Thư viện nên bộ phận phục vụ còn đơn giản với hai hình thức phục vụ là mượn về nhà và đọc tại chỗ. Trong số đội ngũ cán bộ thư viện chỉ duy nhất có trưởng Thư viện được đào tạo chính quy, số còn lại đều tốt nghiệp đại học ở các chuyên ngành khác. Từ năm 2002 đến nay, được sự quan tâm của Ban giám hiệu và các tổ chức quốc tế, TVĐHNTHN đã được đầu tư khá mạnh mẽ về cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại và nguồn lực thông tin. Đặc biệt là sau khi triển khai dự án “Đầu tư chiều sâu cho Trung tâm Thông tin Thư viện”, Thư viện đã được đổi mới một cách toàn diện sâu sắc theo hướng hiện đại hóa: được đầu tư máy móc, trang thiết bị hiện đại và nguồn lực thông tin tương đối phong phú (bao gồm giáo trình, sách tham khảo và các cơ sở dữ liệu online) phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, sinh viên trong Trường. Hoạt động của Thư viện đã dần được hiện đại hóa theo mô hình thư viện điện tử. 1.2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ 1.2.2.3 Đặc điểm nguồn lực thông tin của Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Ngoại thương Hà Nội * Tài liệu truyền thống  Nguồn tài liệu mua Sách: Hiện tại Thư viện có trên 16.000 tên sách tương đương với 55.000 bản sách, bao gồm: giáo trình tiếng Việt, giáo trình sách ngoại ngữ, sách tham khảo tiếng Việt; sách ngoại ngữ chuyên ngành (Anh, Nhật, Pháp, Nga, Trung); từ điển. Báo và tạp chí: Thư viện có khoảng 1800 bản với hơn 252 loại, trong đó có 31 loại báo và tạp chí ngoại văn.  Nguồn tài liệu nội sinh: Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học, kỷ yếu hội nghị Hiện nay, Thư viện đang lưu giữ 7.200 cuốn Khóa luận tốt nghiệp, Luận văn thạc sỹ. Tài liệu là kỷ yếu hội nghị, hội thảo có khoảng 90 tài liệu; đề tài nghiên cứu khoa học Thư viện lưu giữ từ năm 2001 đến nay có khoảng 207 đề tài. Tài liệu dịch Thư viện có 14 tên sách được dịch ra từ tiếng Anh với 140 bản Giáo trình, sách tham khảo Hiện tại, thư viện lưu trữ trên 17.000 giáo trình, sách tham khảo, chuyên khảo của nhà trường.. Biểu đồ Thành phần vốn tài liệu 90% 3.30% 5.80% 0.80% Sách Báo, tạp chí Luận án, luận văn Loại khác (tài liệu dịch, kỷ yếu, đề tài) * Tài liệu điện tử - Cơ sở dữ liệu thư mục Thư viện đã xây dựng được 5 cơ sở dữ liệu (CSDL) tự tạo lập bao gồm: CSDL sách tiếng Việt; CSDL sách ngoại văn (Anh, Nhật, Nga, Pháp, Trung), CSDL từ điển; CSDL luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học; CSDL báo, tạp chí lưu. - Cơ sở dữ liệu toàn văn (số hóa) Hiện tại, thư viện đã xây dựng được 1 CSDL toàn văn bao gồm các loại hình tài liệu nội sinh với 5200 biểu ghi (đưa ra phục vụ bắt đầu từ tháng 7/2011). - Cơ sở dữ liệu điện tử (CSDL khai thác trên mạng, CD và DVD) * 4 cơ sở dữ liệu điện tử do 2 công ty: Igroup Asia Pacific Limited (Hồng Kông) và ABSCO Publishing (Úc) cung cấp, bao gồm: + Lexis - Nexis Academic Online, + Proquest ABI/Inform Global, + Emeral Management Fulltext, + Business Source Fremier * 2 CSDL online (thời gian thuê bao 2 năm) bao gồm: + Proquest AIB/Inform complete + Emerald Management Fulltext * CSDL online Business & Company Resource Center (BCRC) trong thời gian thuê bao là 3 năm. 1.2.2.4 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ Cơ cấu tổ chức Với đội ngũ cán bộ gồm 16 người Thư viện đã tổ chức các bộ phận chức năng sau: - Ban giám đốc: gồm 1 Giám đốc và 1 Phó giám đốc - 5 phòng ban chính trực thuộc ban giám đốc + Bộ phận nghiệp vụ + Bộ phận phục vụ bạn đọc Phòng mượn Phòng đọc mở (phòng đọc tự chọn) Phòng đọc báo tạp chí Phòng đọc tài liệu nội sinh Phòng đọc đa chức năng Đội ngũ cán bộ Hiện nay Thư viện có tổng số 16 cán bộ (3 nam và 13 nữ), ) trong đó có 12 cán bộ được đào tạo chính quy về chuyên ngành thư viện (chiếm 75%), số cán bộ còn lại tốt nghiệp các chuyên ngành khác nhưng cũng đã được đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn về nghiệp vụ thư viện. 1.2.2.