Luận văn Tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đối với nông hộ ở tỉnh Quảng Nam

Trong thời gian qua, từ khi tái lập tỉnh Quảng Nam đến nay NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam thông qua công tác tín dụng của mình đối với kinh tế nông hộ đã góp phần quan trong cho sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương không ngừng phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động cũng còn bộc lộ một số khiểm khuyết cần khắc phục. Đó là: trong công tác đầu tư tín dụng đối với kinh tế nông hộ hiệu quả chưa cao, chưa thật sự đi vào chiều sâu, kết cấu với tín dụng trung dài hạn còn thấp.

pdf92 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 19/11/2013 | Lượt xem: 1802 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đối với nông hộ ở tỉnh Quảng Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ước cũng cần thực hiện sự quản lý chặt chẽ về: các chính sách, các quy định của pháp luật, và sự tuân thủ các định chế tài chính các bộ luật liên quan đến quản lý nhà nước về tín dụng, về dân sự, về lao động… Năm là: Tín dụng ngân hàng phải thực hiện việc đầu tư phù hợp với phương hướng, quy hoạch chung cũng như quy hoạch phát triển kinh tế, xó hội cho từng vựng. Yêu cầu này chịu sự chi phối của Nhà nước đối với quá trỡnh tớn dụng đầu tư cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm lựa chọn những ngành, thành phần kinh tế, vùng kinh tế cần được ưu tiên, đạt hiệu quả cao, bảo đảm cho sự tăng trưởng bền vững, nhằm sử dụng các nguồn lực tài nguyên khan hiếm một cách tập trung, khai thác tiềm năng từng vùng, từng ngành một cách tối ưu theo yêu cầu: - Ưu tiên đầu tư sản xuất những sản phẩm đang có nông hộ cần ổn định trên thị trường, hướng đến xuất khẩu. - Đầu tư vào những ngành nghề thu hút thêm lao động, tạo công ăn việc làm. - Đầu tư sản xuất ra sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở liên quan đến sự phát triển hài hũa giữa cỏc ngành nghề khỏc nhau. - Ưu tiên đầu tư những ngành nghề dựa trên những nguồn lực sẵn có, tiết kiệm được yếu tố đầu vào, hạ được giá thành và mang lại hiệu quả sản xuất cao. - Tín dụng đầu tư phát triển kinh tế phải gắn phát huy truyền thống văn hóa và tinh thần dân tộc, gỡn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam. * Việc chọn lựa đầu tư từng vùng cần phải dựa trên những tiêu chí: - Trỡnh độ phát triển, truyền thống và kinh nghiệm sản xuất của từng vùng. - Những điều kiện kinh doanh hiện tại và tiềm năng trong vùng. - Vai trũ và vị trớ của từng vùng đối với các vùng và khu vực khác. - Nhu cầu cấp bách của công nghiệp hóa hiện đại hóa kinh tế vùng. Phát triển kinh tế nhất là kinh tế sản xuất hàng hóa là điều kiện tiền đề, là cơ sở để mở rộng tín dụng ngân hàng và mở rộng đầu tư tín dụng là điều kiện cần thiết để phát triển nền kinh tế trong đó có kinh tế hộ sản xuất. Trong mối quan hệ này rất khăng khít với nhau, kinh tế phát triển là môi trường để tín dụng đầu tư, đầu tư cho vay vốn sẽ là đũn bẩy kớch thớch để kinh tế phát triển, làm cho vốn chu chuyển trong cỏc quỏ trỡnh của cỏc giai đoạn sản xuất sẽ đẩy nhanh tiết kiệm được vốn trong sản xuất, đồng thời kinh tế phát triển sẽ làm cho tốc độ chu chuyển vốn tín dụng cũng đẩy lên và sẽ làm cho khối lượng đầu tư tín dụng tăng lên. 3.2.3. Đa dạng húa cỏc hỡnh thức tớn dụng của Ngõn hàng Nụng nghiệp và Phỏt triển Nụng thụn đối với nông hộ Để đa dạng hóa các hỡnh thức hay cỏc phương thức cho vay của ngân hàng cũng phải bắt đầu và xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp, khách hàng vay vốn của nền kinh tế. Thực trạng hiện nay NHNo&PTNT Quảng Nam chỉ đang áp dụng phương thức cho vay: cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay ngoại tệ, cho ưu đói theo kế hoạch của Nhà nước, cho vay ủy thác nhưng chủ yếu vẫn là trọng tâm cho vay từng lần. Điều này có những hạn chế nhất định đến việc mở quy mô tín dụng và khả năng những người làm công tác tín dụng, nâng cao trỡnh độ nghiệp vụ. Mặt khác, về phía khách hàng cũng bị giới hạn do yêu cầu về mặt thủ tục hành chính, không chủ động trong quá trỡnh lựa chọn phương thức vay, trả khi có những yêu cầu đột xuất phát sinh. Để giải quyết vấn đề này NHNo&PTNT Quảng Nam cần phải thực hiện linh hoạt các phương thức tín dụng sau: - Phương thức cho vay từng lần hướng tới chỉ áp dụng dối với những khách hàng có nhu cầu đột xuất, không được kế hoạch hóa trước nhu cầu tín dụng; nhất là đối với hộ sản xuất và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; mổi lần vay vốn khách hàng phải làm thủ tục cần thiết và ký hợp đồng tín dụng. Phương thức này NHNo&PTNT Quảng Nam đang áp dụng đại trà cho cả kinh tế quốc doanh và kinh tế hộ. - Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng: hướng tới cần áp dụng rộng trải đối với tất cả các thành phần kinh tế, kể cả hộ sản xuất nông nghiệp có đầy đủ uy tín, có quy mô sản xuất tương đối lớn, ổn định và có quan hệ tín dụng thường xuyên. Phương thức này ở Quảng Nam mới chỉ thực hiện ở một số ít doanh nghiệp trên địa bàn, do đó cần phải mở rộng hơn phạm vi khách hàng đối với phương thức tín dụng này trong thồi gian tối thiểu nhằm gia tăng quyền tư chủ, đối với các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp có điều kiện phát triển. - Phương thức theo dự án: phương thức này hiện đang thực hiện đối với các vùng sản xuất nguyên liệu, cải tạo vườn tạp ở một số nơi như ở Tiên Phước. Hướng đến cần phải chuyển các phương thức cho vay truyền thống hiện nay sang cho vay theo dự án đối với các vùng nguyên liệu giấy, sắn Quế Sơn, cải tạo các đầm ao để nuôi cá, tôm, các doanh nghiệp ở khu công nghiệp Điện Nam Điện Ngọc; Khu kinh tế mở Chu Lai, phương thức này tiến hành thu luợm không chỉ ở các doanh nghệp mà cả trong các hộ sản xuất nếu có các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, cần chú trọng đầu tư vốn trung - dài hạn ở một số địa phương có điều kiện phát triển kinh tế vườn rừng, trồng các loại cây lâu năm, cây nguyên tiêu cho sản xuất công nghiệp… - Phương thức cho vay hợp vốn hay “đồng tài trợ”: - Phương thức cho vay trả góp - Phương thức theo hạn mức tín dụng dự phũng - Phương thức cho vay ưu đói theo kế hoạch nhà nước - Phương thức cho vay theo ủy thác của các tổ chức tài chính quốc tế Trên đây là các phương thức đang áp dụng cho vay chung của NHNo&PTNT Việt Nam nói chung và tại NHNo&PTNT Quảng Nam nói