Luận văn Struts 2 và ứng dụng quản lý chất lượng dịch vụ home phone

Đây chỉ là phiên bản đầu tiên của hệ thống, thiết kế theo yêu cầu của đối tác. Hệ thống còn nhiều điểm chưa thật sự đạt được như mong muốn của người thiết kế , tuy nhiên đã thỏa mãn được các yêu cầu của dự án. Hệ thống hiện vẫn đang trong quá trình chạy thử nghiệm. Hi vọng nó đóng góp được hiệu quả trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ của Viettel Telecom.

pdf55 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 26/10/2013 | Lượt xem: 2671 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Struts 2 và ứng dụng quản lý chất lượng dịch vụ home phone, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g ngày (áp dụng cho 1 agent, 1 cell, 1 tỉnh/thành, 1 khu vực hoặc toàn mạng) theo thời gian, chọn khoảng thời gian. Đồ thị phân bố % agent đang hoạt động, agent phát sinh nhiều cuộc gọi (config: số cuộc gọi), % agent thay đổi serving cell, % agent activated mới, % agent activated mới phát sinh cuộc gọi trong ngày theo thời gian (1 tỉnh/thành, 1 khu vực hoặc toàn mạng); chọn khoảng thời gian. Báo cáo thống kê: (các báo cáo hàng ngày) dạng bảng (gửi qua email hàng ngày, thống kê cho ngày hôm qua, cho phép list agent-> xem chi tiết agent) % agent đang hoạt động % agent phát sinh cuộc gọi. % agent phát sinh nhiều cuộc gọi. % agent thay đổi serving cell. % agent activated mới % agent mới activated phát sinh cuộc gọi. % số mẫu có cường độ sóng tốt. % số mẫu có chất lượng sóng tốt. % CSR. Cảnh báo: (là các dạng báo cáo hàng ngày, gửi qua mail hàng ngày) (nếu có dữ liệu) (config: max, sort: giảm dần) Danh sách các agent không hoạt động (config: số ngày liên tục không có thông tin thu thập về hoặc không có mẫu tin nào.) Danh sách các agent đang hoạt động nhưng không phát sinh cuộc gọi (config: số ngày liên tục không phát sinh cuộc gọi) Danh sách các agent thay đổi serving cell. Danh sách các agent sử dụng sóng yếu (config: số mẫu sóng dưới ngưỡng trong một số ngày liên tục, config: ngưỡng tốt, config: số ngày.) Danh sách các agent sử dụng sóng có chất lượng tồi. Danh sách các agent có tỉ lệ CSR thấp (cf:ngưỡng thấp.) Quản lý Agent: Configure & activate/ deactivate (cấu hình, kích hoạt/ tắt) một agent. Reset (thiết lập lại) agent. Query agent status (Truy vấn trạng thái agent). Query agent current configuration information (Truy vấn thông tin cấu hình hiện tại của agent) Manual measure activation (Kích hoạt độ đo) Add/ delete (Thêm/Xóa) Search/View/Modify agent information (Tìm kiếm/Hiển thị/Tùy chỉnh thông tin Agent ) Tìm kiếm và xem thông tin chi tiết các mẫu đo thuộc về agent (theo thời gian) Danh sách các agent không hoạt động( config: số ngày liên tục ) Hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ Home Phone với cơ sở dữ liệu đồ sộ, yêu cầu thực hiện thành phần web phải được xây dựng bằng một công nghệ mới, có độ an toàn và bảo mật cao, đồng thời phải dễ dàng tương tác với các thành phần khác của hệ thống. Theo những yêu cầu trên, tôi và nhóm thiết kế đã lựa chọn công nghệ Struts 2 – một framework trên nền Java, sử dụng Hibernate để làm việc với cơ sở dữ liệu. Với những đặc tính ưu việt của Struts 2 sẽ được trình bày ở chương 2, tôi tin mọi người sẽ nắm được những tính ưu việt của công nghệ này. Chương 2: CÔNG NGHỆ STRUTS 2 VÀ HIBERNATE 2.1. Giới thiệu Java là một nền tảng phát triển các ứng dụng phần mềm có vị trí rất lớn trong những năm cuối thế kỉ 20, đầu thế kỉ 21. Đánh dấu sự trưởng thành của mô hình lập trình hướng đối tượng, nó được coi là một nền tảng mang tính cách mạng trong nghành phần mềm. Mô hình máy ảo Virtual Machine đã cho phép các ứng dụng viết bằng Java có thể chạy trên nhiều hệ điều hành khác nhau. Vì thế Java là ngôn ngữ vẫn được rất nhiều các nhà thiết kế lựa chọn làm ngôn ngữ phát triển chính cho hệ thống của mình. 2.2. Servlet/JSP: Servlet/JSP là một bộ phận của công nghệ J2EE (Java 2 Platform, Enterprise Edition) phiên bản của Java chạy trên các máy chủ ứng dụng. Servlet: Servlet API được phát triển dựa trên những điểm mạnh của Java platform nhằm giải quyết vấn đề của CGI và trình chủ server API. Nó là một API đơn giản hỗ trợ tất cả các Web server và thậm chí các ứng dụng máy chủ dùng để kiểm tra và quản lý các công việc trên server (load –balancing). Nó giải quyết vấn đề thực thi bằng việc thực hiện tất cả các yêu cầu như những dòng trong một xử lý, hoặc trên một hệ thống load- balancing sẽ là mỗi xử lý trên một server trong kết chùm cluster. Các servlet dễ dàng chia sẽ tài nguyên. Bạn có thể sử dụng JavaMail để đọc và gửi mail, Java DataBase Connect (JDBC) để truy cập các database, lớp File và những lớp quan hệ để truy cập hệ thống file, RMI, CORBA, Enterprise Java Beans (EJB) để truy cập các hệ thống kế thừa… JSP: (viết tắt của tiếng Anh JavaServer Pages) còn được biết đến với một cái tên khác là Java Scripting Preprocessor – tạm dịch là “Bộ tiền xử lý văn lệnh Java” – là một công nghệ Java cho phép các nhà phát triển tạo nội dung HTML, XML hay một số định dạng khác của trang web một cách năng động, trong khi hồi âm yêu cầu của trình khách. Công nghệ này cho phép người ta nhúng mã Java và một số hành động xử lý đã được định trước (pre-defined actions) vào trong nội dung tĩnh của trang. Trước khi hiển thị ra trình duyệt, tập tin JSP phải được biên dịch thành Servlet, dùng bộ biên dịch JSP (JSP compiler). Bộ biên dịch JSP có thể tạo servlet thành mã nguồn Java trước, rồi biên dịch mã nguồn ra tập tin .class dùng bộ biên dịch Java, hoặc có thể trực tiếp tạo mã byte code cho servlet từ trang JSP. Hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ Home Phone phát triển dựa trên công nghệ Servlet/JSP, sử dụng framework: Struts 2, cơ sở dữ liệu Oracle. Câu hỏi đặt ra là: Mô hình JSP/Servlet có đủ khả đáp ứng được yêu cầu của hệ thống hay không? Tôi đã tìm hiểu và đưa ra một số những nhược điểm của nó khiến nó không được ứng dụng trong việc xây dựng các hệ thống lớn: - Kiến trúc của JSP/servlet khá đơn giản, việc gộp các action (các hàm xử lý thông tin) là điều rất không nên. Bởi khi thiết kế hệ thống, các module của chương trình cần phải được sắp