Luận văn Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước là đảm bảo cho quyền lực đó không bị lạm dụng, không bị sử dụng sai mục đích, được thực thi trong đời sống một cách có khoa học, hiệu lực và hiệu quả. Với lý thuyết, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, nhưng như thế không có nghĩa trong mọi xã hội có giai cấp nhân dân đều có khả năng thực tế tham gia vào tổ chức quyền lực nhà nước để từ đó kiểm soát được quyền lực. Trong các xã hội bóc lột trước đây, nhà nước xuất hiện từ xã hội nhưng dần dần trở thành lực lượng tách rời xã hội, đứng trên xã hội, do đó nó thoát ly khỏi sự kiểm soát của là nhân dân.

pdf123 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/01/2014 | Lượt xem: 3450 | Lượt tải: 56download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c giao nhiệm vụ giám sát đối với hoạt động tư pháp. Địa vị pháp lý của ủy ban pháp luật chỉ là cơ quan tư vấn, giúp cho Quốc hội, UBTVQH quyết định về những vấn đề nảy sinh qua hoạt động giám sát. Sự bất cập hiện nay về tổ chức của ủy ban pháp luật (và nói chung là Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội) là chỉ có một số thành viên hoạt động chuyên trách, còn lại là các thành viên hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Thời gian vật chất mà các đại biểu là thành viên có thể sử dụng cho công việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân và các quyền tự do, dân chủ là hạn chế. Những yêu cầu mới hiện nay đòi hỏi phải có sự thay đổi về phương thức làm việc và tiêu chuẩn của thành viên tham gia và o cơ quan này. Quốc hội cần thành lập một ủy ban Tư pháp mà tất cả các thành viên hoạt động theo chế độ chuyên trách để giúp Quốc hội, UBTVQH giải quyết hiệu quả hơn những vấn đề về quyền lực tư pháp trong đó có vấn đề giám sát hoạt động tư pháp. + Nâng cao năng lực hoạt động đại biểu Quốc hội Thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội đối với hoạt động tư pháp xét đến cùng phụ thuộc vào năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội được thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất qua việc xem xét báo cáo của Chánh án TANDTC, VKSNDTC, báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm và thi hánh án, chất vấn Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC tại kỳ họp Quốc hội. Để thực hiện tốt các hình thức giám sát này, đại biểu Quốc hội phải là người am hiểu cơ cấu, tổ chức, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp, các quy chế về hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Điều tra viên, chấp hành viên và các chức danh khác làm việc trong cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp. Đồng thời đại biểu phải thu nhận được tối đa nguyện vọng chính đáng của cử tri về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, đại biểu Quốc hội không phải là người có sẵn tất cả mọi thông tin, tri thức về lĩnh vực tư pháp trước khi được bầu làm đại biểu. Phong cách làm việc, sự phát ngôn của đại biểu tại phiên họp Quốc hội là phong cách của một chính khách, của những nhà hoạch định chính sách trong Quốc hội và phải luôn luôn đại diện cho lợi ích của toàn thể nhân dân, không đại diện cho một lợi ích cá biệt, riêng lẻ. Để góp phần nâng cao năng lực hoạt động của đại biểu Quốc hội, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền cần phải đảm bảo cho các đại biểu Quốc hội, mà trước hết là các đại biểu chuyên trách có đủ điều kiện và phương tiện (ngân sách, cán bộ giúp việc, dịch vụ thông tin) cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đại biểu. 2.2.6. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân Tập trung nâng cao nhận thức về hoạt động giám sát, tổ chức tốt hoạt động giám sát, cải tiến chế độ bầu cử theo hướng chọn đại biểu làm việc thật sự chứ không chỉ bảo đảm cơ cấu, tiến tới thực hiện chế độ đại biểu chuyên trách, xây dựng thể chế giám sát của HĐND. Thứ nhất, xác lập mối quan hệ lãnh đạo đúng đắn giữa cấp ủy Đảng và HĐND. Có một thực tế là với hầu hết các HĐND, trong các hoạt động của mình, bao gồm cả hoạt động giám sát thường thực hiện theo sự chỉ đạo sít sao của cấp ủy Đảng. Chính vì thế mà các hoạt động của HĐND, kể cả hoạt động giám sát trở nên thụ động chưa thể hiện rõ là cơ quan quyết nghị theo chế độ hội nghị, thiếu tranh luận, bàn thảo, chưa sử dụng được tốt các yếu tố thuận lợi thiết chế dân chủ mang lại. Để HĐND có thể thực hiện được tốt hoạt động giám sát và các chức trách khác của mình thì cần có sự lãnh đạo của Đảng. Nhưng các cấp ủy Đảng chỉ nên thực hiện sự lãnh đạo đối với HĐND trên những đường hướng chủ yếu và kiểm tra việc thực hiện các đường hướng đó. Phần còn lại để HĐND tự quyết định và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình. Sự bao biện, làm thay cho cơ quan dân cử, làm cho cơ quan này thiếu sức sống, hình thức. Thứ hai, cần kiện toàn cơ cấu tổ chức của HĐND nhằm bảo đảm cho cơ quan này đảm nhiệm tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, theo hướng đã được Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nêu là bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ và thẩm quyền được phân công, có thực quyền, để thực hiện vai trò là cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương... Trên quan điểm như vậy và xuất phát từ yêu cầu hoạt động giám sát và các hoạt động khác của HĐND, cơ cấu tổ chức của HĐND nên được đổi mới như sau: - Thường trực HĐND cần tổ chức thêm ở cấp xã, tức là cả ba cấp HĐND đều có cơ quan này. Thực tế cho thấy, do HĐND cấp này không có bộ phận thường trực, nên hoạt động thực hiện chức năng giám sát của nó là rất khó khăn. - Về các ban của HĐND cấp huyện, Ban kinh tế - xã hội của cấp đảm trách cả hai mảng kinh tế và xã hội là quá nặng. Điều đó làm cho các hoạt động, bao gồm hoạt động giám sát của nó ít hiệu quả. Để nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của HĐND, đối với các ban của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện, nên quy định trưởng hoặc phó ban hoạt động chuyên trách. - Cần tăng số lượng đại biểu HĐND ở cả 3 cấp. Thực tế hiện nay cho thấy với số lượng đại biểu như hiện nay thì khả năng đại diện cho cử tri thuộc