Luận văn Phương hướng và giải pháp phát triển đường giao thông nông thôn vùng đồng bằng sông hồng đến năm 2010

MỤC LỤC Lời nói đầu 1 Chương I: Vai trò của đường GTNT với phát triển vùng đồng bằng Sông Hồng 2 I- Những vấn đề lý luận chung vềđường GTNT 2 1- Định nghĩa đường GTNT 2 2- Hệ thống đường GTNT 2 3- Các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển đường GTNT 3 4- Phân loại đường GTNT trong giai đoạn hiện nay 5 II- Vai trò của hệ thống đường GTNT trong phát triển vùng đồng bằng Sông Hồng 7 1- Khái quát vùng đồng bằng Sông Hồng 7 2- Vai trò của hệ thống đường GTNT trong phát triển kinh tế xã hội 15 III- Kinh nghiệm phát triển đường GTNT của các nước 23 1- Châu Á 23 2- Đông Nam Á 24 Chương II: Thực trạng phát triển đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng 25 I- Thực trạng phát triển đường giao thông nông thôn 25 1- Hiện trạng đường giao thông nông thôn Việt Nam hiện nay 25 2- Hiện trạng đường GTNT 25 3- Hiện trạng vận tải trên tuyến đường nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng 25 4- So sánh mức độ phát triển đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng với các vùng khác trong cả nước 34 5- Nhận xét về khả năng đáp ứng nhu cầu của đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng 37 II- Phân tích các yếu tố tác động tới phát triển đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng trong giai đoạn hiện nay 39 1- Vốn đầu tư 39 2- Kế hoạch đầu tư xây dựng 43 3- Giai đoạn sử dụng 46 4- Các chính sách phát triển đường GTNT áp dụng 49 III- Những mặt đạt được và hạn chế của việc phát triển đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng giai đoạn vừa qua 50 1- Những mặt đạt được trong phát triển kinh tế xã hội 50 2- Những mặt còn hạn chế 58 Chương III: Phương hướng và giải pháp phát triển đường giao thông nông thông vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2010 59 I- Quy hoạch vùng đồng bằng Sông Hồng 59 1- Phương hướng phát triển kinh tế chung của vùng 59 2- Quy hoạch phát triển vùng 59 II- Phương hướng phát triển đường giao thông nông thôn đến năm 2010 61 1- Dự báo phát triển đường giao thông nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng 61 2- Quan điểm phát triển đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng 67 3- Mục tiêu phát triển đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2010 71 III- Một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng đến năm 2010 75 1- Giải pháp về vốn 75 2- Giải pháp về kỹ thuật 78 3- Các giải pháp về quản lý dự án đầu tư xây dựng đường GTNT 79 4- Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 80 5- Giải pháp về bảo vệ môi trường trong phát triển đường GTNT 81 IV- Một số kết luận và kiến nghị chủ yếu nhằm phát triển đường GTNT vùng đồng bằng Sông Hồng 81 Kết luận chung 86 Tài liệu tham khảo 87

doc90 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/05/2013 | Lượt xem: 1812 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Phương hướng và giải pháp phát triển đường giao thông nông thôn vùng đồng bằng sông hồng đến năm 2010, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đầu tư, trong vòng 10 năm, kể từ khi bắt đầu lắp ráp, các doanh nghiệp phải đạt tỷ lệ nội địa hoá từ 5% giá trị xe lên 30% giá trị xe, nhưng trên thực tế, kể từ khi bắt đầu lắp ráp đến nay, chưa có doanh nghiệp nào đạt tỷ lệ nội địa hoá 10% giá trị xe). Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với ngành dệt may và giày dép. Tuy đây là hai ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta nhưng chủ yếu là làm gia công cho nước ngoài. Ngành Dệt chưa đáp ứng đủ nguyên liệu vải cho ngành may về sản lượng, chủng loại và chất lượng. Trong tổng số kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may năm 2003 là 3,7 tỷ USD thì xuất khẩu các mặt hàng may mặc chiếm, tới 90% với tỷ lệ nguyên liệu nhập khẩu lên tới 65%. Ngành Da giày dù có đến 90% sản lượng xuất khẩu, nhưng lợi nhuận thu về từ ngành này chỉ đạt mức 25% giá trị gia tăng, vì phần lớn các doanh nghiệp Da giày trong nước chủ yếu vẫn là những đối tác làm hàng gia công cho nước ngoài. Họ bị phụ thuộc nhiều vào đối tác về nguyên liệu, đơn hàng, chịu sức ép về chi phí đầu vào cao, trong khi đầu ra bị ép và cạnh tranh gay gắt… Nếu không chủ động hơn trong việc lựa chọn công nghệ thì chúng ta không thể có được những công nghệ đem lại lợi ích cao và đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. 2.3.5.2 Chuyển giao công nghệ của nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu. Do vậy khi thực hiện hoạt động đầu tư nói chung cũng như hoạt động chuyển giao công nghệ nói riêng họ luôn tính toán sao cho thu được nhiều lợi nhuận nhất. Chẳng hạn các nhà đầu tư nước ngoài thường chuyển giao vào Việt Nam những công nghệ thấp kém hơn so với các nước phát triển. Cùng là dầu gội đầu Sunsilk nhưng sản phẩm sản xuất tại Nhật Bản lại tốt hơn so với dầu gội Sunsilk sản xuất tại Việt Nam. Nguyên nhân là vì các nước phát triển có mức thu nhập cao, họ có thể bán sản phẩm của mình với giá cả cao hơn và thu được lợi nhuận lớn hơn. Do đó họ tìm mọi cách như thay đổi công thức; thêm bớt phụ gia... để tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn tại các nước phát triển và kém hơn ở các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, lợi dụng sự kém hiểu biết của cán bộ Việt Nam trong công tác thẩm định công nghệ họ thường chuyển giao vào Việt Nam những công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường, định giá sai công nghệ… Theo kết quả khảo sát về thiết bị nhập khẩu, trong 42 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc ngành công nghiệp nhẹ cho thấy, trong 727 thiết bị và dây chuyền công nghệ sản xuất hàng tiêu dùng, có tới 76% số máy đã hết khấu hao, 56% là thiết bị cũ được tân trang lại. Đương nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài đã rất có lợi trong hành vi này, vừa có tỷ lệ góp vốn cao trong liên doanh vừa không phải tốn chi phí để xử lý “rác thải”. Về môi trường, qua khảo sát đo đạc trực tiếp tại 14 nhà máy liên doanh hoặc nhập thiết bị, công nghệ mới ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thì không nơi nào có tiêu chuẩn hợp vệ sinh theo BYT/QĐ 505 do Bộ Y tế ban hành ngày 13/4/1992, trong đó ô nhiễm nặng nề nhất là nhà máy xi măng Hà Tiên 1. Tại phân xưởng nghiền, trang bị máy nghiền 90 tấn mới nhập của Pháp, nồng độ bụi ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 3 đến 138 lần. Nhà máy luyện cán thép VICASA Biên Hoà có lò hồ quang nhập từ Trung Quốc và dây chuyền đúc thép liên tục nhập của Ấn Độ thì bụi vượt TCCP 3,4 lần và tiếng ồn vượt TCCP 10 DBA… (Báo Công nghệ và Môi trường số 31 ngày 8/8/1995). Định giá công nghệ cao hơn so với giá trị thực tế cũng là điều mà các nhà đầu tư nước ngoài thường làm khi chuyển giao công nghệ vào Việt Nam. Chẳng hạn, liên doanh sản xuất