Luận văn Văn hoá doanh nghiệp và vai trò Công đoàn trong việc xây dựng Văn hoá doanh nghiệp

Xây dựng VHDN, tức là xây dựng mối quan hệ bản chất giữa chủ doanh nghiệp đối với khách hàng, giữa chủ doanh nghiệp với mọi thành viên trong doanh nghiệp, giữa công nhân viên chức, lao động với nhau và đặc biệt là mối quan hệ lãnh đạo giữa Đảng, Công đoàn và Giám đốc doanh nghiệp. Nếu xây dựng tốt các mối quan hệ này chắc chắn rằng doanh nghiệp chỉ có thể ổn định, bền vững và phát triển đi lên. Bởi vì khi xây dựng tốt các mối quan hệ đó, thì trong doanh nghiệp không có tư tưởng lo lắng, hoài nghi, mất đoàn kết. Mà ngược lại, chỉ có tư tưởng thống nhất, tin tưởng, phấn khởi, toàn tâm toàn ý của công nhân viên chức lao động ra sức xây dựng doanh nghiệp.

pdf110 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 19/11/2013 | Lượt xem: 2428 | Lượt tải: 15download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Văn hoá doanh nghiệp và vai trò Công đoàn trong việc xây dựng Văn hoá doanh nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đổi cán bộ thì không ảnh hưởng đến tâm lý, tư tưởng, tình cảm của CNLĐ và quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. c. Đối với Công đoàn. Trong doanh nghiệp Công đoàn đóng vai trò rất quan trọng, tổ chức các phong trào thi đua lao động sản xuất, thể dục, thể thao, văn hoá, văn nghệ, tạo nên không khí vui tươi trong doanh nghiệp để CNLĐ phấn khởi, hăng hái sản xuất, đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển. Bên cạnh đó Chủ tịch Công đoàn còn tham gia cùng Giám đốc doanh nghiệp về quản lý doanh nghiệp sao cho thật có hiệu quả, đồng thời giáo dục cho CNLĐ hết lòng tận tuỵ với doanh nghiệp. Vì vậy người Chủ tịch Công đoàn doanh nghiệp phải thực sự có tài và phải được CNLĐ mến phục. Để thực sự trở thành người lãnh đạo tài năng, Chủ tịch Công đoàn không những có kiến thức sâu sắc về công việc mà mình đang quản lý, đồng thời phải là nhà tổ chức các hoạt động phong trào trong doanh nghiệp sao thật có hiệu quả. Chủ tịch Công đoàn phải là người luôn luôn gần gũi CNLĐ nhất, để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người lao động, phát hiện những điều hay, việc dỡ của CNLĐ, từ đó đề ra những biện pháp giáo dục, thuyết phục có hiệu quả. Đồng thời Chủ tịch Công đoàn phải hiểu rõ công việc của doanh nghiệp, mới có thể tham gia với Giám đốc điều chỉnh kế hoạch sản xuất, hay thay đổi dây chuyền sản xuất, áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, làm cho sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng cao, đáp ứng với nhu cầu thị trường, từ đó nâng cao mức lợi nhuận của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp ngày càng ổn định và phát triển. Như vậy bộ máy điều hành lãnh đạo của một doanh nghiệp bao gồm Đảng uỷ, Giám đốc và Công đoàn, được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải là bộ ba thống nhất về tư tưởng, quan điểm, đường lối chiến lược để phát triển doanh nghiệp. Xây dựng VHDN không chỉ có cấp uỷ Đảng, Giám đốc doanh nghiệp hay Chủ tịch Công đoàn. Thiếu một trong ba thành phần trên, ắt sẽ khó có thể xây dựng thành công VHDN. Nhưng có thể khẳng định rằng vai trò của Công đoàn trong việc xây dựng văn hoá rất quan trọng. Nếu, Bí thư Đảng uỷ đồng ý chủ trương, Giám đốc tạo điều kiện, nhưng Chủ tịch Công đoàn không hưởng ứng, không thực hiện, không triển khai vận động CNLĐ tham gia vào các phong trào như: Phong trào thi đua lao động sản xuất, phong trào thực hành tiết kiệm, phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào học tập nâng cao trình độ tay nghề …vv thì không thể xây dựng thành công VHDN được. Vì các phong trào trên đều là những thành tố để tạo nên VHDN. Ví dụ phong trào thực hành tiết kiệm nguyên vật liệu, tiết kiệm ngày giờ công của CNLĐ là thể hiện ý thức văn hoá. Yếu tố văn hoá đã tác động trực tiếp đến người CNLĐ, buộc họ phải suy nghĩ, biết quý thời gian lao động vàng ngọc, phải biết tiết kiệm nguyên vật liệu mới giảm được giá thành. Giá thành hạ, chất lượng sản phẩm tốt thì thị trường mới chấp nhận, doanh nghiệp mới bán được sản phẩm và doanh nghiệp mới phát triển được. Tất cả nhưng nội dung trên đều tập trung để xây dựng VHDN dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng uỷ, Giám đốc và Chủ tịch Công đoàn của doanh nghiệp. Với chức năng và công việc của mình được đảm trách, những người đứng đầu bộ máy của doanh nghiệp phát huy tối đa năng lực sở trường của mình, đoàn kết, nhất trí vì mục tiêu duy nhất là đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển. 3.2.2.2. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa Giám đốc doanh nghiệp và công nhân lao động Có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giữa giám đốc doanh nghiệp và người CNLĐ là mối quan hệ cơ bản, sống còn của doanh nghiệp. Bởi vì, nếu không có doanh nghiệp thì không có giám đốc và CNLĐ. Cho nên hai đối tượng lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp và CNLĐ luôn luôn tồn tại trong doanh nghiệp và có quan hệ mật thiết với nhau. Do vậy, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa giám đốc doanh nghiệp và CNLĐ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của VHDN. Trong doanh nghiệp, Giám đốc sẽ bố trí, sắp xếp cho CNLĐ làm việc theo khả năng được đào tạo theo ngành nghề mà họ được học, đồng thời dựa vào chính sách của Đảng, Nhà nước, Giám đốc doanh nghiệp quyết định vấn đề lên lương theo ngạch, bậc hàng năm, vấn đề tiền thưởng khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoặc chính sách nhà ở cho người lao động. Như vậy muốn làm được điều đó, Giám đốc doanh nghiệp phải sâu sát với công nhân, hiểu rõ hoàn cảnh gia đình cũng như công việc của người công nhân đang làm. Ngược lại, người công nhân lao động phải hoàn thành mọi nhiệm vụ theo yêu cầu của sản xuất mà giám đốc doanh nghiệp bố trí, sắp xếp. Mong muốn của Giám đốc là bố trí làm sao để người công nhân lao động