xếp hợp lý, các action được chỉnh sửa mà không ảnh hưởng tới giao diện hiển thị. - Ngoài ra, việc phân chia các thành phần hợp lý dựa theo mẫu thiết kế chuẩn của một hệ thống được người dùng đánh giá rất cao. Sau khi hoàn thiện, nếu bản thân người dùng muốn phát triển tiếp ứng dụng của mình, họ cần có một hướng dẫn chi tiết cách sửa các thành phần trong các gói (package). Trong quá trình thiết kế một hệ thống lớn, yêu cầu phải đòi hỏi làm việc theo nhóm, để quá trình phân công công việc hợp lý, việc phân tách các thành phần của hệ thống là cần thiết. Nếu không, quá trình làm việc sẽ thường xuyên bị gián đoạn. Công nghệ Struts đã thành công trong việc tối ưu các khuyết điểm vốn có của JSP/Servlet. Tính năng của nó sẽ được đề cập nhiều hơn qua nội dung sẽ trình bày sắp tới. 2.3. Struts Struts là một framework phục vụ việc phát triển các ứng dụng Web trên Java. Sử dụng mẫu thiết kế Model-View-Controller (MVC), Struts giải quyết rất nhiều các vấn đề liên quan đến các ứng dụng Web hướng business đòi hỏi hiệu năng cao sử dụng Java servlet và JSP. Ứng dụng chạy trực tiếp trên JSP/Servlet chưa đáp ứng hết được yêu cầu bảo mật và chuyên nghiệp cho một hệ thống lớn. Struts cơ bản định hình lại cách các Web programmer nghĩ về và cấu trúc một ứng dụng Web. 2.3.1. Kiến trúc 3 tầng MVC Hình 2.1: Kiến trúc 3 tầng MVC Kiến trúc MVC là việc chia tất cả mục của một ứng dụng ra làm ba thành phần (component) khác nhau Model (Mô hình), View (Giao diện) và Controller (Bộ điều khiển). Các thành phần của kiến trúc MVC có một trách nhiệm duy nhất và không phụ thuộc vào các thành phần khác. - Model (Mô hình): Model được giao nhiệm vụ cung cấp dữ liệu cho cơ sở dữ liệu và lưu dữ liệu vào các kho chứa dữ liệu. Tất cả các nghiệp vụ logic được thực thi ở Model. Dữ liệu vào từ người dùng sẽ thông qua View được kiểm tra ở Model trước khi lưu vào cơ sở dữ liệu. Việc truy xuất, xác nhận, và lưu dữ liệu là một phần của Model . - View (Giao diện): View hiển thị các thông tin cho người dùng của ứng dụng và được giao nhiệm vụ cho việc nhận các dữ liệu vào từ người dùng, gửi đi các yêu cầu đến bộ điều khiển, sau đó là nhận lại các phản hồi từ bộ điều khiển và hiển kết quả cho người dùng. Các trang HTML, JSP, các thư viện thẻ và các file nguồn là một phần của thành phần View - Controller (bộ điều khiển): Controller là tầng trung gian giữa Model và View. Controller được giao nhiệm vụ nhận các yêu cầu từ phía máy khách. Một yêu cầu được nhận từ máy khách được thực hiện bởi một chức năng logic thích hợp từ thành phần Model và sau đó sinh ra các kết quả cho người dùng và được thành phần View hiển thị. ActionServlet, Action, ActionForm và struts-config.xml là các phần của Controller. 2.3.2. Các thành phần cơ bản của Struts Struts là tập hợp các thư viện Java có thể phân thành 4 nhóm : +Framework cơ sở +Thư viện thẻ JSP +Tiles Plugin +Validator plugin Framework cơ sở: Framework cơ sở cung cấp các tính năng MVC cốt lõi. Nền tảng của framework cơ sở là Controller servlet: Action servlet. Các phần còn lại bao gồm các lớp cơ sở mà ứng dụng của bạn sẽ kế thừa và các class tiện ích. Nổi bật nhất trong các lớp là lớp Action và lớp ActionForm: Lớp Action: được sử dụng bởi ActionServlet để xử lý các request xác định. Lớp ActionForm: bắt dữ liệu từ các HTML form và được sử dụng để chuyển dữ liệu trở lại View để sinh ra các trả lời (response). Thư viện thẻ JSP: Struts đưa ra các thư viện thẻ hỗ trợ việc lập trình View Logic trong JSP. Các thư viện thẻ JSP cho phép người lập trình JSP sử dụng các thẻ giống HTML. Tiles Plugin Tiles là một JSP template framework giúp thuận tiện cho việc tái sử dụng mã HTML. Validator plugin Validator là một framework với khả năng thực hiện xác nhận tính hợp lệ của dữ liệu ở cả phía server và client. 2.3.3. Các phiên bản của struts. Hiện nay struts đã phát triển 2 phiên bản là struts 1x và struts 2x. Có một số khác biệt trong cấu trúc của 2 phiên bản. Dưới đây là một số khác biệt cơ bản: Tính năng Struts 1 Struts 2 Action classes (Lớp hoạt động) - Sử dụng lớp abstract (lớp trừu tượng), không sử dụng interface (lớp giao diện). - Action yêu cầu bắt buộc phải kế thừa từ một lớp abstract nào đó. - Action có thể là bất kỳ lớp Java nào. - Cung cấp sẵn 1 interface chung cho các action là ActionSupport, tuy nhiên không bắt buộc thực thi action này Threading Model (Mô hình luồng) Các Action là độc nhất vì thế chúng phải được thread-safe bởi vì chỉ có một thể hiện của lớp để giữ lại tất cả request đối với Action đó. Trong Struts 2 các đối tượng được khởi tạo cho mỗi request do đó không có thread-safety. Một servlet container sinh ra nhiều đối tượng throw-away cho mỗi request Servlet Dependency (Phần phụ thuộc servlet) Actions bị phụ thuộc vào thư viện servlet API bởi vì HttpServletRequest và HttpServletResponse được Action chỉ là một lớp bình thường và chúng ta không cần truyền đối tượng HttpServletRequest và truyền vào phương thức execute khi Action được thực thi. HttpServletResponse cho phương thức execute. Struts 2 không phụ thuộc vào API của servlet bởi chúng tạo các POJO đơn giản. Testability (Khả năng kiểm tra) Ứng dụng Struts1 có một vấn đề chính trong việc testing bởi vì phương thức execute phụ thuộc vào Servlet API. Struts TestCase cung cấp một tập hợp các đối tượng Mock cho Struts 1 Các Action có thể test các khởi tạo Action.Các Action là một POJO đơn giản và không phụ thuộc framework,vì thế việc test trở lên đơn giản hơn Harvesting Input (Kết quả đầu vào) Struts1 sử dụng một đối tượng ActionForm để giữ các input.Giống như các Action, tất cả các ActionForms cần được thừa kế lớp ActionForm cơ bản . Struts2 sử dụng các thuộc tính Action để giới hạn sự cần thiết cho các đôi tượng input thứ 2. Từ đó giảm sự dư thừa. Binding values into views (Ràng buộc giá trị trong việc hiển thị) Struts 1 ràng buộc đối tượng bên trong ngữ cảnh của trang bằng cách sử dụng cơ chế JSP chuẩn. Struts 2 sử dụng công nghệ ValueStack để đảm bảo việc truy cập giá trị bằng taglib không thông qua coupling (kết nối) hoặc rendering (biểu diễn). Type Conversion (Thay đổi kiểu) Trong Struts 1 các thuộc tính của ActionForm