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật Thư viện được bố trí hoạt động tại tầng 1 và tầng 2 nhà G với tổng diện tích mặt bằng sử dụng là 1300m2, năm 2010 thư viện được mở rộng thêm tầng 5 nhà G. Thư viện có thể phục vụ cùng một lúc từ 150 - 200 bạn đọc. Phần mềm quản lý thư viện Từ năm 2003, thực hiện dự án “Đầu tư chiều sâu cho Trung tâm Thông tin Thư viện”, Thư viện được trang bị phần mềm quản lý thư viện do Công ty máy tính truyền thông CMC thiết lập: ILIB Version 3.6. Hiện nay phần mềm được nâng cấp thành ILIB Version 4.0. Mạng thông tin Từ năm 2002, Thư viện đã lắp đặt mạng cục bộ LAN kết nối giữa Thư viện và các phòng ban trong Trường. 1.2.3 Đặc điểm ngƣời dùng tin và nhu cầu tin 1.2.3.1 Đặc điểm người dùng tin Biểu đồ 1.2: Thành phần ngƣời dùng tin tại TVĐHNTHN Biểu đồ thành phần NDT tại TVĐHNTHN 2% 8% 90% Cán bộ quản lý và lãnh đạo Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy Sinh viên, học viên Biểu đồ 1.3: Mục đích sử dụng thƣ viện tại TVĐHNTHN Đơn vị tính: % 88.8 33.6 5.2 29.3 12.9 0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0 90.0 Học tập Giảng dạy Giải trí Biểu đồ Mục đích sử dụng thư viện Học tập Nghiên cứu khoa học Giảng dạy Tự nâng cao trình độ Giải trí Theo kết quả điều tra, tỉ lệ trong những NDT được hỏi có 94% là sinh viên; 6% là cán bộ và giảng viên. Mục đích sử dụng thư viện của NDT có 89% cho mục đích học tập, 33.6% cho mục đích nghiên cứu khoa học, 29% cho mục đích tự nâng cao trình độ, 13% cho mục đích giải trí và 5.2% cho mục đích giảng dạy. Biểu đồ 1.4: Thói quen sử dụng tài liệu tại TVĐHNTHN Đơn vị tính: % 62.1 44.0 44.0 30.2 44.0 13.8 0.0 20.0 40.0 60.0 80.0 Sách Báo, tạp chí Giáo trình Luận án, luận văn Các tài liệu tham khảo Tài liệu điện tử Biểu đồ thói quen sử dụng tài liệu Tài liệu điện tử Các tài liệu tham khảo Luận án, luận văn Giáo trình Báo, tạp chí Sách Loại hình tài liệu được NDT thường xuyên sử dụng, cụ thể: 62% lựa chọn loại hình sách; 44% lựa chọn các loại hình báo tạp chí, giáo trình và tài liệu tham khảo; 30% lựa chọn luận án luận văn, và 14% lựa chọn sử dụng tài liệu điện tử. Từ số liệu trên có thể thấy, mục đích chủ yếu khi sử dụng thư viện của đa phần NDT tại TVĐHNTHN là phục vụ cho học tập và hiện vẫn đang có số đông NDT duy trì thói quen sử dụng tài liệu truyền thống, chỉ có rất ít NDT đã hình thành thói quen sử dụng tài liệu điện tử. Biểu đồ 1.5: Thói quen sử dụng các dịch vụ TTTV tại TVĐHNTHN Đơn vị tính: % 91.4 56.0 21.6 29.3 0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 70.0 80.0 90.0 100.0 1 Biểu đồ thói quen sử dụng các dịch vụ TTTV Dịch vụ đọc tài liệu tại chỗ Dịch vụ mượn tài liệu về nhà Dịch vụ sao chụp tài liệu Dịch vụ truy cập Internet Theo kết quả khảo sát cho thấy, dịch vụ phục vụ đọc tài liệu tại chỗ của TVĐHNTHN có tỉ lệ NDT sử dụng cao nhất, cụ thể là 91,4% NDT đã sử dụng dịch vụ này, 56% NDT sử dụng dịch vụ mượn tài liệu, dịch vụ này cũng được số lượng lớn NDT quan tâm. 1.2.3.2 Đặc điểm nhu cầu tin Có thể khái quát NCT của NDT tại TVĐHNTHN thành những nhóm cơ bản sau:  