Luận văn Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ngãi

Nhằm đảm bảo cho các giải pháp nêu trên nhanh chóng phát huy tác dụng trong quá trình quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn xin đưa ra một số kiến nghị như sau: - Đối với Chính phủ và Bộ ngành trung ương Hiện nay cơ chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng đã được Nhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung tương đối kịp thời, đáp ứng yêu cầu quản lý điều hành các hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư dần đi vào nề nếp. Tuy nhiên, các cơ chế chính sách này không có tính ổn định lâu dài, thường xuyên thay đổi gây ra nhiều khó khăn và bất cập cho những người làm công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB từ vốn NSNN. Do đó, việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện về cơ chế chính sách quản lý đầu tư có tính100 thống nhất và ổn định lâu dài, trên cơ sở phân tích căn nguyên đã dẫn đến lãng phí, thất thoát vốn đầu tư từ NSNN. - Thường xuyên tham vấn ý kiến các địa phương trong việc thực hiện các cơ chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng, từ đó cắt giảm bớt các thủ tục hành chính rờm rà, không cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi, môi trường thông thoáng hơn cho các địa phương khi tổ chức triển khai thực hiện. - Tiếp tục rà soát, điều chỉnh và bổ sung các tiêu chí, nguyên tắc, các cơ chế điều hành, quản lý và phân bổ vốn đối với chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia, vốn hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương để các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2017-2020, giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch hàng năm. - Tăng cường hướng dẫn, đào tạo, hỗ trợ và giám sát các cơ quan được phân cấp về lập kế hoạch đầu tư và triển khai thực hiện đầu tư dự án. - Kịp thời ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện các Luật mới, sửa đổi, bổ sung như: Luật Ngân sách, Luật Đầu tư công; Luật Đấu thầu - Hiện nay, nguồn lực của Trung ương mới chỉ bố trí đáp ứng khoảng 16% nhu cầu vốn để thực hiện chương trình cho tỉnh. Vì vậy, Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương quan tâm, cân đối các nguồn vốn để ưu tiên bố trí, hỗ trợ vốn nhiều hơn nữa đối với tỉnh Quảng Ngãi./.

pdf111 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 21/08/2021 | Lượt xem: 145 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ngãi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Ư XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI 3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng về quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách Nhà nước tại tỉnh Quảng Ngãi. 3.1.1. Quan điểm Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB từ vốn NSNN tại tỉnh, quá trình quản lý cần quán triệt các quan điểm sau: - Việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, phân bổ chi ngân sách nhà nước trong đầu tư XDCB phải bám sát mục tiêu và định hướng phát triển KTXH 5 năm giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025 của tỉnh. - Từng bước điều chỉnh cơ cấu chi NSNN cho đầu tư XDCB theo hướng giảm dần đầu tư từ NSNN. Tăng cường các biện pháp huy động vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có khả năng thu hồi vốn. - Thực hiện nghiêm túc Luật Ngân sách nhà nước và các quy định có liên quan trong chi ngân sách nhà nước cho đầu tư XDCB tại tỉnh. Thực hiện công khai, minh bạch, rõ ràng trong công tác quản lý chi vốn đầu tư XDCB từ NSNN. - Tăng cường thanh tra, kiểm tra chặt chẽ theo quy định, hướng dẫn, chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong đầu tư XDCB. Rà soát tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật để phấn đấu giảm suất đầu tư nhưng vẫn đảm bảo chất lượng công trình. 76 - Đơn vi, cá nhân ký trình dự án đầu tư phải chịu trách nhiệm về các thông tin, số liệu nêu trong hồ sơ dự án đã được thẩm định; người có thẩm quyền quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. - Vốn hỗ trợ có mục tiêu của ngân sách trung ương phải bố trí đúng theo các mục tiêu hỗ trợ ghi trong kế hoạch, không được tự ý điều chỉnh chuyển vốn của mục tiêu này cho mục tiêu khác khi chưa có ý kiến của cấp có thẩm quyền. - Ngân sách tỉnh chỉ hỗ trợ một phần vốn cho các dự án, các huyện, thành phố có trách nhiệm bố trí thêm vốn đầu tư từ ngân sách địa phương nhằm đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm đưa công trình vào khai thác, sử dụng, mang lại hiệu quả thiết thực. 3.1.2. Mục tiêu 3.1.2.1. Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2017-2020 Thực hiện thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, kết hợp phát triển cả chiều rộng và chiều sâu; phát triển kinh tế đồng bộ với phát triển văn hóa - xã hội; phấn đấu giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường hợp lý; nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước; giữ vững quốc phòng, an ninh; phấn đấu sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu chung của quản lý nhà nước đối với các DA đầu tư XDCB cần phải đạt là: Một là, đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kì của quốc gia; Hai là, đảm bảo qúa trình thực hiện đầu tư, xây dựng công trình theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế kỹ thuật; Ba là, huy động tối đa và sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư. 77 Để phát triển kinh tế nhanh, bền vững, kết hợp phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, đồng bộ với phát triển văn hóa – xã hội; phấn đấu giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; quản lý, sử dụng tài nguyên hợp lý, chú trọng bảo vệ môi trường; nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước; giữ vững quốc phòng, an ninh; phấn đấu sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân 5 năm 6-7% (giá so sánh năm 2010); đến năm 2020, GRDP bình quân đầu người khoảng 3.600-4.000 USD; tỷ trọng cơ cấu ngành kinh tế trong GRDP đến năm 2020: Công nghiệp 60-61%, dịch vụ 28-29%, nông nghiệp 11-12%. Xác định 03 khâu đột phá: (1) Phát triển công nghiệp, (2) xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông và hạ tầng đô thị, (3) nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Ba nhiệm vụ trọng tâm: (1) Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, (2) Phát triển dịch vụ, du lịch và kinh tế biển, đảo, (3) Cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. 