hầu hết định dạng là String.Việc chuyển đổi dựa trên từng lớp, không được cấu hình dựa trên thể hiện của lớp. Struts 2 sử dụng OGNL đối với việc chuyển kiểu dữ liệu. Control Of Action Execution (Kiểm soát thực thi) Mỗi module trong Struts 1 có sự tách rời Request Processors (vòng đời),trong khi tất cả các Action trong module cần phải chia sẻ cùng vòng đời. Trong Struts 2 các vòng đời khác nhau được tạo ra dựa trên nền tảng Action thông qua ngăn xếp chặn (Interceptor Stacks).Các stack tùy biến được tạo ra và sử dụng với Action khác nhau. Sự khác nhau như trên, với những ưu điểm của Struts 2 so với Struts 1 làm Struts 2 trở thành công cụ hữu ích cho các nhà thiết kế phần mềm Web hiện tại và tương lai. 2.4. Struts 2 2.4.1. Vòng đời của các yêu cầu trong Struts 2 Hình 2.2 : Dòng xử lý trong Struts 2 - Người sử dụng gửi yêu cầu đến server để yêu cầu một số tài nguyên của ứng dụng - Bộ điều khiển lọc (FilterDispatcher) xem xét yêu cầu và sau đó xác định một Action thích hợp - Các bộ chặn (Interceptors) được ứng dụng: các cấu hình bộ chặn áp dụng cho các chức năng chung như: luồng công việc, thẩm định, tải file … được tự động ứng dụng vào yêu cầu - Thực thi Action: sau khi phương thức action được thực thi để thực hiện các hoạt động liên quan đến cơ sở dữ liệu như sắp xếp hoặc nhận dữ liệu từ cơ sở dữ liệu - Sinh kết quả - Sau đó kết quả yêu cầu được trả về thông qua bộ chặn theo chiều ngược lại. Kết quả trả về cho phép chúng ta thực hiện thu dọn hoặc thêm quá trình xử lý - Hiển thị kết quả cho người sử dụng: việc điều khiển cuối cùng được trả về cho trình chứa servlet, nó sẽ gửi kết quả trả về cho trình duyệt của người sử dụng. 2.4.2. Kiến trúc Struts 2 Hình 2.3: Kiến trúc của 1 ứng dụng struts 2. - Action ContextCleanUp filter: là một tùy chọn và nó được sử dụng khi tích hợp với các công nghệ khác như SiteMash Plugin - FilterDispatcher: tiếp đến, FilterDispatcher (bộ điều khiển lọc) được gọi, nó quay lại sử dụng ActionMapper để xác định Action nào được triệu gọi. Nếu action được yêu cầu được triệu gọi thì FilterDispatcher ủy nhiệm việc điều khiển lại cho ActionProxy. - ActionProxy:ActionProxy nhận sự giúp đỡ từ bộ quản lý cấu hình file (Configuration Files manager), được khởi tạo từ file struts.xml. Sau đó ActionProxy tạo ra một ActionInvocation, thực thi (implement) từ mẫu lệnh. ActionInvocation xử lý triệu gọi bộ chặn (Interceptors) nếu nó được cấu hình và sau đó triệu gọi Action. ActionInvocation tìm kiếm kết quả thích hợp, sau đó kết quả được thực thi, nó triệu gọi việc sinh ra trang các JSP hoặc các mẫu. Sau đó, các Interceptor được thực thi một lần nữa theo thứ tự ngược lại. Việc trả về kết quả cuối cùng thông qua các bộ lọc được cấu hình trong file web.xml. Nếu bộ lọc ActionContextCleanUp được cấu hình, thì FilterDispatcher không dọn dẹp ThreadLocal ActionContext. Nếu bộ lọc ActionContextCleanUp không có thì FilterDispatcher sẽ dọn dẹp tất cả các ThreadLocal tồn tại. 2.4.3. Ứng dụng đơn giản với Struts 2: Hiển thị thông điệp “Hello world” Sử dụng Eclipse Java EE IDE for Web Developers. o Tạo 1 project mới: Tải gói struts 2 tại trang chủ của struts: Copy các file sau từ thư mục \struts-2.0.11-all\struts-2.0.11\lib vào thư mục WEB_INF/lib của ứng dụng ta mới tạo: struts2-core.jar, xwork.jar, ognl.jar, freemarker.jar, commons-logging.jar o Sử dụng Server: Apache TomCat 6.0.20 download tại địa chỉ: Với Eclipse, chọn New ->Project-> Dynamic Web Project. Sau đó đặt tên cho project, mặc định để chạy trên server Tom Cat 6.0 . Các bước thiết lập cấu hình cho hệ thống như dưới đây: Hình 2.4: Tạo web project trên eclipse Bước 1: Xây dựng Action tương tác với thành phần “Model”. - Tạo lớp Struts2HelloWorld.java trong struts2tutorial \WEB-INF\src\java\exam package java.exam; import com.opensymphony.xwork2.ActionSupport; import java.util.Date; public class Struts2HelloWorld extends ActionSupport { public static final String MESSAGE = "Struts 2 Hello World !"; public String execute() throws Exception { setMessage(MESSAGE); return SUCCESS; } private String message; public void setMessage(String message){ this.message = message; } public String getMessage() { return message; } public String getCurrentTime(){ return new Date().toString(); } } Bước 2: Thành phần “Controller”. - Tạo file cấu hình điều khiển struts.xml trong thư mục: struts2tutorial\WEB-INF\src với nội dung: File struts.xml sẽ có mặt trong classpath của ứng dụng, ta có thể đặt file này trong jar và trong thư mục lib của ứng dụng hoặc cũng có thể đặt nó trong thư mục classes của ứng dụng web. - Cấu hình file web.xml của ứng dụng web <!DOCTYPE struts PUBLIC "-//Apache Software Foundation//DTD Struts Configuration 2.0//EN" ""> <constant name="struts.enable.DynamicMethodInvocation" value="false" /> <package name="exam" namespace="/exam" extends="struts- default"> <action name="HelloWorld" class="java.exam.Struts2HelloWorld"> /pages/HelloWorld.jsp struts2 <filter- class>org.apache.struts2.dispatcher.FilterDispatcher</filter -class> struts2 /* Bước 3: Tạo thành phần “View”. - Tạo trang HelloWorld.jsp trong thư mục struts2tutorial/pages với nội dụng: Chú thích: - Dòng khai báo dữ liệu thư viện thẻ của struts. Dữ liệu thẻ của struts được sử dụng để hiển thị dữ liệu động. - Thẻ gọi lần lượt các phương thức getMessage() và getCurrentTime() của lớp action HelloWorld và kết hợp các giá trị với response. Luồng hoạt động: Sau khi run sử dụng server Tom Cat, mở trình duyệt chạy liên kết : Struts 2 Hello World Application! Current date and time is: <s:property value="currentTime" /> và Hình 2.5: Chương trình sau khi chạy - Khi chạy trên Tom Cat 6.0, trình chứa sẽ yêu cầu tài nguyên HelloWorld.action. File web.xml trong ứng dụng này đã cấu hình việc định tuyến tất cả các yêu cầu *.action đều thông qua org.apache.struts2.dispatcher.FilterDispatcher. - Framework sẽ tìm mapping cho action HelloWorld, sau đó tạo một thể hiện của lớp thích hợp và gọi phương thức execute() của lớp action đó. Trong trường hợp này là lớp Struts2HelloWorld. Dưới đây là đoạn cấu hình mapping cho action này trong file struts.xml - Phương thức execute() được