Cán bộ quản lý và lãnh đạo  Cán bộ giảng dạy và cán bộ nghiên cứu khoa học  Người dùng tin là sinh viên và học viên sau đại học 1.3 Đặc điểm và yêu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện tại Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội 1.3.1 Đặc điểm Sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế, khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo đã làm gia tăng một cách nhanh chóng khối lượng thông tin. Để khai thác nguồn thông tin một cách có hiệu quả, đòi hỏi phải có một hệ thống các công cụ tra cứu. Trong đó, SP&DV TTTV là một hệ thống các công cụ giúp người dùng tin có thể tìm kiếm, truy nhập thông tin một cách hiệu quả. Hiệu quả hoạt động của các cơ quan TTTV nói chung, tại ĐHNTHN nói riêng phần lớn phụ thuộc vào chất lượng của các SP&DV TTTV. Chỉ có trên cơ sở một hệ thống SP&DV TTTV đa dạng, phong phú, phù hợp mới có khả năng giúp NDT tìm đến với thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng. Khi đánh giá các SP&DV TTTV, xác định mức độ hoàn thiện của nó cần phải dựa vào những yêu cầu cụ thể được xác định về mặt lý thuyết, tiếp đó xem xét ở điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng cơ quan một cách khách quan và rút ra kết luận, làm sáng rõ những ưu, nhược điểm của chúng. Trường ĐHNTHN là trường đại học hàng đầu cả nước về đào tạo chuyên ngành kinh tế đối ngoại nên NCT chủ yếu về các ngành: kinh tế đối ngoại, lịch sử kinh tế quốc dân, tài chính tiền tệ, ngân hàng, giáo trình tiếng nước ngoàiVì vậy, trong tổ chức và đánh giá hiệu quả khai thác và đáp ứng NCT từ các SP&DV TTTV cần chú trọng đến đặc điểm này. 1.3.2 Yêu cầu Đối với sản phẩm thông tin - thƣ viện + Mức độ bao quát nguồn tin + Tính kịp thời, chính xác, khách quan + Khả năng cập nhật và tìm kiếm thông tin + Thân thiện với người dùng tin Hình thức trình bày của SP TTTV cần gây được sự chú ý, thiện cảm của người dùng tin. Đối với dịch vụ thông tin - thƣ viện + Thời gian thực hiện dịch vụ + Chất lượng dịch vụ + Chi phí thực hiện dịch vụ + Tính kịp thời và thuận tiện của dịch vụ 1.4 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện Với những ưu điểm vốn có, các sản phẩm và dịch vụ thông tin đã giữ vai trò lớn: - Nâng cao năng lực khai thác thông tin và thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin; - Nâng cao năng lực kiểm soát tài nguyên thông tin và trang bị thông tin trong xã hội; - Bảo vệ an toàn và lâu dài môi trường thông tin; - Đẩy mạnh việc chia sẻ thông tin trong hệ thống thông tin quốc gia; - Dễ dàng tạo lập thị trường mới về thông tin. [ 8, tr.2] CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG HÀ NỘI 2.1 Sản phẩm thông tin - thƣ viện 2.1.1 Hệ thống mục lục Hệ thống mục lục (hay thường gọi là mục lục) là tập hợp các đơn vị/phiếu mục lục được sắp xếp theo một trình tự nhất định, phản ánh nguồn tin của một/một nhóm cơ quan thông tin, thư viện. [10, tr.37] Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến (OPAC: Online Public Access Catalog) OPAC là một trong những sản phẩm thông tin, được xây dựng nhằm mục đích làm công cụ tìm kiếm tài liệu có trong TVĐHNTHN. Người dùng tin có thể truy cập OPAC qua mạng Internet để tìm kiếm thông tin về tài liệu có trong TVĐHNTHN. Thông qua hệ thống tra cứu này, NDT có thể tra tìm tài liệu ở bất kì đâu bên trong hay bên ngoài thư viện, biết được vị trí của tài liệu trong kho, tình trạng lưu hành của tài liệu và đặc biệt là giúp NDT xác định đúng nhu cầu tài liệu trước khi đến