các tầng lớp, cơ cấu dân cư là chưa đầy đủ. Một bộ phận dân cư chưa có người đại diện cho mình trong cơ cấu thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương. Đây là sự tăng lên cần thiết. Tuy nhiên, cùng với yêu cầu tăng lên về số lượng, cần thiết coi trọng vấn đề chất lượng đại biểu, qua tuyển chọn, qua tập huấn và các hình thức khác nâng cao khả năng và hiệu quả hoạt động của người đại biểu HĐND. Thứ ba, cần xây dựng một luật về giám sát của HĐND. Hiện nay, đạo luật về hoạt động giám sát của Quốc hội đã được Quốc hội xem xét, giải quyết. Tương tự như vậy, trong tổng thể cơ cấu các văn bản quy định về giám sát, kiểm tra bộ máy nhà nước ta thì có cơ sở để xây dựng một luật về giám sát của HĐND, là giám sát của các cơ quan quyền lực nhà nước, khác với các hình thức giám sát, kiểm tra khác. Tuy có nét tương đồng về phương thức giám sát và hậu quả của giám sát, nhưng giám sát của HĐND cũng khác với giám sát của Quốc hội về đối tượng giám sát, phạm vi giám sát, mức độ giám sát, cơ quan, chủ thể giám sát... như vậy, đặc điểm của hoạt động giám sát của HĐND đặt ra đòi hỏi phải có văn bản pháp luật điều chỉnh riêng. Mục đích của việc quy định về thủ tục giám sát của HĐND làm cho hoạt động giám sát của HĐND thực sự có tính khả thi, có hiệu lực, hiệu quả cao. Điều đó đòi hỏi việc xây dựng luật này theo các quan điểm: thiết thực, sát thực, cụ thể và chi tiết ở mức cần thiết. 2.2.7. Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp VKSND là một trong các cơ quan có vị trí, vai trò chức năng quan trọng trong cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát, có mối quan hệ gắn bó mật thiết với các cơ quan chức năng khác. Vì vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát đặt ra vấn đề phải đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND với nhiều nội dung như xác định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi, phương thức hoạt động. Đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là tập trung, nhưng có sự phân công, phân cấp rành mạnh giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát và quyền công tố nhà nước đều nằm trong phạm vi quyền tư pháp. Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động hành pháp (chức năng kiểm sát chung), đã chuyển sang Chính phủ đảm nhận. Chức năng kiểm sát văn bản chính là một trong những nội dung quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Việc điều chỉnh như trên, vừa đảm bảo được tính khoa học, lại vừa đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước ta, theo tinh thần các nghị quyết của Đảng về đổi mới, hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Việc điều chỉnh như trên, sẽ giảm bớt được sự cồng kềnh, nặng nề của bộ máy nhà nước; giảm bớt được biên chế; tiết kiệm chi ngân sách cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát: đảm bảo được tính năng động của hoạt động thanh tra, kiểm tra, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong công cuộc đổi mới. 2.2.8. Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan xét xử hành chính nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của cơ chế tài phán hành chính đối với hoạt động ban hành các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước Sự ra đời của cơ quan xét xử hành chính đánh dấu một bước phát triển mới trong thiết chế bảo đảm quyền dân chủ của người dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, tránh được sự xâm phạm từ phía các cơ quan nhà nước. ở đây hoạt động tài phán hành chính như một cơ chế kiểm soát trong tổng thể các yếu tố kiểm tra, giám sát của nhà nước đối với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước. Quản lý hành chính nhà nước là hết sức đa dạng, bao gồm nhiều lĩnh vực. Việc quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong những lĩnh vực còn rất hạn chế và đó là nguyên nhân của tình trạng các khiếu nại hành chính thì rất nhiều, trong khi đó những khiếu kiện có thể được xét xử tại Tòa án thì lại rất ít. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Tòa án chỉ có thẩm quyền xét xử các khiếu kiện đối với quyết định hành chính và hành vi hành chính. Quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính. Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Từ những quy định của pháp luật có thể thấy phạm vi thẩm quyền xét xử của Tòa án chỉ đối với những quyết định hành chính có tính chất cá biệt, còn những văn bản có tính chất pháp quy thì Tòa án không có thẩm quyền giải quyết. Chính vì vậy việc giao cho Tòa án thẩm quyền phán quyết tính hợp pháp của các văn bản pháp quy là hoàn toàn phù hợp. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rõ vấn đề này. Từ đó để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan tài phán hành chính, đặc biệt là hiệu quả giám sát, kiểm tra tính hợp pháp của hoạt động ban hành văn bản của cơ quan quản lý nhà nước, phạm vi, thẩm quyền cũng như tổ chức và hoạt động cần có sự sửa đổi, bổ sung cho thích hợp như sau: Một là, mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đến tất cả các lĩnh vực quản lý hành chính của Nhà nước; Hai là, Tòa án có thẩm quyền phán quyết về tính hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật từ cấp Bộ trở xuống ban hành. Ba là, xây dựng một hệ thống tòa án hành chính độc lập với hệ thống TAND hiện nay (có thể trực thuộc Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ) với đội ngũ thẩm phán am hiểu về hoạt động quản lý nhà nước trong các lĩnh vực; đồng thời sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật về tố tụng hành chính với việc đưa ra những nguyên tắc xét xử phù hợp với những đặc thù của tài phán hành chính và phù hợp với tình hình thực tế của nền hành chính nước ta trong quá trình cải cách. Để tăng cường sự kiểm tra Tòa án đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước cần hoàn chỉnh pháp luật về kiểm tra của Tòa án đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước, phải được xúc tiến trên những nét lớn như sau: Thứ nhất, hoàn chỉnh Luật tổ chức Tòa án nói chung, các luật và pháp lệnh về thủ tục liên quan đến hoạt động xét xử các vụ án, trong đó chú trọng đến mỗi quan hệ kiểm tra