gọi và trả về SUCCESS - Struts Framework xác định trang thích hợp để nạp nếu kết quả SUCCESS được trả về, trong trường hợp này thì HelloWorld.jsp được gọi và sinh ra kết quả hiển thị - Trong struts2, action được sử dụng để xử lý form và yêu cầu của người dùng. Phương thức execute của action trả về các giá trị SUCCESS hoặc ERROR hoặc INPUT. Đây là 3 giá trị cơ bản mà framework chỉ cho trình chứa biết để nạp và sinh ra kết quả thích hợp - Trình chứa nạp HelloWorld.jsp và sinh ra kết quả hiển thị - Hiển thị kết quả định dạng HTML <action name="HelloWorld" class="java.exam.Struts2HelloWorld"> /pages/HelloWorld.jsp 2.5. Truy cập, sử dụng dữ liệu trong database. - Như chúng ta đã biết, một ứng dụng web động luôn được thiết kế với một cơ sở dữ liệu nhất định. Với từng tổ chức dữ liệu và độ bảo mật riêng, một hệ thống sẽ sử dụng một hệ quản trị cơ sở dữ liệu khác nhau. - Các hệ quản trị cơ sở dữ liệu thường dùng : o MySQL o PostgreSQL o SQL server o Oracle o ….. - ORACLE là một bộ phần mềm được cung cấp bởi công ty ORACLE , nó bao gồm một bộ xây dựng các ứng dụng và các sản phẩm cuối cùng cho uer (end_uer product). - Oracle cung cấp một hệ quản trị CSDL mềm dẻo nó bao gồm CSDL Oracle, môi trường cho việc thiết kế các cơ sở dữ liệu (Designer) và các công cụ phát triển (Developer)…. - Bởi tính an toàn , bảo mật cao,tính nhất quán và toàn vẹn dữ liệu, cho phép các user truy nhập tới cơ sở dữ liệu phân tán như một khối thống nhất … Oracle đang là lựa chọn hàng đầu cho các doanh nghiệp trong việc quản trị database. Hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ Home Phone đã lựa chọn Oracle làm hệ quản trị cơ sở dữ liệu bởi những đặc tính ưu việt đó. 2.6. Hibernate và những ưu việt. 2.6.1. Hibernate framework [13] Framework là một khái niệm trong phát triển phần mềm dùng để chỉ những “cấu trúc hỗ trợ được định nghĩa” mà trong đó những dự án phần mềm khác có thể được sắp xếp vào đó và phát triển. Hibernate là một cơ chế cho phép người lập trình thao tác với database một cách hoàn toàn tự nhiên thông qua các đối tượng. Lập trình viên hoàn toàn không quan tâm đến loại database sử dụng, SQL, … Nó là một trong những ORM (Object Relational Mapping) Framework. Chức năng chính của hibernate chính là ánh xạ từ các lớp Java đến các bảng cơ sở dữ liệu ( và từ các kiểu dữ liệu Java sang kiểu dữ liệu SQL). Khái niệm “Peristence layer”: một ứng dụng có thể được chia làm 3 phần như sau: giao diện người dùng (presentation layer), phần xử lý nghiệp vụ (business layer) và phần chứa dữ liệu (data layer). Cụ thể ra, business layer có thể được chia nhỏ thành 2 layer con là business logic layer (các tính toán nhằm thỏa mãn yêu cầu người dùng) và persistence layer. Persistence layer chịu trách nhiệm giao tiếp với data layer (thường là một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ - Relational DBMS). Persistence sẽ đảm nhiệm các nhiệm vụ mở kết nối, truy xuất và lưu trữ dữ liệu vào các Relational DBMS. Hibernate framework là một framework cho persistence layer. Như vậy, nhờ có Hibernate framework mà giờ đây khi bạn phát triển ứng dụng bạn chỉ còn chú tâm vào những layer khác mà không phải bận tâm nhiều về persistence layer nữa. Hibernate là một dịch vụ lưu trữ và truy vấn dữ liệu quan hệ mạnh mẽ và nhanh. + Hibernate giúp bạn phát triển các class dùng để lưu trữ dữ liệu theo cách thức hướng đối tượng: association, inheritance, polymorphism, composition và collections + Hibernate cho phép bạn thực hiện các câu truy vấn dữ liệu bằng cách sử dụng ngôn ngữ SQL mở rộng của Hibernate (HQL) hoặc là ngôn ngữ SQL nguyên thủy cũng như là sử dụng các API. + Hibernate được license (đăng kí) theo LGPL (Lesser GNU Public License). Theo đó, bạn có thể thoải mái sử dụng Hibernate trong các dự án open source hoặc các dự án thương mại (commercial). Hình 2.6: Kiến trúc Hibernate Hình 2.6 miêu tả kiến trúc của Hibernate, với Hibernate một ứng dụng khi tương tác với 1 cơ sở dữ liệu (database), nó cần được ánh xạ các bảng trong database thành các đối tượng vững bền (Persistent). Application Database Hibernate Hibernate Properties Hibernate XML Mapping Persistent Objects Sáng tạo lại, quay vòng, đó là nguyên nhân của sự phát triển phần mềm. Đây là thực tế cho mỗi và mọi thành phần của phần mềm. Một trong những thành phần cơ bản và hầu như phức tạp (trong khái niệm thiết kế và bổ sung) là cơ sở dữ liệu. Tính phức tạp tăng lên khi các thành phần tương tác nhau khác nhau. Khi một thành phần dựa trên một kiểu giải pháp (ví dụ hướng đối tượng) cố gắng tương tác trực tiếp với đối tượng khác có kiểu giải pháp khác (ví dụ quan hệ), tính phức tạp tăng lên theo cấp số nhân của việc giao tiếp các giải pháp với nhau. Đây là điều hiển nhiên trong tất cả các API cơ sở dữ liệu được cung cấp bởi các ngôn ngữ khác nhau. Ví dụ tốt nhất là API Java Database Connectivity (JDBC). Thông qua JDBC cung cấp một phương thức dễ dàng để truy cập đến những cơ sở dữ liệu khác nhau mà không phải thay đổi nhiều, nó cơ bản là một API ở mức thấp cung cấp chỉ một layer trừu tượng. Đây là sự tiện dụng đối với những dự án nhỏ và vừa, nhưng không thích hợp cho các ứng dụng mức enterprise. Những gì mà một Framework yêu cầu đó là có thể tương tác như một trung gian giữa nhiều bên với nhau (ví dụ các giải pháp khác nhau). Các ORM framework mang đến cho các developer những tư duy trong khái niệm về quan hệ trong khi vẫn làm việc với các lớp. Có nhiều framework mang mục đích này. Những gì làm cho Hibernate khác với những framework khác chính là tính đơn giản và khả chuyển của nó. Để tạo nên ứng dụng Hibernate, có ba điều cần phải có, đó là: Persistence Class: (Lớp bền vững) Persistence class là một Plain Old Java Object hay POJO model. Một POJO là tương tự như một JavaBean, có những getter và setter để truy câp các thuộc tính của nó là những instance variable (biến thực thể). Persistence class có những đặc điểm dưới đây: a. Nó là thay thế hướng đối tượng cho bảng ở cơ sở dữ liệu b. Các thuộc tính của bảng trở thành những instance variable của persistence class. c. Kiểu dữ liệu của các instance variable là domain của các thuộc tính. d. Đối