TVĐHNTHN đọc hoặc mượn về nhà. Hình 2.1: Giao diện tìm tin trực tuyến Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm vượt trội thì OPAC cũng gặp phải những hạn chế khi phát sinh các tình huống như: chưa ổn định dữ liệu, gặp trục trặc về hệ thống máy tính hoặc mất điện 2.1.2 Thƣ mục dạng in Thư mục là một sản phẩm thông tin, thư viện mà phần chính là tập hợp các biểu ghi thư mục (có/không có tóm tắt/chú giải) được sắp xếp theo một trật tự xác định phản ánh các tài liệu có chung một/một số dấu hiệu về nội dung và/hoặc hình thức. Hiện nay, TVĐHNTHN đã tạo lập 2 loại thư mục: - Thư mục giới thiệu sách mới - Thư mục tóm tắt luận án, luận văn 2.1.3 Cơ sở dữ liệu Cơ sở dữ liệu là một tập hợp các bản ghi hoặc tệp có quan hệ logic với nhau và được lưu trữ trên bộ nhớ của máy tính. [10, tr.82] Hiện nay, tại TVĐHNTHN đã triển khai 2 loại CSDL: CSDL thư mục và CSDL toàn văn (số hóa). 2.1.3.1 Cơ sở dữ liệu thư mục Trong hoạt động của mình TVĐHNTHN đã tiến hành xây dựng 5 CSDL thư mục với trên 20.000 biểu ghi thư mục nhằm phục vụ người dùng tin. Tuy nhiên, khi tra tìm tài liệu, NDT đều tra tìm trong một hệ thống CSDL chung nhất. Tất cả các CSDL nhỏ nằm trong phần mềm đều trộn lẫn và hiển thị trên một giao diện tìm tin chung. Hiện nay CSDL tích hợp bao gồm: CSDL Sách tiếng Việt, CSDL Sách ngoại văn, CSDL Từ điển, CSDL Luận án, Luận văn, Đề tài nghiên cứu khoa học, CSDL Báo và tạp chí lưu 2.1.3.2 Cơ sở dữ liệu toàn văn Chứa các thông tin gốc của tài liệu - toàn bộ văn bản của tài liệu cùng với các thông tin thư mục và các thông tin bổ sung khác, nhằm giúp cho việc tra cứu và truy nhập tới bản thân các thông tin được phản ánh. Hiện tại, TVĐHNTHN đã triển khai số hóa 5.200 tài liệu, bao gồm: đề tài các cấp, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và khóa luận tốt nghiệp. Bên cạnh CSDL toàn văn do TVĐHNTHN tự tạo lập, TVĐHNTHN đã tiến hành mua 4 CSDL điện tử của 2 nhà cung cấp là: IGroup Asia Pacific Limited (Hồng Kông) và ABSCO Publishing (Úc). Đó là: - Lexis - Nexis Academic Online, - Proquest ABI/Inform Global, - Emeral Management Fulltext, - Business Source Fremier Nội dung các CSDL này bao gồm nhiều loại bài báo, tạp chí được đăng tải từ 30 năm trở lại đây và tiếp tục cập nhật những bài mới đề cập đến các lĩnh vực: kinh tế ngoại thương, quản trị kinh doanh, thương mại điện tử, luật kinh doanh quốc tế, marketing, tài chính, kế toán, tiếng anh thương mại Tuy vậy, tính đến nay số lượng loại hình tài liệu và số tên tài liệu đã được số hóa trong CSDL của TVĐHNTHN còn khiêm tốn nên hiện chưa đáp ứng được nhu cầu của NDT. 2.1.4 Trang chủ Trang chủ là một cẩm nang bách khoa giới thiệu các thông tin và cách thức truy nhập tới thông tin về một thực thể nào đó (cơ quan, cá nhân, đơn vị hành chính..) trên mạng máy tính.. [10, tr.101]. Thời gian đầu khi TVĐHNTHN chưa có Trang chủ riêng, thư viện đã sử dụng Trang chủ của nhà trường và có thêm đường link kết nối tới trang Thư viện điện tử ( ). Từ giữa năm 2011 đến nay, TVĐHNTHN đã có Trang chủ riêng chạy trên phần mềm quản lý Thư viện số do Công ty máy tính truyền thông CMC cung cấp. NDT có thể truy cập theo địa chỉ: Kết quả khảo sát lấy ý kiến đánh giá của NDT: Biểu đồ 2.1 : Đánh giá chất lƣợng các sản phẩm TTTV tại TVĐHNTHN Đơn vị tính: % Biểu đồ đánh giá chất lượng các sản phẩm TTTV tại TVĐHNTHN 2,6 6 6,9 5,2 53,4 42,2 49,1 43,1 31,0 38,8 29,3 36,2 1,7 2,6 2,6 1,7 11,2 10,3 12,1 13,8 0,0 10,0 20,0 30,0 40,0 50,0 60,0 Hệ thống mục lục