bao PP giữa Việt Nam và Hồng Kông góp vốn 50% bằng máy móc thiết bị, bảo đảm còn mới và dây chuyền công nghệ tiên tiến. Nhưng thực tế, bên Hồng Kông đã đưa vào một hệ thống thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, với mức giá lên đến 1.105.000 USD. Qua giám định của SGS mức giá được ước chừng 663.000 USD. Điều này đòi hỏi phía Việt Nam trong các doanh nghiệp liên doanh cần phải hết sức thận trọng trong quá trình giám định công nghệ và đàm phán hợp đồng chuyển giao công nghệ. 2.3.6 Ứng dụng công nghệ được chuyển giao 2.3.6.1 Ứng dụng công nghệ thông tin Công nghệ thông tin sau khi được chuyển giao vào nước ta đã nhanh chóng được phổ biến và ứng dụng trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của đất nước. Trong quản lý hành chính ở trung ương và địa phương Các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đã có nhiều nỗ lực đi trước một bước trong triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính Nhà nước cũng như trong hoạt động của doanh nghiệp và các lĩnh vực kinh tế xã hội khác. Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đang nỗ lực xây dựng Công hành chính điện tử và có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua sử dụng các lợi thế của mạng và Internet. Các trang thông tin điện tử của các Sở, Ngành, quận, huyện đã phát huy tác dụng quản lý, điều hành và thông qua môi trường Internet phục vụ các doanh nghiệp và cộng đồng; bước đầu hình thành xu thế cung cấp thông tin và dịch vụ hành chính công cho cộng đồng qua mạng. Đà Nẵng cũng đang nghiên cứu các bước đi này để triển khai trong thời gian tới. Lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo Đến nay, gần 40 trường đại học có mạng nội bộ, khoảng 10 trường có thuê bao riêng, 13 phòng truy nhập Internet, 19 trường có trang điện tử, 35 trường đại học, 19 trường cao đẳng sư phạm, 18 trường trung học chuyên nghiệp và 45 Sở Giáo dục - Đào tạo có đào tạo sử dụng theo chương trình tin học ứng dụng ABC do Bộ Giáo dục đào tạo ban hành. Hiện có khoảng 125 trung tâm tin học ứng dụng với khoảng 200.000 học viên thường xuyên theo học. (Số liệu năm 2002). Giảng viên các trường đại học đã từng bước sử dụng máy tính, máy chiếu và các phần mềm thích hợp trong giảng dạy, hội thảo khoa học. Một số trường đã sử dụng máy tính phục vụ quản lý chương trình giảng dạy, học viện, thư viện (một số trường bắt đầu xây dựng thư viện điện tử). Có 8 trường đại học đã cung cấp dịch vụ dạy học từ xa. Năm học 2002 đã thực hiện tin học hoá nhiều khâu trong kỳ thi tuyển đại học và cao đẳng. Mạng School@net với các phần mềm: quản lý dạy và học School Viewer, giải pháp hỗ trợ học toán cho học sinh tiểu học Math Soft, giải pháp xếp thời khóa biểu.... Công ty Lạc Việt với các phần mềm từ điển Anh-Pháp-Việt. Chương trình truyền hình Trung ương và nhiều địa phương thường xuyên có chương trình giảng dạy về tin học và một số môn học khác. Lĩnh vực Văn hoá thông tin Đến tháng 8/2002 đã có 170 triệu lượt người truy cập báo Nhân dân điện tử; thời báo kinh tế Việt Nam có trung bình 100.000 lượt người truy cập/ngày; tạp chí Quê hương có 250.000 lượt người truy cập/ngày. Lĩnh vực Y tế Công nghệ thông tin được ứng dụng trong khám sức khoẻ, chẩn đoán bệnh, tư vấn sức khoẻ, hướng dẫn điều trị, bảo hiểm y tế. Các mạng máy tính đã được sử dụng để bệnh viện phản hồi thông tin về các tuyến trước, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, huấn luyện qua mạng, quản lý bệnh nhân. Một số phần mềm và công cụ công nghệ thông tin chuyên dụng được sử dụng như: phần mềm kiểm tra cứu huyệt ở Viện Châm cứu; Hệ chẩn đoán điện tâm đồ 12 kênh (thạc sĩ Nguyễn Phước Vĩnh Sơn, đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh); các chương trình cập nhật tai-mũi-họng, răng-hàm-mặt (thành phố Hồ Chí Minh); bộ 3 đĩa CD dữ liệu y học (lương y Hoàng Duy Tân, thành phố Biên Hoà, Đồng Nai). Khai thác công nghệ Với một nước có trình độ công nghệ lạc hậu như nước ta thì việc ứng dụng công nghệ chuyển giao từ bên ngoài để nghiên cứu phát triển phục vụ sản xuất trong nước là rất quan trọng. Trong những năm qua nước ta đã có nhiều đề tài nghiên cứu được đánh giá cao và ứng dụng vào sản xuất. FDI cũng đóng góp một phần quan trọng trong kết quả này, ví dụ như trong công nghiệp điện tử, dệt may, chính sách nội địa hoá ô tô, phát triển xe đạp điện… Tổng công ty Điện tử và Tin học Việt Nam (TCT) là một ví dụ điển hình. Qua quá trình hợp tác kinh doanh với phía nước ngoài trong việc lắp ráp sản phẩm, công ty đã tự xây dựng cho mình năng lực sản xuất riêng. TCT đã tự thiết kế được nhiều sản phẩm như tivi, đầu DVD, máy tăng âm, dàn, loa, anten, thiết bị điện tử y tế, …; tự chọn nhà cung cấp những linh kiện cần thiết trong và ngoài nước, liên tục chủ động cải tiến mẫu mã và cải tiến quản lý trong sản xuất, trong dịch vụ bán hàng và bảo hành trên toàn quốc. Thành công lớn nhất của TCT là các sản phẩm của họ, dù là các sản phẩm công nghiệp trọng điểm hay không trọng điểm, nhưng đều là sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, dòng họ Viettronics, hiện đang và sẽ không thua kém về chất lượng, mẫu mã và giá cả so với các nước trong khu vực. TCT có các thương hiệu máy tính truyền thống là GPC, VIEC, VIEC-VTB, VITEK-VTB. Máy tính GPC đã xuất khẩu chủ yếu sang Nga đang được người tiêu dùng trong nước biết đến và ưa chuộng. TCT đang từng bước đi vào lĩnh vực thiết kế điện tử, thiết kế những mạch tích hợp, hệ thống điện tử để tạo thế bứt phá trong hội nhập quốc tế: không chỉ hội nhập trong lắp ráp sản phẩm tin học, mà còn hội nhập trong thiết kế sản phẩm điện tử và tin học, đặc biệt là máy tính cá nhân và máy tính công nghiệp chuyên dụng. Tuy nhiên nếu đánh giá chung thì việc khai thác công nghệ được chuyển giao ở nước ta chưa đạt được những thành tựu lớn. Chúng ta mới chỉ nghiên cứu triển khai được những công nghệ nhỏ, đơn giản. Lý giải cho vấn đề này chúng ta có thể thấy một số nguyên nhân chủ quan và khách quan sau đây: Từ phía nhà cung cấp Trong khi xu hướng của các công ty đa quốc gia hiện nay là ngày càng tăng cường hoạt động R&D ở các nước tiếp nhận đầu tư vì các lý do như tận dụng được tiềm năng tri thức của nước đối tác và rút ngắn thời gian triển khai công nghệ từ phòng thí nghiệm tới cơ sở sản xuất thì điều này hầu như không xảy ra ở Việt Nam. Các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chủ yếu dựa trên công nghệ du nhập từ bản quốc, rất ít doanh nghiệp đầu tư lớn cho R&D, hay chọn đầu tư vào Việt Nam để khai thác chất xám của lực lượng lao động KH&CN. Từ phía nước chủ nhà Ngoài nguyên nhân khách quan từ phía nhà cung cấp công nghệ thì nguyên nhân chủ quan bắt nguồn từ trong nước cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng tạo nên sự yếu kém của chúng ta trong việc khai thác công nghệ chuyển giao từ nước ngoài. Thứ nhất là sự kiên kết lỏng lẻo giữa cung và cầu công nghệ. Người