phát huy hết năng lực sẳn có của mình, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị, chất lượng cao của doanh nghiệp. Nhiệm vụ của người công nhân lao động là trên cơ sở công việc cụ thể được giám đốc doanh nghiệp bố trí, phải tìm mọi cách, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, để làm ra sản phẩm có giá trị chất lượng cao cho doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của khách hàng. Như vậy, mong muốn của giám đốc doanh nghiệp và nhiệm vụ của người công nhân lao động trong doanh doanh nghiệp trùng hợp nhau là tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, có uy tín, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường và mang lợi nhuận ngày càng nhiều cho doanh nghiệp. Khi mục tiêu của doanh nghiệp đề ra đã hoàn thành, năng suất lao động càng cao, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, thì lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng lớn. Khi lợi nhuận của doanh nghiệp ngày càng lớn, thì đời sống vật chất và tinh thần của người công nhân lao động càng được nâng cao, thì mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ doanh nghiệp và người lao động càng được củng cố, làm cho sức mạnh của doanh nghiệp càng tăng lên. Khi đó, giám đốc doanh nghiệp sẽ đánh giá đúng năng lực, sự cống hiến của công nhân lao động để động viên, khen thưởng làm cho CNLĐ phấn chấn, hứng khởi, yên tâm sản xuất. Họ sẽ cống hiến hết mình cho doanh nghiệp, ra sức nghiên cứu, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật nhằm xây dựng doanh nghiệp ngày càng phát triển. Như vậy giải quyết tốt mối quan hệ giưã giám đốc doanh nghiệp và công nhân lao động, chắc rằng, doanh nghiệp không những ổn định mà ngày càng đi lên và cường thịnh 3.2.2.3. Xây dựng mối quan hệ giữa người lao động với nhau Trong doanh nghiệp, việc xây dựng mối quan hệ giữa những người CNLĐ với nhau, để tạo thành sức mạnh tập thể hướng đến đích cuối cùng, xây dựng doanh nghiệp ngày càng đi lên và phát triển là một nhiệm vụ quan trọng của VHDN. Những người CNLĐ trong cùng một doanh nghiệp, mặc dầu họ hoàn toàn khác nhau về độ tuổi, giới tính, xuất xứ, tính cách…nhưng họ có cái chung đều là thành viên của doanh nghiệp. Họ có chung một Ban lãnh đạo, điều hành và đều khoác lên mình một bộ đồng phục và tên chung của doanh nghiệp. Tuy mỗi người đứng một dây chuyền khác nhau, đảm trách một công việc khác nhau, nhưng sản phẩm của họ làm ra đều mang tên doanh nghiệp. Trong từng sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp đều có sự đóng góp mồ hôi, nước mắt, công sức của mỗi người. Các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao trong doanh nghiệp đều do người CNLĐ đoàn kết xây dựng nên. Bộ mặt của doanh nghiệp, môi trường làm việc, xanh - sạch - đẹp đều do công nhân tạo nên. Vì vây, xây dựng được mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa những người công nhân lao động với nhau là việc làm cần thiết cho mỗi doanh nghiệp. Bởi lẽ, khi CNLĐ họ đoàn kết, thì họ luôn bảo ban nhau cùng làm việc. Họ sẽ trao đỗi, bàn bạc với nhau làm việc sao cho có hiệu quả. Làm việc phải có kỷ luật, có kỹ thuật thì mới nâng cao năng suất lao động. Có năng suất lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm, thì uy tín của doanh nghiệp mới nâng cao và tất nhiên lợi nhuận của doanh nghiệp cũng được tăng lên. Hơn nữa, khi công nhân lao động đoàn kết với nhau vì mục tiêu xây dựng doanh nghiệp, thì họ sẽ động viên nhau tích cực tham gia các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, phong trào thi đua sản xuất, phong trào sáng kiến, sáng tạo, người công nhân sẽ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm làm cho sản phẩm doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh với thị trường, thương hiệu của doanh nghiệp được giữ vững, uy tín của doanh nghiệp được nâng lên. Trong doanh nghiệp sẽ lan toả một không khí vui tươi, phấn khởi, tin tưởng của CNLĐ vào tiền đồ tươi sáng của doanh nghiệp và sẽ tạo ra sức mạnh nội sinh làm cho doanh nghiệp ngày càng vững mạnh. Ngược lại nếu không xây dựng được mối quan hệ đoàn kết giữa những người CNLĐ với nhau, sẽ dẫn đén tình trạng tự do, mất dân chủ, kích bác lẫn nhau, hay để ý, xoi mói lẫn nhau, không chú tâm đến lao động sản xuất. Từ đó sẽ xuất hiện hiện tượng chán nản, đi muộn về sớm, năng suất lao động giảm, các phong trào trong doanh nghiệp sẽ bị chìm xuống. Doanh nghiệp sẽ mất khí chất, mất sức sống và dẫn đến sản phẩm không đảm bảo chất lượng cạnh tranh, thị trường tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, lợi nhuận giảm, doanh nghiệp mất uy tín, đời sống CNLĐ giảm sút, doanh nghiệp sẽ đi đến chổ phá sản. Để giữ được sự đoàn kết nhất trí, tâm huyết, cùng đồng cam, chịu khổ của những người CNLĐ với nhau, Công đoàn cần tăng cường công tác giáo dục về truyền thống của doanh nghiệp, về lòng tương thân, tương ái cho CNLĐ, về vai trò, trách nhiệm của các thành viên đối với doanh nghiệp. Có như vậy CNLĐ mới hiểu và cùng nhau đồng lòng, đồng sức để xây dựng doanh nghiệp ngày càng phát triển và ổn định. 3.2.2.4. Xây dựng phong trào thi đua, khen thưởng, động viên Công nhân, viên chức, lao động Xây dựng phong trào thi đua, khen thưởng, động viên công nhân, viên chức, lao động kịp thời là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng VHDN. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng phong trào thi đua yêu nước ở nước ta và Người đã khẳng định: “ Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Như vậy, theo Hồ Chí Minh thi đua nhất thiết phải mang lại lợi ích cho đất nước và ngược lại, làm những việc gì mang lại lợi ích cho dân tộc, cho đất nước đều là thi đua. Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, thi đua không phải là một khái niệm trừu tượng, khó hiểu mà có thể nhận biết được qua những công việc cụ thể. Cho nên thi đua là công việc hàng ngày của mọi người và được triển khai trong công tác của cơ quan, xí nghiệp, đơn vị. Thi đua yêu nước là hành động tự giác, mang tính tích cực, sáng tạo của mỗi người, mỗi tập thể nhằm hướng tới mục tiêu làm lợi cho nhân dân. Thi đua phải được coi là một công việc liên tục, thường xuyên. Bởi vậy, Hồ Chí Minh viết: "Người người thi đua. Ngành ngành thi đua. Ngày ngày thi đua”. Theo Hồ Chí Minh, người người thi đua, ngành ngành thi đua, nhà nhà thi đua thì cả một dân tộc nhờ sức mạnh đó mà tiến bộ mà phát triển. Song, hiện nay trong nền kinh tế thị trường, chúng ta cần phải hiểu rõ thi đua và cạnh tranh có sự khác nhau. Khi đề cập đến vấn đề thi đua, C. Mác và Ph Ăngghen cũng đề cập đến cạnh tranh. Các ông khẳng định: “ Thi đua không đồng nghĩa với cạnh tranh.” Những cơ sở để C. Mác đưa đến những khẳng định trên xuất phát từ bản chất của thi đua. Theo Ông trong những điều kiện xã hội khác nhau thì hình thức và bản chất của thi đua cũng khác nhau. Thi đua đòi hỏi phải được đánh giá công khai, công bằng, khách quan. Làm cho tính hợp lý và tính tích cực của cạnh tranh bổ sung cho thi đua để thi đua ngày càng tiến bộ, tích cực và có hiệu qua cao. Do vậy, không để cho cạnh tranh trong kinh tế thị trường lấn át, gạt bỏ thi đua xã hội chủ nghĩa. Thi đua xã hội chủ nghĩa là nơi diễn ra cuộc đua sức, đua tài trong phát triển, vừa là nơi học hỏi, tìm hiểu lẫn nhau, trên tinh thần hợp tác, đoàn kết. Chính vì vậy, thi đua xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường là sự tiếp nối, kế thừa, tiếp nhận mặt tích cực của cạnh tranh với mục đích làm cho thi đua đạt hiệu quả tốt đẹp hơn. Ngày nay trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thi đua có một vai trò rất quan trọng được thể hiện một số mặt sau đây: Một là: Thi đua là phương pháp tốt nhất để thu hút, lôi cuốn đông đảo CNVC- LĐ và các tầng lớp nhân dân dấy lên phong trào hành động cách mạng, sôi nỗi trong lao động, học tập công tác, nó trở thành động lực mạnh mẽ, thúc đẩy mọi người, mọi tập thể đem hết nhiệt tình trí tuệ, tài năng cống hiến cho sự nghiệp và xây dựng tổ quốc. Lênin đã chỉ rõ: “ Thi đua là cái đòn bẩy mà giai cấp công nhân nhờ vào đó để lay chuyển toàn bộ đời sống kinh tế và văn hoá trong cả nước, trên cơ sở chủ nghĩa xã hội”. Đối với nước ta, hiện nay đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằm thực hiện mục tiêu” Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để thực hiện được mục tiêu đó, chỉ có sự tham gia tự giác, tích cực của nhân dân, trong đó nồng cốt là CNVC- LĐ vào phong trào thi đua yêu nước. Hai là: Thi đua là trường học giáo dục, rèn luyện con người. Bởi vì, thi đua luôn luôn thôi thúc mọi người cố gắng phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Do đó, thúc đẩy mọi người không ngừng nâng cao năng lực, trình độ về mọi mặt, để ngày càng cống hiến nhiều hơn cho xã hội. Quá trình này làm cho con người ngày càng được hoàn thiện về mặt trí tuệ, tình cảm, nhân cách, đạo đức. Vì thi đua XHCN không chỉ thuần tuý ở nội dung kinh tế, thực hiện mục đích lợi ích kinh tế và các giá trị vật chất khác… Thi đua còn hướng con người đến các giá trị tinh thần, tình cảm, đạo đức tốt đẹp. Đồng thời thi đua chính là nhu cầu được biểu hiện khả năng được cống hiến, được khẳng định mình của mỗi con người trước xã hội. Ba là: Thi đua góp phần xây dựng và cũng cố sức mạnh đại đoàn kết, thân ái giúp đỡ lẫn nhau trong tập thể, cộng đồng. Do bản chất của thi đua XHCN là đồng tâm hiệp lực, là phổ biến sáng kiến hay, cách làm tốt. Qua thi đua mọi người tìm đến nhau học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với nhau, cùng nhau tháo gở khó khăn, tạo nên tình đồng cảm, tình đồng nghiệp và giúp nhau cùng tiến bộ. Để phong trào thi đua trong giai đoạn mới thiết thực và hiệu quả, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 35/CT-TW yêu cầu các cấp các ngành, các đoàn thể chính trị - xã hội, khi phát động phong trào thi đua, cần phải xây dựng kế hoạch và có biện pháp cụ thể, tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về chất trong công tác thi đua khen thưởng, dấy lên phong trào thi đua sôi nổi nhằm phát huy cao độ tính tích cực trong các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, tạo ra động lực tinh thần, vật chất mới hăng hái lao động sản xuất góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về công tác thi đua khen thưởng, trong những năm qua Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức sâu rộng phong trào thi đua yêu nước trong CNVC- LĐ và đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Tại Đại hội Thi đua yêu nước trong CNVC- LĐ toàn quốc ngày 28 tháng 7 năm 2005 do Tổng Liên đoàn tổ chức tại Hà Nội, báo cáo đã khẳng định: “Kết quả phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, viên chức, lao động đã được Đảng, Nhà nước đánh giá cao; xuất hiện nhiều tấm gương sáng, điển hình tiên tiến, xuất sắc. Đã có 61 tập thể và 34 cá nhân được tuyên dương anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới; 567 tập thể, cá nhân được nhận Huân chương lao động và Huân chương Độc lập các hạng; 1070 tập thể, các nhân được nhận Bằng khen của Chính phủ. Trong đó cán bộ Công đoàn chuyên trách và tập thể Công đoàn các cấp được khen thưởng: 119 Huân chương Độc lập và Huân chương Lao động các hạng; 311 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 48 cờ thi đua của Chính phủ. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tặng thưởng 2460 Cờ thi đua, 21564 Bằng khen cho các tập thể và cá nhân; tặng Bằng Lao động sáng tạo cho3250 lượt người”. Đặc biệt tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VII diễn ra tại Hà Nội từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 10 năm 2005, đã đón tiếp 1.270 đại biểu (trong đó 1160 Đại biểu chính thức và 1.100 đại biểu mời). Trong 5 năm qua Đảng và Nhà nước đã phong tặng 274 tập thể anh hùng (trong đó 174 tập thể anh anh hùng lao động và 100 tập thể anh hùng lực lượng vũ trang), 75 cá nhân anh hùng (trong đó có 61 anh hùng lao động 14 anh hùng lực lượng vũ trang), tuyên dương 689 chiến sĩ thi đua toàn quốc. Tóm lại, tổ chức phong trào thi đua yêu nước, động viên khen thưởng kịp thời cho CNVC- LĐ trong doanh nghiệp là một giải pháp hữu hiệu, mang lại sự phấn khích, hứng khởi cho mọi thành viên trong doanh nghiệp, từ đó họ sẽ đem hết sức mình, tài năng và trí tuệ, để đóng góp ngày càng nhiều cho doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp ngày càng đi lên và chính đó là sự thành công của việc xây dựng Văn hoá trong doanh nghiệp. Để kết thúc phần này chúng tôi xin trích nguyên văn lời phát biểu của Thủ tướng Phan Văn khải trong buổi bế mạc Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ VII: Những báo cáo của nhiều đơn vị, cá nhân điển hình, tiên tiến xuất sắc ở các ngành, các địa phương tại Đại hội đã chứng minh một cách sinh động những thành tựu quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, cũng cố an ninh quốc phòng của nước ta trong 5 năm qua, là kết quả huy động sức mạnh toàn dân cả vật chất, tinh thần và trí tuệ, sự nỗ lực của các ngành, các cấp trong đó có sự đóng góp của thi đua khen thưởng (Báo Lao động điện tử, ngày 6/10/2005, tr.1). 3.2.3. Giải pháp về nghiệp vụ 3.2.3.1. Nâng cao trình độ khoa học công nghệ của công nhân, viên chức, lao động Ngày nay trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đòi hỏi đội ngũ CNLĐ phải có tay nghề cao mới nắm bắt được khoa học công nghệ tiên tiến, áp dụng vào sản xuất, tạo ra những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao. Đặc biệt trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước như: Bưu chính viễn thông, Dầu khí, Điện lực, Hàng không…càng đòi hỏi đội ngũ công nhân kỷ thuất lành nghề. Thực tế hiện nay cho thấy, trình độ học vấn, tay nghề của CNVC- LĐ của chúng ta đang ở mặt bằng hạn chế, mặc dù so với trước đây đã được nâng lên đáng kể. Theo kết quả điều tra gần đây của Tổng Liên đoàn, tỷ lệ CNLĐ có trình độ tiểu học là 4,1%, trung học cơ sở là 27,4%, trung học phổ thông là 62%. Tỷ lệ công nhân chưa qua đào tạo là 25%. Trong các doanh nghiệp số lao động có trình độ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 35%. (Trong khi đó ở Hàn Quốc là 48%, Thái Lan là 58%, Nhật Bản là 64,4%), phổ biến là tình trạng thừa công nhân làm việc đơn giản bằng cơ bắp, song lại thiếu công nhân có tay nghề cao, chuyên môn giỏi. Về trình độ tay nghề thợ bậc 1 đến bậc 3 chiếm gần 30 %, trong khi đó thợ bậc cao (6-7) chỉ có 7,6% đó là chưa kể đến số làm việc chưa đúng ngành nghề không được đào tạo. Một tồn tại đáng kể nhất ở đội ngũ công nhân lao động nước ta là khả năng chuyên sâu thấp. Đây là hạn chế cần được sớm khắc phục, mới đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Có điều kiện đưa công nhân đi học tập, thực hành tay nghề ở các nước có nền khoa học công nghệ tiên tiến. Như vậy, cả về khách quan lẫn chủ quan việc nâng cao trình độ học vấn, tay nghề chuyên môn cho CNVC- LĐ là vấn đề cấp bách và cần thiết hiện nay. Đây không những trách nhiệm của bản thân giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn, mà còn là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội ở nước ta hiện nay. 3.2.3.2. Tổ chức luyện tay nghề, thi thợ giỏi cho công nhân, viên chức, lao động Việc tổ chức luyện tay nghề, thi thợ giỏi cho CNVC- LĐ đó là việc làm cần thiết và thường xuyên của Công đòan trong các doanh nghiệp. Chỉ có thể thông qua các Hội thi luyện tay nghề, thi thợ giỏi thì mới tạo được phong trào thi đua lao động sản xuất, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, áp dụng vào sản xuất và tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao. Hiện nay một thực tế cho thấy, CNLĐ chúng ta có bàn tay lao động rất khéo léo, lại chịu khó. Trong những Hội thi mang tầm cở khu vực nhiều công nhân trẻ đạt giải cao, như Hội thi tay nghề khu vực ASEAN năm 2003, đoàn Việt Nam đã giành được một số huy chương Vàng và Bạc. Nhưng để tổ chức thành phong trào luyện tay nghề, thi thợ giỏi một cách thường xuyên thì chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức. Bởi vậy, dẫn đến tình trạng nhiều công nhân lao động có tay nghề cao nhưng bậc thợ vẫn thấp, tạo nên tâm lý không hứng thú làm việc, thiếu sự gắn bó với doanh nghiệp. Trước tình hình này, tháng 4 năm 2005, Tổng Liên đoàn đã có Nghị quyết 4b về nâng cao trình độ học vấn và tay nghề cho CNLĐ, và Nghị Quyết Liên tịch giữa Tổng Liên đoàn và Bộ Giáo dục & Đào tạo về đào tạo tay nghề cho CNLĐ trong thời kỳ mới, vì vậy Công đoàn trong các doanh nghiệp sớm xây dựng kế hoạch, phối hợp cùng chính quyền tổ chức Hội thi luyện tay nghề, thi thợ giỏi, tạo nên phong trào thi đua sâu rộng trong doanh nghiệp để nâng cao tay nghề chuyên sâu cho CNLĐ, tạo ra những sản phẩm “ Vàng”, đáp ứng với nhu cầu của khách hàng ngày càng nhiều, cũng như đủ sức cạnh tranh với thị trường khu vực và quốc tế 3.2.3.3. Xây dựng phong cách người công nhân mới Sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hoá của nước ta đòi hỏi người công nhân phải có phong cách lao động mới, đáp ứng nhu cầu sản xuất hiện đại, văn minh, tiên tiến. Đa phần công nhân lao động xuất phát từ nông thôn. Sau khi học xong cấp III, một số đi vào các trường Đại học, Cao đẳng. Số còn lại đi vào các trường Kỹ thuật dạy nghề. Sau khi tốt nghiệp ra trường các em dự tuyển vào các doanh nghiệp để làm việc. Do đặc điểm của nền kinh tế nông nghiệp nước ta trên 80% là nông nghiệp, các em từ giã quê hương, bản quán đến với cuộc sống của các đô thị, nhưng trong tâm trí vẫn đọng lại sự tự do trong sinh hoạt, dẫn đến tình trạng thiếu ý thức chấp hành kỉ luật lao động. Do vậy, việc xây dựng, rèn luyện người công nhân mới trong các doanh nghiệp là việc làm vô cùng cần thiết. Việc giáo dục cho những người công nhân mới vào nghề, về kỉ luật lao động, bảo hộ lao động, vệ sinh an toàn, là việc làm thường xuyên của các doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp còn giáo dục cho CNLĐ về tác phong công nghiệp. Người công nhân phải có tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát, đi làm đúng giờ và làm đúng việc mà mình được giao phó. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải giáo dục cho công nhân biết phép ứng xử đối với lãnh đạo, cũng như những người công nhân lao động với nhau. Để nâng cao chất lượng đội ngũ CNVC- LĐ Thủ đô, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước và góp phần xây dựng văn hoá “ Người Hà Nội”. Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội đã triển khai thực hiện phong trào xây dựng “Nếp sống văn hoá công nghiệp” với các tiêu chí như sau: “Tiên tiến- Sáng tạo”. “Đoàn kết- Kỷ cương”. “Giữ gìn môi trường”. “Thanh lịch- Nhân ái” Nội dung của các tiêu chí trên được cụ thể hoá như sau: - Tiên tiến- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần và năng lực làm chủ, dám nghĩ dám làm, gương mẫu, đi đầu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, lao động có kỉ luật, có kĩ thuật, có năng suất, chất lượng, hiệu quả. - Sáng tạo- Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực trí tuệ vươn lên tiếp thu khoa học công nghệ mới. Phát huy sáng kiến cải tiến kĩ thuật và lề lối làm việc. - Đoàn kết- Thể hiện sự thống nhất cao trên cơ sở đấu tranh tự phê bình và phê bình của mỗi cá nhân. Trong tập thể vì lợi ích chung. Đoàn kết tạo nên sức mạnh dẫn đến thành công. - Kỷ cương- Thực hiện nghiêm hiến pháp pháp luật của Nhà nước, quy ước của cộng đồng, nội quy, quy chế của đơn vị, quy trình, quy phạm kĩ thuật trong lao động san xuất. - Giữ gìn môi trường- Bảo đảm cân bằng sinh thái, giữ gìn vệ sinh, xanh- sạnh- đẹp ở đơn vị, nơi cơ trú, nơi cộng đồng. Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong gia đình, tập thể, cộng đồng; Xây dựng lối sống đẹp, đấu tranh phong chống các tệ nan xã hội; Tích cực tham gia các hoạt động văn hoá- xã hội ở doanh nghiệp và địa phương. - Thanh lịch- Đặc trưng cho nét đẹp truyền thống của người Hà Nội. Sống trong sáng, giản dị, lịch sự, tinh tế, có trình độ thẩm mĩ. - Nhân ái- Yêu thương con người, vì con người, yêu thương gia đình, bạn bè, chia sẻ, giúp đỡ đồng nghiệp, cảm thông, trợ giúp những hoàn cảnh khó khăn trong xã hội. Từ nội dung của các tiêu chí trên, LĐLĐ thành phố Hà Nội đã xây dựng những nhiệm vụ cụ thể của người công nhân “Có nếp sống văn hoá công nghiệp” trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá như sau: 1. Lao động cần cù, sáng tạo với lương tâm nghề nghiệp, có kĩ thuật, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội. 2. Nâng cao ý thức tập thể, thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí. 3.Thường xuyên học tập để tiến bộ và trưởng thành. 4. Sống lành mạnh, trung thực, nhân nghĩa. Tôn trọng luât pháp của Nhà nước, qui ước của cộng đồng. Giữ gìn vệ sinh công cộng, nơi làm việc, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. 5. Lịch sự, tôn trọng, đoàn kết với mọi người. Thực hiện phong trào xây dựng “Nếp sống văn hoá công nghiệp” của Liên đoàn lao động Hà nội phát động, nhiều doanh nghiệp đã triển khai thực hiện có hiệu quả, điển hình là Công ty Chiếu sáng và thiết bị đô thị Hà Nội. Hàng tháng Ban lãnh đạo Công ty họp bình bầu thi đua cho người lao động trên cơ sở bình bầu thi đua của tổ. Bảng bình bầu thi đua luôn luôn được CNLĐ rất tôn trọng và và được bổ sung hàng năm trong các kỳ Đại hội của toàn thể doanh nghiệp. Nhờ bảng thi đua này mà CNVC - LĐ trong doanh nghiệp luôn tự rèn luyện mình, phấn đấu, mang lại hiệu quả cao trong lao động sản xuất kinh doanh. Công ty Chiếu sáng và thiết bị đô thị Hà Nội là một trong 40 đơn vị toàn quốc được báo cáo điển hình tại “Hội nghị Tổng kết 5 năm (200 - 2005) xây dựng đời sống văn hoá cơ sở trong công nhân, viên chức, lao động toàn quốc” ngày 14 tháng 9 năm 2005 do Tổng Liên đoàn - Bộ Văn hoá - Thông tin - Uỷ Ban thể dục thể thao Việt Nam tổ chức tại Hà Nội. Đồng thời là đơn vị được nhận cờ xuất sắc của Tổng Liên đoàn Lao dộng Việt Nam. - Tổ chức giao lưu văn hoá cho CNVC- LĐ trong và ngoài doanh nghiệp. Để tạo cho CNVC- LĐ có nhiều hứng khởi, vui vẽ, gắn bó với xí nghiệp, lãnh đạo doanh nghiệp nhất thiết phải tổ chức giao lưu văn hoá cho CNVC- LĐ trong và ngoài doanh nghiệp. Có thể trong một doanh nghiệp, do quy trình và quy mô sản xuất có hàng nghìn công nhân nên không thể biết hết nhau, và cũng không thể hiểu về công việc của nhau. Do đó hàng tháng hoặc hàng quý, hay nhân ngày truyền thống của đơn vị, lãnh đạo doanh nghiệp tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, tổ chức thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho công nhân gặp gỡ lẫn nhau, học hỏi kinh nghiệm, làm quen với nhau thì việc làm đó mang lại ý nghĩa rất lớn. Thông qua những hoạt động này, công nhân phấn khởi hơn, tâm trạng, tư tưởng thoải mái hơn, từ đó họ sẽ say mê công việc hơn và tất yếu họ sẽ gắn bó với doanh nghiệp hơn. Bên cạnh đó, việc tổ chức giao lưu văn hoá với bên ngoài doanh nghiệp cũng không kém phần quan trọng. Thông qua các buổi giao lưu văn nghệ, thể dục thể thao mà công nhân học hỏi ở nhau những kinh nghiệm về quản lý sản xuất sao cho có hiệu quả; tổ chức phong trào thi đua sao cho thường xuyên, lại được mọi người tham gia ủng hộ. Đồng thời mang lại cho CNLĐ một ý nghĩa sâu sắc hơn đó là ý thức trách nhiệm xã hội của người công nhân, giúp họ hiểu biết hơn về văn hoá ứng xữ, từ đó họ có thể điều chỉnh những hành vi của mình trong mối quan hệ đồng nghiệp ở đơn vị tốt hơn; góp phần vào việc xây dựng VHDN, đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển, ổn định. Kết luận Có thể khẳng định rằng, xây dựng VHDN là góp phần xứng đáng vào việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bởi vì, xây dựng VHDN phải biết kế thừa văn hoá truyền thống vừa phải biết tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại. Văn