TM thông báo sách mới CSDL Trang chủ Không có ý kiến Chưa tốt Trung bình Tốt Rất tốt Từ kết quả khảo sát chất lượng các SP TTTV tại TVĐHNTHN cho thấy, đa phần các sản phẩm này đã được đánh giá chất lượng ở mức độ tốt. Tuy vậy, số NDT đánh giá chất lượng các sản phẩm này ở mức trung bình hiện vẫn đang có tỉ lệ cao (chiếm từ 26.7-38.8%). Đặc biệt, với sản phẩm là CSDL và hệ thống mục lục (mục lục trực tuyến) đã được NDT quan tâm và đánh giá tốt. Đây là một xu thế tất yếu trong thời đại công nghệ thông tin phát triển, các sản phẩm TT - TV hiện đại mang lại những lợi ích nhất định, được NDT ưa thích và sử dụng triệt để. 2.2 Dịch vụ thông tin - thƣ viện 2.2.1 Cung cấp tài liệu gốc 2.2.1.1 Phục vụ đọc tài liệu tại chỗ Thư viện hiện đang phục vụ đọc tài liệu tại chỗ ở các phòng sau: Phòng đọc mở, Phòng đọc tài liệu nội sinh, Phòng đọc Báo - Tạp chí. 2.2.1.2 Phục vụ mượn tài liệu Dịch vụ phục vụ mượn tài liệu triển khai tại Phòng mượn. 2.2.2 Sao chụp tài liệu 2.2.3 Trao đổi thông tin 2.2.4 Tra cứu thông tin 2.2.5 Khai thác tài liệu đa phƣơng tiện Các dịch vụ TTTV qua đánh giá của NDT: Biểu đồ 2.4 : Đánh giá chất lƣợng các dịch vụ TTTV tại TVĐHNTHN Đơn vị tính: % 18,1 56,9 22,40 2,6 6 49,132,8 3,4 8,6 1,7 31,9 43,11,7 21,6 2,6 25 39,711,2 21,6 0 10 20 30 40 50 60 Dịch vụ đọc tài liệu tại chỗ Dịch vụ mượn tài liệu về nhà Dịch vụ sao chụp tài liệu Dịch vụ truy cập Internet Biểu đồ đánh giá chất lượng các dịch vụ TTTV tại TVĐHNTHN Không có ý kiến Chưa tốt Trung bình Tốt Rất tốt Biểu đồ 2.5: Đánh giá mức độ đầy đủ của thông tin nhận đƣợc từ các dịch vụ TTTV tại TVĐHNTHN 3.4 28.4 59.5 6.0 2.6 0.0 10.0 20.0 30.0 40.0 50.0 60.0 1 Đánh giá mức độ đầy đủ của thông tin nhận được từ các dịch vụ TTTV Rất đầy đủ Đầy đủ Tương đối đầy đủ Chưa đầy đủ Không có ý kiến Qua kết quả khảo sát lấy ý kiến đánh giá của NDT cho thấy: Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc (bao gồm: Phục vụ đọc tài liệu tại chỗ và dịch vụ mượn tài liệu về nhà) có tỉ lệ cao NDT đánh giá tốt, trong đó: dịch vụ mượn tài liệu về nhà là 49.1% và dịch vụ đọc tài liệu tại chỗ là 56.9%. Mức độ đầy đủ của thông tin nhận được từ các dịch vụ thông tin - thư viện tại TVĐHNTHN cũng đã được NDT ghi nhận với tỉ lệ đồng ý với phương án “đầy đủ” là 28.4%; phương án “tương đối đầy đủ” là 59.5%. 2.3 Công tác tạo lập các sản phẩm và tổ chức các dịch vụ thông tin - thƣ viện tại Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội 2.3.1 Tạo lập các sản phẩm thông tin - thƣ viện 2.3.2 Tổ chức các dịch vụ thông tin - thƣ viện 2.4 Các yếu tố hỗ trợ 2.4.1 Nguồn nhân lực 2.4.2 Trang thiết bị và cơ sở vật chất 2.4.3 Các chuẩn biên mục TVĐHNTHN hiện nay đang áp dụng chuẩn mô tả AACR2 (Anglo- American Cataloguing Rules 2) để biên mục tài liệu. Sử dụng chuẩn mô tả AACR2, tài liệu trong TVĐHNTHN được xử lý trên máy theo chuẩn Khổ mẫu biên mục đọc bằng máy (Machine - Readable Cataloging 21st - MARC21). 2.4.4 Công cụ phân loại tài liệu Hiện nay, TVĐHNTHN đang sử dụng Khung phân loại (KPL) thập phân Dewey được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh Dewey Decimal clasification (DDC) ấn bản 14 để phân loại tài liệu mới và hồi cố tài liệu cũ. 2.4.5 Phần mềm hỗ trợ xử lý thông tin Hiện nay, TVĐHNTHN đang sử dụng phần mềm ILIB 4.0 và phần mềm quản lý Thư viện số do Công ty máy tính truyền thông CMC cung cấp. 2.5 Đánh giá về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện của Trƣờng Đại học Ngoại thƣơng Hà Nội 2.5.1 Điểm mạnh Nhìn