sử dụng cơ sở khoa học và công nghệ của Việt Nam chưa xác định rõ ràng và không lôi kéo uy trì khả năng cạnh tranh và tăng trưởng. a có những tiến bộ cần thiết, mặt khác nguyên nhân chủ quan từ phía nước chủ nhàngười cung cấp các nguồn lực khoa học và công nghệ theo hướng có thể nâng cao sức cạnh tranh và tăng trưởng. Đây dường như là nguyên nhân gốc rễ của tình trạng liên kết lỏng lẻo giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ được Nhà nước đỡ đầu ở Việt Nam và các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp nhà nước. Vì lý do đó, công tác nghiên cứu trong hệ thống đổi mới quốc gia của Việt Nam vẫn chủ yếu là “chạy theo cung”. Cũng có một hạn chế quan trọng đối với cung: nguồn tài trợ vốn rất hạn hẹp cho nghiên cứu và triển khai thông qua ngân sách nhà nước, lại bị phân tán manh mún. Thứ hai, cơ cấu cán bộ và bố trí cán bộ khoa học công nghệ chưa hợp lý. Hầu hết số cán bộ khoa học công nghệ hiện có dều đang hoạt động trong khu vực nhà nước (chủ yếu là tại các cơ quan quản lý và nghiên cứu nhà nước), số cán bộ làm ở khu vực tư nhân và doanh nghiệp còn rất ít. Số cán bộ nghiên cứu công nghệ còn ít, trong khi số cán bộ nghiên cứu khoa học cơ bản chiếm phần đông. Nhiều cán bộ nghiên cứu thuộc lĩnh vực công nghệ tiên tiến ở nước ta còn thiếu trầm trọng như công nghệ tự động hoá, công nghệ tin học, công nghệ sinh học. Thêm vào đó, hiện đang thiếu nghiêm trọng cám bộ khoa học đầu đàn. Cán bộ khoa học công nghệ ít tham gia vào giảng dạy và ngược lại, giảng viên đại học cũng ít tham gia nghiên cứu khoa học; sự liên kết, phối hợp giữa các nhà khoa học của các tổ chức nghiên cứu với nhau, của trường đại học và viện nghiên cứu còn hết sức rời rạc. Thứ ba, sự giao lưu giữa các nhà khoa học Việt Nam với các nhà khoa học trên thế giới mặc dù đã nâng lên trong những năm gần đây nhưng vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do còn nhiều nhà khoa học còn đang bị hạn chế về khả năng tiếp cận với công nghệ thông tin – một công cụ hữu hiệu giúp cho các nhà khoa học mở mang kiến thức và tầm nhìn ra thế giới bên ngoài. nhiều nhà khoa học bị hạn chế về ngoại ngữ nên không giao dịch trực tiếp được trong các cuộc hội thảo quốc tế và sử dụng Internet để kết nối toàn cầu. Điều này phần nào làm cho các nhà khoa học Việt Nam chưa tận dụng được lượng kiến thức dồi dào và chưa bắt nhịp với sự thay đổi nhanh chóng của thời đại. Đào tạo cán bộ Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần đào tạo cán bộ công nhân có tay nghề cao, có trình độ quản lý hiện đại tiên tiến do đó góp phần nâng cao năng lực công nghệ của nước tiếp nhận đầu tư. Ở Việt Nam, khi bắt đầu đi vào hoạt động, hầu như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nào cũng bỏ ra một khoản chi phí khá lớn để đào tạo chung cho gần như tất cả số lao động. Chẳng hạn, công ty Hợp tác và Đầu tư Xuất khẩu Du lịch đào tạo 80% tổng số lao động; nhà máy biến thế ABB năm 1994 đã chi 75.000 USD để đào tạo kỹ thuật viên (trong đó đào tạo ở nước ngoài là 55.000 USD). Mặt khác, theo kết quả khảo sát điều tra liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho thấy khoảng 49% doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quỹ đào tạo. Đầu tư nước ngoài nâng cao năng lực quản lý của nước chủ nhà thông qua nhiều hình thức như các khoá học chính quy (non-formal learning) và học thông qua làm (learning by doing things). Học chính quy là lao động trong các dự án đầu tư nước ngoài hoặc các tài năng trẻ được gửi đến đào tạo kiến thức quản lý ở các trường đại học của công ty hoặc có các cơ sở đào tạo có uy tín để để nhận văn bằng, chứng chỉ. Đào tạo không chính quy là các khoá đào tạo tại chức, ngắn hạn nhằm bồi dưỡng kiến thức quản lý cho các cán bộ quản lý đang làm việc trong dự án. Ở Việt Nam, nhiều cán bộ quản lý đã được đào tạo trong các dự án đầu tư nước ngoài. Bảng sau cho thấy, tỷ lệ cán bộ được đào tạo trong các dự án đầu tư nước ngoài (loại phạm vi rộng từ 3 đến 5) cao hơn nhiều so với các tỷ lệ tương tự trong các dự án đầu tư trong nước (xem bảng 2.12). Bảng 2.5. Tỷ lệ cán bộ quản lý được đào tạo trong các dự án đầu tư nước ngoài và trong nước tạo Việt Nam. Các lĩnh vực quản lý 1 2 3 4 5 F D F D F D F D F D 1. Sản xuất 15 28.8 6.8 23.3 28.8 43.2 38 13.7 11 0 2. Kỹ thuật quản lý 17.6 20.5 9.5 20.5 27 37 32 20.5 14 1.5 3. Công nghệ mới 18.9 43.8 9.5 27.4 23 21.9 35 6.9 14 0 4. Phát triển sản phẩm 16.2 24.7 13.5 26 39.2 31.5 26 16.4 5.4 1.4 5. Marketing 18.9 27.4 24.3 24.7 17.6 35.6 32 12.3 6.8 0 Ghi chú: (1) phạm vị nhỏ nhất, (5) phạm vi rộng nhất, (F) dự án đầu tư nước ngoài, (D) dự án đầu tư trong nước. Nguồn: Lyles, 1998. Tuy nhiên khả năng tiếp thu công nghệ nước ngoài của cán bộ Việt Nam trong các liên doanh còn hạn chế. Những nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cho thấy, các liên doanh và những hình thức hợp tác giữa công ty Việt Nam và công ty nước ngoài khác chưa tạo ra được sự học hỏi sâu rộng trong cả tiếp thị lẫn quản lý đổi mới công nghệ. Điều này là hoàn toàn trái ngược ở các nước Singapore và Trung Quốc. Thứ nhất có thể là vì so với Singapore và Trung Quốc, ở Việt Nam các công ty Việt Nam và nước ngoài còn trong giai đoạn hợp tác khá mới mẻ. Hai là các công ty Việt Nam nói chung không biết cách nên sử dụng mối quan hệ hợp tác với công ty nước ngoài như thế nào để có thể học hỏi năng lực công nghệ. Hơn nữa các công ty đối tác nước ngoài thường ít tỏ ra sẵn sàng tự giác xây dựng và tạo điều kiện cho quá trình học hỏi này. Các nhân tố thể chế (ví dụ sự khác biệt lớn về truyền thống của các doanh nghiệp nhà nước và công ty nước ngoài, các chế độ pháp lý và quy định, hoặc cản trở về tài chính) có lẽ cũng là những yếu tố góp phần vào sự yếu kém trong việc học hỏi năng lực công nghệ ở Việt Nam trong những công ty kể trên. 2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN FDI VÀO VIỆT NAM THỜI GIAN QUA. 2.4.1 Những kết quả đạt được. Chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI vào Việt Nam thời gian qua đã diễn ra ngày càng đa dạng và phong phú. Nhiều công nghệ mới, hiện đại được du nhập vào nước ta nhất là trong các lĩnh vực dầu khí, hoá chất, viễn thông, điện tử, tin học, ô tô... Nhiều ngành nghề, sản phẩm mới được tạo ra với công nghệ hiện đại, chất lượng tạo tiêu chuẩn quốc tế, góp phần tăng đáng kể năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam. Điều này đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên được khai thác và sử dụng tương đối hiệu quả. Đi liền với chuyển giao công nghệ là quá trình tiếp nhận kinh nghiệm quản lý tiên tiến trên thế giới và đào tạo được đội ngũ lao động có trình độ cao, có khả năng sử dụng được các công nghệ hiện đại. Ngoài ra, chuyển giao công nghệ còn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Đến hết năm 2003, khu vực FDI đã tạo ra công ăn việc làm cho 66,5 vạn lao