3.1.2.2. Mục tiêu cụ thể năm 2017: Năm 2017 được xác định là năm: “Đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và khởi nghiệp”. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, năng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cấp chính quyền; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và tạo điều kiện khuyến khích đổi mới, sáng tạo khởi nghiệp; đẩy mạnh xã hội hóa; khơi thông; huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển; sắp xếp nâng cao năng lực, chất lượng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; quản lý khai thác hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường, phát triển giáo dục, văn hóa, y tế; đảm bảo an sinh xã hội và chăm lo đời sống nhân dân, giữ vững 78 ổn định chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, đảm bảo trật tự và an toàn xã hội. 3.1.3. Định hướng đầu tư có tính đột phá trong thời gian đến Để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra về phát triển kết cấu hạ tầng của Chương trình hỗ trợ giảm nghèo trên địa bàn tỉnh trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2025, UBND tỉnh Quảng Ngãi đề ra những nhiệm vụ sau: - Tiếp tục hoàn thiện các quy hoạch trên địa bàn tỉnh, nhất là quy hoạch tại các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn. + Khẩn trương rà soát, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện các quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch chi tiết theo quy hoạch chung mới được điều chỉnh làm cơ sở đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được đồng bộ, thống nhất. + Tiếp tục nghiên cứu và đề xuất cơ chế chính sách tạo nguồn vốn cho địa phương để cùng tập trung xây dựng các công trình trọng điểm, thực hiện đầu tư xây dựng theo quy hoạch, để kịp thời hoàn thành quy hoạch chi tiết. + Kiểm tra, rà soát lại tất cả các đồ án quy hoạch đô thị, các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; phát triển nguồn nhân lực, quy hoạch cán bộ, luân chuyển cán bộ; thương mại – dịch vụ; phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, đã thực hiện; thống kê các vấn đề bất cập, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện; từ đó đề xuất giải pháp điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. + Thương xuyên đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án trên địa bàn tỉnh, nhất là thi công các hạng mục công trình trên địa bàn các huyện, xã, thôn nghèo. - Từng bước hoàn thiện, phát triển hạ tầng đô thị; hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục, dạy nghề và y tế. 79 + Đẩy nhanh triển khai đầu tư các công trình trọng điểm đã có chủ trương đầu tư thuộc các dự án trong quy hoạch ngành, lĩnh vực; các công trình có sử dụng nguồn vốn ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh, ngân sách cấp huyện, vốn trái phiếu Chính phủ, nhất là các công trình hạ tầng đô thị; hạ tầng giao thông, đảm bảo giao thông thông suốt trong bốn mùa của tuyến đường từ trung tâm huyện đến các xã, thôn; cơ sở giáo dục đảm bảo chuẩn quốc gia; các xã điều có trạm y tế; hệ thống thủy lợi đảm bảo nước tưới đến các cánh đồng,. + Tập trung, giải quyết thấu đáo, dứt điểm trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng; tạođiều kiện tốt nhất có thể để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cá nhân triển khai các công trình, dự án đã đăng ký đầu tư trên địa bàn. - Huy động tối đa mọi nguồn lực để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong chương trình hỗ trợ giảm nghèo. + Tranh thủ mọi nguồn lực và tập trung, ưu tiên nguồn lực để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ cho các thôn, xã và huyện nghèo, khu vực miền núi, bãi ngang ven biển, hải đảo theo bộ theo tiêu chí nông thôn mới. + Tăng cường công tác xúc tiến, kêu gọi đầu tư các dự án thuộc chương trình kết cấu hạ tầng sử dụng nguồn vốn ODA, vốn doanh nghiệp bằng nhiều hình thức: BOT, BT,... + Tích cực hơn nữa trong việc huy động nguồn vốn xã hội hóa để cùng với ngân sách nhà nước đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong các ngành, lĩnh vực của chương trình. Như vậy, trong kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh vẫn là thực hiện các chính sách huy động mọi nguồn lực để tập trung ĐTXD CSHT. Để đảm bảo có đủ lượng vốn cần thiết, việc đẩy mạnh huy động các nguồn vốn đầu tư đa dạng cho phát triển kết cấu hạ tầng được coi là giải pháp mang tính đột 80 phá, trong cơ cấu phân bổ vốn đầu tư XDCB phải có trọng tâm, trọng điểm đi đôi với các giải pháp điều hành quản lý vốn đầu tư XDCB một cách hữu hiệu thì mới đạt kết quả kinh tế cao. Nhìn lại thời gian qua, trong khi Nhà nước chưa có đủ nguồn vốn để đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật để phục vụ phát triển KT-XH; mọi sự tăng lên trong quá trình phát triển kinh tế đều chỉ dựa vào một hệ thống hạ tầng kỹ thuật chưa tương xứng. Đặc biệt khi hạ tầng giao thông đường bộ yếu kém thì hàng loạt các mâu thuẫn sẽ nảy sinh như hạn chế về lưu thông hàng hóa, tăng chi phí sản xuất, giảm năng suất lao động làm giảm dần sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa được sản xuất ở khu vực hạ tầng yếu kém và nhìn rộng ra thì nền kinh tế ngày càng yếu kém. Điều này đã khẳng định quan điểm CSHT kỹ thuật phải đi trước một bước so với cơ sở sản xuất hàng hoá là đúng đắn; nhưng để thực hiện quan điểm trên trong khi nguồn lực đầu tư của Nhà nước có hạn thì yêu cầu phải huy động các nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là rất cần thiết. Tuy nhiên không thể đầu tư công trình bằng mọi giá mà phải xem xét đến lợi ích kinh tế xã hội mà dự án mang lại thông qua công tác quản lý vốn của dự án trong tiến trình đầu tư. 3.2. Những giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách Nhà nước tỉnh Để tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB tại tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới, cần quán triệt, thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp sau: 3.2.1. Quản lý chặt chẽ công tác quy hoạch xây dựng - Xây dựng cơ chế chính sách để huy động mọi nguồn lực: giành đầu tư đặc biệt về ngân sách, các nguồn tài chính, các phương tiện vật chất kỹ thuật... tạo điều kiện cho KT-XH của tỉnh phát triển toàn diện, vững chắc. 81 - Phân công, phân cấp cho các Ban ngành và các huyện, thị trong tỉnh được thực hiện một số chức năng quyền hạn ưu tiên về thu hút vốn, về quản lý dân cư, xây