chung, các sản phẩm và dịch vụ TTTV tại TVĐHNTHN đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tin của NDT. Các sản phẩm như: thư mục giới thiệu sách mới, mục lục..là những công cụ đắc lực cho việc tìm kiếm và khai thác tài liệu của NDT. Các sản phẩm của TVĐHNTHN hiện nay đã chú trọng tuân thủ các chuẩn nghiệp vụ thư viện như: chuẩn mô tả, phân loại, khổ mẫu mục lục đọc máy, khổ mẫu trao đổi dữ liệu thư mục ISO 2709 tạo tiền đề cho khả năng trao đổi dữ liệu với các cơ quan thông tin - thư viện khác. Mục lục trực tuyến cho phép cùng một lúc nhiều người có thể truy cập và được tổ chức khoa học hợp lý, chi tiết đến từng đề mục, tạo điều kiện thuận lợi cho NDT tiếp cận với ngôn ngữ mà mình sử dụng được một cách dễ dàng. CSDL được cập nhật thường xuyên giúp NDT tra cứu thông tin được nhanh chóng và dễ dàng. Công cụ tra cứu bằng máy tính giúp NDT tốn ít thời gian và đem lại hiệu quả hơn. Hiện tại CSDL đã được chỉnh sửa với khoảng 52.000 biểu ghi. Phần lớn các dịch vụ TTTV của TVĐHNTHN được tổ chức miễn phí. Dịch vụ đọc tại chỗ với hình thức kho mở đã thu hút số lượng lớn NDT đến sử dụng, tạo điều kiện cho NDT khai thác nội dung kho tài liệu một cách thuận tiện, dễ dàng và nhanh chóng nhất. Dịch vụ hướng dẫn NDT sử dụng thư viện đã trang bị cho sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết để khai thác thông tin. Thái độ phục vụ của cán bộ thư viện tại đây nhiệt tình, vui vẻ, có tinh thần trách nhiệm. 2.5.2 Điểm yếu và nguyên nhân Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện truyền thống vẫn chiếm ưu thế và chất lượng chưa cao. Mặc dù đa số NDT tại trường có trình độ học vấn và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại cao, nhưng thư viện còn thiếu những sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện hiện đại, có giá trị gia tăng cao để thoả mãn nhu cầu phong phú, đa dạng của họ. * Nguyên nhân của những điểm yếu + Cơ sở của Trung tâm còn chật hẹp, không tập trung trên một mặt bằng mà phân tán nhiều nơi. + TVĐHNTHN hoạt động theo cơ chế hoàn toàn bao cấp, chịu sự quản lý trực tiếp của nhà trường. Nguồn kinh phí hoạt động hàng năm của thư viện còn hạn hẹp, phần lớn chỉ dành cho việc bổ sung tài liệu mới. Do vậy, việc đầu tư nâng cao chất lượng và phát triển các SP&DV TTTV để đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu khai thác thông tin của NDT còn chưa được chú trọng đúng mức. + Chất lượng xử lý tài liệu chưa cao + Các phương tiện tự động hoá mới bước đầu đưa vào ứng dụng nên cán bộ thư viện hiện vẫn còn lúng túng. + Nguồn lực thông tin chưa đáp ứng đầy đủ + Đội ngũ cán bộ thư viện thực hiện việc xử lý thông tin, cung cấp sản phẩm và thực hiện dịch vụ ở TVĐHNTHN chưa có cơ hội tham gia thường xuyên các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học để có thể thích ứng với môi trường làm việc mới. CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƢ VIỆN TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG HÀ NỘI 3.1 Nâng cao chất lƣợng các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 3.1.1 Nâng cao chất lƣợng các sản phẩm thông tin - thƣ viện - Thư viện cần chú trọng hoàn thiện hơn mục lục trực tuyến OPAC trên cơ sở ứng dụng phần mềm thư viện ILib. - Tiếp tục hoàn chỉnh và nâng cao chất lượng các CSDL, đặc biệt là CSDL toàn văn. - TVĐHNTHN tăng cường cung cấp thông tin cho Trang chủ. Xây dựng các kênh phản hồi thông tin và tiếp nhận nhu cầu tin của NDT thông qua website của thư viện. 3.1.2 Nâng cao