hóa doanh nghiệp cũng được khẳng định là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển doanh nghiệp, đồng thời là nhân tố căn bản, cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhưng hiện nay chúng ta chưa thống nhất được khái niệm VHDN là gì? Cấu trúc của nó như thế nào? Vai trò ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của doanh nghiệp to lớn bao nhiêu, chưa ai có thể đo đếm hoặc tính toán được. Vì vậy, việc triển khai áp dụng VHDN vào các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, nan giải. Mặc dầu đã có một số doanh nghiệp tự lực cánh sinh, mò mẫm, xây dựng một nét văn hoá riêng cho doanh nghiệp của mình như Công ty giày Thượng Đình có quy ước văn hoá là một ví dụ. Nhưng còn rất nhiều doanh nghiệp còn rất mơ hồ về VHDN. Có doanh nghiệp cho rằng, chỉ tổ chức các hoạt động bề nổi như: thi đấu thể dục, thể thao, giao lưu văn hoá, văn nghệ là được. Nhận thức như vậy thì đơn giản quá, không thể đưa doanh nghiệp phát triển đúng tầm, đúng hướng được. Bên cạnh đó, nhận thức của xã hội, của cộng đồng về xây dựng VHDN chưa sâu, chưa đúng. Phần lớn CNVC- LĐ khi hỏi về VHDN là gì, họ đều không trả lời được. Hiểu được VHDN chỉ có một số ít các nhà nghiên cứu văn hoá ở trong trường Đại học, Viện nghiên cứu. Việc tuyên truyền thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng chưa nhiều. Những tài liệu, sách vở viết về VHDN còn ít, vì vậy nhận thức chung của xã hội về vấn đề này còn hạn chế, dẫn đến những hạn chế trong việc xây dựng và phát triển VHDN trong bản thân của mỗi doanh nghiệp ở Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung. Hiện nay trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, chuẩn bị điều kiện và tư thế để hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp phải rèn luyện cho mình một bản lĩnh vững vàng, xây dựng cho mình một nét văn hoá riêng, chính đó là VHDN để mạnh dạn bước vào cơ chế thị trường đầy cam go và cạnh tranh khốc liệt. Chúng ta biết rằng, quá trình xây dựng VHDN là quá trình đầy thử thách của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp phải tự lực cánh sinh, lần mò, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Bởi vì đến giờ phút này, chưa có một văn bản chính thống nào của Đảng, Nhà nước quy định về những chuẩn mực để xây dựng VHDN. Có chăng thì rất hi hữu một vài bài phát biểu của các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu trong các cuộc Hội nghị, Hội thảo, tổng kết có liên quan đến VHDN. Chứ chưa có một văn bản đầy đủ tính pháp quy nào về VHDN để các doanh nghiệp thực hiện. Tại “Hội nghị Tổng kết 5 năm (2000- 2005) xây dựng đời sống Văn hoá cơ sở trong công nhân, viên chức, lao động toàn quốc” ngày 14 tháng 9 năm 2005, giữa Tổng Liên đoàn - Bộ Văn hoá - Thông tin - Uỷ ban Thể dục thể thao Việt Nam, tổ chức tại Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt - Xô, trong bài phát biểu tổng kết Hội nghị, đồng chí Đỗ Đức Ngọ Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn nhấn mạnh: “Hoạt động Công đoàn cần hướng về cơ sở, xây dựng đời sống văn hoá trong công nhân, viên chức, lao động trọng tâm là xây dựng văn hóa doanh nghiệp”. Tuy nhiên, đứng trước cơn lốc của sự cạnh tranh trên thị trường, bắt buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại, muốn phát triển thì phải mạnh dạn xây dựng VHDN. Bởi vì, có xây dựng được VHDN thì mới có thương hiệu. Xây dựng được thương hiệu mạnh, thì sản phẩm của doanh nghiệp mới được thị trường chấp nhận, uy tín của doanh nghiệp mới được nâng cao, thị trường, thị phần của doanh nghiệp mới ngày càng mở rộng. Chúng tôi tin rằng, với sự ưu thế của doanh nghiệp nhà nước không riêng gì ở địa bàn Hà Nội mà cả phạm vi cả nước, sẽ xây dựng cho mình một nét văn hoá đặc trưng của doanh nghiệp mình, một thương hiệu mạnh, phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm của doanh nghiệp mình, để vừa đứng vững trên thị trường, vừa đảm bảo được lợi ích doanh nghiệp, lợi ích đất nước, như lời Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã khẳng định: “Phải đề cao văn hoá kinh doanh, trước hết kinh doanh là tôn trọng chử “Tín”. Đối với doanh nghiệp và doanh nhân, lợi nhuận là động lực trực tiếp, song người kinh doanh có văn hoá luôn đặt lợi ích của mình trong sự kết hợp hài hoà với lợi ích của cộng đồng đất nước” [33, tr.2]. Trên cơ sở nghiên cứu và và khảo sát thực tế về thực trạng xây dựng VHDN và vai trò Công đoàn trong việc xây dựng VHDN ở thủ đô Hà Nội, Luận văn đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản sau đây: * Đưa ra khái niệm, cấu trúc của VHDN. * Vai trò của VHDN đối với sự phát triển của doanh nghiệp. * Một số kết quả bước đầu xây dựng VHDN trong doanh nghiệp nhà nước ở thủ đô Hà Nội. * Những khó khăn trong việc xây dựng VHDN ở thủ đô Hà Nội. * Vai trò của Công đoàn trong việc xây dựng VHDN. * Những giải pháp để xây dựng VHDN trong tình hình hiện nay. * Luận văn cũng nêu những đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Thành uỷ, UBND thành phố và LĐLĐ Hà Nội phải có những chính sách cụ thể, sát đúng với thực tiễn, để tạo đà cho doanh nghiệp phát triển. * Luận văn cũng đề xuất với Tổng Liên đoàn phải đưa VHDN trở thành một môn chính trong chương trình giảng dạy của trường Đại học Công đoàn Việt Nam. Vấn đề xây dựng VHDN là vấn đề rất quan trọng, nhưng cũng rất mới mẽ và khó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy bản Luận văn này chưa thể hoàn chỉnh được, chỉ đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực nghiên cứu VHDN. Nếu có điều kiện, Luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, tìm ra những giải pháp tốt hơn, để giúp doanh nghiệp phát huy hết sức mạnh nội sinh, xây dựng doanh nghiệpViệt Nam ngày càng phát triển, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời giới thiệu những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam đi khắp thế giới. Trong quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những sơ suất, xin chân thành cám ơn các thầy cô và bạn bè đã quan tâm, giúp đở chúng tôi hoàn thành bản Luận văn này. 2. Một số đề xuất, kiến nghị * Kiến nghị với Đảng Trong những năm gần đây, Đảng đã có những Nghị quyết, Chỉ thị nhằm phát triển kinh tế - xã hội đất nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá để nhanh chóng đưa nước ta thoát ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu. Một trong những Nghị quyết quan trọng đó là Nghị quyết TW III, khoá IX để sắp xếp lại các loại hình doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp nhà nước, để phù hợp với từng ngành nghề và phát huy tác dụng tối đa về mặt kinh tế của doanh nghiệp. Để giúp các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng phát huy có hiệu quả, Đảng phải có chính sách cụ thể như: chính sách khoa học công nghệ, chính sách lao động và đào tạo nguồn nhân lực, chính sách về môi trường để xây dựng và phát triển doanh nghiệp. Đảng phải chỉ thị cho các đảng viên của mình trong các doanh nghiệp phải thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng VHDN. Chỉ có làm tốt công việc xây dựng VHDN thì doanh nghiệp mới phát triển bền vững được. Không chỉ riêng doanh nghiệp nhà nước mà tất cả các loại hình doanh nghiệp, khi làm tốt việc xây dựng VHDN thì không những mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp, cho xã hội, mà xây dựng được một phong cách văn hoá, văn minh công nghiệp, phong cách đó sẽ làm cho doanh nghiệp đứng vững trên cơ chế thị trường. Đối với Thành uỷ Hà Nội, cần quan tâm hơn nữa, chỉ đạo sát sao hơn nữa đối với các đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn Thủ đô về phong trào xây dựng “Nếp sống văn hoá công nghiệp”, “ Xây dựng người Hà Nội Văn minh - Thanh lịch - Hiện đại”. Đây là những phong trào lớn, có ý nghĩa thiết thực, trong việc xây dựng đời sông văn hoá cơ sở. Song, Thành uỷ phải chỉ đạo có tổng kết, rút ra bài học kinh nghiệm và nhân điển hình, có như vậy phong trào mới đi vào chiều sâu, có sức lan toả mạnh trong đời sống nhân dân nói chung đối với công nhân viên chức, lao động nói riêng và mới xứng đáng với Thủ đô nghìn năm văn hiến. * Đối với Nhà nước Cần tạo chính sách thông thoáng để cho doanh nghiệp phát triển. Cần loại bỏ những trở ngại về pháp luật và chính sách với với việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào nước ta. Tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp nhập được những máy móc thiết bị hiện đại ứng dụng khoa học vào sản xuất, để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh sản phẩm. Một điều quan trọng là Nhà nước tạo điều kiện, mở rộng việc nghiên cứu gắn với các trường Đại học, các Viện nghiên cứu với doanh nghiệp. Có như vậy việc học và hành mới đi đôi với nhau, mới mang lại hiệu quả thiết thực. Phải miễn thuế nhập khẩu đối với các thiết bị công nghệ hiện đại, đồng thời mở rộng mạng lưới tư vấn dịch vụ khoa học đến với các doanh nghiệp. Đối với Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, cần có những chính sách cụ thể, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá. Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước, Hà Nội rất có điều kiện để đầu tư vào kinh tế trí thức. Vì, Hà Nội có gần 50 trường Đại học và Cao đẳng, nên sẽ rất thuận lợi cho việc chọn lựa những học sinh xuất sắc, sau khi ra trường bố trí vào các lĩnh vực kinh tế trọng điểm, các Viện nghiên cứu khoa học đặc biệt là khoa học ứng dụng. Đặc biệt phải mở rộng và nâng cao chất lượng các trường dạy nghề để đào tao đội ngũ công nhân lành nghề, bổ sung cho các nhà máy, các khu công nghiệp mới, đáp ứng với tốc độ phát triển của Thủ đô. Hà Nội cũng phải có chính sách cụ thể, thoả đáng để thu hút và sử dụng nhân tài. Vì, thủ đô Hà Nội cần phải có đội ngũ cán bộ khoa học tài năng, để góp tay xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp. Bên cạnh đó Hà Nội cần có chính sách bảo vệ môi trường. Khi các cấp trình dự án xây dựng tổng thể, trước tiên UBND Thành phố phải xem xét kỷ lưỡng về yêu cầu bảo vệ môi trường. Các cơ quan ở Hà Nội khi lập dự án quy hoạch, kế hoạch phát triển, phải đồng thời lập báo cáo đanh giá môi trường chiến lược, gửi cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền quyết định. Kết quả thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược là căn cứ để xem xét điều chỉnh, bổ sung và phê duyệt dự án, quy hoạch, kế hoạch phát triển. Quyết định phê duyệt, báo cáo đánh giá tác động môi trường là căn cứ để xem xét cấp phép đầu tư xây dựng thực hiện dự án. Nhiệm vụ này đặt ra trách nhiệm với các doanh nghiệp, khi đầu tư xây dựng dự án phải xem xét đến yếu tố môi trường. Có như vậy mới giảm được sự ô nhiễm môi trường và xây dựng Hà Nội thành phố - Hoà bình, Xanh- Sạch - Đẹp. * Kiến nghị với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Như ở chương 2 chúng tôi đã trình bày vai trò của Công đoàn rất quan trọng trong việc xây dựng VHDN. Bởi vậy, ở tầm vĩ mô Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam nên chỉ đạo, hướng dẫn cho các cấp Công đoàn thấy được việc xây dựng VHDN là nhiệm vụ thiết yếu của tổ chức Công đoàn; vì VHDN là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Do vậy, hướng hoạt động Công đoàn về cơ sở trọng tâm là xây dựng VHDN. Xây dựng VHDN, tức là xây dựng mối quan hệ bản chất giữa chủ doanh nghiệp đối với khách hàng, giữa chủ doanh nghiệp với mọi thành viên trong doanh nghiệp, giữa công nhân viên chức, lao động với nhau và đặc biệt là mối quan hệ lãnh đạo giữa Đảng, Công đoàn và Giám đốc doanh nghiệp. Nếu xây dựng tốt các mối quan hệ này chắc chắn rằng doanh nghiệp chỉ có thể ổn định, bền vững và phát triển đi lên. Bởi vì khi xây dựng tốt các mối quan hệ đó, thì trong doanh nghiệp không có tư tưởng lo lắng, hoài nghi, mất đoàn kết. Mà ngược lại, chỉ có tư tưởng thống nhất, tin tưởng, phấn khởi, toàn tâm toàn ý của công nhân