dựng cơ bản, nhà đất, các công trình phúc lợi, các công trình văn hoá, nghệ thuật... trên địa bàn. - Tổ chức hội nghị rộng rãi với các nhà đầu tư để giới thiệu những ngành, lĩnh vực, khu vực, những công trình, dự án ưu tiên và các chính sách ưu tiên... nhằm thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. - Xây dựng quy chế quan hệ giữa tỉnh với Trung ương, với các tỉnh lân cận và giữa các huyện thị trong tỉnh để tăng cường phối hợp, mở rộng các hình thức liên kết, tạo sức mạnh tổng hợp trong việc triển khai thực hiện quy hoạch. - Thực hiện công khai hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2030. Tuyên truyền, thu hút sự chú ý của nhân dân và mở rộng sự hiểu biết về công tác quy hoạch trong cán bộ viên chức, trong dân cư, trong giới kinh doanh và các nhà đầu tư để thực hiện quy hoạch. - Phổ biến rộng rãi trong nhân dân các ngành, lĩnh vực, lãnh thổ được quy hoạch và khuyến khích ưu tiên. - Cụ thể hóa các nội dung quy hoạch vào các chương trình nghị sự, chương trình làm việc của các cấp ủy, chính quyền. - Thường xuyên cập nhật, cụ thể hóa các nội dung quy hoạch và cụ thể hóa quy hoạch thành các kế hoạch 5 năm, hàng năm - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch; Quy hoạch xây dựng là khâu hết sức quan trọng trong quy trình quản lý vốn đầu tư. Tuy nhiên công tác quy hoạch thời gian qua của tỉnh còn nhiều bất cập: Còn tư tưởng chủ quan cục bộ địa phương, chưa gắn trách nhiệm của người đứng đầu, bố trí vốn quy hoạch hàng năm chưa thỏa đáng, quy hoạch chưa được công khai thường xuyên, còn tình trạng xây dựng không theo quy 82 hoạch, bổ sung chắp vá và thiếu mỹ quan gây lãng phí trong đầu tư. Để khắc phục những tồn tại, hạn chế thất thoát vốn đầu tư XDCB, cần thực hiện các giải pháp sau: - Công tác quy hoạch phải đi trước một bước đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH với quy hoạch xây dựng và quy hoạch sử dụng đất, giữa quy hoạch chung với quy hoạch chi tiết. Ưu tiên bố trí vốn hợp lý cho công tác quy hoạch. Có như vậy thì công trình xây dựng xong, không phải phá đi để di chuyển địa điểm như thời gian vừa qua. - Tăng cường quản lý và chấm dứt việc giao đất, cấp phép xây dựng không theo quy hoạch, đảm bảo các quy hoạch KT-XH, quy hoạch xây dựng sau khi được phê duyệt phải được chỉ đạo thực hiện thống nhất. Nếu xây dựng không theo quy hoạch được duyệt thì kiên quyết không bố trí vốn đầu tư, người đứng đầu quyết định sai phải được xử lý thỏa đáng và chịu trách nhiệm bồi thường vật chất. - Đổi mới phương pháp quy hoạch, lựa chọn các đơn vị tư vấn có chất lượng chuyên môn cao để thực hiện các đồ án quy hoạch. Thẩm định, phê duyệt quy hoạch phải có sự tham gia của các chuyên gia, tư vấn giỏi. Tổ chức công bố công khai quy hoạch được duyệt theo quy định để nhân dân biết và giám sát thực hiện. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy hoạch, kiên quyết xử lý các trường hợp xây dựng trái phép không theo quy hoạch được duyệt, đặc biệt đối với các trường hợp giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án không phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt. 83 3.2.2. Đổi mới công tác kế hoạch hóa vốn đầu tư xây dựng cơ bản - Thực hiện công khai, minh bạch trong phân bổ vốn đầu tư từ NSNN tỉnh Kế hoạch vốn đầu tư XDCB hàng năm phải được công khai, minh bạch tất cả các nguồn hình thành vốn đầu tư, như: nguồn vốn XDCB tập trung của Tỉnh; nguồn vốn XDCB phân cấp cho ngân sách huyện; nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia; nguồn vốn vay tín dụng ưu đãi; nguồn vốn huy động của nhân dân và vốn tài trợ của nước ngoài (nếu có)... Đồng thời thực hiện công bằng trong phân bổ vốn, hạn chế tình trạng "xin - cho" trong xây dựng kế hoạch vốn đầu tư XDCB hàng năm. - Kế hoạch vốn đầu tư tập trung xử lý dứt điểm nợ đọng kéo dài trong XDCB UBND tỉnh cần tích cực chỉ đạo công tác rà soát, thống kê chính xác số nợ XDCB, có xác nhận của cơ quan KBNN, để bố trí kế hoạch vốn thanh toán dứt điểm trong năm, không để phát sinh thêm nợ mới, làm mất khả năng cân đối ngân sách. Chấm dứt tình trạng đầu tư tùy tiện, khởi công xây dựng khi dự án chưa được duyệt theo lối "tiền trảm hậu tấu". Phải xây dựng cơ cấu kế hoạch theo thứ tự ưu tiên: trả nợ- chuyển tiếp- khởi công mới. Kiên quyết không bố trí vốn công trình chuyển tiếp và khởi công mới khi chưa xử lý dứt điểm nợ đọng. Đồng thời cần bố trí đủ vốn để đầu tư dứt điểm các dự án nhóm C thực hiện bị kéo dài quá 3 năm, để đưa vào khai thác sử dụng phát huy hiệu quả. - Thực hiện phân cấp hơn nữa trong quản lý vốn đầu tư từ NSNN tỉnh Kế hoạch vốn đầu tư phải gắn liền với việc tiếp tục phân cấp ủy quyền trong công tác quản lý dự án ĐTXD. Cụ thể, phân cấp cho Chủ tịch UBND các huyện, thành phố được quyết định đầu tư, phê duyệt kế hoạch đấu thầu, kết quả trúng thầu, thanh quyết toán vốn đầu tư đối với tất cả các dự án thuộc 84 nguồn vốn ngân sách cấp trên cơ sở kết quả thẩm định của tổ chức tư vấn và các phòng chuyên môn của huyện, thành phố. Trong dự toán NSNN hàng năm, ưu tiên hỗ trợ kinh phí cho các xã nghèo miền núi và bãi ngang ven biển, kinh tế kém phát triển, nguồn thu ngân sách thấp, vùng thường xuyên bị thiên tai đe dọa... để thực hiện các nhiệm vụ đầu tư quan trọng và cấp thiết vượt quá khả năng cân đối của địa phương. Góp phần cùng với việc kích thích huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư XDCB. - Kế hoạch hoá vốn đầu tư phải tuân thủ các nguyên tắc bố trí vốn ngân sách Chỉ lập, bố trí vốn cho một dự án khi: Dự án đó phải nằm trong quy hoạch xây dựng được duyệt, đã đảm bảo đủ điều kiện để thi công theo quy định, bố trí vốn tối thiểu 30% giá trị tổng dự toán hoặc gói thầu được phê duyệt, tránh trình trạng bố trí vốn tách rời mục tiêu hoàn thành công trình tạo ra khối lượng dở dang, chậm đưa công trình vào sử dụng và phát huy hiệu quả. Các dự án được ghi kế hoạch vốn thực hiện đầu tư, Chủ đầu tư phải hoàn thành việc phê duyệt dự án, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán chậm nhất là ngày 31/10 của năm trước năm kế hoạch. Thực hiện phân bổ vốn đầu tư công đảm bảo theo nguyên tắc và thứ tự ưu tiên như sau: Nguyên tắc: (1)Tuân thủ các quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan. (2)Thực hiện các mục tiêu, định hướng của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016- 2020 của tỉnh; ưu tiên thực hiện 3 khâu đột phá và nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh. (3)Đảm