chất lƣợng các dịch vụ thông tin - thƣ viện hiện có - Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc - Dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu gốc - Dịch vụ trao đổi thông tin - Dịch vụ tra cứu thông tin - Dịch vụ khai thác tài liệu đa phương tiện 3.2 Đa dạng hoá các loại hình sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện 3.2.1 Xây dựng các sản phẩm thông tin - thƣ viện mới 3.2.1.1 Xây dựng thư mục theo chuyên đề 3.2.1.2 Xây dựng CSDL học liệu điện tử phục vụ E-learning 3.2.1.3 Biên soạn tạp chí tóm tắt 3.2.2 Phát triển dịch vụ thông tin - thƣ viện mới 3.2.2.1 Dịch vụ mượn liên thư viện 3.2.2.2 Tổ chức dịch vụ cung cấp thông tin theo chuyên đề 3.2.2.3 Dịch vụ dịch thuật tài liệu 3.3 Các giải pháp hỗ trợ 3.3.1 Nâng cao nguồn lực thông tin và tăng cƣờng cơ sở vật chất 3.3.1.1 Nâng cao nguồn lực thông tin 3.3.1.2 Nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc tạo lập, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 3.3.2 Phát huy nguồn lực con ngƣời 3.3.2.1 Nâng cao trình độ cán bộ thông tin - thư viện 3.3.2.2 Đào tạo người dùng tin 3.3.3 Xây dựng kế hoạch marketing các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện KẾT LUẬN Có thể nói, trong bất kỳ cơ quan TT - TV nào, vai trò của các sản phẩm và dịch vụ TT - TV được cơ quan đó cung cấp đều có ý nghĩa quan trọng, phần nào quyết định đến sự phát triển của thư viện đó. Điều này càng đặc biệt đúng trong xã hội thông tin hiện đại, khi mà sự phát triển của xã hội, của thông tin là vô cùng nhanh chóng. Thêm vào đó là sự thay đổi về thói quen sử dụng thư viện, về cách thức tiếp cận thông tin của NDT. NDT có xu hướng ngày càng đòi hỏi cao hơn trong việc cung cấp hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT - TV ưu việt, mang tính hiện đại. Bởi lẽ đó, việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ như đã và đang được cung cấp cũng như việc nghiên cứu nhu cầu tin, tạo lập những sản phẩm, dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu đó là một công việc cần phải được tiến hành một cách liên tục và thường xuyên. Nghiên cứu về các sản phẩm và dịch vụ TT - TV tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội hiện nay có một ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nhà trường. Việc đánh giá một cách tổng quan, nhìn nhận toàn diện các sản phẩm và dịch vụ TT - TV mà Thư viện đã xây dựng có thể giúp cho cán bộ thư viện hiểu rõ hơn về cơ cấu tổ chức, cách thức tạo lập và cung cấp cho NDT. Đồng thời, qua đó cũng phần nào đánh giá được những cơ hội và thách thức trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ mới. Qua nhiều năm xây dựng và trưởng thành, TV Đại học Ngoại thương Hà Nội đã không ngừng hoàn thiện mình để đáp ứng nhu cầu tin ngày càng cao của NDT, đóng góp to lớn với công tác giáo dục và đào tạo, nghiên cứu của Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. Để giữ vững và phát huy được những thành công ban đầu tạo đà phát triển ổn định và lâu dài trong tương lai, Thư viện cần nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin phù hợp và thu hút NDT, tiếp tục khẳng định vị trí và tầm quan trọng của Thư viện trong công tác nghiên cứu, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần vào phát triển sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước nói chung và sự nghiệp thư viện nói riêng. References. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt 1. Bùi Loan Thùy, Lê Văn Viết (2001), Thư viện học đại cương, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh. Tp Hồ Chí Minh. 2. Bùi Thị Minh Huệ (2008), Nghiên cứu quy tắc biên mục Anh Mỹ AACR2 và triển khai ứng dụng tại thư viện cơ sở đào tạo Hà Đông, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, 92 tr. 3. Dương Thị Vân (2008), Hình thành dịch vụ thông tin - thư viện “sẵn sàng đáp ứng” trong trường đại học, Tạp chí Thư viện Việt Nam, (số 3), tr.16-19 4. Đặng Thị Hoa (1999), “Sản phẩm thông tin - thư viện với việc học tập, nghiên cứu của sinh viên”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, (số 7), tr.28. 5. Hội thư viện Hoa Kỳ, Phạm Thị Lệ Hương, Lâm Vĩnh Thế, Nguyễn Thị Nga dịch (1996), ALA: Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt = Grossary of libraray and information science, Galen Press Ltd., Tucson, Arizona. 6. Kiều Hương (2010). Thư viện Đại học Ngoại thương với việc ứng dụng công nghệ thông tin, Kỷ yếu hội thảo: Đổi mới tổ chức, quản lý và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin - thư viện. Liên hiệp thư viện đại học khu vực phía Bắc.-tr.143-150 7. Nguyễn Thị Hạnh (2008), Dịch vụ của các thư viện chuyên ngành trên địa bàn Hà Nội: Hiện trạng và vấn đề, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (số 2), tr.10-14 8. Nguyễn Hữu Hùng (2008), Một số vấn đề về chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Việt Nam, Tạp chí Thông tin và Tư liệu (số 2), tr.1-6 9. Phan Văn, Nguyễn Huy Chương (1997), Nhập môn khoa học Thư viện và Thông tin học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 10. Trần Mạnh Tuấn (1998), Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện: Giáo trình, Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội. 11. Trần Mạnh Tuấn (2003), Dịch vụ cung cấp thông tin theo chuyên đề: Nội dung và một số kiến nghị, Tạp chí Thông tin & Tư liệu, (số 1), tr. 9-14. 12. Trần Mạnh Tuấn (2004), Sản phẩm thông tin từ góc độ Marketing, Tạp chí Thông tin & Tư liệu, (số 3), tr. 7-12. 13. Trần Mạnh Tuấn (2009), Bản quyền trong việc triển khai dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu trong các thư viện khoa học, Tạp chí Thư viện Việt Nam, (số 4), tr.34-38 14. Trần Mạnh Trí (2003), Sản phẩm và dịch vụ Thông tin - Thực trạng và các vấn đề, Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hôi, (số 4), tr. 19- 20. 15. Trần Thị Kiều Hương (2011), Giải pháp phát triển nguồn tin điện tử phục vụ công tác đào tạo và nghiên cứu tại Thư viện trường Đại học Ngoại thương: Đề tài nghiên cứu 16. Vũ Văn Sơn (1997), Đánh giá các dịch vụ thông tin và thư viện, Tạp chí Thông tin và Tư liệu, (số 4), tr.10-14 Tài liệu trên trang Web 17. Bạch Thị Thu Nhi (2010), Quản lý chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện trong thư viện trường đại học, truy cập ngày 9/4/2012, địa chỉ: 18. Website Cộng đồng thông tin thư viện Việt Nam, truy cập ngày 29/06/2011, địa chỉ: 19. Website Hội hỗ trợ thư viện và giáo dục Việt Nam, truy cập ngày 29/06/2011, địa chỉ: 20. Website Mạng Thông tin – Thư viện Việt Nam, truy cập ngày 29/06/2011, địa chỉ: 21. Website Mạng thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam, truy cập ngày 28/06/2011, địa chỉ: 22. Website Thư viện Quốc gia Việt Nam, truy cập ngày 25/06/2011, địa chỉ: 23. Website Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, truy cập ngày 29/06/2011, địa chỉ:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfphat_trien_sp_dv_thu_vien_dh_nt_ha_noi_265_2079275.pdf
Luận văn liên quan