Luận văn Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay

Trong công cuộc đổi mới đất nước, phụ nữ Vĩnh Phúc vẫn phát huy tích cực giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ đang gặp phải những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và những hạn chế của đạo đức truyền thống. Vì vậy, để phát huy hơn nữa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, cần phải thực hiện đồng bộ các phương hướng, giải pháp.

pdf91 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 19/11/2013 | Lượt xem: 1428 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
những phụ nữ bị áp bức nhiều nhất về mặt giai cấp mà cả về mặt tập quán và đạo đức cũ... ví dụ, vấn đề "tam tòng tứ đức" đó là sợi dây oan nghiệt buộc chặt người phụ nữ dưới chế độ phong kiến... Nếu không giải phóng phụ nữ khỏi sự ràng buộc của nền nếp đạo đức phong kiến cổ hủ thì lập trường giai cấp vẫn còn thiếu sót [87, tr 74]. Ngày nay, chế độ xã hội chủ nghĩa đã cắt đứt sợi dây oan nghiệt của đạo đức phong kiến Nho giáo, nhưng người phụ nữ vẫn chưa thực sự được giải phóng một cách triệt để, chưa được coi trọng đúng mức, phụ nữ lắm khi còn bị khinh rẻ và bạc đãi, còn bị đánh đập, đối xử bất công. Trên thực tế, tư tưởng địa vị, tâm lý hiếu danh, đầu óc bảo thủ, coi thường lớp trẻ, coi thường phụ nữ trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý... được biểu hiện ra một cách rất hủ bại. Vì vậy, phải khắc phục từng bước có hiệu quả những nhận thức lệch lạc về phụ nữ, tạo sự bình đẳng nam - nữ trong xã hội. - Phụ nữ cần khắc phục tâm lý ngại khó, đầu óc tự ti, mặc cảm, phải thẳng thắn đấu tranh với những thói xấu như tham ô, lãng phí, kiên quyết bài trừ một số tư tưởng, tâm lý đang cản trở bước tiến của chị em. Đồng thời tự học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết, kiến thức mọi mặt. Tích cực tham gia hoạt động xã hội, tham gia các phong trào... của Hội phụ nữ các cấp ở cơ sở. Thực tế, nếu không có đấu tranh, không có quá trình cải tạo công phu và sâu sắc thì những tàn dư của đạo đức cũ không tự mất đi, trái lại, chúng còn tiếp tục gây ra ảnh hưởng tai hại, làm chậm và kéo lùi công cuộc xây dựng xã hội mới, cũng như việc xây dựng những chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay. Ngày nay, lực lượng lao động nữ ngày càng tăng, số lượng phụ nữ tham gia lãnh đạo và quản lý ngày càng nhiều, phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó của dân tộc và của phụ nữ không chỉ thu hẹp và ảnh hưởng trong gia đình mà được mở rộng và ảnh hưởng đến toàn xã hội. Vì thế, phụ nữ phải xây dựng cho mình tính độc lập, tự chủ, làm quen với nền nếp lao động khoa học và hiện đại; khắc phục khó khăn, đầu tư cho học tập để có tri thức hoàn thành mọi nhiệm vụ và cống hiến nhiều hơn cho đất nước. - Đẩy mạnh dân chủ hóa trong toàn xã hội. Dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội là yêu cầu cấp thiết của sự phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước ta coi trọng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ trọng tâm hiện nay. Khắc phục tình trạng quan liêu, dân chủ hình thức, khắc phục tình trạng ức hiếp quần chúng, coi thường phụ nữ. Dân chủ hóa nhằm xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa trong sạch vững mạnh với đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay. Để đạt được các phương hướng trên cần thực hiện một số giải pháp sau: + Xử phạt hành chính những trường hợp vi phạm luật Hôn nhân và gia đình, đảng viên có hành động bạo lực đối với phụ nữ thì cảnh cáo toàn đảng bộ; vi phạm nhiều lần, tùy theo mức độ có thể truy tố pháp luật. + Đẩy mạnh xây dựng gia đình văn hóa, làng xã văn hóa, tăng cường hoạt động sinh hoạt của các câu lạc bộ như: câu lạc bộ hát ru, hát dân ca... nhằm ôn lại truyền thống cũ, là dịp phê phán truyền thống lạc hậu, cổ hủ đang cản trở quá trình phát triển của phụ nữ. + Xóa bỏ những lệ làng, hương ước lạc hậu, giải quyết hài hòa mối quan hệ "lệ làng" phép nước. + Kiên quyết xử lý nghiêm minh những trường hợp lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để hoạt động mê tín dị đoan. + Mở các lớp tập huấn về giới cho nhiều đối tượng như trí thức, cán bộ phụ nữ, những người làm công tác quản lý, tổ chức hoạt động xã hội và bản thân các tầng lớp phụ nữ, nhằm nâng cao nhận thức xã hội trên vấn đề Giới. Kế thừa, phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt lạc hậu, tiêu cực của đạo đức truyền thống trong việc xây dựng chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ là hai việc có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó mặt phát huy là chủ đạo. Chỉ có kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức quý báu của dân tộc trên cơ sở đó mới hình thành những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức mới cho mọi người dân nói chung phụ nữ nói riêng. Đồng thời nêu cao phê bình và tự phê bình của phụ nữ, giúp họ có phương pháp đấu tranh đúng đắn, triệt để, với những tư tưởng lạc hậu, bảo thủ của đạo đức phong kiến; mặt khác, tạo điều kiện, động viên họ tự rèn luyện bản thân, có ý chí vươn lên khắc phục những khó khăn, hạn chế của bản thân để bắt kịp với nhịp độ phát triển của thời đại. Ngày nay, mỗi thắng lợi của sự nghiệp phát triển đất nước, mỗi bước tiến của phụ nữ đều góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước Việt nam giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh 2.2.2. Xây dựng môi trường kinh tế xã hội, pháp luật lành mạnh tạo điều kiện phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, chịu sự quy định của đời sống kinh tế, là sự phản ánh quan hệ lợi ích của con người. Trong mối quan hệ giữa đạo đức với kinh tế và đạo đức với các hình thái ý thức xã hội khác như: pháp luật, chính trị... thì kinh tế giữ vai trò quyết định, pháp luật bổ sung cho những mặt, những khía cạnh mà đạo đức chưa chế định được, vì thế đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền tảng đạo đức từ những điều kiện vật chất kinh tế xã hội nhất định, và với sự trợ giúp của pháp luật để tạo môi trường cho giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được phát huy, lan tỏa. Nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội. Kinh