động. Đời sống nhân dân từng bước được nâng cao . Cùng với đầu tư trực tiếp nước ngoài thì công nghệ thông tin - biểu hiện của nền kinh tế tri thức cũng được du nhập và ứng dụng phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội. Với đặc tính tiếp nhận và xử lý thông tin một cách toàn diện, công nghệ thông tin đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của mọi lĩnh vực quản lý Nhà nước, giáo dục, y tế, văn hoá… Đây cũng là một cách thức quan trọng đưa đất nước tham gia vào tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Năng lực công nghệ trong nước được nâng cao. Chi phí dành cho nghiên cứu triển khai được tiết kiệm đáng kể. Các ngành kinh tế then chốt được bổ sung những công nghệ hiện đại tiên tiến làm nền tảng cho sự phát triển vững chắc của đất nước sau này. 2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân. Công nghệ được tiếp nhận còn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế. Một số ngành quan trọng như điện tử, ô tô, dệt may giày dép chủ yếu là gia công cho nước ngoài nên giá trị gia tăng không cao, lợi nhuận thu về ít. Bên cạnh đó đầu tư trực tiếp nước ngoài lại tập trung lớn vào lĩnh vực công nghiệp nặng, dầu khí, bất động sản nên chưa tận dụng được lực lượng lao động đông đảo của đất nước. Những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là sự thiếu chủ động trong việc lựa chọn công nghệ, trình độ người lao động còn yếu kém, cơ sở hạ tầng lạc hậu… Tính cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường quốc tế còn yếu kém do hầu hết các công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp FDI là các công nghệ đã và đang được sử dụng phổ biến ở bản quốc. Việc tiếp thu học hỏi công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý của cán bộ Việt Nam trong quá trình hợp tác với nước ngoài chưa đạt được kết quả đáng kể. Công tác ứng dụng khai thác công nghệ còn nhỏ bé, manh mún. Công suất của một số ngành chưa được sử dụng hiệu quả, gây ra lãng phí đối nguồn vốn và công nghệ được chuyển giao (ví dụ như ngành ô tô mới chỉ khai thác được 10% công suất thiết kế)… Công tác giám định công nghệ hiện đang rất yếu kém. Ở nước ta hầu như không có cơ quan nào cung cấp loại dịch vụ này. Ngay Văn phòng thẩm định các dự án đầu tư và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) cũng không đủ người và chuyên môn để thực hiện chức năng giám định. Việc tổ chức giám định cũng gặp nhiều khó khăn bởi trong nhiều lĩnh vực công nghệ chuyên sâu, cán bộ đầu ngành của ta có khi còn không biết công nghệ đó chào bán như thế nào, chứ chưa nói gì đến việc giám định công nghệ đó. Pháp luật về chuyển giao công nghệ vàoViệt Nam có nhiều bất cập: Qui định về các điều khoản không được phép đưa vào hợp đồng chuyển giao công nghệ là quá chặt. Thời hạn tối đa của hợp đồng CGCN không quá 7 năm, và một số trường hợp thời hạn hợp đồng có thể kéo dài đến 10 năm là quá ngắn. Nhiều nhà đầu tư và đối tác nước ngoài cho đây là một thách thức lớn với họ khi thực hiện chuyển giao các công nghệ mới và tiên tiến, những loại công nghệ có tốc độ thay đổi nhanh và hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ đòi hỏi phải thực hiện những cải tiến liên tục. Quy định giá trị góp vốn bằng toàn bộ công nghệ không quá 8% tổng vốn đầu tư (trong trường hợp đặc biệt có thể lên đến 10% tổng vốn đầu tư) và không quá 20% vốn pháp định đã không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao các công nghệ tiên tiến và những bộ phận công nghệ quan trọng cho Việt Nam. CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ CÔNG NGHỆ ĐƯỢC TIẾP NHẬN QUA CÁC DỰ ÁN FDI TẠI VN 3.1 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG CHỈ ĐẠO CỦA NHÀ NƯỚC. Yêu cầu đối với các công nghệ được chuyển giao, căn cứ vào các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước mà Nhà nước đưa ra các yêu cầu cụ thể cho phù hợp với điều kiện, trình độ của từng giai đoạn. Xuất phát từ điều kiện hiện nay của đất nước là năng lực công nghệ thấp, nguồn lao động dồi dào, nguồn tài nguyên phong phú nhưng trữ lượng không lớn ..., Nhà nước ta đã đặt ra các yêu cầu đối với các công nghệ được chuyển giao vào Việt Nam như sau: Là công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết tại Việt Nam hoặc sản xuất ra hàng xuất khẩu. Cho phép nâng cao tính năng kỹ thuật, năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm. Tiết kiệm tài nguyên vật liệu, khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên lao động, tạo công an việc làm. Không gây những tác hại làm ảnh hưởng như: ô nhiễm đất, nước, không khí, gây hại cho hệ thực vật và động vật; làm mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng xấu tới môi trường dân cư về mặt văn hoá và xã hội. Bảo đảm an toàn lao động, và điều kiện lao động cho người lao động. Nếu chưa bảo đảm phải trình bày chi tiết các giải pháp phòng ngừa cụ thể trong hợp đồng chuyển giao công nghệ. 3.2 CÁC MỤC TIÊU TRONG CÔNG TÁC TIẾP NHẬN CÔNG NGHỆ 3.2.1 Mục tiêu chung Trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, nước ta cần tập trung phát triển có chọn lọc một số công nghệ trọng điểm bao gồm; những công nghệ tiên tiến, có tác động to lớn tới việc HĐH các ngành kinh tế – kỹ thuật, bảo đảm quốc phòng, an ninh; tạo điều kiện hình thành và phát triển một số ngành nghề mới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; những công nghệ phát huy được lợi thế cuả nước ta về tài nguyên nông nghiệp nhiệt đới và lực lượng lao động dồi dào ở nông thôn, tạo sản phẩm xuất khẩu và việc làm có thu nhập cho các tầng lớp dân cư. Trong đó có 4 công nghệ nằm trong chương trình ưu tiên quốc gia dành cho “công nghệ cao” của Chính phủ bao gồm: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ tự động hoá. Công nghệ thông tin truyền thông Tập trung nghiên cứu và phát triển: Các công nghệ mới trong lĩnh vực truyền thông Công nghệ phần mềm Nghiên cứu trí tuệ nhân tạo Nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong một số lĩnh vực toán học. Công nghệ sinh học Xây dựng và phát triển các công nghệ của CNSH đạt trình độ hiện đại trong khu vực gồm: Công nghệ gen (tái tổ hợp AND). Công nghệ vi sinh định hướng công nghiệp. Công nghệ enzym – protein phục vụ phát triển công nghiệp thực phẩm, dược phẩm. Công nghệ vật liệu (CNVL) tiên tiến Tập trung nghiên cứu, phát triển và ứng dụng có hiệu quả các hướng công nghệ sau: CNVL kim loại CNVL polime và compozit CNVL điện tử và quang tử CNVL y – sinh. CNVL nano. Công nghệ tự động hoá Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tự động hoá nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế: Ứng dụng công nghệ thiết kế và chế tạo với sự trợ giúp của máy tính (CAD/CAM) trong một số ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu, như: Dệt, may, da giày và ngành cơ khí. Thiết kế, xây dựng phần mềm, lắp ráp, bảo trì vận hành các hệ thống điều khiển, giám sát, thu thập và xử lý số liệu (SCADA). Ứng dụng, phổ cập công nghệ điều khiển số bằng máy tính (CNC) trong các hệ máy móc cho các lĩnh vực gia công chế tạo, máy công cụ phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước và xuất khẩu. Ứng dụng rộng rãi công nghệ công nghệ tự động hoá đo lường và xử lý thông tin phục vụ các ngành sản xuất, dự báo thời tiết và thiên tai, bảo vệ môi trường. Nghiên cứu ứng dụng và phát triển kỹ thuật rô bốt (đặc biệt là rô bốt thông minh và rô bốt song song). Để thực hiện được chương trình phát triển công nghệ cao của quốc gia có nhiều con đường khác nhau: hoặc là tự nghiên cứu triển khai, hoặc du nhập công nghệ từ nước ngoài. Tuy nhiên do năng lực công nghệ của Việt Nam còn thấp kém cùng với sự sẵn có của công nghệ hiện đại bên ngoài thì chúng ta nên tận dụng các nguồn lực bên ngoài để tiết kiệm thời gian và tiền bạc. Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài là một kênh quan trọng và cần phải hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thực hiện 4 chương trình công nghệ trên. 3.2.2 Mục tiêu theo ngành 3.2.2.1 Ngành dầu khí Là một nước có tài nguyên dầu mỏ phong phú vậy mà nước ta vẫn phải nhập khẩu xăng dầu từ nước ngoài và xuất khẩu dầu thô đi các nước khác. Đây là sự lãng phí rất lớn làm giảm đáng kể nguồn lợi của đất nước. Trong khi đó, hầu hết các nước đều có công nghiệp lọc dầu. Ở khu vực Đông Nam Á, Thái Lan lọc 40 triệu tấn/năm, Malaysia 20 triệu tấn/năm, Indonesia 50 triệu tấn/năm... Ở Châu Á, nhiều nước không có dầu như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng phát triển công nghiệp lọc dầu với công suất xấp xỉ đáp ứng nhu cầu nội địa. Mục tiêu của chúng ta là từ nay đến năm 2010, nước ta sẽ xây dựng 2 nhà máy lọc dầu với tổng công suất14 triệu tấn/năm. Nhà máy lọc dầu số 1 đang được triển khai và Nhà máy lọc dầu số 2 đang ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Với công nghệ chế biến sâu, các nhà máy này sẽ giúp khai thác tối đa lợi ích thu được từ lượng dầu được khai thác mà không phải xuất khẩu dầu thô ra nước ngoài. Bên cạnh việc đưa vào sử dụng công nghệ chế biến sâu ngành Dầu khí còn tiếp tục hoàn thiện công nghệ khai thác, thăm dò và chế biến dầu khí đã có, ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý an toàn, đưa các tiến bộ công nghệ áp dụng trong hoạt động phân phối, kinh doanh dầu thô, khí đốt và các sản phẩm dầu khí nhằm giảm hao tổn, thất thoát, bảo đảm an toàn, tiện dụng và bảo vệ môi trường. 3.2.2.2 Ngành Bưu chính, Viễn thông Phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới Bưu chính, Viễn thông quốc gia đảm bảo các yêu cầu sau: Công nghệ tiên tiến, hiện đại; Thích ứng với xu thế hội tụ viễn thông, tin học, phát thanh, truyền hình; Độ bao phủ rộng khắp kể cả vùng núi, biên giới, hải đảo; Bảo đảm hoạt động hiệu quả, an toàn, tin cậy trong mọi tình huống. Mục tiêu phấn đấu tới năm 2010 cả nước đạt mật độ điện thoại 15 –18 máy/100 dân; 100% số hộ gia đình ở khu vực thành thị và 60% số hộ trong cả nước nói chung có máy điện thoại; 30% số thuê bao có khả năng truy cập viễn thông, Internet băng rộng. Để thoả mãn các mục tiêu, yêu cầu nói trên, ở Việt Nam sẽ hình thành xa lộ thông tin quốc gia có dung lượng lớn, tốc độ cao; ứng dụng các phương thức truy cập băng thông rộng như Cáp quang, Vệ tinh và các phương thức Vô tuyến băng rộng khác tới cụm thuê bao, hộ tiêu dùng. Tới năm 2010, xa lộ thông tin quốc gia phải kết nối được tới các huyện và nhiều xã trong cả nước. Mạng thông tin chuyển mạch kênh hiện nay sẽ cơ bản chuyển sang mạng thế hệ mới NGN với đặc trưng cơ bản là dựa trên kỹ thuật chuyển mạch gói, chuyển mạch mềm và cho tất cả các loại dịch vụ. 3.2.2.3 Ngành công nghiệp điện tử Với nền công nghiệp điện tử còn chưa phát triển thì mục tiêu của Việt Nam hiện nay là dựa vào đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển năng lực công nghệ trong nước. Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam có cơ hội khá tốt để thâm nhập vào mô hình phát triển “theo định hướng mạng”, tức là ngành công nghiệp điện tử tìm biện pháp cải tiến mạng lưới cung ứng ở cấp địa phương, cấp vùng và cấp quốc gia nhằm thu hút thêm các chức năng sản xuất chuyên môn hoá khi chúng đang được các tập đoàn xuyên quốc gia đưa ra ngoài. Một khi cơ sở cung ứng chìa khoá trao tay hàng điện tử đã được hình thành ở Việt Nam thì các công ty trong nước có thể tiếp cận được tới mạng lưới cung ứng hàng đầu, có được năng lực sản xuất sản phẩm riêng của họ và thậm chí còn có thể có được mạng lưới phân phối mới trong khu vực và những thị trường khác. Như vậy có thể thấy bước đi như sau: Phát triển mô hình “theo định hướng mạng” ban đầu phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài của các tập đoàn có công nghệ tiên tiến để đưa công nghệ hàng đầu vào trong nước và tạo ra mối liên kết với các thị trường mới. Ngay sau đó, cơ sở cung ứng trong nước có thể được nâng cấp bằng việc tích cực phục vụ các công ty nước ngoài. Một khi các cơ sở cung ứng theo định hướng kinh doanh tiên tiến được thành lập, các dịch vụ sản xuất chuyên môn hoá có thể được đưa ra trên thị trường thế giới cũng như cho các công ty trong nước. Cuối cùng, chiến lược phát triển “theo định hướng mạng” cần hướng tới mục tiêu tạo ra cơ sở cung ứng hàng đầu hỗ trợ sự phát triển của các công ty trong nước và tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chiến lược công nghiệp này phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài để đạt được công nghệ sản xuất tiên tiến. Do vậy việc thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn điện tử lớn trên thế giới là rất quan trọng. 3.2.2.4 Ngành công nghiệp sản xuất ô tô và xe máy Với tình trạng công nghiệp ô tô như hiện nay thì mục tiêu cần đề ra là: mở rộng thị trường cho các phương tiện vận tải sản xuất trong nước và xây dựng cơ sở cung cấp phụ tùng ô tô trong nước. Nếu muốn công nghiệp ô tô phát triển, phải cải tạo mạnh nền tảng kết cấu hạ tầng đường bộ, cầu cống, đường cao tốc, phân phối xăng dầu, việc bán xe và các dịch vụ, bộ máy chính quyền địa phương quản lý việc sử dụng xe và các chương trình dạy đào tạo lái xe, tất cả phải được thu xếp để hỗ trợ cho việc sử dụng ô tô ở Việt Nam và vì vậy hỗ trợ cho sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô trong nước. Việc xây dựng cơ sở cung cấp phụ tùng trong nước đang gặp khó khăn do sự cạnh tranh gay gắt của các nước khác có chi phí lao động rẻ (Mehico, Philipin, Indonexia, Mianma). Để giải quyết vấn đề trên chúng ta có thể thu hút đầu tư của các nhà cung ứng hàng đầu thông qua chính sách thuế, các quy chế sở hữu nước ngoài... Đối với ngành sản xuất xe máy mục tiêu hiện nay là nâng cao tỷ lệ nội địa hoá. So với sản xuất ô tô thì tỷ lệ nội địa hoá đối với sản xuất xe máy cao hơn. Hiện đã có khoảng 20 nhà chế tạo phụ tùng đã được thành lập ở Việt Nam với tổng năng lực đầu tư khoảng 200 triệu USD, và một nhà sản xuất liên doanh – SYM – nhưng vẫn có ý kiến cho rằng, để nội địa hoá hơn 50% sản xuất các bộ phận thì số doanh nghiệp sản xuất phụ tùng có chất lượng vẫn còn thiếu. 