bảo khả năng cân đối vốn đầu tư từ nguồn NSNN và thu hút các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. (4)Bố trí vốn tập trung, hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải; đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn; đúng tiến độ để hoàn thành dự án. (5)Tập trung bố trí vốn để hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình 85 trọng điểm. (6)Bố trí vốn đối ứng (phần vốn ngân sách địa phương) để hoàn thành và đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia, Chương trình mục tiêu. (7)Thực hiện phân cấp trong quản lý đầu tư theo quy định của pháp luật. (8)Dành lại dự phòng 10% tổng mức vốn kế hoạch đầu tư trung hạn để xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn. Thực hiện thứ tự ưu tiên bố trí vốn: (1)Xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản và trả nợ ngân sách. (2)Các công trình dự kiến hoàn thành trong kỳ kế hoạch. (3)Đối ứng các dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài. (4)Tham gia thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP). (5)Thực hiện các dự án chuyển tiếp theo tiến độ được duyệt. (6)Công tác chuẩn bị đầu tư. (7)Số vốn còn lại bố trí khởi công mới các dự án thật sự cần thiết, cấp bách, đủ thủ tục đầu tư. - Thực hiện tốt công tác quản lý đầu tư và xây dựng, nâng cao hiệu quả đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Tập trung vốn để hoàn thành các công trình trọng điểm, sớm phát huy hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc triển khai thực hiện và tuân thủ các quy định ở các dự án đầu tư nguồn vốn ngân sách, nâng cao chất lượng giám sát, đánh giá đầu tư; kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc của các chủ đầu tư trong quản lý đầu tư xây dựng công trình. - Thực hiện có hiệu quả quy định về quản lý đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh, nhất là quy định phân công, phân cấp và uỷ quyền thực hiện quản lý dự án đầu tư trên địa bàn; tăng cường trách nhiệm của người quyết định đầu tư và cá nhân liên quan trong các khâu: khảo sát, lập dự án, thẩm định dự án, quyết định đầu tư, tổ chức thi công, giám sát, nghiệm thu thanh quyết toán công trình... 86 3.2.3. Nâng cao chất lượng lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư Để nâng cao chất lượng công tác tư vấn trong việc lập báo cáo đầu tư, lập dự án đầu tư và thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư cần thực hiện các giải pháp sau: - Các chủ đầu tư, ban quản lý dự án phải tham khảo đầy đủ thông tin về năng lực hành nghề, kinh nghiệm hoạt động, khả năng tài chính, thiết bị và năng lực tổ chức của các đơn vị tư vấn xây dựng, để quyết định lựa chọn và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thiệt hại do việc lựa chọn các nhà tư vấn không đủ điều kiện năng lực, không đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu lập dự án. - Các tổ chức tư vấn lập dự án đầu tư cần phải nâng cao trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp của đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng, kỹ sư kinh tế làm công tác tư vấn và thẩm tra dự án. Đồng thời, tăng cường mua sắm, sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị phù hợp với từng công việc tư vấn, đảm bảo đủ điều kiện năng lực đáp ứng yêu cầu đối với công tác tư vấn theo quy định của pháp luật. - Công tác khảo sát, nghiên cứu để lập dự án đầu tư cần bám sát thực tế, điều kiện địa hình, địa chất; các phương án kinh tế- kỹ thuật phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội và bảo vệ môi trường. Tránh tình trạng công trình đầu tư không phát huy hiệu quả, sử dụng không hết công suất. Khuyến khích việc mời các chuyên gia tư vấn giỏi để khảo sát, thiết kế lập các dự án quan trọng có quy mô đầu tư lớn. Áp dụng việc thi tuyển thiết kế kiến trúc theo Điều 15 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án ĐTXD công trình. - Khi phê duyệt dự án đầu tư, cơ quan thẩm định và phê duyệt cần đánh giá đúng tính cấp thiết, luận chứng các phương án kinh tế- kỹ thuật, đánh giá hiệu quả KT-XH, tác động môi trường của dự án. Đối với dự án quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp, cần thuê chuyên gia tư vấn độc lập phản biện hoặc lấy ý 87 kiến của các cơ quan chuyên ngành, để làm rõ mục tiêu và hiệu quả kinh tế của dự án trước khi tổng hợp trình người có thẩm quyền quyết định phê duyệt. Chấm dứt tư tưởng xem việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư như một loại thủ tục hành chính, một điều kiện để được ghi kế hoạch vốn đầu tư. - Khi phê duyệt điều chỉnh dự án, phải tiến hành giám sát, đánh giá đầu tư, xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan của việc điều chỉnh dự án và biện pháp xử lý của các bên có liên quan trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh dự án. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư không đúng, dẫn đến phải điều chỉnh, phải chịu trách nhiệm về hậu quả do quyết định không đúng gây ra. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động tư vấn đối với các tổ chức, cá nhân hành nghề tư vấn xây dựng, phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm theo quy định của Luật Xây dựng và các văn bản pháp luật có liên quan. 3.2.4. Tăng cường quản lý công tác lựa chọn nhà thầu Việc lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng là nhằm tìm được nhà thầu có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề phù hợp với từng loại và cấp công trình. Tùy theo quy mô, tính chất, nguồn vốn xây dựng công trình, người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu như: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế; chỉ định thầu; lựa chọn nhà thầu thiết kế kiến trúc công trình xây dựng... Tuy nhiên, công tác lựa chọn nhà thầu của tỉnh thời gian qua thực hiện chưa tốt, như: dự án phải đấu thầu, nhưng lại chỉ định thầu; phải đấu thầu rộng rãi, thì lại đấu thầu hạn chế; chia nhỏ dự án để được chỉ định thầu; có hiện tượng thông thầu, dàn xếp trong đấu thầu để được "trúng thầu lần lượt", kiểu "quân xanh - quân đỏ", kiểu "bỏ thầu" hoặc kiểu "thầu phụ". Để tăng cường quản lý vốn đầu tư thông qua công tác lựa chọn nhà thầu cần làm tốt các công tác sau: 88 - Nâng cao nghiệp vụ, tiến tới chuyên môn hoá công tác đấu thầu cho các đối tượng tham gia trong quá trình lựa chọn nhà thầu gồm: Người có thẩm quyền, chủ đầu tư, tổ chuyên gia đấu thầu, nhà thầu tham dự, cơ quan thẩm