nghiệm của nhiều nước khác nhau trên thế giới cũng như ở Việt Nam chỉ ra rằng, chúng ta không thể chấp nhận một sự tăng trưởng đơn thuần về kinh tế bằng mọi giá mà để cho bản sắc văn hóa dân tộc trong đó có đạo đức bị suy thoái. Đồng chí Đỗ Mười đã từng nói: Trong khi chăm lo phát triển kinh tế, coi đó là nhiệm vụ trung tâm, chúng ta nhận thức sâu sắc rằng động lực tạo ra sự phồn vinh và phát triển lâu bền của quốc gia, không chỉ đơn thuần là vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến và tài nguyên giàu có, mặc dù điều đó là quan trọng mà chủ yếu là do trí tuệ của con người, do khả năng sáng tạo của toàn dân được hình thành từ truyền thống văn hóa Việt Nam. Đó là kho tàng tri thức, tâm hồn, đạo lý, tính cách, lối sống, trình độ thẩm mỹ của từng người và của cả cộng đồng dân tộc [64, tr 1]. Đảng ta chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đây là môi trường kinh tế lành mạnh, là tiền đề bảo đảm cho các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống đạo đức phụ nữ được phát huy và phát triển đúng hướng, điều đó đòi hỏi phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của nhà nước và việc thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai, mang nhiều yếu tố tự phát thì vai trò của nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng. ở nước ta, tăng trưởng kinh tế cần đi liền với công bằng xã hội và giải phóng phụ nữ. Một môi trường kinh tế lành mạnh thể hiện tính nhân văn trong việc giải quyết quan hệ lợi ích, là môi trường trực tiếp cho đạo đức phát triển, các giá trị truyền thống được phát huy. Quan hệ lợi ích trong đời sống xã hội phụ thuộc vào các chính sách kinh tế xã hội và việc giải quyết các quan hệ lợi ích của Đảng và Nhà nước. Nếu chính sách kinh tế xã hội không phù hợp quy luật thực tiễn của đất nước và thời đại sẽ gây xáo trộn trong quan hệ lợi ích và do vậy có tác động xấu đến đời sống đạo đức. Còn khi chính sách kinh tế xã hội đúng đắn, bảo đảm kết hợp hài hòa các lợi ích sẽ tạo cơ sở cho việc xác lập các quan hệ lợi ích lành mạnh trong xã hội. Do đó các chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước phải chú trọng kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội; lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần... Nhà nước điều tiết các quan hệ lợi ích thông qua pháp luật, kế hoạch, các chính sách và các công cụ vĩ mô khác như tài chính, tiền tệ, thuế... để tạo nên sự phát triển đất nước. Xây dựng môi trường kinh tế xã hội lành mạnh là một bộ phận quan trọng trong việc giữ gìn, phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, tạo điều kiện hình thành, phát triển những phẩm chất đạo đức mới cần thiết cho phụ nữ nước ta vững bước đi vào thế kỷ XXI, vì vậy, chúng ta đang cần một chiến lược tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là cho phụ nữ. Phát triển các nghề nghiệp truyền thống sẽ góp phần tích cực giải quyết vấn đề việc làm và nâng cao trình độ kỹ thuật của phụ nữ lên một bước, là hướng trực tiếp làm xuất hiện nhân cách mới của phụ nữ. Việc làm cho mỗi người luôn là vấn đề có ý nghĩa kinh tế xã hội, chính trị to lớn đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là những nước đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế như nước ta. Cơ hội tạo việc làm cho phụ nữ trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa to lớn, không chỉ vì phụ nữ chiếm 52% lực lượng lao động xã hội mà còn vì trong xã hội còn tồn tại quan điểm cũ kỹ là: đàn bà, con gái dẫu sao vẫn có việc làm tại nhà (nữ công gia chánh), nên vấn đề giải quyết việc làm cho họ không gay gắt và cấp bách bằng những thành phần khác, chẳng hạn như bộ đội xuất ngũ, như thanh niên, học sinh mới ra trường... Chính trong hoàn cảnh như vậy, không ít phụ nữ, chủ yếu là nữ thanh niên nông thôn do thiếu hiểu biết về đời sống đô thị, không nắm được pháp luật, nên đã bị lợi dụng, bị bắt ép hoặc tự nguyện bước vào con đường làm ăn phi pháp. Thiếu việc làm là nguyên nhân cơ bản đẩy phụ nữ đến với những việc làm phạm pháp, sa vào tệ nạn xã hội... làm mất nhân phẩm người phụ nữ gây nguy cơ báo động cho toàn xã hội, và là một trong những nguyên nhân lây lan căn bệnh quái ác của thời đại: bệnh AIDS, một loại bệnh đã từng tàn hại nguyên cả một xóm, hay cả một khu phố thuộc một nước ở châu Phi. Do vậy, phụ nữ không đủ việc làm sẽ thiếu điều kiện để phát huy tiềm năng sáng tạo của mình, đồng thời làm giảm địa vị và những giá trị đóng góp của họ cho gia đình và xã hội. - Để tạo lập môi trường kinh tế xã hội lành mạnh đi đôi với đẩy mạnh đấu tranh chống tiêu cực và chống các tệ nạn xã hội, chống tư tưởng bảo thủ, lạc hậu... đối với phụ nữ, phát triển kinh tế gắn với nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho nhân dân nói chung, phụ nữ nói riêng, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn bất bình đẳng đối với phụ nữ. Xây dựng môi trường kinh tế xã hội lành mạnh cần chú ý kết hợp chính sách kinh tế với chính sách xã hội, vì chính sách kinh tế là nhằm vào mục tiêu phát triển xã hội, góp phần xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Mỗi chính sách xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế sẽ có ý nghĩa thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Nhà nước cần can thiệp có hiệu quả vào việc giải quyết các vấn đề xã hội thông qua việc thực thi các chính sách xã hội cơ bản như giải quyết việc làm, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách phòng ngừa, bài trừ tệ nạn xã hội... Phát triển kinh tế phải đảm bảo hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích dân tộc. Kết hợp đúng đắn chính sách kinh tế với sách xã hội, khuyến khích làm giàu chính đáng nhưng không để diễn ra chênh lệch quá nhiều về mức sống, trình độ phát triển giữa các vùng, miền, tầng lớp dân cư, tầng lớp phụ nữ. Phát triển kinh tế phải đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội về đạo đức. Không chờ cho kinh tế phát triển cao mới giải quyết các vấn đề xã hội. Để làm được các việc trên cần có các giải pháp sau: + Tiếp tục đa dạng hóa các ngành nghề cả nông - lâm - ngư nghiệp, dịch vụ, du lịch... và công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp. Lựa