riêng. Đối với hộ sản xuất nông nghiệp (nông hộ) cần phân các nhóm hộ theo 3 hướng sau đây để áp dụng các hỡnh thức tín dụng cho phù hợp, để các hộ vay vừa đơn giản hóa các thủ tục hành chính không cần thiết vừa đảm bảo cho ngân hàng quản lý được tín dụng. Theo đó: nhóm hộ thứ nhất là nhóm hộ cũn sản xuất nhỏ lẽ chưa phải là những hộ sản xuất hàng hóa. Nhóm hộ này đối với Quảng Nam cũn khỏ nhiều, nhất là ở một số huyện trung du miền nỳi như Nam Trà My, Bắc Trà My, Đông Giang, Tây Giang, Hiệp Đức, Phước Sơn, Tiên Phước, Quế Sơn và kể cả một số huyện đồng bằng, Nhóm hộ này cần đẩy mạnh hỡnh thức chi vay qua tổ nhúm, tăng cường phối hợp mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa theo tinh thần Nghị quyết liên tịch số 2308/NQLT/1999 giữa NHNo&PTNT Việt Nam với Trung ương Hội nông dân Việt Nam và Nghị quyết liên tịch số 02/NQLT/2000 giữa NHNo&PTNT Việt Nam với Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, hai tổ chức này có điều kiện gần gũi với nông dân nên việc thông qua các tổ chức đoàn thể này theo tinh thần các Nghị quyết liên tịch trên là điều hợp lý và hiệu quả trong việc cho vay và thu nợ NHNo&PTNT đối với kinh tế nông hộ. Qua đó ở mỗi thôn, làng, bản tùy theo số lượng ít nhiều mà thành lập các tổ, mỗi tổ từ khoảng 10 – 30 người có cùng nhu cầu vay vốn với mục đích tương đối giống nhau và cử ra tổ trưởng để làm đầu mối và thực hiện các giao dịch hành chính và giao dịch dân sự. Nhóm hộ thứ hai là những hộ đó sản xuất hàng húa, nhúm hộ này cú thể thực hiện hỡnh thức cho vay trực tiếp, theo phương thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức hoặc cho vay theo dự án đầu tư tùy theo nhu cầu và tính ổn định sản xuất, kinh doanh và tài chính của mỗi hộ, hoặc cho vay qua tổ chức trung gian nơi cung ứng vật tư cho sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở thỏa thuận 3 bên ngân hàng nơi cho vay, các công ty nơi cung ứng vật tư sản xuất nông nghiệp tiêu thụ các nông sản phẩm và hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Nhóm hộ thứ 3 là những hộ sản xuất kinh doanh quy mô theo dạng kinh tế trang trại gia đỡnh. Thỡ hỡnh thức tớn dụng cú thể ỏp dụng cho vay theo theo phương thức cho vay theo dự án đầu tư và cho vay theo hạn mức tín dụng, tùy theo đối tượng xin vay của các chủ trang trại mà áp dụng 1 cách linh hoạt để vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người vay đồng thời ngân hàng cấp tín dụng cũng quản lý tốt được việc cho vay vốn. Phát triển mô hỡnh kinh tế trang trại ở Quảng Nam tuy phỏt triển chưa mạnh nhưng xu hướng đây là mô hỡnh kinh tế chủ lực của ngành sản xuất nụng nghiệp nhất là ở Quảng Nam, cú điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại trong tất cả các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp nông, lâm, thủy, hải sản và cả trong các khâu trồng trọt, chăn nuôi và chế biến, tín dụng tác động mạnh vào mô hỡnh sản xuất này gúp phần đưa ngành sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. 3.2.4. Tăng cường vai trũ Nhà nước trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với nông hộ Động lực chính trong kinh doanh là lợi ích, Nhà nước cần phải có vai trũ quan lý nền kinh tế thụng qua cỏc chớnh sỏch kinh tế vĩ mụ để kích thích cho sự phát triển kinh tế nói chung và trong quan hệ tín dụng ngân hàng với kinh tế nông hộ nói riêng. Cụ thể Nhà nước có chính sách lói suất, chớnh sỏch thuế sao cho nhà nước tập thể và người lao động đều có lợi. Sức mạnh vai trũ điều hành về quản lý Nhà nước chính là khối lượng vật chất có trong tay can thiệp vào thị trường khi cần thiết, bằng việc cho các nhà sản xuất kinh doanh trong đó có các hoạt động của tín dụng NHNo&PTNT và hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp một cơ chế hợp lý, thuận lợi sẽ tạo ra sức mạnh vật chất, làm sống dậy sức sản xuất xó hội đang ở dạng tiềm năng. Muốn vậy cần phải xử lý những vấn đề sau: - Về quy hoạch sản xuất, xây dựng các dự án đầu tư hướng các hộ nông dân, các nhà đầu tư cùng thực thi các chương trỡnh mục tiờu đó đinh là quan trọng hàng đầu, kể cả cho vay hộ nghèo cũng nên đầu tư tập trung vào vùng sản xuất đó quy hoạch sản phẩm và được Nhà nước giúp đỡ xây dựng cở sở hạ tầng, nâng cao trỡnh độ dân trí và hướng dẫn thị trường. - Về phương pháp đầu tư cần tập trung lồng ghép các chương trỡnh tớn dụng với dự ỏn ngõn sỏch xây dựng cơ sở hạ tầng; dự án sản xuất với chế biến sản phẩm và tổ chức tiêu thụ; gắn tín dụng sản xuất với tín dụng tiêu dùng; gắn tín dụng với thanh toán không dùng tiền mặt; gắn tín dụng nội địa với tín dụng đối ngoại; tín dụng ngắn hạn với tín dụng trung và dài hạn. Các hoạt động ngân hàng có trách nhiệm góp phần tổ chức lại thị trường hàng hóa nội địa tạo điều kiện từng bước mở rộng thị trường quốc tế. - Cần chủ trương mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất chế biến tiêu thụ và tiêu dùng lồng ghép với các chương trỡnh trờn, nhất là cỏc dự ỏn phỏt triển cơ sở hạ tầng cho sản xuất kinh doanh sẽ giải quyết công ăn việc làm, nâng cao sức mua của xó hội trước mắt cũng như lâu dài. - Riêng đối với hoạt động tín dụng trong nông nghiệp trong những thời gian đầu cần phải kết hợp hài hũa giữa họat động thương mại với các khía cạnh chính sách xó hội nhằm tạo thế và lực để từng bước mở rộng các họat động thương mại có hiệu quả cao hơn. Cần phải khẳng định rằng chuyển các hoạt động ngân hàng sang thương mại là hợp xu thế, có khả năng phát triển ổn định và bền vững. Bài học thực tế trong thời gian qua cho thấy, sự phát triển bền vững của hoạt động tín dụng của ngân hàng là “đi vay để cho vay” thông qua chính sách lói suất thực dương phù hợp với quan hệ cung cầu vốn trên thị trường là khâu quan trọng nhất. Hiện nay phải đầu tư lớn hơn cho hộ sản xuất để đẩy mạnh thâm canh, mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế trang trại của từng hộ, kinh tế trang trại là sự phát triển của kinh tế hộ có quy mô về sản xuất hàng hóa ngày một lớn mạnh hơn. Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế hộ đến một giới hạn nhất định sẽ nẩy sinh hỡnh thức kinh tế hợp tỏc theo nguyờn tắc tự nguyện, xu hướng phát triển dần từ thấp đến cao mà chủ yếu là các loại hỡnh hợp tỏc xó kiểu mới cú tư cách pháp nhân, có vốn cổ phần thực sự kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về tài chính vừa là khách hàng bền vững của NHNo&PTNT. Định hướng đầu tư của NHNo&PTNT là cơ hội cho sự thâm nhập của tín dụng NHNo&PTNT đối với kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ nói riêng trên cơ sở kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xó hội chủ nghĩa. Quỏ trỡnh đổi mới nông nghiệp nông thôn được bắt đầu từ năm 1981 với chỉ thị 100/CT của Ban bí thư Trung ương Đảng về “khoán sản phẩm cuối cùng đến cây lúa, đến nhóm và người lao động”. Đến năm 1988, cơ chế khoán được cải tiến và nâng cao theo tinh thần Nghị quyết X của Bộ chính trị, tiếp đó Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa VI) tháng 2 năm 1999 đó quyết định bỏ nghĩa vụ bán lương thực và xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Đây là nền tảng quan trọng là tiền đề để Nhà nước ra nhiều văn bản liên quan đến việc cho vay của NHNo&PTNT đối với kinh tế nông hộ mà ở chương 2 đó nờu và phõn tớch đánh giá để nói lên trong họat động tín dụng của NHNo&PTNT đối với nông hộ thỡ Nhà nước có vai trũ định hướng, hướng dẫn rất lớn trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng và kinh tế nông hộ trong quá trỡnh đổi mới nền kinh tế và kinh doanh xó hội chủ nghĩa. 3.3. CÁC GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NÔNG HỘ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN QUẢNG NAM 3.3.1. Các giải pháp tạo lập về nguồn vốn Đối với hoạt động tín dụng NHNo&PTNT Quảng Nam, căn cứ nhu cầu vốn phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xó hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nông thôn Quảng Nam nói riêng, để có các giải pháp tạo lập về nguồn vốn bổ sung cho hoạt động tín dụng. Vấn đề đặt ra ở đây không phải chỉ bằng mọi cách huy động cho được các nguồn vốn mà cũn phải coi trọng sử dụng nguồn vốn ấy cho nhu cầu tín dụng sao cho có hiệu quả nhằm đạt được chiến lược phát triển kinh tế xó hội đề ra, điều này đũi hỏi NHNo&PTNT Quảng Nam phải cú chớnh sỏch huy động vốn phù hợp với khả năng phát triển của nền kinh tế, tập quán tiêu dùng và tiết kiệm hiệu quả của nhân dân địa phương. Chiến lược tăng trưởng nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Quảng Nam 2006 – 2010 tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn là 18%, trong năm 2006 là 1890 tỷ đồng, tăng 28,86% so với năm trước, chiếm tỷ trọng 60% tổng nguồn vốn huy động tại địa phương. Nguồn vốn huy động ngoại tệ tăng 30%, số dư nguồn vốn ngoại tệ đến cuối năm 2006 đạt 35 tỷ đồng VND quy đổi, tăng 40% so với năm trước. Để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xó hội địa phương thỡ từ năm 2006 – 2010 và những năm tiếp theo thỡ bỡnh quõn hằng năm NHNo&PTNT Quảng Nam phải đảm bảo mức tăng trưởng là 30% vốn huy động từ dân cư cụ thể là: - Năm 2006: 1.015.000 triệu đồng - Năm 2007: 1.320.000 triệu đồng - Năm 2008: 1.715.000 triệu đồng - Năm 2009: 2.230.000 triệu đồng - Năm 2010: 2.900.000 triệu đồng Để thực hiện tốt mục tiêu huy động vốn tại chỗ trong địa bàn dân cư cần phải thực hiện một số giải pháp sau đây: * Nâng cao uy tín của NHNo&PTNT Quảng Nam - Sự thành lập của hơn 10 năm đổi mới là kết quả của sự phấn đấu lâu dài, bền bỉ trước môi trường kinh tế xó hội, gúp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chính uy tín đó gúp phần quyết định sự thành công trong kinh doanh của NHNo&PTNT trong những năm qua. Không ngừng nâng cao uy tín là tiền đề cho NHNo&PTNT Quảng Nam phát triển bền vững trong môi trường có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng thương mại, NHNo&PTNT Quảng Nam chỉ có thể thu hút được nhiều vốn khi khách hàng tin tưởng rằng: tiền gữi của họ tại NHNo&PTNT an toàn, thuận tiện khi rút cũng như khi gởi, có lợi ích thiết thực, ngân hàng thực sự là người thủ quỹ tốt của khách hàng, tiền gửi của khách hàng được giữ bí mật, tiền gởi vào ngân hàng bao giờ cũng có ích lợi hơn tiền để cất ở nhà vỡ an toàn và sinh lời, và khi khách hàng nhận tiền ra đảm bảo các loại tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông với thái độ ân cần cởi mở, tạo tâm lý thỏa mỏi cho khỏch hàng đi đôi với sự khuyến khích bằng vật chất như khen thưởng, tặng quà vào các ngày lễ, tết, sinh nhật, thăm viếng khi ốm đau… Đặc biệt là gửi tiền dự thưởng bằng vàng 3 chữ A để tạo lập và mang lại giá trị tinh thần và sự gắn bó, uy tín các người gởi với ngân hàng. * Nâng cao tiện ích cho khách hàng: Khách hàng giao dịch tiền gởi của ngân hàng gồm các doanh nghiệp có họat động kinh doanh, tài khoản tiền gửi thường xuyên hoạt động gửi, rút tiền, chuyển tiền thanh toán, loại khách hàng này họ ít quan tâm đến lói suất mà quan tõm đến chất lượng dịch vụ và phong cách phục vụ của nhân viên ngân hàng. Đối với khách hàng là công nhân viên chức thường quan tâm đến lói suất, hay khỏch hàng là hộ sản xuất, cỏc nhà đầu tư, ngoài lói suất ra họ cũn quan tõm đến tính đơn giản, thuận tiện của các của các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng nên cần đa dạng hóa các hỡnh thức huy động vốn ngắn hạn, trung dài hạn tại khu vực dân cư và vốn ngắn hạn, tập trung tại các doanh nghiệp. Khai thác triệt để các lợi thế màng lưới rộng khắp của NHNo&PTNT Quảng Nam, cũng như thực hiện đầy đủ các cam kết để thu hút, tăng nhanh nguồn vốn ủy thác trong nước, nước ngoài đối với nội tệ cũng như ngoại tệ bằng việc huy động tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm bậc thang hưởng lói suất bậc thang theo thời gian gửi và hưởng lói suất bậc thang theo lũy tiến của số dư tiền gửi, hỡnh thức huy động tiền quĩ tiết kiệm gửi góp. Tùy theo tỡnh hỡnh kinh tế cú thể triển khai tiết kiệm hưu trí, tiết kiệm an ninh, tiết kiệm học đường, tiền gữi tiết kiệm dự thưởng, phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn và dài hạn và các hỡnh thức huy động khác nhau như tăng các tiện ích trong lĩnh vực thanh toán, trên cơ sở mở rộng các hỡnh thức thanh toỏn khụng dựng tiền mặt nhất là việc triển khai sử dụng rộng rói trong hệ thống lắp đặt các máy rút tiền tự động ATM, các loại thẻ điện tử visacard, thẻ tín dụng quốc tế, creditcard (thẻ tín dụng), mastercard… của hệ thống NHNo&PTNT và dần mở rộng kết nối cùng với các ngân hàng khác ngoài hệ thống NHNo&PTNT để tạo thuận lợi cho khách hàng sử dụng thẻ ATM và mở rộng việc dùng thẻ để thanh toán các hóa đơn điện, nước, bảo hiểm chi trả lương cho người lao động qua thẻ. Dịch vụ ATM có khả năng đáp ứng các nhu cầu rút tiền cho khách hàng mọi lúc mọi nơi, việc lắp đặt máy ATM tại