định...cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ giúp cho quá trình đấu thầu được thông suốt. - Thực hiện tốt quy định về trình tự thực hiện đấu thầu; cương quyết chống các hình thức khép kín trong đấu thầu; bảo đảm tính công khai minh bạch được quy định trong Luật Đấu thầu. Những doanh nghiệp có giá dự thầu thấp hơn giá gói thầu từ 10% trở lên mà không có thuyết minh hợp lý thì không xem xét giá dự thầu của doanh nghiệp đó, bởi đây là hành động phá giá. Chấm dứt trình trạng chọn thầu với giá quá thấp sau đó tìm cách phát sinh, nâng giá hợp đồng, dẫn đến hậu quả là chất lượng công trình sẽ không đảm bảo, do thay đổi chủng loại vật tư và bớt xén vật liệu. - Xử lý các tình huống trong đấu thầu theo nguyên tắc đảm bảo cạnh tranh công bằng, người có thẩm quyền quyết định xử lý các tình huống trong đấu thầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. - Xử lý nghiêm các tổ chức cá nhân vi phạm các hành vi bị cấm trong đấu thầu (có 17 hành vi bị cấm được quy định tại Điều 12 Luật Đấu thầu). Kiên quyết áp dụng các biện pháp chế tài như cảnh cáo, phạt tiền, cấm tham gia hoạt động đấu thầu để xử phạt các hành vi vi phạm Luật Đấu thầu; nhằm tránh tình trạng chia nhỏ gói thầu để chỉ định thầu, tổ chức đấu thầu hạn chế thiếu cơ sở pháp lý, dàn xếp, thông đồng giữa các nhà thầu với chủ đầu tư và các tổ chức thẩm định, phê duyệt kết quả đấu thầu; dẫn đến kết quả sai lệch, lựa chọn nhà thầu không đủ năng lực. - Khắc phục ngay tình trạng do nhà thầu đã có mối quan hệ khắn khít với chủ đầu tư, nên cùng lúc nhận thầu nhiều công trình, dàn trải xe máy, thiết bị, nhân lực làm kéo dài tiến độ thi công; hoặc sau khi trúng thầu, ký hợp đồng lại với đơn vị khác không đủ tiêu chuẩn và năng lực thi công dự án. 89 3.2.5. Tổ chức quản lý thi công xây dựng công trình Quản lý thi công xây dựng công trình bao gồm quản lý khối lượng xây dựng, chất lượng xây dựng, quản lý tiến độ xây dựng, quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng và quản lý môi trường xây dựng: - Khối lượng thi công phải được tính toán, xác nhận giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn giám sát và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo hợp đồng. Nghiêm cấm và xử lý nghiêm các hành vi thông đồng giữa các bên, khai khống, khai tăng khối lượng nghiệm thu để chạy vốn hoặc nghiệm thu trùng khối lượng vì mục đích vụ lợi... - Quản lý chất lượng thi công thông qua công tác giám sát chất lượng xây dựng và nghiệm thu công trình. Chủ đầu tư, nhà thầu thi công, nhà thầu thiết kế có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình theo đúng quy định tại Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ và quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng. Phải tổ chức bộ phận chuyên trách, duy trì các hoạt động giám sát chất lượng, như: điều kiện khởi công, năng lực nhà thầu so với hồ sơ dự thầu, chất lượng vật tư và thiết bị lắp đặt theo thiết kế, công tác xây lắp đảm bảo đúng quy trình quy phạm xây dựng và các cam kết khác trong quá trình thi công. Chủ đầu tư phải thuê tư vấn giám sát công trình, hoặc tự thực hiện khi có đủ điều kiện năng lực hoạt động giám sát thi công. Người giám sát phải có chứng chỉ hành nghề giám sát phù hợp với công việc, loại và cấp công trình xây dựng. Tăng cường công tác giám sát nhân dân đối với công trình được xây dựng trên địa bàn. Bổ sung quy chế bắt buộc có giám sát chất lượng của nhà thầu, nhằm loại bỏ tình trạng khoán trắng giữa các công ty xây dựng và các đội xây lắp, hiện được xem như kẽ hở rất lớn trong việc giám sát và quản lý chất lượng công trình xây dựng. 90 - Chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn giám sát và các bên có liên quan tăng cường theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình. Để tránh những thiệt hại do thi công chậm tiến độ, việc đưa ra các giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công là rất cần thiết. Trong đó, việc thưởng phạt tiến độ là một trong những giải pháp quan trọng. UBND tỉnh cần có chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và UBND các huyện , thành phố, các chủ đầu tư triển khai thực hiện việc thưởng phạt tiến độ theo quy định tại khoản 2, Điều 146, Luật Xây dựng 2014: “Đối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm”. - Kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm về an toàn lao động trên công trường, các hành vi làm tổn hại đến môi trường, quy trách nhiệm và bồi thường thiệt hại do nhà thầu không đảm bảo về an toàn lao động và bảo vệ môi trường gây ra. 3.2.6. Quản lý nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng Công trình sau khi xây dựng hoàn thành, phải được nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng. Công tác nghiệm thu bao gồm: kiểm tra việc xây dựng và lắp đặt thiết bị so với thiết kế, tiêu chuẩn xây dựng, tài liệu chỉ dẫn kỹ thuật; kết quả thử nghiệm chất lượng vật liệu, thiệt bị lắp đặt; công tác hoàn thiện về kỹ thuật và mỹ thuật... Công tác nghiệm thu công trình xây dựng bao gồm nghiệm thu từng bộ phận, từng giai đoạn, từng hạng mục công trình và nghiệm thu công trình hoàn thành đưa vào sử dụng. Đối với những công trình ngầm, bộ phận che khuất, kết cấu chịu lực quan trọng hoặc điểm dừng kỹ thuật..., phải có ý kiến xác nhận giám sát tác giả của đơn vị thiết kế trước khi nghiệm thu chuyển giai đoạn xây lắp. Chỉ được nghiệm thu khi đối tượng nghiệm thu đã hoàn thành và có đủ hồ sơ theo quy định. Công trình chỉ được nghiệm thu đưa vào sử dụng khi bảo 91 đảm đúng yêu cầu thiết kế, bảo đảm chất lượng và đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định. Việc bàn giao công trình phải bảo đảm các yêu cầu về nguyên tắc, nội dung và trình tự bàn giao theo quy định của pháp luật về xây dựng, đảm bảo an toàn trong vận hành, khai thác khi công trình đã xây dựng xong đưa vào sử dụng. 3.2.7. Nâng cao chất lượng kiểm soát thanh toán vốn đầu tư Nâng cao chất lượng KSTTVĐT là nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí và phát huy tối đa lợi ích KT-XH trong quản lý vốn đầu tư hiện nay. Tuy nhiên, công tác KSTTVĐT ở tỉnh vẫn còn tồn tại: tình trạng dư nợ tạm ứng kéo dài, thanh toán vốn chậm và dồn về các tháng cuối năm, thủ tục thanh toán rườm rà, gây khó khăn, đi lại nhiều lần,... ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án. Để khắc phục tình trạng trên KBNN tỉnh cần thực hiện các giải pháp sau đây: - Căn cứ quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch vốn hàng năm theo danh mục dự án và từng loại nguồn vốn đầu tư, KBNN chủ động hướng dẫn các chủ đầu tư khẩn trương hoàn tất các hồ sơ pháp lý để làm cơ sở tạm ứng và KSTTVĐT cho các dự án kịp thời đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định. - Niêm yết công khai Quy trình KSTTVĐT và vốn có tính chất đầu tư theo hướng dẫn của Bộ Tài chính; cơ chế điều hành kế hoạch vốn và dự toán NSNN của UBND tỉnh. Tổ chức ký cam kết cấp vốn đầu tư cho các dự án có quy mô lớn, nhằm nâng cao sự phối hợp và trách nhiệm thanh toán của KBNN với các chủ đầu tư. - Tiến hành rà soát tỷ lệ giải ngân vốn theo từng dự án, tổ chức kiểm tra thực tế hiện trường, hội nghị khách hàng để tìm nguyên nhân giải ngân vốn chậm. Báo cáo đề xuất với UBND tỉnh chỉ đạo kịp thời nhằm đẩy nhanh tiến 92 độ giải ngân vốn đầu tư. Thực hiện nghiêm việc giữ lại 10% giá trị gói thầu để chờ quyết toán. - Tăng cường hướng dẫn thực hiện tạm ứng cho các dự án đấu thầu, các công trình thủy lợi, đê điều vượt lũ theo đúng chế độ quy định. Để hạn chế dư nợ tạm ứng kéo dài, cần có những chế tài cụ thể gắn liền với từng giai đoạn đầu tư, đặc biệt là nâng cao nhận thức của chủ đầu tư trong việc thực hiện hoàn ứng vốn đầu tư. - Thời điểm cuối năm tiến hành rà soát tỷ lệ giải ngân, tổng hợp, đánh giá khả năng hoàn thành kế hoạch của từng dự án, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư đề xuất UBND tỉnh điều chuyển kịp thời kế hoạch vốn từ các công trình thừa vốn sang các công trình đã có khối lượng hoàn thành nhưng thiếu vốn. - Đôn đốc các chủ đầu tư xử lý công nợ và tất toán tài khoản đúng quy định đối với dự án hoàn thành đã được phê duyệt quyết toán. Thống kê tình hình nợ đọng qua các năm phục vụ cho việc bố trí và điều hành kế hoạch vốn của cấp có thẩm quyền. - Tiếp tục triển khai tốt công tác tin học hoá trong KSTTVĐT, tổ chức vận hành và khai thác tốt chương trình Hệ thống Thông tin Quản lý Ngân sách và Kho bạc (gọi tắt là TABMIS), áp dụng chương trình thanh toán điện tử nhằm rút ngắn thời gian kiểm soát và thanh toán vốn cho các công trình, góp phần thực hiện cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị thi công. - Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức và bộ máy KSTTVĐT tại KBNN tỉnh đáp ứng yêu cầu quản lý thanh toán vốn đầu tư với quy mô ngày càng tăng. - Thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong KSTTVĐT theo hướng công khai quy trình, giảm bớt các thủ tục, hồ sơ tài liệu không cần thiết (bản 93 vẽ thiết kế, bản vẽ hoàn công, hồ sơ thí nghiệm...), từng bước thực hiện cơ chế một cửa, tăng cường kỹ năng giao tiếp và thái độ phục vụ của công chức KBNN, hướng tới mục tiêu “giao dịch thuận lợi, thủ tục đơn giản, kiểm soát chặt chẽ”. 3.2.8. Tăng cường công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành Quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành là khâu cuối cùng trong dây chuyền quản lý vốn đầu tư, quyết định giá trị tài sản của công trình đưa vào sử dụng. Trong thực tế công tác thẩm tra phê duyệt quyết toán vốn đầu tư của tỉnh còn chậm và nhiều sai sót. Tình trạng chủ đầu tư và nhà thầu đề nghị quyết toán cao hơn giá trị đích thực, công trình xây dựng hoàn thành chậm quyết toán đang là phổ biến. Người có thẩm quyền quyết định đầu tư đồng thời là người phê duyệt dự án hoàn thành, như vậy là "vừa đá bóng vừa thổi còi". Nếu không có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan với chủ đầu tư trong việc kiểm tra, đối chiếu, xác nhận số liệu cấp phát, thanh toán cho công trình, dự án hoàn thành; thì công tác thẩm tra phê duyệt quyết toán sẽ tiềm ẩn nhiều tiêu cực và khó phát hiện. Để khắc phục những tồn tại đó cần thực hiện các giải pháp: - Áp dụng nghiêm các hình thức xử phạt chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng, nhà thầu tư vấn có hành vi vi phạm các quy định về thời gian quyết toán chậm, nghiệm thu, thanh toán sai khối lượng và làm sai lệch giá trị quyết toán vốn đầu tư được quy định tại Điều 12, Điều 18, Điều 24, Nghị định 126/2004/NĐ-CP ngày 26/5/2004 của Chính phủ. Khắc phục tư tưởng thấy công trình khánh thành là xong công việc. - UBND tỉnh cần chỉ đạo các ngành, nắm chính xác số lượng dự án đầu tư hoàn thành bằng vốn NSNN đến nay chưa quyết toán, để có giải pháp xử lý cụ thể. 94 - Tuỳ theo quy mô và tính chất phức tạp của từng dự án, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư trực tiếp thẩm tra hoặc trình UBND tỉnh thành lập Tổ tư vấn thẩm tra báo cáo quyết toán. Song, trách nhiệm chính vẫn là cơ quan chủ trì thuộc Sở Tài chính và do cá nhân cán bộ thẩm tra quyết toán đảm nhận. - Bố trí cán bộ làm công tác thẩm tra quyết toán phải có đủ năng lực để phát hiện ra những sai phạm, như khối lượng khai khống, áp dụng định mức, đơn giá cao hơn quy định, phải đảm bảo thời gian thẩm tra đúng quy định. Kiến quyết chống mọi biểu hiện tiêu cực, vụ lợi các nhân, thông qua việc hợp thức hoá cho nhà thầu. - Trong thẩm tra quyết toán phải chú ý đến đơn giá, khối lượng, chất lượng, chủng loại vật liệu, đối chiếu với dự toán được duyệt và các điều kiện nêu trong hợp đồng, biên bản nghiệm thu, hồ sơ hoàn công, khối lượng phát sinh và các tài liệu liên quan khác. Không thẩm định quyết toán khi chưa đủ thủ tục theo quy định. - Khi thanh tra nếu phát hiện cơ quan thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành sai quy định gây lãng phí vốn đầu tư, phải xử lý nghiêm theo quy định tại Điều 29, Nghị định số 84/2006/NĐ-CP về mức xử phạt "Hành vi vi phạm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng các dự án sử dụng ngân sách nhà nước, tiền, tài sản nhà nước gây lãng phí" . - Hiện nay việc cải tạo, sửa chữa hoặc nâng cấp các công trình xây dựng hầu như không còn hồ sơ pháp lý ban đầu. Muốn lập phương án sửa chữa thì phải thuê tư vấn khảo sát, đo vẽ để thiết kế, lập phương án sửa chữa, gây lãng phí NSNN. Những trường hợp đó phải xử lý trách nhiệm những người không lưu trữ hồ sơ, hoặc lập phương án sửa chữa, cải tạo không căn cứ vào hồ sơ pháp lý ban đầu. 95 3.2.9. Tăng cường thanh kiểm tra, giám sát cộng đồng và công khai tài chính Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đầu tư và quản lý vốn đầu tư XDCB là chức năng quan trọng và cần thiết nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí vốn của Nhà nước. Tỉnh cần có kế hoạch cụ thể về thanh tra, kiểm tra công trình được đầu tư XDCB từ vốn NSNN; tập trung vào những khâu yếu kém có nhiều dư luận xã hội và phản ánh của cộng đồng; làm rõ sai phạm, quy trách nhiệm và xử lý nghiêm những cán bộ, công chức thiếu năng lực, thiếu tinh thần trách nhiệm gây lãng phí thất thoát, dẫn đến hậu quả chất lượng công trình kém... Chống thông đồng, móc ngoặc giữa chủ đầu tư và tổ chức tư vấn, chống khép kín trong công tác giám sát, đánh giá đầu tư. Thực hiện nghiêm túc kết luận của thanh tra, kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khác, công khai kết quả giải quyết, xử lý những vi phạm đã được phát hiện. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân thực hiện quyền kiểm tra giám sát đầu tư cộng đồng và công khai tài chính trong việc quản lý và sử dụng vốn, tài sản Nhà nước và các khoản đóng góp của dân theo quy định của pháp luật. Khuyến khích dân cư sinh sống trên địa bàn tự nguyện tham gia hoạt động giám sát cộng đồng trong lĩnh vực đầu tư; nhằm phát hiện, kiến nghị với cơ quan Nhà nước kịp thời ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm về quản lý đầu tư, hạn chế lãng phí, thất thoát vốn và tài sản nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng. Bên cạnh việc giám sát của Chủ đầu tư, tổ chức tư vấn... thì công tác giám sát của nhân dân có vai trò quan trọng. Việc dựa vào quần chúng nhân dân, lắng nghe và phân tích dư luận xã hội có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư XDCB. 96 Tóm lại, nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra, thực hiện tốt công tác giám sát đầu tư cộng đồng và công khai tài chính trong đầu tư XDCB là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư XDCB, hạn chế đến mức thấp nhất lãng phí thất thoát vốn đầu tư của Nhà nước. 3.2.10. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ là nhân tố rất quan trọng tác động to lớn đến việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN. Do vậy việc không ngừng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý vốn đầu tư XDCB là yêu cầu khách quan, là việc làm thường xuyên liên tục. Những tồn tại trong công tác quản lý vốn đầu tư của tỉnh thời gian qua nguyên nhân do hạn chế về trình độ năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức. Để khắc phục tình trạng trên, trong thời gian tới cần tập trung vào các giải pháp cụ thể sau: - Tiến hành rà soát, đánh giá lại một cách cơ bản đội ngũ cán bộ đang làm công tác ở lĩnh vực đầu tư xây dựng; trên cơ sở đó định hướng sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ cho hợp lý, bố trí đúng người đúng việc, phù hợp với khả năng và trình độ chuyên môn của cán bộ. Kiên quyết thay thế những cán bộ yếu kém về năng lực và phẩm chất, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. - Tỉnh cần có kế hoạch cụ thể cho chiến lược đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về ĐTXD tại các ban quản lý dự án, các phòng ban chuyên môn của tỉnh, huyện và thành phố: các chương trình đào tạo phân theo từng ngành, lĩnh vực đầu tư khác nhau để thực hiện đào tạo trình độ chuyên môn sâu thuộc lĩnh vực đang công tác (kể cả đào tạo sau đại học). - Đối với công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ làm nhiệm vụ quản lý vốn đầu tư XDCB cần được chú ý đúng mức, thông qua việc mở các lớp 97 tập huấn chuyên môn để cập nhật kịp thời kiến thức mới về quản lý đầu tư XDCB, đáp ứng yêu cầu quản lý hiện nay trong điều kiện cơ chế chính sách có nhiều thay đổi. - Về lâu dài, phải có kế hoạch tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp đại học từ loại khá trở lên là người con quê hương về công tác tại tỉnh; quy hoạch và cử cán bộ trẻ, có năng lực chuyên môn, có nghiệp vụ thành thạo đưa đi đào tạo bài bản ở các trường đại học và cam kết công tác lâu dài tại địa phương. Đồng thời có chế độ hỗ trợ phù hợp để động viên khuyến khích nhân tài. TÓM TẮT CHƯƠNG 3 Từ phân tích thực tế những tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB từ vốn NSNN của tỉnh thời gian qua; xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quan điểm ĐTXD kết cấu hạ tầng, phương hướng đầu tư có tính đột phá và nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2017-2020 của tỉnh. Tác giả đưa ra những giải pháp cần tập trung giải quyết trong thời gian tới, nhằm hạn chế tình trạng lãng phí, thất thoát vốn, đem lại lợi ích KT-XH của việc sử dụng vốn đầu tư XDCB như: Quản lý chặt chẽ công tác quy hoạch; đổi mới công tác kế hoạch hóa vốn đầu tư; nâng cao chất lượng lập, thẩm định và phê duyệt dự án ĐTXD; tăng cường quản lý công tác lựa chọn nhà thầu; tổ chức quản lý thi công, nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng; nâng cao chất lượng KSTTVĐT và quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý vốn đầu tư và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cộng đồng và công khai tài chính trong đầu tư XDCB. 98 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ngãi là vấn đề rất nhạy cảm; đồng thời cũng là điều kiện dễ xảy ra các tiêu cực, tham nhũng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện lý luận cũng như thực tiễn quản lý nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả nguồn vốn này là vấn đề cần thiết đặt ra hiện nay. Đề tài đã hoàn thành được mục tiêu nghiên cứu theo yêu cầu của Luận văn cao học quản lý hành chính công. Những kết luận khoa học chủ yếu mà Luận văn đưa ra bao gồm: Thứ nhất, hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến đầu tư, dự án đầu tư, nguồn vốn đầu tư, nguồn tài chính cho các chương trình, dự án, vai trò của nó trong đời sống kinh tế - xã hội. Thứ hai, hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với các chương trình, dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước, sự cần thiết phải quản lý Nhà nước, nội dung quản lý Nhà nước, các nguyên tắc cũng như yêu cầu quản lý đối với các dự án đầu tư. Thứ ba, đề tài đã khái quát tình hình quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư ở một số nước trên Thế giới, làm căn cứ rút ra bài học cho Việt Nam. Thứ tư, đề tài đã đánh giá thực trạng về các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ngãi trong những năm qua, chỉ ra được những hiệu quả mà các dự án này mang lại cho đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh. Thứ năm, đề tài đã phân tích một cách toàn diện trên tất cả các mặt thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư . Qua đó đề tài nêu nguyên nhân tồn tại cần thiết phải xử lý nhằm