chọn công nghệ và có chính sách hỗ trợ các công nghệ có khả năng thu hút nhiều lao động, khuyến khích và giúp đỡ phụ nữ tạo ra nhiều việc làm và giúp nhau có việc làm. + Cần khơi dậy và phát triển các ngành nghề truyền thống, đây là lĩnh vực có khả năng đem đến nhiều việc làm cho phụ nữ mà còn mang tính văn hóa và xã hội cao. Từ thời xa xưa chúng ta đã có các làng nghề thủ công mà sản phẩm đã được nhiều nước trên thế giới biết tới, như hàng sơn mài, mây tre, thêu... các sản phẩm nổi tiếng đó phần lớn do bàn tay khéo léo và cần cù của phụ nữ làm ra. Việc khôi phục, phát triển các ngành nghề truyền thống đi liền với tạo thị trường tiêu thụ ổn định để phụ nữ yên tâm sản xuất. + Nhà nước tạo điều kiện cho mọi người tự do hành nghề, tự do cư trú theo pháp luật, tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn ra thành thị làm việc hoặc di cư từ vùng này sang vùng khác do tính chất công việc. + Tỉnh ủy, Hội phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc cần đẩy mạnh hơn nữa công tác chỉ đạo các cấp hội cơ sở, vận động phụ nữ toàn tỉnh thực hiện chương trình nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm tăng thu nhập. Đẩy mạnh hoạt động khai thác, hỗ trợ các nguồn vốn cho phụ nữ, đặc biệt phụ nữ nghèo, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, phụ nữ các dân tộc ít người và phụ nữ tôn giáo vay để phát triển kinh tế. Nguồn vốn được khai thác từ các nguồn trong nước và quốc tế thông qua các chương trình, dự án, tín chấp ngân hàng, nhóm phụ nữ tín dụng tiết kiệm... Đẩy mạnh phong trào "Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo" nhằm tạo ra nguồn vốn bền vững, đáp ứng nhu cầu vay vốn cho phụ nữ phát triển sản xuất, làm giàu hợp pháp. + Hội phụ nữ tỉnh và các huyện thị phối kết hợp với các Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm chọn lựa nội dung kiến thức cụ thể, phù hợp và hướng dẫn kỹ thuật, công nghệ cho phụ nữ trong sản xuất. Tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho cán bộ hội viên phụ nữ tham gia học tập, thông qua các mô hình trình diễn như: mô hình diễn lúa lai, mạ khay theo kiểu công nghệ Trung Quốc, trồng lạc che phủ ni lông, trồng dưa xuất khẩu..., vận động phụ nữ nghèo phát triển kinh tế gia đình. Xây dựng hộ gia đình theo mô hình " vườn, ao, chuồng" (VAC), mô hình "vườn, ao, chuồng, rừng" (VACR)... mở thêm các nghề mới phù hợp với thế mạnh và điều kiện của địa phương như trồng nấm, trồng dưa xuất khẩu, nuôi dê..., nhằm giải quyết việc làm tăng thu nhập cho phụ nữ, từng bước xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn.. + Tăng cường tổ chức những buổi học thực tế đi sâu đi sát cơ sở sản xuất để rút kinh nghiệm và vận dụng sáng tạo vào quy trình sản xuất mới, ví dụ: trong nông nghiệp tổ chức "Hội nghị đầu bờ" (IPM), nghiên cứu giống cây trồng mới..., phát triển mô hình "Trồng hai cây, nuôi một con". + Nâng cấp, mở rộng các hình thức câu lạc bộ thu hút phụ nữ tham gia hoạt động. Năm 1997 toàn tỉnh Vĩnh Phúc có 209 câu lạc bộ phụ nữ, đến nay (8/2001) toàn tỉnh đã kiện toàn và thành lập được 527 câu lạc bộ phụ nữ [34, tr 24]. Tuy nhiên thời gian vừa qua có nhiều câu lạc bộ hoạt động còn kém hiệu quả, vì vậy, để các câu lạc bộ nâng cao chất lượng, hiệu quả, có sức hấp dẫn đối với chị em phụ nữ, cần tăng cường, đa dạng hóa các hình thức, nội dung sinh hoạt phong phú như: tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm, tổ chức các cuộc thi theo những chủ đề về người phụ nữ và gia đình, về văn hóa xã hội v.v... nhằm giúp phụ nữ có thêm kiến thức về mọi mặt và tự hào về truyền thống của dân tộc mình. + Tổ chức trao đổi trực tiếp, đối thoại giữa cá nhân với cá nhân, giữa các nhóm về những vấn đề chung, thiết thực trong cuộc sống như: kinh nghiệm, quy trình kỹ thuật công nghệ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. + Tăng cường thông tin về thị trường sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm cho phụ nữ trong lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn. + Sớm thành lập ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ Vĩnh Phúc, nhằm tiếp tục thực hiện chương trình Hành động quốc gia vì sự phát triển của phụ nữ. Cùng với việc xây dựng môi trường kinh tế xã hội thì xây dựng môi trường pháp luật giữ một vị quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được giữ gìn và phát huy. Pháp luật ra đời cùng với nhà nước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Xã hội ngày càng phát triển thì mọi hành vi của các cá nhân đều có nhu cầu được điều chỉnh bằng pháp luật. Pháp luật cùng với đạo đức, tôn giáo, chính trị... đều là những công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật giữ gìn trật tự của các quan hệ xã hội nhưng pháp luật cũng có khả năng đón bắt, tạo điều kiện cho sự phát triển của các quan hệ xã hội theo hướng nhất định. Vì vậy, pháp luật là phương tiện không thể thiếu được cho mọi sự tồn tại bình thường của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng. Đạo đức và pháp luật là hai phạm trù có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau. Trong xã hội, đạo đức và pháp luật có vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội nói chung và bảo đảm an toàn trật tự nói riêng. Đạo đức và pháp luật vốn có sự tương đồng vì đều là phương thức điều chỉnh các quan hệ xã hội theo quy phạm, song chúng lại có phương thức thực hiện quy phạm khác nhau, vì thế chúng bổ sung và hỗ trợ tác dụng cho nhau. Trong các văn bản pháp luật của nước ta từ Hiến pháp đến các Bộ luật, có nhiều quy phạm pháp luật ghi nhận những chuẩn mực đạo đức truyền thống, đạo đức phụ nữ cũng được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của cơ quan pháp luật nhà nước. Hiến pháp 1992 ghi nhận: "... nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ" [34, tr. 34]. Trong các bộ luật Dân sự, luật Hôn nhân và gia đình, luật Bảo vệ và chăm sóc bà mẹ trẻ em, chúng ta đều thấy những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức truyền thống đã được ghi nhận thành những quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, vấn đề tăng cường hiệu lực pháp luật trong quản lý xã hội, bảo vệ, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc vẫn còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật của chúng ta còn thiếu những quy định cần thiết về những vấn đề quan trọng, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế và các quy định cơ bản về quyền công dân. Việc phổ biến giáo dục pháp luật còn bị xem nhẹ. Việc thi hành pháp luật cũng như chế độ kiểm tra, giám sát việc chấp hành luật pháp còn nhiều bất cập. Do đó, hiện tượng phản đạo đức có nguy cơ xuất hiện và tràn lan nhanh chóng, gây ảnh hưởng xấu trong xã hội, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc không có được môi trường nuôi dưỡng và phát triển. Điều đó đòi hỏi phải hết sức coi trọng vai trò của ý thức pháp luật trong toàn xã hội, trước hết là việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật cho toàn dân và cho phụ nữ, từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng ý thức pháp luật cho toàn dân và hình thành thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử hàng ngày của họ. Giáo dục pháp luật gắn với giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc. Thực tế hoạt động giáo dục pháp luật chỉ đạt được hiệu quả cao khi nó được lồng ghép với nội dung giáo dục giá trị đạo đức truyền thống, công việc này cần phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, lâu dài và bằng những hình thức, phương pháp hợp lý. Việc xây dựng môi trường pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta đặt ra yêu cầu nghiên cứu các khoa học pháp lý, tổng kết xây dựng và thực thi pháp luật trong thời gian qua làm cơ sở bảo đảm tính khoa học của việc quản lý xã hội bằng pháp luật. Mặt khác, nghiên cứu các giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống, truyền thống đạo đức phụ nữ để chọn lọc các giá trị chuẩn mực phù hợp có thể "luật hóa" nó, nghĩa là những quy định của nó được mọi người biến thành hành động thực tế, tạo điều kiện cho giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được phát huy. Xây dựng được môi trường kinh tế xã hội, pháp luật lành mạnh trong quá trình cả nước đang trong thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng giao lưu quốc tế là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, tạo điều kiện cho việc hình thành những chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay. Điều đó cần thực hiện các giải pháp sau: + Tăng cường hơn nữa công tác giáo dục pháp luật cho toàn dân nói chung, phụ nữ nói riêng. Đưa chương trình giáo dục pháp luật lồng ghép với các chương trình sinh hoạt nhóm, tổ phụ nữ, trong các câu lạc bộ phụ nữ. + Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, nhất là những luật có liên quan đến phụ nữ... tổ chức thi hòa giải theo tình huống, thi ứng xử theo từng cấp cơ sở. Qua đó giúp chị em đầu tư công sức, thời gian tìm hiểu, nghiên cứu pháp luật, có hành vi, ý thức pháp luật đúng trong cuộc sống. 2.2.3. Coi trọng giáo dục, tự giáo dục nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Từ xưa tới nay, phụ nữ nước ta luôn tham gia đóng góp công sức của mình vào sự phát triển của dân tộc. Nhưng sự hạn chế về trình độ hiểu biết đã và đang là những tác nhân quan trọng kìm hãm việc phát huy vai trò và tiềm năng của phụ nữ. Vì vậy, việc nâng cao trình độ văn hóa, trình độ hiểu biết về truyền thống dân tộc, lịch sử dân tộc cho phụ nữ không thể xem nhẹ, bởi họ cũng có quyền được học tập, được hiểu biết để phát triển tiềm năng và để tự giải phóng mình. Thực tế, ở những nơi còn nặng tư tưởng phong kiến, trọng nam khinh nữ, coi phụ nữ không cần học nhiều, thậm chí không cần học, đã ảnh hưởng lớn đến quyền bình đẳng nam nữ, quyền được đi học, được hiểu biết của phụ nữ. Do vậy cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống thì một yêu cầu cấp thiết hiện nay là đẩy mạnh công tác giáo dục và tự giáo dục đạo đức nói chung, đạo đức truyền thống dân tộc nói riêng cho mọi tầng lớp nhân dân trong đó có phụ nữ. Đó là nhân tố có tầm quan trọng hàng đầu để tăng thêm hiểu biết về truyền thống đạo đức dân tộc, về lịch sử dân tộc, từ đó quá trình kế thừa, phát huy giá trị đạo đức truyền thống được nâng lên. Quá trình giáo dục, tự giáo dục đạo đức truyền thống phải được thực hiện trong các môi trường gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó gia đình và nhà trường chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Gia đình là môi trường quan trọng trong quá trình hình thành, phát triển nhân cách của con người. Gia đình và xã hội có quan hệ mật thiết với nhau. Gia đình đầm ấm sẽ góp phần vào sự phát triển hài hòa của xã hội, và xã hội tiến bộ, lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho gia đình ổn định. Gia đình càng giữ được "gia phong" thì kỷ cương xã hội càng nghiêm minh. Gia đình có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của con người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng ta cũng khẳng định: "Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách" [11, tr. 15]. Gia đình có vị trí quan trọng, chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm coi trọng "Xây dựng gia đình văn hóa mới", coi đó là một trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng có ghi rõ: "Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc làm cho gia đình thực sự là tế bào của xã hội, là tổ ấm của mỗi người. Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hóa của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác" [15, tr. 112-113]. Giáo dục trong gia đình cần nhấn mạnh việc giáo dục lối sống tình nghĩa, tinh thần tương trợ đùm bọc nhau, thái độ chăm chỉ trong lao động và trong đời sống; biết kính trên nhường dưới, giáo dục lòng kính trọng và biết ơn tổ tiên, biết ơn các vị anh hùng dân tộc... truyền thống đó được các gia đình Việt Nam nâng niu quý trọng, gìn giữ từ đời này qua đời khác. Cùng với gia đình, giáo dục đạo đức trong nhà trường và xã hội là góp phần đào tạo cho đất nước những con người có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ năng lực đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay và trong tương lai. Nhưng một thời gian dài trước đây nhà trường của ta hoặc bỏ quên hoặc xem nhẹ môn học Đạo đức, những năm gần đây, tình trạng này được khắc phục một cách đáng kể. Môn Đạo đức đã được đưa vào dạy ở các trường học kể cả các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp. Tuy nhiên, trong các Giáo trình Đạo đức học cũng như nội dung giáo dục ở nhiều trường, đạo đức truyền thống của dân tộc chưa được đề cập hoặc đề cập một cách rời rạc. Giảng viên giảng dạy Đạo đức học còn yếu và thiếu do không được đào tạo cơ bản về môn học, tình hình đó ảnh hưởng xấu đến việc giáo dục đạo đức trong các nhà trường. Do vậy, để đảm bảo hiệu quả công tác giáo dục đạo đức nói chung, đạo đức truyền thống trong nhà trường nói riêng, cần đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống, nhất là truyền thống đạo đức và văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng cao tự ý thức trách nhiệm của sinh viên, học sinh với bản thân, với gia đình và với quê hương; trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn, kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Tự giáo dục đạo đức nói chung, đạo đức truyền thống nói riêng đòi hỏi người phụ nữ không chỉ dừng lại ở nhận thức, mà phải thể hiện nó bằng tình cảm, tâm lý, tập quán, lối sống. Để xây dựng nếp sống mới, phụ nữ phải khẳng định mình, tự khẳng định vị trí vai trò của mình bằng chính năng lực, trình độ của bản thân chứ không phải bằng sự "ưu tiên" của xã hội, phải chống những hủ tục lạc hậu, nhưng cũng phải biết kế thừa những nét đẹp truyền thống và nâng cao ý nghĩa của chúng trong cuộc sống hiện nay, chẳng hạn như, trong việc cưới xin tránh những nghi thức rườm rà, phiền toái nhưng phải tạo nên sự sang trọng cần thiết để bồi dưỡng ý thức trách nhiệm của lớp trẻ trong việc xây dựng tổ ấm gia đình bền vững. Lễ mừng thọ là biểu hiện thái độ tôn kính người già đã có từ lâu, nhưng không nên lợi dụng việc đó để chè chén linh đình, phô trương thanh thế gia đình và dòng họ, mà phải là dịp nêu gương tốt của lớp người đi trước cho các thế hệ mai sau noi theo. Giáo dục đạo đức truyền thống, nâng cao trình độ hiểu biết về lịch sử dân tộc thông qua các lễ hội truyền thống, các ngày lễ lớn hàng năm và các phong trào quần chúng rộng rãi. Các lễ hội như Hội Đền Hùng, Hội Gióng, Hội Hai Bà Trưng... là nơi giáo dục một cách nhẹ nhàng, tế nhị truyền thống yêu nước, yêu quê hương, tưởng nhớ tới các vị anh hùng đã có công với nước. Các ngày lễ và ngày kỷ niệm trong năm như ngày thành lập Đảng, ngày Cách mạng tháng Tám, ngày Quốc khánh 2-9, ngày 8-3, ngày 20-10... là những dịp để mọi người dân Việt Nam nói chung, phụ nữ nói riêng ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc, truyền thống vẻ vang của Đảng; cũng là dịp để chị em phụ nữ ôn lại truyền thống đầy tự hào của mình, tưởng nhớ và học tập gương Bác Hồ vĩ đại. Quá trình giáo dục, tự giáo dục cần có những giải pháp cơ bản sau: + Giáo dục lòng kính trọng ông bà, cha mẹ và lòng biết ơn tổ tiên, biết ơn các vị anh hùng dân tộc. Đây là những việc làm tốt đẹp để xây dựng truyền thống văn hóa gia đình. Văn hóa, đạo đức gia đình là cái nền để tạo dựng và nuôi dưỡng con người, nó được lưu truyền và phát triển qua các thế hệ. Thông qua môi trường giáo dục gia đình, thế hệ trẻ có những hiểu biết đầy đủ hơn về truyền thống gia đình, dòng họ, là cơ sở để hiểu biết truyền thống dân tộc, lịch sử của dân tộc mình. Từ đó có ý thức và trách nhiệm với những thế hệ đi trước, nghĩa vụ với các thế hệ đi sau; và trách nhiệm, nghĩa vụ của một công dân đối với truyền thống đạo đức dân tộc, lịch sử dân tộc. + Giáo dục cho thế hệ trẻ có ý chí vươn lên trong học tập, có đức tính kiên trì, tính tự lập. Thói quen tư duy độc lập khoa học; không thỏa mãn với những kết quả đạt được, rèn luyện nếp sống có kỷ luật, biết sống trong khuôn phép gia đình có văn hóa, trong xã hội có kỷ cương, và biết tự chăm lo, rèn luyện sức khỏe trong ăn uống, trong sinh hoạt và trong học tập. + Quan tâm giáo dục kiến thức về giới tính cho con cái. Dạy con có thái độ đúng mực và kiềm chế hành vi đạo đức trong sáng, vô tư trong quan hệ giao tiếp, nhất là trong quan hệ với bạn bè khác giới. Có trình độ văn hóa ứng xử là hành trang để bước vào đời. + Động viên, kích thích niềm hứng thú của chị em tham gia vào câu lạc bộ nội trợ. Câu lạc bộ nội trợ giỏi giúp chị em học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ tư duy tính toán, sắp xếp nấu nướng bữa cơm khéo léo, tiết kiệm, nhằm có những bữa ăn ngon miệng, hợp túi tiền, hợp khẩu vị, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, hợp vệ sinh. Đây là hình thức câu lạc bộ mang đậm bản sắc văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc mà người phụ nữ trực tiếp giữ gìn, phát huy và truyền lại cho các thế hệ mai sau. Cần thường xuyên tổ chức hàng năm các cuộc thi nấu ăn cho phụ nữ; tổ chức tuyên truyền về "Ngày gia đình"... + Tăng cường công tác phòng chống tệ nạn xã hội, đẩy mạnh các hoạt động lồng ghép trong các chiến dịch truyền thông để giáo dục phụ nữ theo chuyên đề: dân số, chăm sóc sức khỏe, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em. + Phối kết hợp với các ngành chức năng như y tế, công an... giúp những phụ nữ bị bệnh xã hội đi khám chữa bệnh, đi phục hồi nhân phẩm, tạo công ăn việc làm cho họ, giúp họ trở về cuộc sống cộng đồng. + Tạo dư luận xã hội ủng hộ, khuyến khích các hành vi tích cực, phê phán các hành vi tiêu cực. Dư luận phải có tác động mạnh mẽ đến tình cảm, ý thức của con người. Trong điều kiện của xã hội hiện đại với các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại chiếm ưu thế, thông tin sẽ có trách nhiệm, vai trò to lớn trong việc hướng dẫn dư luận tạo điều kiện thuận lợi trong công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc tới mọi người dân nói chung, phụ nữ nói riêng. Đồng thời nó vừa thể hiện sự đánh giá, sự yêu cầu và thái độ của xã hội trước một hiện tượng, một hành vi đạo đức nhất định. Có thể nói, đây là loại hoạt động giáo dục mang lại hiệu quả rất cao và nhanh nhậy. + Tăng cường các hoạt động truyền thông nhóm nhỏ, truyền thông cuốn sách: "Những điều cần biết cho sự sống", nói chuyện chuyên đề về gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước... về những chuẩn mực gia đình mới hiện đại. + Các cấp Hội phụ nữ, ban Nữ công cần chủ động tập trung