nhiều địa điểm khác nhau không phụ thuộc vào địa điểm các chi nhánh ngân hàng và họat động liên tục 24/24 sẽ tạo điều kiện thuận lợi, trong việc thỏa món cỏc nhu cầu sử dụng tiền mặt khi khỏch hàng dựng thẻ. Hệ thống ATM sẽ khuyến khớch khỏch hàng mở tài khoản tại ngõn hàng, gửi tiền mặt vào ngõn hàng và sử dụng thẻ ATM để giao dịch, trên cơ sở đó sẽ huy động được khối lượng lớn về nguồn vốn cho nhu cầu mở rộng công tác tín dụng nhất là tín dụng phục vụ cho nông nghiệp và nông thôn. Đi đôi với việc đa dạng hóa các hỡnh thức huy động vốn và mở rộng công tác thanh toán thể hiện việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng là cực kỳ quan trọng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tiễn cho thấy yêu cầu hiện đại hóa công tác thanh toán là phải trang bị công nghệ thích hợp theo bước đi và sự phát triển của ngân hàng nông nghiệp để vừa không để gây ùn tắc vào những thời điểm cao điểm, vừa tận dụng được những công dụng tiềm tàng của các thiết bị để tối đa hóa sự thỏa món cỏc nhu cầu của mọi khỏch hàng trong mọi trường hợp, đó được xem như là vấn đề chủ đạo trong hiện đại hóa công tác ngân hàng nói chung và trong công tác thanh toán nói riêng, phải đặt ưu tiên hàng đầu là thỏa món những nhu cầu trước những khách hàng đa dạng, phức tạp, đũi hỏi cao về độ chính xác, an toàn và tốc độ xử lý cao, tránh được sự rủi ro. Làm tốt được vấn đề này, sẽ làm tăng thêm khối lượng khách hàng, gia tăng khối lượng món giao dịch sẽ làm tăng trưởng nguồn vốn đáng kể trong thanh toán. - Tiếp tục mở rộng mạng lưới huy động vốn. Tuy nhiên hiện nay NHNo&PTNT Quảng Nam đó cú 29 chi nhỏnh cấp 2, 7 chi nhỏnh cấp 3 và 7 phũng giao dịch điều đó vẫn chưa đáp ứng được so với yêu cầu cho công tác huy động vốn, trực tiếp đi đến từng xó, thụn, hộ sản xuất, kinh doanh cú tiềm năng về vốn, kết hợp lồng ghép sinh họat của các tổ chức của các đoàn thể để tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, của ngành để giới thiệu các hỡnh thức huy động vốn, lói suất, cỏc tiện ớch đối với người gửi tiền đồng thời kèm theo đó là sự khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với người gửi tiền thường xuyên, lớn và chính sách khuyến mói đối với khách hàng truyền thống để nhằm giữ khách hàng, nắm chắc những khách hàng có thu nhập ổn định thường xuyên và kịp thời tiếp thị vận động những khách hàng có thu nhập theo thời vụ bất thường để tiếp cận huy động vốn được hiệu quả cao, bố trí thời giờ làm việc ở từng nơi, từng vùng phù hợp với điều kiện và xu hướng kinh doanh của khách hàng cũng như của ngân hàng trong cơ chế thị trường. - Cần cải tiến thủ tục, lề lối làm việc: trong xu hướng cải cách hành chính theo hướng một cửa thỡ việc hoàn thành cỏc giao dịch của khách hàng với ngân hàng là đũi hỏi cấp thiết làm sao cho nhanh gọn khụng qua nhiều tầng cấp để tiết kiệm thời gian cho ngân hàng và khách hàng trong một quan hệ gữi cũng như rút tiền hoặc trong thanh toán và trong tín dụng ngân hàng nói chung, trong lề lối làm việc trước hết cần quán triệt đến tất cả cán bộ viên chức về tầm quan trọng của công tác huy động nguồn vốn, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm là cơ sở, là điều kiện đầu tiên để mở rộng tín dụng, cho nên phong cách và lề lối làm việc với phương châm “muốn hoạt động kinh doanh tốt trước hết phải phục vụ khách hàng thật tốt”. Tóm lại: vốn đầu tư cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là vấn đề bức thiết chung của nền kinh tế, nhất là đối với NHNo&PTNT hoạt động trên địa bàn nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, nhu cầu vốn lớn nhưng phân tán đũi hỏi trong cụng tỏc huy động vốn phải “tích thiểu thành đa” để tạo lập nên nguồn vốn phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn nhất là kinh tế nông hộ theo hướng sản xuất hàng hóa. 3.3.2. Nhóm giải pháp về mở rộng cho vay hộ sản xuất nói chung và nông hộ nói riêng Theo định hướng chung của NHNo&PTNT Việt Nam đối với cho vay kinh tế nông hộ nói chung là: tiếp tục duy trỡ tăng trưởng ở mức hợp lý, đảm bảo cân đối, an toàn và khả năng sinh lời, đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nông thôn, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng để năng lực cạnh tranh; tập trung đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư và đổi mới công nghệ ngân hàng phù hợp với hiện đại hóa, đủ năng lực hội nhập. Nâng cao năng lực tài chính và phát triển thương hiệu trên cơ sở đẩy mạnh và kết hợp với văn hóa doanh nghiệp. Trong bối cảnh hiện nay cần phải tập trung giải quyết đồng thời việc phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện cú hiệu quả thực sự với việc nõng cao sức mua của dõn chỳng mới cú thể gúp phần thỏo gỡ tỡnh thế khú khăn kinh tế ở nông thôn, mặt khác, phải thông qua hệ thống chính sách đồng bộ cùng tác động thúc đẩy quá trỡnh phõn cụng lại lao động lao động xó hội ở nụng thụn. Mọi người phải có công ăn việc làm, xó hội nụng thụn giàu đẹp, ổn định là nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai. Thực hiện ý tưởng này cần có hai loại giải pháp lớn trong giai đoạn này: - Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Tận dụng lợi thế vốn cú của mỡnh, hơn lúc nào hết NHNo&PTNT Việt Nam tỡm mọi giải phỏp hữu hiệu huy động mọi nguồn vốn trong nước và nước ngoài, mở rộng không ngừng các hoạt động dịch vụ tiền tệ, tín dụng, về với thị trường nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Phương châm hoạt động của NHNo&PTNT là hiệu quả kinh tế - xó hội, an toàn vốn, tài sản và nguồn nhõn lực, NHNo&PTNT chấp nhận cạnh tranh và cạnh tranh bằng cỏc giải phỏp chớnh là: + Tăng cường không ngừng mọi nguồn lực trong kinh doanh. + Tiếp tục đào tạo và đào tạo lại đội ngũ nhân viên phù hợp vói yêu cầu mới. + Cải tiến khụng ngừng quy trỡnh cụng nghệ và ỏp dụng cụng nghệ vào hoạt động ngân hàng, từng bước hiện đại hóa các hoạt động của mỡnh. + Mở rộng mạng lưới hoạt động về thôn, xó, tiếp cận với khỏch hàng ở nụng thụn. + Đảm bảo các hoạt động dịch vụ kinh doanh có lói. Để thực hiện tốt các giải pháp trên, cần dựa trên các chiến lược: Một là: Tập trung đầu tư vốn cho thị trường nông nghiệp, nông thôn với khách hàng là hộ gia đỡnh, cỏ nhõn sản xuất nụng, lõm, ngư nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến thủy hải sản, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, chăn nuôi…Theo hướng khép kín gắn liền với sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, khôi phục và phát triển ngành nghề nông thôn Hai là: Khách hàng ở thị trường nông nghiệp, nông thôn chia làm hai nhóm: nhóm hộ nghèo và các đối tượng chính sách: NHNo&PTNT Quảng Nam nhận thực hiện làm dịch vụ cho vay theo ủy thác. Nhóm khách hàng cũn lại, ngõn hàng nụng nghiệp sẽ phấn đấu cho vay trên 70% so với đối tượng cần vay, đạt mức dư nợ từ 15 – 20 triệu đồng/ hộ trong giai đoạn 2006 – 2010 và 30 triệu đồng trong những năm tiếp theo, với tốc độ tăng trưởng tín dụng bỡnh quõn hằng năm là 18% theo định hướng chung hiện nay có dự nợ là 1025 tỷ thỡ đến 2010 số dư cho vay hộ sản xuất và hộ sản xuất nông nghiệp sẽ là 4.838 tỷ. Ba là: Vùng đô thị (thành phố, thị xó) NHNo&PTNT Quảng Nam tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để thực hiện việc tiêu thụ, chế biến, và xuất khẩu nông sản, chú trọng đúng mức với khách hàng là các hộ kinh doanh nhỏ. Hiện nay tại địa bàn Quảng Nam trong sản xuất nông nghiệp có 3 hỡnh thức tổ chức kinh tế chủ yếu đó là kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp, kinh tế trang trại và kinh tế hợp tỏc chủ yếu là hợp tỏc xó nụng nghiệp làm dịch vụ là chủ yếu. Đối với hộ sản xuất nông nghiệp ở phần trên đó đề cập đến việc phân chia các loại nhóm hộ để cho vay gồm 3 nhóm: nhóm hộ chưa sản xuất hàng hóa, nhóm hộ đó sản xuất hàng hóa, và nhóm hộ sản xuất kinh doanh theo dạng kinh tế trang trại, mỗi nhóm hộ như vậy được áp dụng các hỡnh thức hay một phương thức cho vay hợp lý, phự hợp với hỡnh thức tổ chức sản xuất và quy mụ sản xuất của từng đối tượng vay. - Đối với hộ sản xuất và hộ sản xuất nông nghiệp có thể cho vay trực tiếp đến tận các chi nhánh cấp 3, phũng giao dịch, theo phương thức này khi thực hiện giải nhân cho vay theo 3 cách: + Hộ vay vốn trực tiếp đến vay và trả tại địa điểm giao dịch gần nhất nơi mỡnh cư trú. + Ngân hàng tổ chức tổ lưu động để giải ngân cho vay tại nơi thông báo trước thông qua chính quyền địa phương và khi thu nợ cũng thống nhất với người vay đến kỳ hạn ngân hàng sẽ bố trí đến điểm hẹn để thu nợ. + Cho vay thông qua tổ nhóm hộ nông dân theo tinh thần Nghị quyết liên tịch 2308 giữa NHNo&PTNT Việt Nam và Trung ương Hội nông dân Việt Nam, tổ nhóm hội phụ nữ theo tinh thần Nghị quyết liên tịch số 02 giữa NHNo&PTNT Việt Nam và Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. - Cho vay qua tổ chức trung gian: là việc ngân hàng cho các tổ chức kinh tế vay vốn và trên cơ sở đó các tổ chức này cung ứng vốn lại cho các hộ sản xuất chủ yếu là từ các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản phẩm hoặc cung ứng vật tư cho nông hộ. Áp dụng các phương thức cho vay trên vừa cải tiến được cách tiếp cận đối với hộ sản xuất của ngân hàng vừa giảm được áp lực quá tải đối với cán bộ tín dụng trong cho vay quản lý cho vay đối với hộ sản xuất và hộ sản xuất nông nghiệp. 3.3.3. Nhóm giải pháp về dịch vụ khác của ngân hàng đối với nông hộ Trong điều kiện hiện nay nhỡn chung hệ thống dịch vụ ngõn hàng cũn đơn điệu, chủng loại cũn nghốo nàn và chất lượng thấp. Hệ thống dịch vụ ngân hàng chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng và chủ yếu là các dịch vụ truyền thống như dịch vụ huy động vốn, dịch vụ cấp tín dụng và dịch vụ thanh toán Phát triển hệ thống tín dụng ngân hàng đa dạng, đa tiện ích được định hướng theo nhu cầu của nền kinh tế trên cơ sở tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ ngân hàng truyền thống, cải tiến thủ tục giao dịch trong đó đặc biệt coi trọng dịch vụ huy động và cấp tín dụng, đồng thời tiếp cận nhanh huy động ngân hàng hiện đại và dịch vụ tài chính, ngân hàng mói có hàm lượng công nghệ cao để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nền kinh tế. xây dựng hệ thống dịch vụ ngân hàng có chất lượng, an toàn và hiệu quả, cung ứng đầy đủ, kịp thời, thuận tiện các dịch vụ, tiện ích ngân hàng cho mọi đối tượng, tầng lớp trong xó hội, chỳ trọng đáp ứng tốt nhu cầu dịch vụ ngân hàng trong quá trỡnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế xó hội của Nhà nước đề ra. Đối với kinh tế nông hộ ở vùng nông thôn ngoài các dịch vụ ngân hàng truyền thống đó nờn thỡ cần phải mở rộng cỏc dịch vụ ngân hàng khác bao gồm: - Mở rộng mạng lưới tiếp cận khách hàng + Tiếp tục củng cố họat động của các chi nhánh trực thuộc chi nhánh cấp I và các chi nhánh trực thuộc chi nhánh cấp II đang có ở tại các huyện thị xó, thị trấn, xó phường, từng bước xây dựung các điểm giao dịch này hoạt động có chiều sâu, có chất lượng, hiệu quả tiến tới (xó hội húa) hoạt động ngân hàng trong mọi lĩnh vực: huy động vốn, cho vay vốn, và công tác thanh tóan trong việc mua bán hàng hóa, làm cho mọi người dân trên địa bàn hoạt động của mỗi chi nhánh coi NHNo&PTNT là nơi gửi tiền tin cậy, là nơi cung ứng vốn kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh cà phục vụ đời sống là nơi làm trung gian thanh toán cho các hoạt động mua bán. + Thực hiện việc huy động vốn tại nhà và cho vay tại ngân hàng trên cơ sở các tổ, nhóm cho vay lưu động và phương tiện ô tô chuyên dùng được trang bị. + Tăng cường tiếp cận để giám sát các tổ chức đoàn thể, tổ vay vốn và hướng dẫn sử dụng vốn có hiệu quả, tránh và ngăn ngừa các sai phạm có thể xảy ra. - Mở rộng đối tượng cho vay để tăng cường cơ sở vật chất mới ở nông thôn. + Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn: chú trọng đầu tư vào thị trường thủy lợi nội đồng, giao thông nông thôn, điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt. + Phỏt triển rộng rói tớn dụng thuờ mua (cho thuờ tài chớnh) khụng cho phỏt triển loại hỡnh tớn dụng này ở thành phố mà phải đến tận các vùng nông thôn để làm phong phú đa dạng các dịch vụ ngân hàng đáp ứng được mọi nhu cầu của người tiêu dùng. - Ngoài ra, NHNo&PTNT cần tiến hành phối hợp với các cơ quan chức năng để làm dịch vụ tư vấn cho hộ sản xuất nông nghiệp như: + Tư vấn về sản xuất: tư vấn về thổ nhưỡng, đất đai, nên trồng cây gỡ, nuụi con gỡ và kỹ thuật trồng, nuụi, chăm sóc. + Tư vấn về thị trường: giá cả, nhu cầu tiêu thụ trong nước, xuất khẩu, hiện tại và dự báo tương lai… + Tư vấn về việc lập các dự án đầu tư, phương án sản xuất… + Tư vấn về công nghệ, chuyển giao công nghệ… Làm được điều đó chắc chắn hiệu quả vốn tín dụng, hiệu quả vốn đầu tư của kinh tế hộ sẽ đạt cao hơn và đảm bảo góp phần phát triển bền vững cho loại hỡnh kinh