tượng của persistence class thay hế cho hàng của bảng. Mapping file: (Tệp định hướng) Mapping file là một file XML chứa ánh xạ chi tiết giữa persistence class và bảng nó thay thế. Các thành phần bắt buộc của file XML này là: a. hibernate-mapping: Đây là thành phần gốc bao tất cả các thành phần khác. b. class: được sử dụng để ánh xạ tên bảng thành persistence class (lớp bền vững). Tên thuộc tính được sử dụng để xác định tên lớp, và thuộc tính bảng được sử dụng để xác định bảng mà lớp thay thế. Ví dụ để ánh xạ một bản mang tên ORDERS thành một persistence class với tên đầy đủ là com.someorg.persist.Order sẽ như dưới đây: c. id: Thành phần này sử dụng để ánh xạ khóa chính của table thành một instance variable của class. Thành phần cột con của id có thể sử dụng để ánh xạ thành biến tương ứng. Giá trị của khóa chính có thể tự động tạo ra được công bố ở đây. Thành phần generator có thể được sử dụng để nói cho Hibernate một lớp sẽ được sử dụng ở đâu để tự động tạo id, hoặc id được gán bởi ứng dụng: Ví dụ trên nói cho Hibernate rằng, tên của khóa chính là id mà nó đã được ánh xạ thành instance variable “id”. Kiểu dữ liệu của nó là “string” được ánh xạ cho cột “id” có kiểu “char(32)” thay thế bởi thuộc tính sql-type. Thuộc ính lớp của generator chứa giá trị “assigned” nghĩa là ứng dụng bản thân nó sẽ cung cấp giá trị cho khóa chính. d. property: thành phần này, thuộc về các cột thành phần con của nó, ánh xạ những thuộc tính khác (hoặc các côt thành những instance variable của persistence class. Thuộc tính name của property chứa tên của biến như một giá trị. Thuộc tính name của thành phần column chứa tên của cột mà instance variable được ánh xạ. Các thuộc tính length và sql-type trỏ đến độ dài và kiểu dữ liệu của cột: Hibernate Configuration file: (Tệp cấu hình Hibernate) File này có thể được gọi trỏ đến ứng dụng sử dụng Hibernate. Nguyên nhân là nó chứa cấu hình điều khiển giao tiếp với database ở phía dưới. Ở đây, tất cả các file mapping được sử dụn bởi ứng dụng được công bố. Địnn dạng thành phần của … hibernate-configuration là thành phần gốc. Hầu hết các thành phần thông dụng sử dụng trong file XML là: a. property: Thuộc tính name của thành phần property có thể được sử dụng để cấu hình những tham số khác nhau. Trong công nghệ Hibernate, những tham số này được biết như là những tham số property. Kiểu database server (MySQL, Oracle…), dialect class, URL của database, username/password… là những tham số property khác nhau. Để đặt chúng vào trong mã: b. mapping: Nó là thành phần kết nối tất cả các file mapping,, cũng gọi là các file hbm, được sử dụng bởi ứng dụng đã công bố. Thuộc tính resource được cho giá trị của đường dẫn file hbm. Apache đã phát triển Struts rất mềm dẻo để có thể kết hợp dễ dàng với Hibernate phát triển các ứng dụng có quy mô lớn. 2.6.2 Một ví dụ về kết hợp giữa Struts 2 và Hibernate: Xây dựng ứng dụng quản lý các tài khoản của một hệ thống bằng Struts 2 Kết hợp giữa Struts 2 và Hibernate. <property name="connection.driver_class">org.hsqldb.jdbcDriver <property name="connection.url">jdbc:hsqldb:data/tutorial sa : : Bước 1: Tạo ứng dụng web trong Eclipse. Hình 2.7: Cấu trúc Project Bước 2: Cấu hình file: web.xml Tạo file struts.xml trong thư mục src của project. Thêm thư viện của struts 2, gồm 5 file sau: • common-logging.jar • freemarker.jar • ognl.jar • struts2-core.jar • xwork.jar Bước 3: Để cấu hình Hibernate với Struts chúng ta cần thư viện của Hibernate đặt trong thư mục Web-inf/lib, gồm những file sau: antlr.jar ,asm.jar, cglib.jar, commons beanutils.jar, common-logging.jar, dom4j.jar, freemarker.jar, hibernate.jar, jta.jar, , ognl.jar, struts2.jar, xwork.jar struts-cleanup <filter- class>org.apache.struts2.dispatcher.ActionContextCleanUp</filter- class> struts2 <filter- class>org.apache.struts2.dispatcher.FilterDispatcher</filter- class> struts-cleanup /* struts2 /* Bước 4: Tạo đối tượng SessionFactory của Hibernate trong bộ lọc Struts 2, sau đó sẽ kế thừa bộ lọc Struts 2,tạo một thư mục để plugin vào trong kiến trúc package. Bước 5: Override bộ lọc của Struts 2 HibernateUtil.java package com.net.plugin; import org.hibernate.SessionFactory; import org.hibernate.cfg.Configuration; import org.hibernate.Session; public class HibernateUtil { private static SessionFactory sessionFactory; public static void createSessionFactory() { sessionFactory = new Configuration().configure().buildSessionFactory(); } public static Session getSession() { return sessionFactory.openSession(); } } Struts2dispatcher.java package com.net.plugin; import javax.servlet.*; import org.apache.struts2.dispatcher.FilterDispatcher; import org.hibernate.HibernateException; public class Struts2Dispatcher extends FilterDispatcher { @Override public void init(FilterConfig filterConfig) throws ServletException { super.init(filterConfig); try { HibernateUtil.createSessionFactory(); System.out.print(”application initializing successfully”); } catch (HibernateException e) { throw new ServletException(e);} } } Bước 6 : Cho phép bộ lọc trong file web.xml như sau: Bước 7: Đặt file cấu hình Hibernate trong thư mục src với tên hibernate.cfg.xml. Tạo bảng usermast với các trường usercode(int), uname(varchar), pwd(varchar), type(varchar) Sau đó sửa file: hibernate.cfg.xml DB: tên database Username, password: tên truy cập vào database org.apache.struts2.dispatcher.FilterDispatcher</filter- class> –> org.hns.plugin.Struts2Dispatcher <!DOCTYPE hibernate-configuration PUBLIC “-//Hibernate/Hibernate Configuration DTD//EN” “”> <property name="hibernate.connection.driver_class">oracle.jdbc.driver.OracleDri ver <property name="hibernate.connection.url">jdbc:oracle:thin:@localhost:1521:DB system abc123 <property name="hibernate.dialect">org.hibernate.dialect.OracleDialect Bước 8: Tạo file Hibernate mapping với bảng trong cơ sở dữ liệu. Tạo lớp User.java trong package com.net.user Tạo file User.hbm.xml trong package com.net.user Bước 9: Tạo một file java khác là UserHibDao.java để tạo và truy cập User package com.net.user.; public class User { private int id; private String username; private String