giữa Tòa án và cơ quan hành chính. Bên cạnh đó, cần hoàn chỉnh các quy định pháp luật là nội dung hợp pháp của các quyết định hay hành vi hành chính như: luật hành chính, luật dân sự, luật lao động... là cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động kiểm tra của Tòa án. Việc trên đòi hỏi có một góc nhìn mới về thủ tục tư pháp, xem tư pháp như một yếu tố tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành pháp, là một trong những bảo đảm cho hành pháp sử dụng đúng đắn quyền lực nhà nước. Thứ hai, nghiên cứu và ban hành Luật về tổ chức tòa án Hiến pháp Việt Nam để xem xét không chỉ các văn bản quy phạm mà cả các quyết định cá biệt - cụ thể về hành vi hành chính nhằm bổ sung thêm cơ chế kiểm tra tòa án, đồng thời là đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả hoạt động hành chính nhà nước. 2.2.9. Đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra, góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát thực hiện quyền lực nhà nước - Về tổ chức hệ thống các cơ quan thanh tra và chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của từng loại hình thanh tra Đây là vấn đề lớn nhất và đáng quan tâm nhất trong quá trình hoàn thiện cơ chế thanh tra vì nó liên quan trực tiếp đến tổ chức các cơ quan thanh tra cũng như liên quan đến những vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước ta hiện nay. Trong hệ thống các cơ quan thanh tra việc phân định các loại hình thanh tra là hết sức cần thiết. Bởi vì, cũng như trong quản lý, hoạt động thanh tra hết sức đa dạng và có những đặc điểm rất khác nhau. Từ đó vấn đề tổ chức cũng như việc xác định nhiệm vụ quyền hạn cho các tổ chức thanh tra cũng không hoàn toàn giống nhau. Với xu hướng tăng cường quản lý nhà nước theo ngành và lĩnh vực, những năm gần đây hoạt động thanh tra chuyên ngành ngày càng phát triển. Thanh tra chuyên ngành đã được tổ chức và hoạt động với nhiều hình thức đa dạng. + Về tổ chức thanh tra theo cấp hành chính (thanh tra nhà nước) Đây chính là bộ phận thanh tra thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước. Thanh tra nhà nước (thanh tra chính phủ) có chức năng chủ yếu là thanh tra trách nhiệm quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước và việc thực hiện trách nhiệm của cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước. Có thể nói đối tượng của hoạt động thanh tra chính phủ là hướng vào chính bộ máy quản lý và những con người hoạt động trong bộ máy đó, với mục tiêu bảo đảm cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện đúng nhiệm vụ của mình. Nội dung của hoạt động thanh tra nhà nước là xem xét trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước trong phạm vi lãnh đạo và địa bàn mà họ phụ trách. Thông qua hoạt động thanh tra, những kiến nghị về việc sửa đổi bổ sung cơ chế chính sách của nhà nước hay những kiến nghị và yêu cầu về việc điều chỉnh trong hoạt động quản lý của đối tượng được thanh tra đưa lại. Ngoài ra, thanh tra nhà nước có thể đưa ra những nhận xét đánh giá của mình về năng lực quản lý điều hành của những người có trách nhiệm. Đối với các cá nhân có vi phạm thì đề nghị cơ quan nhà nước có hình thức xử lý kỷ luật theo tinh thần của pháp luật về cán bộ, công chức. Như vậy, có thể coi thanh tra chính phủ là hoạt động có tính chất giám sát của bản thân các cơ quan hành chính nhà nước và mục tiêu của nó là nhằm nâng cao năng lực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước. Hệ thống thanh tra chính phủ chỉ nên có ở cấp trung ương và cấp tỉnh và thanh tra chuyên ngành. + Về kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước của các tổ chức thanh tra thông qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và hoạt động thanh tra nhân dân Tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành thanh tra từ trước đến nay. Xét trên khía cạnh dân chủ thì giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước một mặt là để đảm bảo thực hiện những quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đã được ghi nhận, tránh khỏi sự xâm phạm từ phía các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước. Nhưng nếu xét về khía cạnh tổ chức nhà nước thì đó lại là một cơ chế khá hiệu quả để giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước. Bởi lẽ khiếu nại, tố cáo (và cả những kiến nghị, phản ánh của nhân dân) luôn là nguồn thông tin phong phú và trực tiếp về những việc làm sai trái của cơ quan công quyền khi thực hiện quyền lực nhà nước. Đây thực chất là một cơ chế kiểm tra giám sát "từ dưới lên" hết sức hiệu quả. Hồ Chủ tịch đã từng dạy rằng: "Kiểm soát có hai cách: một cách là từ trên xuống. Tức là người lãnh đạo kiểm soát kết quả những công việc của cán bộ mình. Một cách nữa là từ dưới lên. Tức là quần chúng và cán bộ kiểm soát sự sai lầm của người lãnh đạo và bày tỏ cái cách sửa chữa sự sai lầm đó" [46, tr.236]. Mặc dù giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là công việc hết sức phức tạp nhưng rõ ràng, với trách nhiệm và quyền hạn của mình, thanh tra đã và đang "sở hữu" một nguồn thông tin hết sức quan trọng tạo điều kiện để làm tốt chức năng giám sát kiểm tra của mình. Tuy nhiên để phát huy hết hiệu quả của công tác này đối với việc giám sát, kiểm tra các cơ quan cán bộ, công chức trong việc thực hiện quyền lực nhà nước cần phải làm rõ hai vấn đề sau đây: Một là, cần làm rõ phạm vi và sự khác nhau giữa tố cáo và một số chế định khác như tin báo tội phạm, tố cáo trong tố tụng hình sự. Hai là, cơ chế tiếp nhận và xử lý các tố cáo. Hiện nay việc tiếp nhận và xử lý tố cáo do chính thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thực hiện. Pháp luật cũng quy định nhiều điều kiện để một tố cáo được xem xét giải quyết. Tất cả những điều đó đã làm giảm đi sự nhiệt tình và trách nhiệm của công dân khi muốn phản ánh đến cơ quan nhà nước những hành vi sai trái của cán bộ, công chức nhà nước nhất là người có chức vụ quyền hạn lớn. Vì vậy, cần tập trung xử lý tố cáo về một mối, đó là các tổ chức thanh tra chính phủ. Một điều hết sức quan trọng là việc giải quyết tố cáo thường liên quan đến đảng viên cho nên cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa thanh tra của chính phủ và kiểm tra của Đảng để thống nhất định hướng xử lý đối với những đảng viên sai phạm thì chuyển sang cho cơ quan điều tra hình sự giải quyết tuy nhiên vẫn phải có sự phối hợp chặt chẽ để kết hợp các biện pháp hình sự và hành chính để xử lý người có hành vi vi phạm. Vấn đề này hiện nay đang là một tồn tại lớn chưa được giải quyết. 