tế này phỏt triển theo hướng sản xuất hàng hóa. 3.3.4. Nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực và hoàn thiện bộ máy tổ chức - Hoạt động của tín dụng ngân hàng nhất là tín dụng đối với kinh tế nông hộ thường đầu tư cho các đối tượng trồng trọt, chăn nuôi và chế biến các sản phẩm và các ngành dịch vụ để phát triển nông nghiệp khác như: dịch vụ kỹ thuật cây trồng, con vật nuôi, dịch vụ cung cấp nước, dịch vụ cơ khí nông thôn, giao thông vân tải, thông tin liên lạc, tài chính tín dụng, y tế và các ngành dịch vụ khác: + Về dịch vụ cây trồng, con vật nuôi: đầu tư xây dựng nâng cấp hỗ trợ phát triển các cơ sở, các hộ sản xuất giống cây, con và kỹ thuật chăm sóc… ` + Đối với dịch vụ thủy lợi cấp nước: Đầu tư xây dựng quản lý, khai thỏc cỏc cụng trỡnh tưới tiêu nước, thủy lợi nội đồng, mua sắm máy móc phục vụ tưới tiêu để phục vụ cho sản xuất. + Dịch vụ cơ khí trong nông nghiệp: sản xuất, sửa chữa các công cụ chăm sóc cây, con và trong thu hoạch và bảo quản, chế biến nông sản… và hướng đến cơ giới hóa rộng trong nông nghiệp… Những hoạt động trên của quá trỡnh sản xuất trong nụng nghiệp nhất là trong hộ sản xuất đều có sự tác động trực tiếp của hoạt động tín dụng ngân hàng do đó trong công tác đào tạo nguồn nhân lực không chỉ đào tạo chuyên sâu nghiệp vụ tín dụng mà cần kết hợp đào tạo chuyên môn hóa nghiệp vụ tín dụng và các nghiệp vụ mà đối tượng tín dụng tác động làm cho tín dụng ngân hàng thâm nhập sâu vào các yếu tố đầu tư định lượng và mặt định tính. Con người là yếu tố quyết định của mọi thành công, chất lượng của đội ngũ cán bộ nói chung và tín dụng nói riêng là một trong những yếu tố quyết định chất lượng, hiệu quả của hoạt động ngân hàng trong đó co công tác tín dụng. Yêu cầu các nguồn nhân lực cho sự nghiệp đổi mới hoạt động ngân hàng là xây dựng đội ngũ cán bộ viên chức vững vàng về mặt nghiệp vụ nhất là nghiệp vụ tín dụng, am hiểu về luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, am hiểu những kiến thức kinh doanh trong cơ chế thị trường, có phẩm chất đạo đức tốt, yêu ngành, yêu nghề, ngoài ra cũn phải biết một số nghiệp vụ của cỏc ngành kinh tế kỹ thuật khỏc, điều đó sẽ thuận lợi cho công tác cho vay của ngân hàng, làm cho vốn tín dụng đầu tư đúng mục đích và hiệu quả cao. - Đối với việc hoàn thiện bộ máy Nhà nước đó cú nhiều đổi mới về tổ chức bộ máy trong đó có NHNo&PTNT Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT Quảng Nam nói riêng theo tinh thần đề án cơ cấu lại ngân hàng. Tuy nhiên, tốc độ đổi mới diễn ra cũn khỏ chậm và chưa thực sự tạo được bước đột phá đáng kể. Do đó, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện bộ máy tổ chức là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quá trỡnh tỏi cơ cấu ngân hàng thương mại Nhà nước trong thời gian tới. Một yêu cầu quan trọng của việc hoàn thiện bộ máy tổ chức của ngân hàng thương mại Nhà nước là làm rừ mối quan hệ giữa cơ quan quản lý và cơ quan điều hành theo hướng nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý của của hội đồng quản trị, đặc biệt là trong hoạch định chiến lược quản lý rủi ro, đồng thời nâng cao hiệu quả điều hành của giám đốc và các thành viên trong ban điều hành, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT an toàn, hiệu quả và đúng hướng. Để đạt được yêu cầu này, việc cơ cấu lại và hoàn thiện bộ máy tổ chức ngân hàng sẽ phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa các nghiệp vụ như: nghiệp vụ thẩm định, nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ kế toán – ngân quỹ, nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế, nghiệp vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền và nghiệp vụ kiểm tra, kiểm toán… Cùng với việc hoàn thiện mụ hỡnh bộ mỏy tổ chức trờn, trong lĩnh vực tớn dụng cần tổ chức theo hướng chuyên nghiệp và một đầu mối giao dịch với khách hàng, tách bạch các khâu thẩm định, quyết định cho vay, quản lý tớn dụng, xử lý tớn dụng, xử lý nợ trỏnh chồng chộo trong công việc giữa các bộ phận và tăng cường sự giám sát lẫn nhau để hạn chế rủi ro. Trên cơ sở đó, tiến hành tiêu chuẩn hoá quy trỡnh nghiệp vụ, ứng dụng cú hiệu quả những phần mềm phục vụ cho cụng tỏc thẩm định và quản lý tín dụng được tốt hơn và hiệu quả hơn. 3.3.5. Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng đối với hộ sản xuất Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường của các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng đều phải chấp nhận rủi ro, không một ngành kinh doanh nào gặp nhiều rủi ro như ngành ngân hàng. Rủi ro tồn tại ngoài ý muốn của con người, thường gây ra hậu quả khó lường, cho nên trong thực tế không thể loại trừ được rủi ro ra khỏi môi trường kinh doanh mà chúng ta chỉ có thể phân tích, dự đoán, đo lường và tỡm ra cỏc nguyờn nhõn, giải phỏp phũng ngừa, hạn chế sự tỏc động của rủi ro tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Những năm qua, các tổ chức tín dụng nói chung và NHNo&PTNT nói riêng đều phát triển nhanh cả số lượng và quy mô hoạt động, phát triển mạnh về công nghệ. Trên cùng một địa bàn các tổ chức tín dụng họat động đan xen lẫn nhau, tính cạnh tranh ngày càng gay gắt để tỡm kiếm lợi nhuận, tăng nhanh thị phần kinh doanh. Mặt khác, các ngân hàng thương mại có nhiều mối quan hệ với tất cả các loại hỡnh doanh nghiệp và đời sống kinh tế - xó hội của nhõn dõn thụng qua cỏc nghiệp vụ khỏc nhau nờn phải đối mặt với nhiều rủi ro khác nhau. Chính vỡ thế vấn đề khắc phục rủi ro trong kinh doanh ngân hàng ngày càng trở nên cấp thiết. Để phũng ngừa và hạn chế rủi ro trong tín dụng cho vay hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, cần phải triển khai một số giải pháp sau: - Nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hóa tín dụng Kế hoạch hóa tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng. Thông qua công tác kế hoạch để điều tiết vốn cho phù hợp với từng khu vực, đầu tư vốn phải căn cứ vào tốc độ phát triển kinh tế của từng địa phương, phải kế hoạch hóa đến từng thôn xó. Phải kế hoạch húa cho vay, điều tiết tỷ lệ cho vay trung, dài hạn và tỷ lệ cho vay ngắn hạn phù hợp trên cơ sở nhu cầu về vốn đó được kế hoạch hóa mà bố trí lao động, sắp xếp mạng lưới và chỉ đạo thực thi nghiệp vụ cho phù hợp. - Nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức đội ngũ cán bộ điều hành, cán bộ tín dụng. -Năng lực phẩm chất đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tín dụng là một vấn đề then chốt ảnh hưởng quyết định đến chất lượng tín dụng. Có thể khẳng định không thể có chất lượng cho vay tốt nếu như đội ngũ cán bộ chất lượng kém, một số cán bộ đó đào tạo thời bao cấp cần phải đào tạo lại, tuyển chọn, bố trí cán bố vào làm công tác tín dụng cần phải cân nhắc kỹ. Năng lực cán bộ là khâu then chốt của NHNo&PTNT trong hiện tại cũng như trong tương lai. - Kết hợp củng cố mạng lưới với khoản tài chính đến nhóm và người lao động. Củng cố mạng lưới hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo an toàn vốn vay. Trong thời gian qua NHNo&PTNT Quảng Nam mở rộng hệ thống mạng lưới ngân hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho hộ sản xuất vay vốn, rút ngắn thời gian đi lại, song cần cũng cố hệ thống mạng lưới đủ mạnh để đảm đương nhiệm vụ. + Nâng cao khả năng cạnh tranh + Nắm bắt thông tin về khách hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng và tạo niềm tin với nhân dân, với cấp uỷ, chính quyền địa phương. Thực hiện cơ chế khoán tài chính gắn với chất lượng tín dụng, rủi ro tín dụng đến nhóm và người lao động, có chế độ khen thưởng đối với đơn vị và cá nhân làm tốt, ít rủi ro, gắn trách nhiệm cá nhân với chất lượng tín dụng. - Tăng cường công tác thẩm định, xét duyệt cho vay: Thẩm định là kiểm tra trước khi cho vay, xem xét các điều kiện cảu người vay có đảm bảo không để làm cơ sở cho việc xét duyệt cho vay, làm tốt được vấn đề này là yếu tố góp phần quyết định chất lượng tín dụng. - Nâng cao hiệu quả và chất lượng của các đảm bảo tín dụng. Các bảo đảm tín dụng được thực hiện trên cơ sở thoả thuận bằng việc hộ đồng thế chấp, bóo lónh… bằng tài sản. - Nõng cao hiệu quả của hệ thống thụng tin phũng ngừa rủi ro. Từ cán bộ quản lý đến cán bộ tác nghiệp cần quán triệt rừ yờu cầu cần thiết của cụng tỏc nghiờn cứu khỏch hàng, xác định chiến lược kinh doanh đúng đắn. Thiếu thông tin đặc biệt là thông tin tín dụng sẽ dẫn đến chậm trễ trong xử lý nghiệp vụ nhất là trong thị trường cạnh tranh và tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể xảy ra. - Kếp hợp chặt chẽ với chính quyền, đoàn thể trong quỏ trỡnh cho vay, đẩy mạnh công tác tuyên truyền hoạt động ngân hàng. Sử dụng vai trũ của chớnh quyền đoàn thể giám sát việc vay vốn, triển khai sản xuất kinh doanh sau khi vay vốn, như vậy vừa tăng tính hiệu quả vừa giảm thiểu rủi ro. Cụ thể là: Và nhằm để chuyển tải chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và đồng thời giáo dục nhân dân thực hiện và chấp hành đúng Luật pháp trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính. - Tăng cường kiểm tra, kiểm soát sau khi cho vay. Là nhằm để phát hiện kịp thời các vấn đề có thể dẫn tới rủi ro để có những giải pháp điều chỉnh kịp thời. - Các giải pháp thu hồi nợ kém chất lượng, nợ xấu: Trong cho vay cần sớm phát hiện những khoản vay có vấn đề có thể dẫn đến rủi ro để có biện pháp thu hồi trước hạn hoặc xử lý theo luật định. Cụ thể là:  Rủi ro trong huy động vốn: Thực chất trong rủi ro này là vấn đề lói suất đầu vào, là rủi ro về thu nhập lợi tức, tính chất rủi ro này gắn liền với những thay đổi trong lói suất thị trường và sự mất cân đối giữa tài sản nợ và tài sản cú về cỏc loại tài sản nhạy cảm về lói suất, nếu một ngõn hàng cú nhiều tài sản nợ (vốn lưu động) loại nhạy cảm với lói suất hơn là tài sản có, một sự tăng lói suất sẽ làm giảm đi thu nhập của ngân hàng. - Biện pháp để hạn chế rủi ro này là: phải đảm bảo tỷ lệ an toàn quy định cảu ngân hàng Nhà nước như tỷ lệ cân đối tài sản nợ và tài sản có, tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh toán ngay, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn.  Rủi ro xảy ra trong hoạt động các dịch vụ khác của ngân hàng. Như dịch vụ thanh toán, cung cấp các sản phẩm mới, tài khoản, gnhiệp vụ ngoại hối trong các quan hệ giao dịch hay cung cấp các dịch vụ ngân hàng cần phải đúng các quy trỡnh và duy trỡ sự cõn xứng tài sản nợ, tài sản cú cỏc ngoại tệ, nội tệ ở trong trạng thỏi hợp lý, phân tích sự biến động tỷ giá các loại tiền, hay tỡnh trạng rỳt tiền ào ạt đi đôi với dự báo nhu cầu rút tiền của khách hàng trong từng thời kỳ để có chuẩn bị đầy đủ các phương tiện khi trả theo yêu cầu của khách hàng. Hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quản lý điều hành của NHNo&PTNT nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập thị trường tài chính ngày càng phát triển với các công cụ đa dạng, càng định rừ trọng trỏch lớn trong việc hạn chế cỏc rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, trong cơ chế thị trường, ngân hàng nào tỷ lệ rủi ro càng nhỏ thỡ thể hiện tớnh bền vững càng lớn, tạo niềm tin cho khỏch hàng càng nhiều, và sẽ tạo ra nhiều lợi thế trong hoạt động kinh doanh của mỡnh. Kết luận chương 3 Đẩy mạnh tín dụng của NHNo&PTNT Quảng Nam là xuất phát từ đũi hỏi của quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá công nghiệp nông thôn Quảng Nam từ nay đến 2010 và những năm tiếp theo, sự tác động của tín dụng NHNo&PTNT Quảng Nam đối vói kinh tế nông hộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Để mở rộng hoạt động tín dụng đối với kinh tế nông hộ phát triển kết hợp tổng hợp các giải pháp tạo lập về nguồn vốn, nhóm về mở rộng cho vay hộ sản xuất nói chung và hộ sản xuất nông nghiệp nói riêng, nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực và hoàn thiện bộ máy tổ chức và giải pháp để hạn chế các rủi ro trong hoạt động ngân hàng đối với hộ sản xuất. Đây là 1 số giải pháp có tính định hướng, tuỳ từng trường hợp và điều kiện cụ thể để sử dụng sao cho có hiệu quả tốt nhất để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xó hội trờn địa bàn Quảng Nam ngày càng tốt hơn. Kết luận 1. Phát triển kinh tế nông hộ trong nông nghiệp, nông thôn là nhu cầu tất yếu của nền SX hàng hoá, nhất là trong xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hơn nữa, với đặc thù sinh học của SX nông nghiệp thì nông hộ là đơn vị kinh tế cơ bản phù hợp nhất, khó có hình thức kinh tế nào có thể thay thế tốt hơn được. 2. Để cung ứng vốn cho phát triển kinh tế nông hộ, NHNo&PTNT cần phải thể hiện vai trò đòn bẩy, tác động tích cực, thông qua chức năng tập trung nguồn vốn nhàn rỗi để tài trợ cho nên kinh tế nói chung, đặc biệt là kinh tế nông hộ, làm cho kênh tín dụng NHNo&PTNT là bạn đồng hành cùng nông hộ trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. 