chỉ đạo hoạt động sưu tầm, đóng góp tư liệu, hiện vật hoàn thành xây dựng "Phòng truyền thống phụ nữ Vĩnh Phúc", nhằm giáo dục cho các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh về truyền thống lịch sử hào hùng của phụ nữ tỉnh nhà trong lịch sử. + Tích cực vận động chị em phụ nữ đọc sách báo, tài liệu, nghe đài, xem ti vi, và trao đổi nhận thức trong buổi sinh hoạt câu lạc bộ phụ nữ, tổ phụ nữ, theo các chủ đề nhất định và các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội pháp luật, văn hóa... + Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ người dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, giúp họ có trình độ để xây dựng các phong trào phụ nữ địa phương, đáp ứng được nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc nêu cao những tấm gương đạo đức, gương anh hùng dân tộc trong lịch sử để mọi người hiểu biết và noi theo là vấn đề có ý nghĩa quan trọng của quá trình giáo dục và tự giáo đạo đức truyền thống, trong đó tư tưởng đạo đức và tấm gương đạo đức trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh ở tầm cao giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và nhân loại mà các thế hệ hiện nay và mai sau phải noi theo và học tập. Quá trình giáo dục, tự giáo dục nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của chị em phụ nữ về truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống phụ nữ, lịch sử dân tộc có ý nghĩa, vai trò to lớn cho quá trình hiểu biết, kế thừa, phát huy và nâng cao giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, lịch sử dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay. kết luận chương 2 Truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống phụ nữ là những giá trị tinh thần được lưu truyền trong lịch sử, tùy từng giai đoạn phát triển của dân tộc mà các giá trị đó được phát huy lan tỏa. Sức mạnh của sự lan tỏa đó đã có ảnh hưởng tích cực đối với các thế hệ phụ nữ Vĩnh Phúc trong việc kế thừa, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, và chính truyền thống vẻ vang, đầy tự hào của phụ nữ Vĩnh Phúc cũng góp phần quan trọng vào truyền thống đạo đức dân tộc, truyền thống phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài những giá trị cao quý, đạo đức truyền thống dân tộc còn có những mặt lạc hậu, hạn chế do nhiều nguyên nhân còn tồn tại trong xã hội ta, đã ảnh hưởng không tích cực tới đời sống đạo đức tới người dân Vĩnh Phúc nói chung, phụ nữ nói riêng, hạn chế khả năng phát huy giá trị đạo đức truyền thống của chị em, cản trở quá trình xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay, vì vậy, cần thiết phải có các phương hướng khắc phục và những giải pháp mang tính khả thi. Trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống là vấn đề có tính tất yếu về kinh tế xã hội trong đó có vai trò to lớn của các chủ thể đạo đức trong việc nhận thức, vận dụng sáng tạo quy luật kế thừa phát huy giá trị đạo đức vào việc giáo dục đạo đức và tự giáo dục đạo đức nói chung, giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống nói riêng ở trong các môi trường gia đình, nhà trường, xã hội với những nội dung hình thức phù hợp. Gắn với việc nâng cao hiệu lực hiểu biết và thi hành pháp luật sẽ có tác dụng ngăn ngừa những hành vi vô đạo đức và cổ vũ sự nỗ lực của mỗi người trong việc giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ, nâng cao vai trò, vị trí của họ trong gia đình và xã hội. kết luận Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được hình thành trong lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc, nó trường tồn trong không gian và thời gian, được các thế hệ kế tiếp nhau trong lịch sử kế thừa, phát huy. Ngày nay trước những đổi thay của đất nước, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng vận động, đổi mới và bổ sung những giá trị mới cho phù hợp với thời kỳ phát triển hiện nay của đất nước. Truyền thống đạo đức phụ nữ Việt Nam là một bộ phận của truyền thống đạo đức dân tộc. Phụ nữ Việt Nam đã đóng góp to lớn vào lịch sử vẻ vang của dân tộc, thể hiện những đức tính quý báu trong việc đảm đương nghĩa vụ đối với Tổ quốc và trách nhiệm đối với gia đình. Những trang sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đều ghi rõ công lao và sử tích anh hùng của người phụ nữ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phụ nữ nước ta đã phát huy truyền thống cách mạng của mình, vươn lên mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, khẳng định vai trò ngày càng to lớn trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định truyền thống "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" của người phụ nữ. Quá trình hình thành phát triển, đạo đức mới của người phụ nữ chịu sự tác động mạnh mẽ của các nhân tố bên trong và bên ngoài, của mặt trái nền kinh tế thị trường đã tác động phản tiến bộ đến các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống đạo đức phụ nữ nói riêng. Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức truyền thống và về đạo đức mới, đòi hỏi phải xác định những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần phát huy, những yêu cầu, nội dung của đạo đức mới đối với người phụ nữ trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay. Trong công cuộc đổi mới đất nước, phụ nữ Vĩnh Phúc vẫn phát huy tích cực giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Tuy nhiên, vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ đang gặp phải những tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường và những hạn chế của đạo đức truyền thống. Vì vậy, để phát huy hơn nữa giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, cần phải thực hiện đồng bộ các phương hướng, giải pháp. Tác giả luận văn đề xuất ba nhóm phương hướng và giải pháp cơ bản sau: Một là: Khắc phục những mặt hạn chế, lạc hậu, tiêu cực trong giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Hai là: Xây dựng, tạo môi trường kinh tế xã hội, pháp luật, tạo điều kiện phát huy những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Ba là: Coi trọng giáo dục, tự giáo dục nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về truyền thống dân tộc, lịch sử dân tộc. Những vấn đề cơ bản nêu trên phải được triển khai một cách đồng bộ, phối hợp chặt chẽ để tạo tiền đề, điều kiện cho nhau trong việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Nguyễn An, (1998) "Truyền thống tôn trọng phụ nữ hay tập quán "trọng nam khinh nữ"?" Khoa học về phụ nữ (1), tr. 25 - 29. 