password; private String usertype; // add fields setter and getter here (required)} <!DOCTYPE hibernate-mapping PUBLIC “-//Hibernate/Hibernate Mapping DTD 3.0//EN” “”> package com.net.user.dao; import java.util.List; import org.hibernate.Query; import org.hibernate.Session; import org.hibernate.Transaction; import com.net.user.User; import com.net.plugin.HibernateUtil; public class UserHibDao { private List userlist; private User user; } catch (RuntimeException e) { if(tx != null) tx.rollback(); throw e; } finally { session.close();} } //Liệt kê tất cả các User public List getAllUser() { HibernateUtil.createSessionFactory(); Session session = HibernateUtil.getSession(); try { session.beginTransaction(); userlist=session.createQuery(”from User”).list(); return userlist; } catch(Exception e) { System.out.print(”Error while fetching “+e); return null; } finally { session.close(); }} //Lấy ra một User public User getuser(Integer id) { HibernateUtil.createSessionFactory(); Session session = HibernateUtil.getSession(); try { session.beginTransaction(); //change query for get proper data Query q = session.createQuery(”from User u where u.uid=:id”); q.setInteger(”userid”,id); return (User) q.uniqueResult(); }finally { session.close(); }} Bước 10. Kiểm tra Kiểm tra thông báo: Insert Success trên màn hình Console. Không sử dụng server TomCat. Đây là một ví dụ đơn giản nhất về sự kết hợp giữa Struts 2 với Hibernate. Công việc cuối cùng là ứng dụng các công nghệ trên vào để giải quyết bài toán: Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ Home Phone. Ngoài ra để tiện dụng, trong hệ thống có sử dụng thêm JSTL(JavaServer Pages Standard Tag Library) để tối ưu và chuyên nghiệp cho source code. //Chèn thêm 1 User public void insert(User usr) { HibernateUtil.createSessionFactory(); Session session = HibernateUtil.getSession(); Transaction tx=null; try { tx = session.beginTransaction(); session.save(usr);//saveOrUpdate() tx.commit(); } catch (RuntimeException e) { if(tx != null) tx.rollback(); throw e; } finally { session.close(); }} public static void main(String[] args) throws Exception { UserHibDao user=new UserHibDao(); User user1 = new User(); user1.setUsername("sonnt"); user1.setPassword("abc123"); user1.setUsertype("Hello world"); user.insert(user1); System.out.println("Insert Success"); } Chương 3: GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN 3.1. Yêu cầu luồng công việc Quản lý người dùng Phần quản lý người dùng yêu cầu thực hiện việc kiểm tra thông tin đăng nhập. Nếu đã đăng nhập thành công, thì cho phép hiển thị các module của hệ thống (được phân quyền hiển thị với user đó.). Ngoài ra phải xây dựng module quản lý người dùng, nhóm người dùng và quyền truy xuất vào các module đối với từng nhóm người dùng. Thông tin thuê bao Lựa chọn địa điểm cần thông tin, với mặc định thời gian là ngày hôm qua (hệ thống quét dữ liệu vào 3h sáng) Sau khi lựa chọn, hệ thống sẽ hiển thị 2 bảng với 2 nội dung. - Báo cáo thống kê: % các agent đang hoạt động % agent phát sinh cuộc gọi % agent phát sinh nhiều cuộc gọi % agent thay đổi serving cell % agent activated mới % agent activated mới phát sinh cuộc gọi % số mẫu có cường độ sóng tốt % số mẫu có chất lượng sóng tốt % CSR - Thống kê cảnh báo: Số lượng các agent không hoạt động Số lượng các agent đang hoạt động nhưng không phát sinh cuộc gọi Số lượng các agent thay đổi serving cell Số lượng các agent sử dụng sóng yếu Số lượng các agent sử dụng sóng chất lượng tồi Số lượng các agent có tỷ lệ CSR thấp. - Bảng “Thống kê cảnh báo”: đều được gắn liên kết trỏ tới thông tin chi tiết Phần đồ thị mô tả được vẽ ở bên dưới hai bảng. Các cảnh báo Nguời điều khiển có thể lựa chọn hiển thị các loại thông tin cảnh báo: (agent không hoạt động, agent hoạt động nhưng không phát sinh cước gọi, agent đổi serving sell…). Thông tin “chi tiết cảnh báo” chi tiết hơn về thông tin của thuê bao, ngoài ra có hiển thị biểu đồ chi tiết về chất lượng sóng, cường độ sóng để biết được nguyên nhân tại sao thuê bao từ chối sử dụng dịch vụ. Cấu hình tham số Các tham số của hệ thống phải được cấu hình ở một ngưỡng nhất định. Các tham số này sẽ phục vụ việc đánh giá chất lượng của hệ thống dịch vụ Home Phone. Quản lý Agent: Quản lý Agent là một module riêng, chỉ những người có quyền điều khiển hệ thống mới được phép truy cập vào. Quyền truy cập ở module này yêu cầu người dùng phải thuộc nhóm người quản trị. Nhóm này được thiết lập trong “Quản lý người dùng”. Phần này yêu cầu thiết kế một bảng gồm một số thông tin về Agent như : họ tên, số điện thoại (MSISDN), thông tin chi tiết khác. Ngoài ra, nó yêu cầu ở mỗi agent có thêm các xử lý với nó. Các xử lý cần thực hiện là: Sửa; Xóa; Activate; Deactivate; Reset, Chi tiết mẫu đo, Query Config, Query Status, Measure. - Chi tiết: Thông tin chi tiết về thuê bao sẽ được hiển thị - Sửa: Người điều khiển có thể sửa thông tin của thuê bao tại đây - Xóa: Xóa 1 thuê bao khỏi cơ sở dữ liệu. Lưu ý phải hiển thị một drop box thông báo. - Các xử lý Activate, Deactivate, Reset: thêm lần lượt các giá trị ACTIVATE, DEACTIVATE, RESET tương ứng vào bảng TBL_SERVICE_CONTROL theo các trường như bảng dưới: ACTIVATE AGENT ID SERVICE REQUEST SERVICE STATUS 4 ACTIVATE NP DEACTIVATE AGENT ID SERVICE REQUEST SERVICE STATUS 5 DEACTIVATE NP RESET AGENT ID SERVICE REQUEST SERVICE STATUS 6 RESET NP Ngoài ra còn một số xử lý khác về agent như Query status, Query config, Measure cũng tương tự như phần xử lý Activate, tuy nhiên cần đợi thời gian timeout của hệ thống lên khoảng 10 giây để hệ thống tương tác thông tin với agent. 