3.2.2.5 Ngành dệt may, giày dép Ngành Dệt may Từ nay đến 2010, ngành Dệt may cần tập trung đầu tư hiện đại hoá cả chiều sâu lẫn chiều rộng để vừa nâng cao được chất lượng sản phẩm, vừa mở rộng sản xuất. Mũi nhọn đầu tư là sản phẩm may chất lượng cao xuất khẩu và nguyên vật liệu cung ứng cho ngành May. Song song đó, cần củng cố, đổi mới công tác quản lý sản xuất, tăng năng suất lao động, ổn định chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh hoạt động tiếp thị để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường. Do việc đầu tư sản xuất vải dệt thoi, đặc biệt ở khâu in nhuộm, hoàn tất đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, trình độ công nghệ và quản lý kỹ thuật cao nên trong các năm gần đây các doanh nghiệp Việt Nam đều chưa thực hiện được nhanh. Do vậy, việc vận động các nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này có tính chiến lược để thực hiện được việc tăng trưởng sản lượng vải sản xuất tại Việt Nam, tăng tỷ lệ nội địa hoá. Ngành Giày dép Đối với ngành Giày dép Việt Nam giai đoạn từ nay đến năm 2010, phải biết kết hợp lợi thế số lao động đông, giá nhân công rẻ để nhận chuyển giao các công nghệ hiện đại. Giải pháp này gồm hai hướng chính: Ứng dụng CAD cho công tác tạo mẫu sản phẩm: Công tác tạo mẫu trong công nghiệp giầy là cả một hệ thống công việc từ ý tưởng sáng tạo mẫu cho đến triển khai mẫu vào sản xuất. Tuy nhiên hiện nay, lĩnh vực tạo mẫu của ngành Giầy Việt Nam còn qua nghèo nàn, lạc hậu, phụ thuộc hẳn vào nước ngoài và các công ty mẹ ở lãnh thổ. Vậy, sắp tới một số doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp ở khu công nghệ cao, sẽ tiếp nhận, nắm bắt và tạo điều kiện để thu hút đầu tư trang bị CAD 2D, theo lộ trình từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Riêng về hệ CAD 3D chỉ nên hạn chế thu hút đầu tư một số ít mô đun kết nối được với 2D, các hệ 3D cho số hoá các phom giầy đang có sẵn... Được như vậy, chắc chắn giá thành một đôi giầy xuất xưởng sẽ có khả năng cạnh tranh cao. Quản lý cơ sở dữ liệu: Hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu PDM (Product Data Management) là giải pháp tinh giản biên chế gián tiếp nhanh gấp 5 lần mức tác nghiệp thủ công; số liệu sản xuất kinh doanh được phản ánh nhanh, rõ ràng, chính xác; các công nhân viên ở các bộ phận khác nhau gắn kết trong một “thư viện thông tin” về kế hoạch – kỹ thuật – sản xuất – tài chính của doanh nghiệp. Cần khuyến khích thu hút đầu tư vào lĩnh vực này để tiến kịp trình độ quản lý sản xuất kinh doanh hiện nay trong cộng đồng giầy thế giới, đưa đến hiệu quả rất cao trong sản xuất kinh doanh. 3.2.2.6 Ngành công nghiệp hoá chất Nhiệm vụ đặt ra cho ngành Hoá chất Việt Nam trong thời gian tới là: Trên cơ sở khai thác triệt để cơ sở vật chất hiện có, kết hợp với đầu tư chiều sâu, cải tiến, cải tạo và đầu tư mới các công trình trọng điểm, nhất là ngành hoá dầu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và các ngành kinh tế quốc dân khác như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, săm, lốp ô tô, xe máy, xe đạp, chất giặt rửa, pin, ắc quy... Những mục tiêu đó là: Đẩy mạnh ngành hoá chất hữu cơ dựa trên dầu khí nhằm khắc phục tình trạng không đồng bộ trong cơ cấu ngành, tiến tới xây dựng một ngành công nghiệp hoá chất có cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, bao gồm cả sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất hàng tiêu dùng. Ngành công nghiệp Hoá chất tương lai phải bảo đảm khai thác được lợi thế của Việt Nam về các tài nguyên, lao động có trình độ văn hoá cao, và vị trí địa lý thuận lợi trên trường quốc tế. Đẩy mạnh khai thác và đầu tư phát triển nguồn tài nguyên trong nước; Tiến tới chỉ xuất khẩu các nguyên liệu hoá chất đã qua chế biến. Công nghệ phải đạt trình độ tiên tiến thế giới, nhằm đảm bảo các yêu cầu cạnh tranh về chất lượng và giá cả trên thị trường trong và ngoài nước và yêu cầu bảo vệ môi trường. 3.3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ QUA CÁC DỰ ÁN FDI TẠI VIỆT NAM. 3.3.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 3.3.1.1 Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào khoa học công nghệ Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đem lại cho chúng ta những công nghệ hiện đại tiên tiến đem lại sự thay đổi cho nền kinh tế đất nước. Do đó chúng ta cần tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các dự án đầu tư kèm theo chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó cần chú trọng vào một số ngành, lĩnh vực đang rất cần thu hút đầu tư để phát triển một cách toàn diện. Chẳng hạn, ngành công nghiệp điện tử cần tích cực thu hút đầu tư của các tập đoàn có công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng công nghiệp điện tử Việt Nam và thực hiện chiến lược phát triển “theo định hướng mạng”. Ngành công nghiệp sản xuất ô tô cần thu hút đầu tư nước ngoài vào việc cung ứng phụ tùng trong nước nhằm giảm chi phí sản xuất và nâng cao tỷ lệ nội địa hoá. Ngành dệt may giày dép cần thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu và thiết kế để tạo ra những sản phẩm có mẫu mã đa dạng phong phú, chi phí thấp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trong nước... Để làm được điều này chính phủ Việt Nam cần tập cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư theo một số hướng sau: Áp dụng các công cụ chính sách tài chính ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào khoa học công nghệ, đặc biệt là các công nghệ được ưu tiên. Mở rộng phạm vi quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với quy định của WTO và các Điều ước quốc tế đã ký kết. Cải cách một số quy định về chuyển giao công nghệ như thời gian chuyển giao, giá trị công nghệ đem góp vốn… Đẩy nhanh lộ trình áp dụng cơ chế một giá và cắt giảm một số chi phí sản xuất nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và xoá bỏ phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tập trung tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhằm thúc đẩy triển khai dự án, hỗ trợ các doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động kinh doanh có hiệu quả, qua đó nâng cao uy tín của môi trường đầu tư ở nước ta. Thực hiện vận động xúc tiến đầu tư tại các địa bàn có trọng điểm trong đó có Nhật Bản, Hoà Kỳ, Đài Loan… dưới nhiều hình thức khác nhau như tổ chức các đoàn đi vận động đầu tư, tổ chức gặp và làm việc với các tập đoàn lớn đã có dự án đầu tư hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam, tăng cường thông tin về đầu tư nước ngoài qua Internet và các phương tiện thông tin đại chúng, nhanh chóng tăng cường đại diện của Việt Nam ở nước ngoài về xúc