2. Lê Thị Tuyết Ba (1999), "Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam", Triết học (1), tr. 9 - 11. 3. Bandzeladze (1985), Đạo đức học, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 4. Bandzeladze (1985), Đạo đức học, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 5. Trường Chinh (1963) Bàn về văn hóa văn nghệ, Nxb Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội. 6. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), "Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường", Triết học (1), tr 3 - 5. 7. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển", Triết học (2), tr 16 - 19. 8. Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước, "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) (1995), Nghiên cứu con người giáo dục phát triển và thế kỷ XXI, Kỷ yếu Hội nghị khoa học quốc tế từ 27-29/07/1994 tại Hà Nội, Hà Nội. 9. Công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) (1997), Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 10. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1997), Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb Sự thật, Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (12/7/1993), Nghị quyết Bộ Chính trị về "Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết 09 Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, (Lưu hành nội bộ). 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên) (2001), Xây dựng và phát triển nền xã hội Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Phạm Văn Đồng (1961), Vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 20. Phạm Văn Đồng (1984), Bài nói chuyện tại Hội nghị ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (họp phiên mở rộng). 21. Trần Thị Minh Đức (1995), "Tâm lý "trọng nam khinh nữ" trong xã hội hiện nay", Khoa học về phụ nữ (4), tr. 6 - 8. 22. Nguyễn Tĩnh Gia (1997), "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý", Nghiên cứu lý luận (2), tr. 25 - 26, 31. 23. Bảo Định Giang (1992), "Sống nhân nghĩa một truyền thống cực kỳ tốt đẹp cần giữ gìn và phát huy", Tạp chí Cộng sản (4), tr. 46-48. 24. Đặng Thái Giáp (2000), "Đạo đức và pháp luật với an ninh trật tự trong nền kinh tế thị trường", Tạp chí Cộng sản (2), tr. 27 - 30. 25. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học, Hà Nội. 26. Bùi Thu Hằng (2001), "Bạo lực trong gia đình", Khoa học về Phụ nữ (2), tr. 26 - 30. 27. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (1992), Nxb Sự thật, Hà Nội. 28. Trương Mỹ Hoa (1996), "Phụ nữ Việt Nam với nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Cộng sản (20), tr 3 - 7. 29. Trương Mỹ Hoa (1997), "Một chặng đường hoạt động sôi động của phụ nữ Việt Nam", Tạp chí Cộng sản (10), tr 19 - 20. 30. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Triết học (2000), Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phú (1996), Lịch sử phong trào phụ nữ tỉnh Vĩnh Phú (1930-1995). 32. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc (1999), Báo cáo tổng kết hoạt động phong trào phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc. 33. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc (2000), Báo cáo của Ban chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc. 34. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc, Báo cáo của Ban chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc khóa X tại Đại hội đại biểu phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2001-2006 (Dự thảo). 35. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc, Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Mê Linh khóa VI tại Đại hội đại biểu Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ VII, nhiệm kỳ 2001- 2006. 36. Lê Thị Minh Hiệp (2000), Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học Triết học, Hà Nội. 37. Đỗ Huy (1998), "Định hướng xã hội chủ nghĩa về các quan hệ đạo đức trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay", Triết học (5), tr. 11 - 14. 38. Đỗ Huy (2001), Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay, nhìn từ góc độ giá trị học, Viện Văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 39. Nguyễn Văn Huyên (1998), "Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc", Triết học, (4), tr. 8 - 11. 40. Trần Đình Hượu (1994), Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Hà Nội. 41. Hà Thị Khiết (2000), "Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam sau 70 năm hình thành và phát triển", Tạp chí Cộng sản (20), tr. 3 - 6. 42. Vũ Khiêu (Chủ biên) (1974), Đạo đức mới, Nxb Khoa học, Hà Nội. 43. Vũ Khiêu (1996), Bàn về văn hiến Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 44. Nguyễn Thị Khoa (1997), "Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường", Khoa học về phụ nữ (2), tr. 31 - 34. 45. Nguyễn Thế Kiệt (1996), "Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay", Triết học, (6), tr. 9 - 11. 46. Nguyễn Thế Kiệt (Chủ biên) (2001), ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 47. Tương Lai (1982), Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới, Nxb Sự thật, Hà Nội. 48. Phạm Huy Lê, Vũ Minh Giang (chủ biên) (1996), Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, tập 1, Chương trình KHCN cấp nhà nước, đề tài KX.07- 02, Hà Nội. 49. Lênin (1977), Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Matcơva. 50. Đặng Thị Linh (1995), "Mối quan hệ giữa trình độ học vấn của người phụ nữ với vấn đề sinh đẻ và nuôi dạy con", Tư tưởng văn hóa (5), tr. 28. 51. Đặng Thị Linh (1996), Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và giải pháp, Luận án phó tiến sĩ khoa học Triết học, Hà Nội. 52. Nguyễn Ngọc Long (1987), "Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo đức trong việc đổi mới tư duy", Nghiên cứu lý luận (1), (2), tr. 105 - 114. 53. Nguyễn Văn Lý (1999), "Vấn đề kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta", Triết học (2), tr 9 - 11. 