3.1 Sơ lược về cơ sở dữ liệu của hệ thống Hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ Home Phone Cở sở dữ liệu gồm có 35 bảng được thiết kế như trên (sử dụng Navicat hoặc SQL Navigator để hiển thị cơ sở dữ liệu) Hình 3.1: Các bảng trong cơ sở dữ liệu TBL_AGENT: bảng này lưu thông tin về các Agent. Mỗi agent đều có một số thông tin đi kèm như số điện thoại gắn liền, tên chủ thuê bao, số IMEI và một số các thông tin về khu vực trực thuộc, thông tin về tần số sóng, dải băng tần … Trong hình 3.1, Các bảng TBL_AGENT_* lưu danh sách các thuê bao có thông tin cảnh báo. TBL_USER lưu thông tin của người dùng, là các tài khoản sử dụng cho việc đăng nhập vào hệ thống. TBL_CFG_ROLE lưu danh sách các module được phân quyền truy cập với người dùng. Các bảng TBL_Q_STATUS, TBL_Q_CONFIGURATION mang cá thông tin xử lý bên module Quản lý Agent. Hình 3.2.1 : Chi tiết bảng TBL_AGENT Bảng TBL_AGENT chứa các thông tin chi tiết về Agent, tất cả các agent đều được lưu trong bảng này. Mỗi Agent lưu mã của quốc gia, vùng, tỉnh. Mỗi mã này ứng với dữ liệu bên các bảng TBL_COUNTRY, TBL_AREA , TBL_PROVINCE. Ngoài ra bảng Agent còn một số thông tin về Cell ID, trạng thái Agent (Agent Status), IMEI, CUSTOMER ID… Cuối mỗi bảng đều có một trường là ONDATE lưu thời điểm thêm hoặc điều chỉnh dữ liệu. Hình 3.2.2: Chi tiết bảng TBL_INFO_PERCENT Bảng TBL_INFO_PERCENT tổng hợp số liệu về số lượng agent đang hoạt động, agent phát sinh cuộc gọi, agent phát sinh nhiều cuộc gọi … để có những tiêu chí đánh giá hợp lý cho chất lượng dịch vụ. Ví dụ: với những thuê bao phát sinh nhiều cuộc gọi, nhà mạng có thể có những dịch vụ chăm sóc khách hàng hợp lý, để làm hài lòng khách hàng sử dụng. Các số liệu này đều được lọc qua các Scope (phạm vi nhất định) thuộc một vùng miền hay một tỉnh thành nào đó. Việc thống kê chi tiết như vậy khiến nhà mạng có thể hiểu rõ được thị trường phát triển viễn thông của vùng đó, từ đó có những biện pháp phát triển dịch vụ cho hợp lý. Một điểm sai sót trong khởi tạo các trường trong cơ sở dữ liệu là chưa xác định rõ các khóa chính, khóa ngoại của các bảng, điều này gây khó khăn trong lập trình. Ví dụ: 3 bảng TBL_COUNTRY, TBL_AREA, TBL_PROVINCE chỉ gồm có 2 trường trong mỗi bảng là ID và Tên. Không có mối quan hệ trực tiếp trong 3 bảng này. 3 bảng này liên quan duy nhất trong hệ thống là thông qua bảng TBL_AGENT. Với mỗi Agent, người quản lý sẽ phải nêu rõ thuộc nước nào, vùng nào, tỉnh nào rõ ràng. Và bộ lọc phạm vi (scope) trở lên phức tạp hơn . Đó là một số mô tả cơ bản về cở sở dữ liệu của hệ thống. Vậy để tiến hành xây dựng website quản lý chất lượng dịch vụ Home Phone, chúng ta phải nắm rõ quan hệ của các trường trong cơ sở dữ liệu, từ đó có thể mô phỏng được quan hệ giữa các đối tượng trong xử lý của các lớp. 3.3 Quá trình thực hiện dự án Các gói thư viện được đưa vào thư mục WebContent\WEB-INF\lib Project được xây dựng như hình vẽ: Hình 3.3: Ứng dụng xây dựng trên Eclipse Java EE IDE for Web Developers. Việc cấu hình các file cơ bản như struts.xml , hibernate.cfg.xml , web.xml tương tự như trong các ví dụ trên. Thư mục \src chứa package cấu hình Model, Action và trình điều khiển Controller. Các Action xử lý các module khác nhau được đặt riêng trong từng gói (package) khác nhau, đặt theo tên tiếng Anh của từng xử lý. Controller là các file struts.xml, web.xml, các file xml đi kèm với các file trong Model và Action. Các gói thư viện cần thiết được đặt tại WebContent\WEB-INF\lib gồm các thư viện của Struts2, thư viện Hibernate, thư viện jstl và một số thư viện hỗ trợ vẽ biểu đồ. Phần giao diện: Nằm trong thư mục WebContent\view , được phân chia ra các thư mục riêng để dễ dàng quản lý. Các file ảnh cần thiết cho hệ thống được đặt trong thư mục Image. Style đặt trong thư mục Css. Một số javascript đặt trong thư mục js 3.3.1 Module đăng nhập,quản lý người dùng và phân quyền. Hình 3.4: Giao diện đăng nhập Đăng nhập bằng tài khoản admin /admin (Full Control) Nếu kiểm tra thông tin đăng nhập chính xác, hệ thống sẽ chuyển đến trang index, nếu sai thì hủy bỏ yêu cầu truy cập và yêu cầu xác nhận lại Khi kiểm tra class User trong package : com.srs.model lấy dữ liệu từ bảng TBL_USER đưa vào 1 danh sách, so sánh giá trị vừa nhập để lấy kết quả trả về Các tài khoản được phân quyền khác nhau. Thông tin về file init.jsp (File cấu hình các taglib) Khi 1 file jsp có include file init.jsp này, nó có thể sử dụng các thẻ , , Quản lý người dùng và phân quyền. Phần quản lý người dùng được thiết kế các chức năng thêm, sửa xóa giống như quản lý thuê bao. Mỗi người dùng đều được đặt trong 1 group, để phân quyền truy cập theo nhóm. Phần quản lý Nhóm người dùng: Giống như quản lý người dùng, có các chức năng thêm, sửa, xóa Thông tin chi tiết của người dùng được hiển thị trong trang liên kết “ Chi tiết”. <c:when test="${loginUser.roleLogin || loginUser.roleViewGraphicalReports}"> <c:redirect url="/agent/list.do"> <c:if test="${loginUser.roleUserManagement}"> <c:redirect url="/user/list.do"> Hình 3.5: Quản lý người dùng Các tài khoản User đểu được thuộc một Group nhất định. Trong menu quản lý Group, muốn thêm một nhóm mới, người quản trị phải cung cấp các Role (các vai trò, vị trí của người dùng trong một module). Điều này nghĩa là mỗi group phải được gắn quyền truy cập vào những menu nhất định.Hình 3.6 chụp lại chức năng thêm một group, với những thông tin sau: Hình 3.6: Thêm Group Phân quyền người dùng Đăng nhập với tài khoản: chienvh/chienvh Hình 3.7: Phân quyền người dùng Với tài khoản đăng nhập là chienvh, người dùng chỉ có quyền truy cập vào 2 module là : Quản lý thuê bao, các cảnh báo. Việc phân quyền này nhằm mục đích quản lý việc sử dụng hệ thống. Người dùng bình thường không có khả năng thay đổi các cấu hình của hệ thống, thay đổi thông tin người dùng mà chỉ có thể xem các thông tin cần thiết phục vụ cho báo cáo hệ thống 3.3.2 Module thông tin thuê bao: Hình 3.8: Module thông tin thuê bao Quay trở lại tài khoản Admin, module thông tin thuê bao được sắp xếp từ trên xuống dưới là: bộ lọc scope (lựa chọn khu vực cần xem thông tin), lựa chọn khoảng thời gian (khoảng thời gian cách nhau tối đa là 15 ngày). File index.jsp Tầng View gọi thông tin biến: countryId, areaId, provinceId, cellId , thông tin được gửi đến Model thông qua cấu hình struts.xml tầng Controller, kết hợp với Hibernate, dữ liệu được lấy từ các bảng :TBL_AGENT, TBL_CFG_AREA, TBL_CFG_COUNTRY, TBL_CFG_PROVINCE Đưa vào các list, được hiển thị ra Các thẻ select được nằm trong thẻ struts sẽ hiển thị dữ liệu động bởi các biến countryId, areaId, provinceId, cellId ở trên. Action được thực thi ở lớp AgentAction.class trong package com.srs.action Sau khi