hoàn thiện công tác quản lý 99 Nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh. Thứ sáu, đề tài đã đề xuất phương hướng, giải pháp và kiến nghị với các ngành, các cấp, các cơ quan có liên quan trong việc quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư bằng vốn ngân sách nhà nước. Đây là những kết luận khoa học, góp phần hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng bản từ vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ngãi. Những kết luận khoa học trên chắc chắn có giá trị nhất định trong nghiên cứu và học tập. Đồng thời đóng góp nhất định đối với khoa học quản lý hành chính công nói riêng. Vì những điều kiện còn hạn chế, chắc chắn Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự thông cảm của các thầy, các cô, của bạn đọc về những sai sót trong Luận văn. 2. Kiến nghị Nhằm đảm bảo cho các giải pháp nêu trên nhanh chóng phát huy tác dụng trong quá trình quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước của tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn xin đưa ra một số kiến nghị như sau: - Đối với Chính phủ và Bộ ngành trung ương Hiện nay cơ chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng đã được Nhà nước ban hành, sửa đổi, bổ sung tương đối kịp thời, đáp ứng yêu cầu quản lý điều hành các hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư dần đi vào nề nếp. Tuy nhiên, các cơ chế chính sách này không có tính ổn định lâu dài, thường xuyên thay đổi gây ra nhiều khó khăn và bất cập cho những người làm công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB từ vốn NSNN. Do đó, việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện về cơ chế chính sách quản lý đầu tư có tính 100 thống nhất và ổn định lâu dài, trên cơ sở phân tích căn nguyên đã dẫn đến lãng phí, thất thoát vốn đầu tư từ NSNN. - Thường xuyên tham vấn ý kiến các địa phương trong việc thực hiện các cơ chế chính sách về quản lý đầu tư xây dựng, từ đó cắt giảm bớt các thủ tục hành chính rờm rà, không cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi, môi trường thông thoáng hơn cho các địa phương khi tổ chức triển khai thực hiện. - Tiếp tục rà soát, điều chỉnh và bổ sung các tiêu chí, nguyên tắc, các cơ chế điều hành, quản lý và phân bổ vốn đối với chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia, vốn hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương để các địa phương chủ động xây dựng kế hoạch và phân bổ vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2017-2020, giai đoạn 2021-2025 và kế hoạch hàng năm. - Tăng cường hướng dẫn, đào tạo, hỗ trợ và giám sát các cơ quan được phân cấp về lập kế hoạch đầu tư và triển khai thực hiện đầu tư dự án. - Kịp thời ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện các Luật mới, sửa đổi, bổ sung như: Luật Ngân sách, Luật Đầu tư công; Luật Đấu thầu - Hiện nay, nguồn lực của Trung ương mới chỉ bố trí đáp ứng khoảng 16% nhu cầu vốn để thực hiện chương trình cho tỉnh. Vì vậy, Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương quan tâm, cân đối các nguồn vốn để ưu tiên bố trí, hỗ trợ vốn nhiều hơn nữa đối với tỉnh Quảng Ngãi./. TÀI LIỆU THAM KHẢO Cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi (2016), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi – 2015, NXB Thống kê, Hà Nội. Lê Hoằng Bá Huyền (2008), “Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn thạc sĩ kinh tế. Nguyễn Thanh Minh (2011), “Quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh Bình Định” Luận văn thạc sĩ kinh tế . Nguyễn Khoa Tân (2014), “Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước ở tỉnh Quảng Bình” Luận văn thạc sĩ kinh tế Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2013 ) “Đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN của thành phố Đà Nẵng” Luận án Tiến sỹ kinh tế. Phan Thị Thu Hiền (2015), "Đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách địa phương tỉnh Hà Nam", Luận án Tiến sỹ kinh tế. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2014), Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2015), Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015. Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi (2014-2016), Báo cáo tình hình phân bổ kế hoạch vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi (2017), Báo cáo tình hình nợ đọng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Sở Tài chính tỉnh Quảng Ngãi (2017), Báo cáo tình hình phê duyệt Quyết toán dự án hoàn thành trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. UBND tỉnh Quảng Ngãi (2011), Quy định về phân cấp, ủy quyền trong quản lý dự án đầu tư. UBND tỉnh Quảng Ngãi (2017), Báo cáo tình hình thực hiện đầu tư phát triển giai đoạn 2011-2015 và dự kiến kế hoạch đầu tư công trung hạn giai doạn 2016-2020. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 19/2011/TT-BTC ngày 14/2/2011 hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17/6/2011 hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN. Chính phủ (2012), Chỉ thị số 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 về những giải pháp chủ yếu khắc phục tình trạng nợ đọng XDCB tại các địa phương. Chính phủ (2013), Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 về Quy định xử phạt hành chính trong hoạt động xây dựng. Bộ Tài chính (2014), Thông tư số 04/2014/TT-BTC ngày 02/01/2014 về Quy định quy trình thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành đối với các dự án sử dụng vốn Ngân sách nhà nước. Chính phủ (2014), Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu. Chính phủ (2015), Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Chính phủ (2015), Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 về Quy hoạch xây dựng. Chính phủ (2015), Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Chính phủ (2015), Nghị định số 77/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 về kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm. Chính phủ (2015), Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng. Chính phủ (2015), Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 về Quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 về Quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước. UBND tỉnh Quảng Ngãi (2017), Quyết định số 03/2017/QĐ-UBND về ban hành Quy định về một số nhiệm vụ quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_doi_voi_cac_du_an_dau_tu_xay_dung.pdf
Luận văn liên quan