54. Nguyễn Văn Lý (2000), Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, Luận án phó tiến sĩ khoa học Triết học, Hà Nội. 55. C. Mác - Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội. 56. C. Mác - Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội. 57. C. Mác - Ph. Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội. 58. C. Mác - Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội. 59. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 60. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 61. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 62. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Đỗ Mười (1995), "Biến lý tưởng, mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội thành hiện thực trên đất nước các vua Hùng đã có công gây dựng", Báo Nhân Dân, ngày 8/ 4/1995. 65. Đỗ Mười (1997), Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 66. Nguyễn Chí Mỳ (Chủ biên) (1998), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay, (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 67. Nguyễn Chí Mỳ, Nguyễn Thế Kiệt (1998), "Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay và việc nâng cao phẩm chất đạo đức của cán bộ", Tạp chí Cộng sản (15), tr. 26 - 28. 68. Phạm Thanh Nhiễm (1994), "Mấy suy nghĩ về mối quan hệ giữa văn hóa và nhân cách của người phụ nữ hiện nay", Khoa học về phụ nữ (4), tr. 40 - 43. 69. Hoàng Thị Nữ (1999), "Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác đào tạo, bồi dưỡng và đề bạt cán bộ nữ", Lịch sử Đảng (8), tr. 28 - 30. 70. Nguyễn Hồng Phong (1963), Tìm hiểu tính cách dân tộc, Nxb Khoa học, Hà Nội. 71. Nguyễn Văn Phúc (2000), "Tình cảm đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức trong điều kiện hiện nay", Triết học (6), tr. 38 - 40. 72. Lê Văn Quán (1997), "Lễ giáo Nho gia phong kiến kìm hãm bước tiến lên của phụ nữ Việt Nam hiện nay", Văn hóa nghệ thuật (1) tr. 45 - 47. 73. Bùi Thị Kim Quỳ (1996), "Quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Khoa học về phụ nữ (2), tr. 6 - 7. 74. Lê Thị Quý (2000), "Phụ nữ, giới và ma túy ở Việt Nam", Khoa học về phụ nữ, (1), tr. 14 - 20. 75. Hoàng Thị Thành (2000), "Vai trò của phụ nữ đối với gia đình trong thế kỷ XXI", Lý luận chính trị, (3), tr. 15 - 20. 76. Song Thành (1982), "Về mối quan hệ giữa lợi ích và đạo đức", Triết học, (2), tr. 51 - 56. 77. Nguyễn Phương Thảo (1999), "Phụ nữ và hoạt động chính trị", Khoa học về phụ nữ, (3), tr. 6 - 12. 78. Lê Ngọc Thắng (1997), "Về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với phụ nữ", Tạp chí Cộng sản (20), tr. 38 - 41. 79. Lê Thi - Đỗ Thị Bình (chủ biên) (1997), Mười năm bước tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (1985-1995), Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 80. Lê Thi (2000), "Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI", Tạp chí Cộng sản (20), tr. 38 - 41. 81. Lê Thi (2001),"Bạo lực đối với phụ nữ là nguyên nhân hạn chế sự tiến bộ và phát triển", Khoa học về phụ nữ, (2), tr. 23 - 25. 82. Hoàng Bá Thịnh (1999), "Phát huy tiềm năng của phụ nữ trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn", Nghiên cứu lý luận, (8), tr. 16 - 19. 83. Nguyễn Tài Thư (1995), "Suy nghĩ về một hệ giá trị tinh thần trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay", Triết học, (1), tr. 6 - 8. 84. Nguyễn Tài Thư (Chủ biên) (1997), ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 85. Nguyễn Thu Thủy (1999), "Cơ hội và thách thức đối với phụ nữ trong thời kỳ đổi mới", Nghiên cứu lý luận, (3), tr. 18 - 22. 86. Trần Quốc Vượng (2000), Truyền thống phụ nữ Việt Nam, Nxb Văn hóa - Dân tộc, Hà Nội. 87. Văn kiện Đảng về công tác vận động phụ nữ (1930-1969) (1970), Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 88. Văn kiện Đại hội đại biểu phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII (1997), Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 89. Tú Xương, Thương vợ. phụ lục Phụ lục 1 Phẩm chất đạo đức nào người phụ nữ cần phát huy hiện nay? Phẩm chất đạo đức Số lượng người chọn Số lượng Tỷ lệ % Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội 2019 71,19 Lao động cần cù, đảm đang 1924 67,84 Thủy chung, yêu thương chồng con 1918 67,63 Nhân ái, trung hậu 1672 58,95 Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc 1052 37,09 Tiết kiệm, giản dị 947 33,39 Đoàn kết 895 30,28 Giúp đỡ người khác 797 28,10 Lo việc chung 781 27,53 Cởi mở, hòa nhã 519 18,30 Dũng cảm 316 12,72 Nguồn: Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc. Phụ lục 2 Tệ nạn mại dâm (1997 - 7/2001) (Đơn vị tính: Người) Hình thức Số liệu điều tra thống kê Số liệu đã cải tạo, giáo dục Thời điểm (năm) Chủ chứa Gái mại dâm Chủ chứa Gái mại dâm 1997 4 22 3 19 1998 8 43 7 40 1999 16 64 14 58 2000 21 58 17 46 7/2001 18 51 11 31 Nguồn: Số liệu từ Sở Lao động thương binh xã hội và Sở Công an tỉnh Vĩnh Phúc. Phụ lục 3 Tư tưởng đạo đức nào tác động xấu tới đạo đức người phụ nữ hiện nay? Tư tưởng đạo đức Số lượng người chọn Số lượng Tỷ lệ % Xúc phạm danh dự, nhân phẩm (trọng nam khinh nữ) 1873 66,04 Bạo lực gia đình 1724 60,78 Bóc lột sức lao động của người khác 1715 60,47 Nói một đằng làm một nẻo (đạo đức giả). 1648 58,11 Không trung thực 1371 48,34 Xa hoa, lãng phí 1264 44,56 Mại dâm 1007 35,50 Kém thông minh sáng tạo 1025 36,14 Mê tín dị đoan 856 30,18 Nghiện hút 814 28,70 Rượu chè, cờ bạc 318 11,21 Nguồn: Trường Chính trị tỉnh Vĩnh Phúc. Mục lục Trang Mở đầu 1 Chương 1: Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay 6 1.1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ 6 1.2. Nội dung, yêu cầu của việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay 17 Chương 2: Phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay. Thực trạng, phương hướng và giải pháp. (qua thực tế ở tỉnh Vĩnh Phúc) 37 2.1. Thực trạng và một số vấn đề nảy sinh trong việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống của người phụ nữ Vĩnh Phúc hiện nay 37 2.2. Một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay 58 Kết luận 79 danh mục Tài liệu tham khảo 81 Phụ lục 88

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay.pdf
Luận văn liên quan