lọc thông tin thuê bao cần hiển thị, các thông tin yêu cầu sẽ được hiển thị ở 2 bảng (như hình dưới), sau đó, phần biểu đồ được vẽ ngay phía bên dưới var countryId = ; var areaId = ; var provinceId = ; var cellId = ; public List list() { Session session = HibernateUtil.getSession(); try { session.beginTransaction(); areaList = session.createQuery("from Area").list(); return areaList; } catch (Exception e) { System.out.print("Error while fetching " + e); return null; } finally { session.close(); } } Hình 3.9: Biểu đồ thông tin thuê bao Phía dưới, theo yêu cầu thiết kế của khách hàng, còn 6 biểu đồ nữa tương tự như các biểu đồ trên, với trục hoành là khoảng thời gian cần hiển thị, trục tung là thành phần % thông tin về các thuê bao. 3.3.3 Module: Các cảnh báo Hiển thị cảnh báo là một trong những module quan trọng nhất của hệ thống. Nhà mạng luôn phải biết được người sử dụng đang cảm thấy như thế nào về việc sử dụng dịch vụ của mình, từ đó có thể tìm ra nguyên nhân sai sót, hỏng hóc của hệ thống, để sửa chữa và nâng cấp, đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng. Hình 3.10: Module cảnh báo Lựa chọn thông tin cảnh báo , hiện danh sách các thuê bao có cảnh báo. Phần chi tiết: Hình 3.11: Chi tiết cảnh báo Chi tiết về thuê bao, biểu đồ hiển thì cường độ sóng và chất lượng sóng của thuê bao sử dụng trong khoảng thời gian nhất định (lựa chọn), tối đa 15 ngày. Với hình ảnh trực quan, biểu đồ đã thể hiện rõ được nguyên nhân gây cảnh báo của hệ thống với một khách hàng có trong danh sách liệt kê. 3.3.4 Module: Cấu hình tham số Hình 3.12: Module : Cấu hình tham số Cấu hình tham số là module quan trọng trong việc đánh giá các thông số kỹ thuật của hệ thống, đưa ra thông tin cảnh báo, hiển thị thuê bao có ngưỡng dưới mức cho phép … Phân tích về cách thực hiện lệnh của module cấu hình tham số này: Khi nhấn “Đồng ý” lớp ConfigAction trong com.srs.action.config gọi phương thức editComplate() thực hiện việc chuyển dữ liệu qua bộ lọc dữ liệu (Filter), sau đó nhờ hibernate, các đối tượng chứa dữ liệu trong các mảng được mapping đến cơ sở dữ liệu. Sau đó Action hibernate thực hiện lệnh ghi vào database. Phương thức EditComplate kiểm tra xem người dùng có muốn reset các tham số về mặc định hay không? Nếu có thì thực hiện gán các thông số đang tồn tại về các số đã mặc định. Ngược lại, nó gọi hàm setValue() để gán giá trị nhập vào cơ sở dữ liệu. 3.3.5 Module: Quản lý Agent Danh sách Agent được hiển thị sau khi lọc theo vùng miền, tỉnh, cell. Chức năng thêm thuê bao, xem chi tiết 1 thuê bao trong danh sách. public String editComplete(){ System.out.println("ConfigAction::index"); SystemParameterDao systemParameterDao = new SystemParameterDao(); List systemParameters = systemParameterDao.list(); if (isReset!=null){ System.out.println("ConfigAction::editComplete::reset value"); for (SystemParameter systemParameter : PARAMETERS) { config.setValue(systemParameter); } for (SystemParameter systemParameter : systemParameters) { systemParameter.setValue(config); systemParameterDao.update(systemParameter); } } else { System.out.println("ConfigAction::editComplete::update value"); for (SystemParameter systemParameter : systemParameters) { systemParameter.setValue(config); systemParameterDao.update(systemParameter); } } Hình 3.13: Module: Quản lý Agent Các chức năng Update Config, Activate, Deactivate, Reset … khi thực hiện click thì quá trình xử lý thông tin được thực hiện như trong yêu cầu. 1 popUp được hiện ra thông báo việc thực hiện công việc thành công hoặc chưa thực hiện được: Hình 3.14: PopUp thông báo xử lý yêu cầu Update Config Các button Update Config, Activate, Deactivate, Reset … thực hiện các lệnh như yêu cầu của hệ thống khi click. Các chức năng khác của menu “Quản lý Agent”: Hình 3.15: Thêm thuê bao Hình 3.16: Chi tiết agent Thêm thuê bao, sửa, xóa thuê bao, chi tiết về một agent như hình 3.13, 3.14 là các module cơ bản trong quản lý một đối tượng. Trong module thêm thuê bao, người sử dụng phải nhập thông tin về số điện thoại ánh xạ với id của agent, thông tin về vùng sử dụng, tên người sử dụng dịch vụ, … và được hiển thị chi tiết trong bảng : Chi tiết thuê bao. Bảng chi tiết mẫu đo là được hệ thống hiển thị các trường ra trong bảng TBL_NI_DATA. Chi tiết từng agent với các lần đo chi tiết, tổng số lần đo các mẫu cường độ sóng, chất lượng sóng, chuyển vùng dịch vụ, được liệt kê chi tiết trong hình 3.17. Hình 3.17: Bảng chi tiết mẫu đo Các mẫu đo này được thực hiện liên tục trong quá trình phát triển hệ thống, được cập nhật trong những khoảng thời gian nhất định. Để có thể đánh giá được chất lượng của dịch vụ, việc quản lý và truy vấn các thông số là vô cùng cần thiết. Chương 4: Kết luận Hệ thống quản lý chất lượng dịch vụ Home Phone thông qua thành phần Web (hiển thị số liệu và bảng biểu) đã mô phỏng toàn bộ thông tin chất lượng của dịch vụ Home Phone. Hệ thống được xây dựng chỉ cho nội bộ nhân viên công ty sử dụng và quản lý. Vì vậy giao diện sáng sủa, trình bày nội dung khoa học là điều mà chương trình yêu cầu. Đây chỉ là phiên bản đầu tiên của hệ thống, thiết kế theo yêu cầu của đối tác. Hệ thống còn nhiều điểm chưa thật sự đạt được như mong muốn của người thiết kế , tuy nhiên đã thỏa mãn được các yêu cầu của dự án. Hệ thống hiện vẫn đang trong quá trình chạy thử nghiệm. Hi vọng nó đóng góp được hiệu quả trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ của Viettel Telecom. Trong quá trình thực hiện công việc, bản thân tôi đã tích lũy được rất nhiều các kinh nghiệm thực tế giúp tôi vững bước hơn trong tương lai sắp tới. Ngoài ra tôi hiểu biết thêm được nhiều các công nghệ mới, ứng dụng cho ngành Công nghệ thông tin. Tài liệu tham khảo Tài liệu tiếng Anh: [01] Apache Struts , [02] [03] Wikipedia, [04] Java tutorials and Development (Laliluna) [05] [06] [07] J2EE 1.4 Tutorial Tài liệu tiếng việt [08] Tìm hiểu về struts [09] [10] [11] Struts và MVC [12] Tìm hiểu về Hibernate [13] Tài liệu jstl tiếng việt

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- STRUTS 2 VÀ ỨNG DỤNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HOME PHONE.pdf
Luận văn liên quan