2.2.10. Đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Một số nội dung đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam như sau: - MTTQ các cấp cần tăng thêm người tiêu biểu, người ngoài Đảng trong ủy ban MTTQ. Đồng thời, tăng cường cán bộ chuyên trách có năng lực, có trình độ chuyên môn cao và mở rộng đội ngũ công tác viên là những chuyên gia giỏi (dưới hình thức hội đồng tư vấn hoặc ban tư vấn). Đổi mới phương thức phối hợp với cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Chủ tịch nước, các bộ, ngành, HĐND, UBND). Trước khi tham gia ý kiến đối với các văn bản pháp luật cần lấy ý kiến của nhân dân đại diện cho vùng, miền. Lắng nghe ý kiến của những người tiêu biểu đại diện cho các giới, các thành phần xã hội, ý kiến của cán bộ ở cơ sở. Trên cơ sở đó mà tổng hợp ý kiến để tham gia với cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách pháp luật. Như vậy, việc tham gia góp ý kiến sẽ có tính thuyết phục hơn. - Về giám sát, MTTQ cần tăng cường sự phối hợp với các cơ quan có chức năng giám sát, thanh tra, kiểm tra để thực hiện quyền giám sát của mình, đồng thời cán bộ Mặt trận cần phải đi sâu, đi sát với các tầng lớp nhân dân để lắng nghe ý kiến phản ánh của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước. - MTTQ Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội rộng lớn nhưng không có hội viên mà chỉ có thành viên. Thành viên là tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp. Thành viên là cá nhân tiêu biểu đại diện cho các giới, các tầng lớp xã hội như nhân sĩ, trí thức, chức sắc tôn giáo, dân tộc, người Việt Nam ở nước ngoài. Do đó, MTTQ Việt Nam cần phải phối hợp chặt giữa các thành viên nhằm thống nhất về hành động trên cơ sở những mục tiêu chung mới tạo ra được sức mạnh tổng hợp. Muốn có sự phối hợp chặt chẽ thì trước hết phải xác định được mục tiêu chung và phải có cơ chế ràng buộc về quyền và nghĩa vụ của các thành viên. Nếu thành viên nào đó mà tự tách ra khỏi tổ chức MTTQ thì hoạt động của thành viên đó sẽ gặp rất nhiều khó khăn. - Tăng cường mạng lưới hoạt động của MTTQ ở cơ sở. Hiện nay ở thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố đều có các tổ chức hội như hội người cao tuổi, cựu chiến binh, phụ nữ, thanh niên... Do vậy, cần tăng cường hoạt động của Ban Công tác Mặt trận ở cơ sở và hướng công tác MTTQ xuống cơ sở để thống nhất hành động của các hội quần chúng, tập hợp những người tiêu biểu có uy tín, thông qua họ để động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh và góp phần vào việc giải quyết các "điểm nóng" hiện nay. - Đổi mới tổ chức và hoạt động của Thanh tra nhân dân Với tinh thần "thà ít mà tốt" để bảo đảm tính hiệu quả thiết thực, nhằm thực hiện đổi mới phương thức hoạt động tổ chức giám sát của nhân dân, là xác định rõ phạm vi hoạt động, tránh chồng chéo với chức năng của một số các cơ quan, tổ chức. Tuy là một thực thể pháp lý, nhưng Ban Thanh tra nhân dân không phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân đầy đủ. Do đó nó không thể có quyền hạn mang tính quyền lực mà một công cụ giám sát cần phải có - đó là quyền được ra quyết định và được cưỡng chế thi hành. Tuy vậy, hoạt động của Thanh tra nhân dân cơ sở, đã cho thấy việc duy trì một tổ chức của nhân dân ở cơ sở để giám sát việc thi hành pháp luật của cơ quan, viên chức nhà nước là hết sức cần thiết trong giai đoạn thực hiện đổi mới. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, việc cải cách bộ máy Nhà nước đặt ra yêu cầu sống còn là phải làm trong sạch bộ máy nhà nước, trong đó tập trung chống và ngăn chặn các tệ nạn tham nhũng, lãng phí và quan liêu của công chức nhà nước, tăng cường và đổi mới cơ chế giám sát của nhân dân là một cơ chế thực sự có hiệu quả. Vai trò giám sát của công chúng có những ưu thế, tạo hiệu quả là bởi vị thế khách quan, đứng ngoài và không lệ thuộc cơ quan, tổ chức công quyền để phát hiện và kiến nghị, nhằm ngăn chặn kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, cán bộ có thẩm quyền khi các hành vi đó mới xảy ra. Vì thế, xây dựng cơ chế giám sát, tạo hành lang pháp lý phù hợp để nhân dân phát huy lòng yêu nước, quan tâm đến vận mệnh đất nước, để nhân dân tự nguyện tham gia giám sát và chủ động sử dụng quyền giám sát của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép là hoàn toàn cần thiết. Luật thanh tra cần thành lập tổ chức nhân dân giám sát: Về tên gọi: có thể gọi tên của tổ chức này là Ban giám sát nhân dân. - Về chức năng: giám sát hoạt động của cán bộ công chức. Ban giám sát nhân dân này có một số đặc điểm sau: - Về tổ chức, do nhân dân trên địa bàn dân cư trực tiếp bầu ra, không phải là một cơ quan công quyền, cũng không phải là một tổ chức đại diện nhân dân. - Người giám sát là người sống tại khu dân cư, là người nắm bắt đầu tiên mọi vấn đề bức xúc trong nhân dân và nhân dân biết họ. Họ giám sát trực tiếp mà không phải thông qua bất cứ ai. - Khuyến khích để nhân dân trên địa bàn dân cư liên hệ mật thiết và tham gia hỗ trợ Ban giám sát, để công chúng tin cậy mà đến với Ban giám sát để bày tỏ nhanh nhất, dễ dàng nhất. ở đó, không gặp phải những lực cản do thủ tục hành chính rườm rà, thói quen và tệ quan liêu, hạch sách; nơi ban giám sát làm việc có thể là bất cứ đâu, không kể giờ giấc; công chúng đến với tổ chức này gặp thái độ thân thiện và sẵn sàng lắng nghe. - Thực chất tổ chức này là nhóm công dân giám sát trực tiếp, nên có khả năng đưa ra những đánh giá giá khách quan, chính xác trong môi trường làm việc tập thể cũng như đề cao trách nhiệm chia sẻ, hỗ trợ giữa các thành viên của nhóm. - Có một số quyền hạn: tham dự các cuộc họp của HĐND và UBND cơ sở; cơ quan và cán bộ, công chức phải công khai tài liệu cần thiết khi tổ chức này có yêu cầu xem xét, tìm