3. Để chuyển tải vốn đến với kinh tế nông hộ có hiệu quả và phát triển bền vững cần phải có phương thức tín dụng phù hợp, trên cơ sở phối kết hợp đồng bộ với các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể và xã hội để giám sát quản lý tín dụng làm cho sản xuất nông nghiệp từ thuần nông, đơn canh sang đa canh, đa sản phẩm. 4. Trong thời gian qua, từ khi tái lập tỉnh Quảng Nam đến nay NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam thông qua công tác tín dụng của mình đối với kinh tế nông hộ đã góp phần quan trong cho sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương không ngừng phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động cũng còn bộc lộ một số khiểm khuyết cần khắc phục. Đó là: trong công tác đầu tư tín dụng đối với kinh tế nông hộ hiệu quả chưa cao, chưa thật sự đi vào chiều sâu, kết cấu với tín dụng trung dài hạn còn thấp. 5. Để kinh tế nông hộ thật sự là nguồn lực cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thì vốn tín dụng nói chung và tín dụng của NHNo&PTNT nói riêng cần đẩy mạnh đầu tư có trọng điểm, có hiệu quả, mở rộng tín dụng đi đôi với chất lượng tín dụng, tác động của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế nông hộ phải trên cơ sở theo hướng sản xuất hàng hoá. Danh mục tài liệu tham khảo 1. PTS. Nguyễn Văn Bích – KS. Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Nguyễn Vũ Bình (2004) “Giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động thông tin tín dụng”, Tạp chí khoa học và đào tạo Ngân hàng, (2). 3. PGS.TS. Ngô Đức Cát, TS. Vũ Đình Thắng (2001), Giáo trình phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn, Nxb Thống kê, Hà Nội. 4. Trần Xuân Chân (2002), Đẩy mạnh sự phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 5. TS. Phạm Hồng Cờ (1996), Đổi mới hoạt động quản lý tín dụng Ngân hàng cấp cơ sở nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, Luận án PTS khoa học Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 6. Cục thống kê Quảng Nam (2006), Niên giám thống kê Quảng Nam năm 2005, Tam Kỳ. 7. PGS.TS. Nguyễn Sinh Cúc (2003), Nông nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, NxbThống kê, Hà Nội. 8. TS Hồ Diệu (2000), Tín dụng Ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội. 9. TS Hồ Diệu, TS Lê Thẩm Dương, TS Lê Thị Hiệp Thương, ThS Phạm Phú Quốc, CN Hồ Trung Bửu, CN Bùi Diệu Anh (2001), Giáo trình tín dụng Ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội. 10. PGS.TS Nguyễn Văn Dờn (2003), Tín dụng – Ngân hàng (Tiền tệ Ngân hàng II ), Nxb Thống kê - Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Đảng Bộ tỉnh Quảng Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XIX, Tam Kỳ. 13. Đầu tư phát triển kinh tế hộ (2006), Nxb Lao động, Hà Nội. 14. FRANK ELLIS (1993), Kinh tế hộ gia đình nông dân và phát triển nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 15. Võ Văn Lâm (1999), Đổi mới hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, Luận án thạc sỹ Khoa học kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 16. Võ Văn Lâm (2000), “Những giải pháp quản lý cho vay vốn để phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”, Tạp chí sinh hoạt lý luận, Phân viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, (39), tr. 51-52-53- 54-55. 17. Võ Văn Lâm (2001), “Quan điểm và giải pháp mở rộng đầu tư tín dụng Ngân hàng nhằm thực hiện tốt quyết định 67”, Tạp chí Ngân hàng, (1), tr 74-75-76-77. 18. Võ Văn Lâm (2001), “Một số giải pháp về tín dụng Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân ở nước ta giai đoạn 2001 – 2010”, Tạp chí sinh hoạt lý luận, Phân viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, (48), tr. 14-15-16-17-18-19. 19. Võ Văn Lâm (2002), “ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Nam 5 năm trưởng thành trong cơ chế mới”, Tạp chí Ngân hàng, (3), tr. 22-23-24-25- 26. 20. Nguyễn Văn Mao (2000), Phát triển kinh tế hộ nông dân Kiên Giang, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 21. C.Mác (1978), Tư bản, Quyển III, Tập II, Nxb Sự thật, Hà Nội. 22. TS. Phạm Văn Năng, TS. Trần Hoàng Ngân, TS. Sử Đình Thành (2002), Sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm 2020, Nxb Thống kê, Hà Nội. 23. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam (2005), Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh, Tam Kỳ. 24. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam (2005), Báo cáo tổng kết 9 năm ( 1997 –2005), Tam Kỳ. 25. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam (2006), Báo cáo tổng kết 15 năm cho vay hộ sản xuất, Tam Kỳ. 26. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2001), Đề án cơ cấu lại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam giai đoạn 2000-2010, Hà Nội, tr. 2-22-23-24-52. 27. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2001), Cẩm nang tín dụng, Hà Nội. 28. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2001), Hệ thống hoá các văn bản định chế của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Tập I-IX, Hà Nội. 29. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2006), Báo cáo tổng kết 15 năm cho vay kinh tế hộ, Hà Nội. 30. PGS.TS Đỗ Tất Ngọc (2006), Tín dụng Ngân hàng Đối kinh tế hộ ở Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 31. Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Luật các tổ chức tín dụng, Hà Nội. 32. TS Hà Thị Sáu (2004), “Hiệu quả và nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng đầu tư theo dự án của Ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng, tr. 29, 30,40. 33. PGS.TS Lê Văn Tề, PTS. Ngô Hướng, PTS. Đỗ Linh Hiệp, PTS. Hồ Diệu, Lê Thẩm Dương (1994), Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 34. PGS.TS Lê Văn Tề, TS Hồ Diệu (2004), Ngân hàng thương mại, Nxb Thống kê, Hà Nội. 35. Lê Đức Thọ (2005), Hoạt động tín dụng của hệ thống Ngân hàng Thương mại nhà nước ở Nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 36. GS.TS Lê Văn Tư (2004), Ngân hàng Thương mại, Nxb Tài chính, Hà Nội. 37. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (3 – 2006), Định hướng chiến lược phát triển bền vững tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006 – 2020, Tam Kỳ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đối với nông hộ ở tỉnh Quảng Nam (2).pdf
Luận văn liên quan