tiến đầu tư kết hợp với cơ quan ngoại giao để tăng cường vận động đầu tư. Kiến nghị Chính phủ hàng năm trích 1% khoản thu ngân sách từ các doanh nghiệp có vốn FDI dể trang trải kinh phí vận động xúc tiến đầu tư. Triển khai nhanh và có hiệu quả các Nghị định mới của Chính phủ như Nghị định 27/2003/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 24/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nghị định 38/2003/NĐ-CP về chuyển đổi một số doanh nghiệp FDI sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần. Phát triển toàn diện nhân tố con người Trong hơn một thập kỷ qua, thay đổi công nghệ đã gây ra tình trạng giảm cầu đối với lao động rẻ tay nghề thấp. Như vậy Việt Nam đang mất dần đi lợi thế cạnh tranh về lao động giá rẻ của mình nếu chúng ta không có chiến lược phát triển nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao. Bên cạnh đó cũng cần nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao năng lực quản lý (thẩm định) và khai thác công nghệ được chuyển giao. Chúng ta nên tập trung vào những vấn đề sau: Đổi mới cơ chế quản lý nhân lực KH&CN nhằm giải phóng tiềm năng, phát huy tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ KH&CN: Từng bước chuyển chế độ biên chế sang chế độ hợp đồng lao động với cán bộ KH&CN, tạo điều kiện cho việc lưu chuyển cán bộ, hình thành thị trường lao động trong hoạt động KH&CN; Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý nhân sự đối với các tổ chức KH&CN, tạo điều kiện cho việc lưu chuyển cán bộ, hình thành thị trường lao động trong hoạt động KH&CN. Đẩy mạnh việc tuyển chọn và gửi học sinh, sinh viên, cán bộ KH&CN đi đào tạo một cách đồng bộ ở các nước có trình độ KH&CN tiên tiến, trước mắt trong một số lĩnh vực KH&CN trọng điểm quốc gia. Phối hợp chặt chẽ giữa việc đào tạo với cơ quan sử dụng cán bộ KH&CN. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, các nhà bác học, các tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề, hình thành các tập thể KH&CN mạnh, đủ sức giải quyết những nhiệm vụ KH&CN quan trọng . Điều chỉnh cơ cấu đào tạo công nhân kỹ thuật (đặc biệt công nhân có tay nghề cao) cho các ngành đang thu hút đầu tư nước ngoài. Nâng cao nội dung về mặt thực tiễn trong các chương trình giáo dục và đào tạo cũng như trong giáo trình. Dành các biện pháp khuyến khích và đối xử đặc biệt đối với các công ty nước ngoài hiện đang làm việc và tham gia vào đào tạo trình độ cao, chuyển giao công nghệ và hoạt động nghiên cứu triển khai ở Việt Nam. Tăng cường nguồn vốn tài trợ cho hoạt động R&D để ứng dụng trong sản xuất. Hình thành các mối liên hệ giữa các trường đại học, các viện R&D trong nước với các đối tác được lựa chọn ở nước ngoài. 3.3.1.3 Cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật Như chúng ta đã biết cơ sở hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài vào những ngành có công nghệ cao. Muốn tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghệ cao chúng ta cần tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế bao gồm viễn thông, điện, cảng biển và cảng hàng không; hạ tầng thương mạ gồm kho tàng, chợ đầu mối ở nơi giao nhau của các tỉnh. Xây dựng các khu công nghệ cao, khu công nghiệp để di dời các doanh nghiệp gây ô nhiễm trong thành phố, thị trấn, thị xã; xây dựng khu công nghiệp nhỏ cho làng nghề và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tập trung xây dựng hạ tầng phục vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, trước mắt là cho khu công nghệ cao Hoà Lạc (Hà Nội) và Quang Trung (TP. Hồ Chí Minh). Mở rộng các hình thức thu hút vốn của nhân dân như xây dựng vận hành chuyển giao (BOT), xây dựng chuyển giao (BT); liên doanh, phát hành chứng khoán trên thị trường chứng khoán trong nước và quốc tế. 3.3.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp FDI 3.3.2.1 Chủ động lựa chọn những công nghệ phù hợp Như trên đã phân tích, công tác lựa chọn công nghệ thích hợp của Việt Nam hiện nay còn kém. Các doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ do sức ép của thị trường chứ không phải do chủ động theo kế hoạch. Hơn nữa, những công nghệ chuyển giao phần lớn là do phía nước ngoài giới thiệu chứ không phải tự các doanh nghiệp của ta tìm kiếm hoặc tự nghiên cứu, thiết kế. Do đó, để lựa chọn được công nghệ thích hợp, chúng ta cần nắm được thông tin. Từ đó trên cơ sở nhu cầu của doanh nghiệp, chúng ta chủ động tìm bên cung cấp công nghệ. Các lĩnh vực thông tin liên quan đến bên cung cấp công nghệ và bên công nhận công nghệ thường là lịch sử và kinh nghiệm, địa vị hiện tại, chiến lược và kế hoạch của doanh nghiệp. Khi tìm kiếm công nghệ chúng ta có thể dựa vào các cách như con đường phi chính thức, con đường qua hội chợ thương mại, con đường thông qua các ấn phẩm và các nhà tư vấn, con đường thông qua dịch vụ thông tin của Chính phủ và con đường thông qua đấu thầu. Hội chợ thương mại là một cơ hội tuyệt vời để tiếp xúc với các đối tác cung cấp công nghệ. Các công ty tham gia hội chợ có mong muốn bán được hàng, các công nghệ mới nhất được trưng bày; Trong một lĩnh vực thay đổi nhanh chóng như tự động hoá văn phòng, những thay đổi từ năm này đến năm sau một cách nhanh chóng làm cho các ý tưởng trở nên lỗi thời. Vấn đề là ở chỗ biết được khi nào và ở đâu người ta tổ chức hội chợ. UNDIO đã giải quyết vấn đề này băng việc phát hành một cuốn niên giám về gặp gỡ, hội chợ, triển lãm và hội thảo. mục đích của cuốn niên giám này là: “Thông tin cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và công nghiệp; các nhà lập kế hoạch, nhân sự ở các nước đang phát triển về cơ hội nhận được thông tin về các thiết bị và các công nghệ không phổ biến ở nhiều nơi”. Trên thế giới, nhiều ấn phẩm cung cấp các thông tin về thị trường công nghệ như cuốn “Những cơ hội công nghệ” của Techtrade. Ấn phẩm này xuất bản mỗi năm một lần bao gồm hai phần “Chào hàng” và “Hỏi hàng”. Các công ty Châu Âu hay đưa ra lời chào bán công nghệ. Mỗi một lời “Chào hàng” như vậy khoảng một trang bao gồm các thông tin chủ yếu như mô tả về công nghệ, ưu điểm chính, ứng dụng chính của công nghệ, giai đoạn phát triển của công nghệ, dữ liệu kỹ thuật (giá cả…), chào hàng thương mại (giấy phép, phân phối, hợp tác kỹ thuật…)… 3.3.2.2 Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ lao động. Đội ngũ lao động của Việt Nam có ưu điểm là giá rẻ, nhưng trình độ và tay nghề lại thấp. Đội ngũ lao động làm công tác quản lý có trình độ văn hoá cao nhưng không được rèn luyện nhiều trong môi trường kinh doanh nên khả năng làm việc còn kém. Đội ngũ lao động trực tiếp tham gia sản xuất nhiều khi chưa được qua trường hợp đào tạo, hoặc có qua đào tạo thì chất lượng cũng không đảm bảo. Hơn nữa tính chất công việc, trình độ công nghệ và máy móc thiết bị của từng công ty cũng khác nhau. Do đó để nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty, nâng cao khả năng sử dụng công nghệ và bảo dưỡng máy móc thiết bị thì mỗi doanh nghiệp FDI đều nên tiến hành đào tạo đội ngũ lao động. Việc đào tạo có thể được thực hiện theo nhiều hình thức, như gửi người đi đào tạo tại cơ sở ở nước ngoài, đào tạo tại chỗ, đào tạo trong quá trình làm việc, qua trao đổi với chuyên gia nước ngoài… Việc đào tạo có thể là một phần của hợp đồng chuyển giao công nghệ, nhưng cũng có thể chỉ là hoạt động cần làm vì lợi ích của chính doanh nghiệp. 