hiểu; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức vi phạm pháp luật, yêu cầu ủy ban Mặt trận cơ sở kiến nghị cách chức cán bộ, công chức vi phạm pháp luật; yêu cầu khởi tố cán bộ, công chức cố ý không thi hành trách nhiệm. - Nghiêm trị việc trù dập người tố cáo; công khai khen và thưởng theo quy định pháp luật nhằm động viên nhân dân. - Do ủy ban MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội có liên quan hướng dẫn hoạt động là phù hợp hơn cả. - Nhà nước có thể hỗ trợ kinh phí hoạt động, theo con đường không bị lệ thuộc vào cơ quan chính quyền cơ sở (là chủ thể chịu sự giám sát của tổ chức này). Cho dù dưới một cái tên gọi thế nào nhưng chỉ cần có cơ chế phù hợp với đặc tính cơ bản của tổ chức này, phù hợp với thực tiễn của hoạt động giám sát của tổ chức này sẽ có hiệu quả. 2.2.11. Hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng Công tác kiểm tra Đảng có mối quan hệ mật thiết với các cơ chế kiểm tra, giám sát khác của các cơ quan nhà nước vì xét cho cùng thì mọi cơ chế kiểm tra, giám sát (của Đảng và Nhà nước) cũng nhằm tới mục tiêu chung là bảo đảm thực hiện đường lối chính sách của Đảng thông qua việc thực hiện những mục tiêu hoạt động cụ thể của các cơ quan nhà nước. - Tăng cường sự phối hợp hoạt động kiểm tra của Đảng với hoạt động thanh tra Nhà nước Trong điều kiện Đảng cầm quyền, rất nhiều đảng viên vừa là thành viên tổ chức đảng, vừa là thành viên của bộ máy nhà nước và các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. Đảng viên vi phạm nguyên tắc đảng thường gắn với vi phạm về kinh tế và pháp luật. Chính vì vậy công tác kiểm tra đảng cần chú trọng vào việc kiểm tra sự chấp hành pháp luật của đảng viên cũng như các tổ chức đảng. Khi vi phạm, đảng viên vừa chịu sự kiểm tra của tổ chức đảng, vừa chịu sự kiểm tra của bộ máy nhà nước. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, bao gồm cả cán bộ các cơ quan đảng, bộ máy nhà nước, tổ chức kinh tế và đoàn thể nhân dân. Tình hình trên đòi hỏi kiểm tra của đảng và thanh tra của chính phủ cần phối hợp chặt chẽ với nhau trong kiểm tra và xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên. Thực tế cho thấy, bộ máy của ủy ban kiểm tra và Thanh tra nhà nước có cả ở cấp Trung ương và địa phương. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, ủy ban Kiểm tra và Thanh tra nhà nước các cấp có điều kiện phối hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và quy định của Điều lệ Đảng. Nếu việc thực hiện tốt, vừa giúp Thanh tra nhà nước các cấp thực hiện tốt và có hiệu quả nhiệm vụ thanh tra, làm rõ vụ việc và đối tượng vi phạm, vừa tạo điều kiện cho ủy ban kiểm tra các cấp nắm được việc thực hiện chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của nhà nước cũng như các vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Vấn đề đặt ra ở đây là phải có giải pháp đồng bộ, tạo ra cơ chế phù hợp, có hiệu quả trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại cơ quan, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, góp phần đưa đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. 2.2.12. Đổi mới nhận thức và xác định rõ phạm vi hoạt động của Kiểm toán nhà nước Kiểm toán nhà nước qua 10 năm hoạt động bước đầu đã phát huy được hiệu quả, khẳng định được vai trò của mình là một trong những công cụ quan trọng trong công tác điều hành và kiểm tra việc thực hiện chính sách tài chính quốc gia. Hoạt động kiểm toán chỉ có thể thực hiện đối với những hoạt động thu chi và thực hiện ngân sách nhà nước đã hoàn thành, tức là có tính chất "hậu kiểm". Cần phải xác định một cách rõ ràng nhiệm vụ của kiểm toán nhà nước là: giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của các tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng ngân sách do nhà nước cấp. Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trước khi trình HĐND và tổng quyết toán ngân sách nhà nước trước khi trình ra Quốc hội. Kiểm toán nhà nước cũng thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán của các Bộ, cơ quan thuộc Quốc hội, TAND, VKSND, các đơn vị sự nghiệp công, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí nhà nước, báo cáo quyết toán của các chương trình, dự án, công trình đầu tư của nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước. Từ thực tiễn công tác kiểm toán ở nước ta, một mặt khẳng định giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán nhưng mặt khác cũng phải có những quy định ràng buộc trách nhiệm của cơ quan kiểm toán và các kiểm toán viên về tính trung thực chính xác đối với những số liệu, tài liệu đã được kiểm toán. Tất cả những vấn đề nêu trên cần được quy định cụ thể, rõ ràng trong văn bản pháp luật của nhà nước và việc xây dựng pháp luật về kiểm toán nhà nước phải thể hiện theo tinh thần đó. Chỉ có như vậy, hoạt động kiểm toán nhà nước mới khẳng định và phát huy vai trò của nó như là một trong những công cụ quan trọng trong công tác điều hành và kiểm tra thực hiện chính sách tài chính quốc gia, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ đổi mới. 2.2.13. Đổi mới hoạt động tiền điều tra của Cảnh sát kinh tế, An ninh kinh tế thuộc lực lượng công an nhằm tránh chồng chéo, trùng lặp với hoạt động thanh tra kinh tế của các tổ chức thanh tra Hoạt động tiền điều tra của các lực lượng Cảnh sát kinh tế và An ninh kinh tế đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý các tội phạm trong hoạt động kinh tế. Hoạt động này không chỉ nhằm vào các đơn vị kinh tế tư nhân mà còn nhằm vào các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, để các hoạt động này có hiệu quả, đồng thời tránh được sự chồng chéo, trùng lặp làm ảnh hưởng đến các đối tượng thanh tra, kiểm tra thì hoạt động đó cần tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định, tránh mọi sự tùy tiện. Để tránh sự tùy tiện và chồng chéo, việc kiểm tra phải có quyết định bằng văn bản của Giám đốc, Phó giám đốc công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Trưởng hoặc phó trưởng công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thủ trưởng các Cục cảnh sát kinh tế, An ninh kinh tế, an ninh văn hóa, cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, cảnh sát phòng chống tội phạm về ma túy. Quyết định phải ghi rõ căn cứ nội dung, thời hạn kiểm tra, người thực hiện nhiệm vụ. - Các hoạt động khởi tố và điều tra vụ án hình sự phải tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn cho các hoạt động đó. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì các có quan có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra để khởi tố vụ án hình sự và thực hiện hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Chỉ có như vậy mới tránh được sự lẫn lộn giữa hoạt động thanh tra, kiểm tra với hoạt động điều tra. Từ đó tránh được sự chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động của các cơ quan này mà vẫn đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế nhưng không gây phiền hà, khó khăn cho các cá nhân, tổ chức, đặc biệt là các doanh nghiệp. Tóm lại, về nguyên lý ở đâu có quyền lực nhà nước, thì phải kiểm soát quyền lực nhà nước. Hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước ta đã tạo thành một cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm sát... từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi ngành, mọi lĩnh vực góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương mọi mặt của đời sống xã hội và là yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. ở nước ta hiện nay đang tồn tại nhiều loại hình hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, do nhiều chủ thể tiến hành, với phạm vi, đối tượng, tính chất khác nhau đó là: Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội và HĐND các cấp), MTTQ Việt Nam, TAND các cấp, hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước thẩm quyền chung (thanh tra, kiểm tra của Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp). Kiểm tra của Đảng, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND, kiểm tra báo cáo quyết toán ngân sách của kiểm toán nhà nước, kiểm tra, kiểm soát của lực lượng công an nhân dân... Hoạt động của mỗi cơ quan đều dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật. Mặc dù chúng ta có một hệ thống kiểm soát quyền lực nhà nước như thanh tra, kiểm tra, giám sát nhưng hoạt động của hệ thống này còn nhiều bất cập. Qua phân tích những quy định của quản lý, cũng như qua ý kiến phản ánh của những đối tượng thanh tra, kiểm tra, có thể nêu ra một số nguyên nhân của tình trạng trên như sau: - Các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và của các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra giám sát nói riêng có những điểm còn chưa rõ ràng, thiếu cụ thể. Chức năng thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật của các tổ chức Thanh tra nhà nước; và chức năng phòng chống tội phạm (hoạt động tiền điều tra) của Cảnh sát kinh tế, An ninh kinh tế, văn hóa thuộc lực lượng công an đều trùng nhau về đối tượng, đó là cơ quan, tổ chức, cá nhân. Với quy định như vậy, trong thực tế cũng rất khó phân biệt với chức năng quản lý nhà nước về ngành và lĩnh vực (quy định trong các văn bản quản lý ngành, lĩnh vực) được thực hiện bởi các bộ phận chuyên môn hoặc tổ chức thanh tra chuyên ngành dưới hình thức chủ yếu là hoạt động kiểm tra. Do vậy, doanh nghiệp phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của nhiều cơ quan có chức năng quản lý và cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra. - Trình tự thanh tra, kiểm tra, điều tra rất khác nhau, khi áp dụng chưa thống nhất hoặc có cách làm khác nhau. Tính thiếu đồng bộ, thiếu cụ thể của các quy định pháp luật như vậy làm cho nhận thức về công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm sát, điều tra bị lẫn lộn, chưa thống nhất về mặt phương thức và cách làm ở cả phía cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Việc quản lý nhà nước mới chỉ làm đối với hoạt động của các tổ chức thanh tra nhà nước, còn đối với hoạt động kiểm tra, kiểm sát, điều tra thì chưa có cơ quan nào đứng ra điều hòa, phối hợp. Sự chỉ đạo điều hành hoạt động thanh tra, kiểm tra của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước chưa phát huy hết trách nhiệm. Có nhiều vụ việc cấp dưới làm chưa đúng hoặc thiếu khách quan, xử lý không nghiêm từ đầu dẫn đến đùn đẩy lên trên, làm cho tính chất vụ việc thêm phức tạp, phải giải quyết nhiều lần, gây tốn kém thời gian, công sức của nhiều cơ quan, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Kiểm soát quyền lực gắn liền với tiến trình dân chủ hóa, các thiết chế dân chủ phải được đưa vào pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước tránh quả tả, hoặc quá hữu hiện nay. Khi phân bổ giá trị cuộc sống, ngân sách, biên chế tiền lương, thưởng... các tài liệu đều đóng dấu mật làm cho các cơ quan nhà nước và nhân dân thực hiện kiểm tra kiểm soát, giám sát ít có điều kiện tham gia, phản biện nhằm giúp cho các quyết định quản lý đúng đắn và đạt sự chính đáng. kết luận Mục đích của kiểm soát quyền lực nhà nước là đảm bảo cho quyền lực đó không bị lạm dụng, không bị sử dụng sai mục đích, được thực thi trong đời sống một cách có khoa học, hiệu lực và hiệu quả. Với lý thuyết, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân, nhưng như thế không có nghĩa trong mọi xã hội có giai cấp nhân dân đều có khả năng thực tế tham gia vào tổ chức quyền lực nhà nước để từ đó kiểm soát được quyền lực. Trong các xã hội bóc lột trước đây, nhà nước xuất hiện từ xã hội nhưng dần dần trở thành lực lượng tách rời xã hội, đứng trên xã hội, do đó nó thoát ly khỏi sự kiểm soát của là nhân dân. Việc kiểm soát quyền lực này thực tế chỉ phụ thuộc vào chính nhà nước mà trước hết là vào cấu trúc quyền lực của nó. Vì vậy, nó không thể khách quan và triệt để được. Chế độ tập quyền chuyên chế thực sự là mảnh đất lộng hành, cản trở cho sự phát triển xã hội. Để xóa bỏ bức tường rào cản đi đến tự do, dân chủ, học thuyết phân quyền mà trường phái khai sáng đề xướng, đến nay vẫn là mô hình tốt cho việc kiểm soát quyền lực nhà nước ở các quốc gia mà nhà nước chưa thực sự là của dân. Nhân dân chưa có đủ điều kiện để kiểm soát hữu hiệu quyền lực nhà nước. Dưới chế độ XHCN, nhà nước thực sự là của dân về nguyên tắc nhân dân có toàn quyền quyết định đối với quyền lực đó, có toàn quyền kiểm soát quyền lực đó. Thế nhưng vấn đề các nguyên tắc đó chỉ có thể trở thành hiệu lực khi có một cơ chế và thực hiện khả thi. Kiểm soát quyền lực nhà nước từ nhân dân trong chế độ xã hội - XHCN là sự kiểm soát toàn diện, triệt để vì nhân dân với tư cách là người chủ quyền lực. Kế thừa trung thành và phát triển sáng tạo quan điểm của V.I. Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, trước yêu cầu của nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Chúng ta sử dụng những công cụ khác nhau để kiểm soát quyền lực nhà nước. Tổ chức hệ thống kiểm soát quyền lực nêu trên theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đã tạo nên cơ chế kiểm soát quyền lực, đã đem lại những kết quả thiết thực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm pháp chế XHCN, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của công dân... Song bên cạnh đó có thể nói rằng việc kiểm soát quyền lực nhà nước ta còn rất nhiều hạn chế, để những tệ nạn quan liêu, tham nhũng, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, cục bộ, bản vị phát triển đe dọa sự tồn vong của Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay, hiệu quả của việc kiểm soát quyền lực nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhất là sự hoàn thiện của thể chế nhà nước, cơ chế vận hành của cả hệ thống chính trị, phân công, phân nhiệm về trách nhiệm của các chủ thể quyền lực, phân cấp quản lý Trung ương và địa phương phải hợp lý, sao cho trên không can thiệp sai trái xuống dưới, dưới không vượt quyền, phải thực hiện đúng thẩm quyền của mình trong sự chủ động tối đa. Muốn đạt được điều đó, vấn đề có tính đột phá trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta là: Thứ nhất, phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, coi trọng xây dựng mối quan hệ của kiểm soát quyền lực mang tính nhà nước với kiểm soát quyền lực mang tính nhân dân. Thứ hai, kiểm soát việc ban hành chính sách và thực hiện chính sách. Tính chính đáng của quyền lực là chính sách phải hợp lòng dân, với chi phí tối thiểu, lợi ích phải tối đa. Chính sách đúng là ngọn nguồn của mọi sự thắng lợi. Trên thực tế nhiều chủ trương, chính sách đúng, khi thực thi ít có hiệu quả (như khoa học - công nghệ cùng với giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu..., khi cụ thể hóa, bằng các văn bản quản lý nhà nước thì bất cập, lỗi thời so với cuộc sống không tạo thành động lực sự phát triển. "Ngành giáo dục - đào tạo còn trên 700 văn bản lỗi thời") [8, tr. 5]. Kiểm soát quyền lực nhà nước (thanh tra, kiểm tra, giám sát) được thực hiện bằng công cụ pháp luật là hiệu quả nhất, là phương thức thực hiện quyền lực nhà nước, nhằm duy trì bản chất một nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, và phải được tiến hành đồng bộ với sự đổi mới từng bước buộc hệ thống chính trị nước ta. Cần coi trọng hiệu quả của hai hệ thống kiểm soát quyền lực: từ bên trong bộ máy nhà nước và từ xã hội công dân; thực hiện giám sát, kiểm soát hai chiều từ dưới lên và trên xuống. Chỉ có như vậy hệ thống kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta mới thực hiện sự kiểm soát khách quan, toàn diện và hiệu quả. Đây cũng là nội dung cơ bản và là mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nước ta hiện nay. c Tài liệu tham khảo 1. Tạ Hữu ánh (1999), Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quản lý nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Bộ luật tố tụng hình sự (2003), Nxb Tư pháp, Hà Nội. 3. Hoàng Chí Bảo (1992), "Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; quan điểm lý luận và phương pháp nghiên cứu", Thông tin lý luận. 4. Hoàng Chí Bảo (2002), Một số vấn đề nhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển ở nước ta hiện nay, Đề tài độc lập cấp Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 5. Hoàng Chí Bảo (2002), Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. Vũ Hoàng Công (2003), "Những vấn đề cơ bản trong tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin", Thông tin chính trị học, (4). 7. Vũ Hoàng Công (2004), "Chu trình chính sách và quy trình hoạch định chính sách quốc gia ở Việt Nam", Thông tin chính trị học, (1), tr. 17. 8. Kim Dung (2001), "Giáo dục và đào tạo. Một số vấn đề bức xúc hiện nay", Báo Nhân dân, ngày 2-4, tr. 5. 9. Phạm Kim Dung (2004), Bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân - những điều cần biết, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 10. Nguyễn Đăng Dung và Ngô Đức Tuấn (1996), Giáo trình luật Hiến pháp, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 11. Trần Thanh Đạm (1992), Bàn về khế ước xã hội, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 12. Đăng Đức Đạm (2002), Phân cấp quản lý kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Đevit Âuxbơt và Tetgheblo (1997), Đổi mới hoạt động của Chính phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. Trần Ngọc Đường (1999), Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Hiến pháp Việt Nam 1946, 1959, 1980, 1992 (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Nguyễn Ngọc Hiến (2000), Một số thuật ngữ hành chính, Nxb Thế giới, Hà Nội. 23. Khoa Nhà nước và pháp luật - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2001), Tăng cường hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay, (Đề tài khoa học cấp Bộ). 24. Mai Hữu Khuê - Bùi Văn Nhơn (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội. 25. Nguyễn Thế Kiệt (2001), ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Kornai János (2002), Hệ thống xã hội chủ nghĩa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 27. Nhị Lê (2002), Một số suy nghĩ về chủ nghĩa xã hội từ lý luận đến thực tiễn, Nxb Lao động, Hà Nội. 28. V.I. Lênin (1980), Toàn tập, tập 36, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 29. V.I. Lênin (1995), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 30. V.I. Lênin (1978), Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Matxcơva. 31. V.I. Lênin (1998), Bàn về kiểm kê, kiểm soát, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 33. Luật Giám sát (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 34. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Luật tổ chức Chính phủ (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. Luật tổ chức Quốc hội (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 37. Luật tổ chức Tòa án nhân dân (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. Trần Đức Lương (2002), Kiên định đường lối đổi mới Việt Nam vững bước tiến vào thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. Trần Đức Lượng (2002), Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước ở Tổng thanh tra nhà nước, Hà Nội. 41. C.Mác - Ph.Ăngghen (1978), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị pháp lý Beclin. 42. C.Mác - Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội. 43. C.Mác - Ph.Ăngghen (1981), Tuyển tập, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội. 44. PGS.TS Đinh Văn Mậu (2003), Quyền lực nhà nước và quyền công dân, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 45. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 46. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 47. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 49. Đỗ Đức Minh (2002), Học thuyết pháp trị Trung Hoa thời cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng chính trị - pháp lý phong kiến Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học. 50. Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 51. Lê Hữu Nghĩa (2002), Thời đại của chúng ta và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 52. Trần Đình Nghiêm (2001), Hội thảo khoa học Việt Nam - Trung Quốc, chủ nghĩa xã hội - kinh nghiệm của Việt Nam - kinh nghiệm của Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 53. Vũ Hữu Ngoạn (2001), Tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 54. Phan Ngọc (1992), Hàn phi tử, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội. 55. Phan Ngọc (1992), Hàn phi tử, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội. 56. Dương Xuân Ngọc (2001), Lịch sử tư tưởng chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 57. Dương Xuân Ngọc, Lưu văn An (2003), Thể chế chính trị quốc gia thế giới đương đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 58. Lê Khả Phiêu (1998), Thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội VIII của Đảng vững bước vào thế kỷ XXI. 59. Lê Khả Phiêu (2000), Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 60. Nguyễn Trọng Phúc (2001), Góp phần tìm hiểu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 61. Lê Minh Quân (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 62. Đào Duy Quát (2004), Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Nguyễn Duy Quý (1998), 150 năm tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Tô Huy Rứa - Trần Khác Việt (2003), Làm người cộng sản trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. Đào Xuân Sâm (2000), Viết theo dòng đời mới tư duy kinh tế, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 66. Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2003), Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 67. Tôn Trung Sơn (2000), Chủ nghĩa Tam Dân, Viện Thông tin khoa học xã hội. 68. Phan Xuân Sơn (2003), Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 69. Tổng Thanh tra Nhà nước (2003), Tài liệu Hội nghị thanh tra toàn quốc, Hà Nội. 70. Đặng Đình Tân (2004), Thể chế Đảng cầm quyền, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 71. Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 72. Phạm Hồng Thái - Đinh Văn Mậu (1997), Luật hành chính Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 73. Đàm Văn Tho - Trần Trung Thành (1999), Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 74. Ngô Đức Tính (2001), Xây dựng Đảng về tổ chức, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 75. Ngô Đức Tính (2001), Xây dựng Đảng về tổ chức, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 76. Tòa án nhân dân tối cao (2003), Báo cáo tổng kết công tác ngành tòa án năm 2003 và phương hướng nhiệm vụ công tác 2004, ngày 25-12, Hà Nội. 77. Tổng thanh tra nhà nước (2004), Kiểm điểm 3 năm thực hiện công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại - tố cáo và phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới, Hà Nội. 78. Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 79. Nguyễn Trung (2001), Các quy định pháp luật về kiểm toán, Nxb Lao động, Hà Nội. 80. GS Đoàn Trọng Truyến (1993). Đề tài KX.05.08 - Hà Nội, Nội dung và phương thức hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 81. Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính (2000), Nxb Lao động, Hà Nội. 82. Từ điển Luật học (1990), Nxb Orbisbon. 83. Từ điển pháp luật Anh - Việt (1994), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 84. Từ điển tiếng Việt phổ thông (1996), Nxb Giáo dục, Hà Nội. 85. Từ điển tiếng Việt (1994), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 86. ủy ban kiểm tra Trung ương (2002), Công tác kiểm tra và việc thi hành kỷ luật trong Đảng, Hà Nội. 87. ủy ban Thường vụ Quốc hội (2003), Nghị quyết về bồi thường thiệt hại cho người bi oan sai do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, Hà Nội. 88. Văn kiện Đảng toàn tập (1998), Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 89. Văn phòng Quốc hội (1997), Báo cáo công tác Quốc hội và các cơ quan Quốc hội nhiệm kỳ IX (1992 - 1997), Hà Nội. 90. Văn phòng Quốc hội (1997), Kỷ yếu Hội nghị toàn quốc về Hội đồng nhân dân từ ngày 13 đến ngày 16-02-1997, Hà Nội 91. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (12-2000), Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện kiểm sát văn bản theo luật ban hành Văn bản quy phạm pháp luật, Hà Nội. 92. Vụ pháp luật hình sự - Hành chính Bộ tư pháp (2001), Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, Hà Nội. 93. Hoàng Thị Bạch Yến (2003), Thực trạng và giải pháp khắc phục bệnh quan liêu trong Đảng hiện nay, Luận văn lý luận chính trị cao cấp - chuyên ngành Xây dựng Đảng. 94. Lê Văn Yểu (2003), 365 câu hỏi và trả lời về tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf174_354.pdf
Luận văn liên quan