3.3.2.3 Khuyến khích sáng tạo, cải tiến kỹ thuật trong quá trình sử dụng công nghệ. Các công nghệ chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam đều là công nghệ hiện đại hơn so với các công nghệ hiện có tại Việt Nam. Tuy nhiên khi được phát minh và triển khai ở nước bản quốc thì họ lại tính đến những yếu tố như thu nhập, sở thích, điều kiện cơ sở hạ tầng, thời tiết khí hậu… của chính nước đó. Do đó khi tiến hành đầu tư tại Việt Nam thì mỗi doanh nghiệp FDI đều nên tính đến các điều kiện đặc thù của Việt Nam để cải tiến cho phù hợp. Ví dụ như thu nhập của đa số người dân Việt Nam đều thấp thì các doanh nghiệp sản xuất xe máy nên thiết kế ra các sản phẩm giá rẻ mà vẫn đảm bảo chất lượng (như trường hợp xe máy Wavea); đường xá Việt Nam gồ ghề thì nên cải tiến sao cho giảm độ ồn, rung của động cơ… Có như vậy thì mới vừa tạo ra uy tín cho doanh nghiệp, vừa tăng sức tiêu thụ của sản phẩm. Khi chuyển giao công nghệ vào Việt Nam các nhà đầu tư nước ngoài không nên chỉ dừng lại ở việc sử dụng công nghệ mà còn nên phát triển công nghệ thêm những tầm cao mới. Như chúng ta đã biết tri thức khoa học không chỉ có mặt ở nước phát minh công nghệ mà còn cả ở nước tiếp nhận công nghệ. Hơn nữa con người Việt Nam vốn rất thông minh, dễ tiếp thu cái mới và khả năng tư duy sáng tạo cao. Do vậy các doanh nghiệp FDI cũng nên tận dụng đội ngũ trí thức sẵn có này để sáng tạo ra sản phẩm mới, phương thức sản xuất mới nhằm tiết kiệm nguyên liệu, nâng cao năng suất lao động đem lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp. Muốn vậy mỗi doanh nghiệp FDI nên nghĩ đến việc đặt thêm một cơ sở nghiên cứu và phát triển sản phẩm để khai thác chất xám của lực lượng lao động trong nước, tạo ra công nghệ để bán ra nước ngoài. KẾT LUẬN rong những năm qua chuyển giao công nghệ qua các dự án FDI đã đem lại cho nước ta sự đổi mới về chất trong nền kinh tế. Các ngành đều được bổ sung thêm những năng lực sản xuất tuyệt vời và tạo ra được các sản phẩm chất lượng cao, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài. Công nghệ chuyển giao từ nước ngoài đã góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp văn minh. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được thì chúng ta vẫn gặp phải một số khó khăn. Lợi dụng tình trạng kém hiểu biết của các cán bộ Việt Nam nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đưa vào những công nghệ cũ kỹ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường, định giá cao công nghệ so với giá trị thực tế làm cho đất nước phải gánh chịu những khoản thiệt hại lớn. Sản phẩm sản xuất ra thường kém sức cạnh tranh. Ngoài lĩnh vực dầu khí, dệt may, giày dép thì những ngành như điện tử, viễn thông, hoá chất, ô tô đều là những ngành có công nghệ cao nhưng không cạnh tranh được với các nước ngay cả các nước trong khu vực ASEAN. Do đó việc chúng ta cần làm trong thời gian tới là phải tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; bên cạnh đó cần nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong nước nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động chuyển giao công nghệ, không ngừng học hỏi tiếp thu công nghệ nước ngoài để xây dựng công nghệ cho chính đất nước mình. TÀI LIỆU THAM KHẢO Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng – Chủ biên (2002), Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Lao động – Xã hội. Nguyễn Thị Hường – Chủ biên (2002), Quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI, NXB Thống kê. Bộ Công nghiệp (2000), 55 năm ngành công nghiệp Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội. Bộ Khoa học và công nghệ (2003), Công nghệ và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật. Chính sách công nghiệp trong các nền kinh tế thị trường phát triển, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội 1994. MPI/DSI (2001), Việt Nam hướng tới 2010, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội. Nguyễn Thị Hường (2000), Quản trị dự án đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ, NXB Thống kê. Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc CNH, HĐH ở Việt Nam. Phùng Xuân Nhạ (2001), Đầu tư quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001. Tiềm năng Việt Nam thế kỷ 21, NXB Thế giới 12/2002. Trần Trọng Toản, Nguyễn Đức Trí – Chủ biên, Công nghiệp dầu khí và nguồn nhân lực, NXB Thanh Niên 2001 Trần Văn Thọ (1997), Công nghiệp hoá Việt Nam trong thời đại Thái Bình Dương, NXB TP. Hồ Chí Minh. Trung tâm KHXH và Nhân văn Quốc gia (2003), Các công ty xuyên quốc gia. Khái niệm, đặc trưng và những biểu hiện mới, NXB Khoa học Xã hội. TTKHXH&NVQG, Viện Kinh tế Thế giới (2002), Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, NXB Khoa học và Xã hội, Hà Nội. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, UNDP (2003), Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, NXB Giao thông vận tải. Bộ KH&ĐT (3/2004), Báo cáo tình hình và giải pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn tới. Viện Nghiên cứu Thương Mại (10/2003), Báo cáo nghiên cứu thị trường hàng điện tử. Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ Việt Nam đến 2010, Tạp chí Hoạt động Khoa học số 2/2004. Hoàng Quân, “Da” vẫn chưa đi đôi với “Giầy”, Tạp chí Công nghiệp 9/2003. Hoàng Văn Dụ, Tổng công ty Điện tử và Tin học Việt Nam với việc thực hiện chương trình sản phẩm công nghiệp trọng điểm, Tạp chí Việt Nam 1/2004. Lê Thành Đồng, Thu hút vốn FDI - Làm thế nào để gió đổi chiều trong mùa xuân mới, Tạp chí Công nghiệp 1/2004. Lỗ Thị Nhụ, Cần một hệ thống chính sách đồng bộ cho sự phát triển ngành sản xuất ô tô Việt Nam, Tạp chí Công nghiệp số 17/2003. Nguyễn Kinh Luân, Khoa học và Công nghệ song hành, hội nhập, thúc đẩy sản xuất, Tạp chí công nghiệp 1/2004. Nguyễn Văn Tài, Các giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài: Chuyển giao công nghệ cho ngành Da Giầy Việt Nam đến năm 2010, Tạp chí Công nghiệp Việt Nam 10/2001. Vinaseek, 2/2002, “Newpage 2”. Vinaseek, 2003, “Ứng dụng công nghệ thông tin: Một năm nhìn lại”. NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Hà Nội, ngày……tháng……năm 2004. NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN Hà Nội, ngày……tháng……năm 2004.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhương hướng và Giải pháp phát triển đường Giao thông Nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng đến năm 2010.doc
Luận văn liên quan