viên chức lao động ra sức xây dựng doanh nghiệp. Tổng Liên đoàn cần chỉ đạo cho trường Đại học Công đoàn đưa môn VHDN vào giảng dạy trong chương trình đạo tạo các khoá học. Đối với Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội, trong những năm qua đã đi đầu trong cuộc vận động “ Xây dựng nếp sống văn hoá công nghiệp”, bước đầu đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Đã tổ chức được nhiều cuộc Hội thảo khoa học nhằm tận dụng trí tuệ của các nhà khoa học để xây dựng người Hà Nội “Văn minh- Thanh lịch-Hiện đại”. Song, không thể dừng lại ở đây mà phải làm cho phong trào xây dựng “ Nếp sống văn hoá công nghiệp” thấm sâu vào máu thịt của từng công nhân lao động. Phải giáo dục cho công nhân lao động đặc biệt là lớp công nhân trẻ hiểu về lịch sử văn hoá của Thủ đô, tự hào về truyền thống văn hoá của một Thủ đô anh hùng. Có hiểu được những điều đó, công nhân lao động mới tích cực tham gia, đóng góp vào các phong trào như: Phong trào thi đua sản xuất, phong trào cải tiến kỹ thuật, phong trào học tập nâng cao trình độ học vấn tay nghề, phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào xóa đói giảm nghèo… Thực hiện tốt những phong trào đó, nghĩa là CNVC-LĐ Thủ đô đã góp phần xây dựng Thủ đô ngày càng văn minh giàu đẹp, xứng đáng là Thủ đô anh hùng, nghìn năm văn hiến. Danh mục công trình của tác giả được công bố 1. Trương Thanh Cần (2002), Một số tư liệu cần thiết đối với cán bộ Tư tưởng - Văn hoá Công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội. 2. Trương Thanh Cần (2002), Những Bài giáo dục chính trị cơ bản trong công nhân, viên chức, lao động, Nxb Lao động, Hà Nội. 3. Trương Thanh Cần (2003), Kỷ niệm sâu sắc, Nxb Lao động, Hà Nội. 4. Trương Thanh Cần (2003), Đề cương tuyên truyền Đại hội IX Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 5. Trương Thanh Cần (2003), Tài liệu tuyên truyền nhanh kết quả Đại hội IX Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 6. Trương Thanh Cần (2004), Đề cương tuyên truyền 75 năm thành lập Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 7. Trương Thanh Cần (2004), Tài liệu tuyên truyền đường lối chính, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác Tôn giáo trong công nhân, viên chức, lao động, Nxb Lao động, Hà Nội. 8. Trương Thanh Cần (2005), "Vai trò Công đoàn trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp", Tạp chí Lao động & Công đoàn, (337), tr. 9-10. 9. Trương Thanh Cần (2005), "Công ty giày Thượng Đình, điểm sáng trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp của thủ đô Hà Nội", Tạp chí Lao động & Công đoàn, (339), tr.14. 10. Trương Thanh Cần (2003), Tham gia Đề tài cấp Bộ: Khảo sát thực trạng tâm trạng, tư tưởng và trình độ học vấn, tay nghề trong công nhân, viên chức, lao động. 11. Trương Thanh Cần (2005), Chủ nhiệm Đề tài cấp Bộ: Xây dựng văn hóa doanh nghiệp và vai trò Công đoàn trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp. 12. Trương Thanh Cần (2005), Tham gia Đề tài cấp Bộ: Thực trạng và giải pháp nâng cao trình độ nhận thức pháp luật trong công nhân, viên chức, lao động. Danh mục tài liệu tham khảo 1. A.A.Radughin (2004), Văn hóa học, Những bài giảng, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 2. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Văn hoá- thông tin, Hà Nội. 3. Ban Kinh tế Trung ương (2005), Báo cáo một số vấn đề về tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước. 4. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ Văn hoá thông tin, Viện quản trị doanh nghiệp (2001), Văn hoá và kinh doanh, Nxb Lao động, Hà Nội. 5. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2004), Kết luận Hội nghị lần thứ X Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, Hà Nội. 7. Báo cáo Chính trị Đại hội Liên đoàn lao động thành phố Hà Nội lần thứ XIII (2003), Nxb Lao động, Hà Nội. 8. Bộ Văn hoá - Thông tin (1994), Bảo vệ và phát huy di sản văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội. 9. Bộ Văn hoá - Thông tin (1995), Đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội. 10. Bộ Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá (1992), Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá, Nxb Văn hoá - Thông tin Hà Nội. 11. Bí quyết kinh doanh (2003), (Con đường dẫn đến thành công của doanh nhân và doanh nghiệp) Tạ Ngọc ái dịch, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội. 12. BUILDING W.EALTH (2003), Làm giàu trong nền kinh tế tri thức, Nxb Trẻ, Hà Nội. 13. Trương Đình Chiến (2002), "Những tư tưởng cơ bản về quản lý của peter Drucker và sự vần dụng trong kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và phát triển (68), tr. 42- 43. 14. Đoàn Văn Chúc (2004), Văn hoá học, Nxb Lao động, Hà Nội. 15. Đỗ Minh Cương - Phương Kỳ Sơn (1995), Vai trò con người trong quản lý doanh nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Đỗ Minh Cương (2001), Văn hoá kinh doanh và triết lý kinh doanh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Đỗ Minh Cương (2002), “Văn hoá kinh doanh Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, (1), tr. 30 - 40. 18. Lê Anh Cường - Nguyễn Thị Lệ Huyền (2004), Nghệ thuật và phương pháp lãnh đạo doanh nghiệp, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. 19. Trần quốc Dân (2003), Tinh thần doanh nghiệp - Giá trị định hướng của Văn hoá kinh doanh Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. Phương Dung (2003), "Bức tranh thương hiệu qua con mắt của doanh nhân”, Tạp chí Thương mại, (18), tr.18. 21. Đoàn Nhật Dũng (2001), “Xây dựng một thế hệ doanh nhân Việt Nam mới, vững bước tiến vào thế kỷ XXI", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, (11), tr.58. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Các Nghị quyết của Trung ương 2001- 2004, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Nguyễn Khoa Điềm (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Ngô Đình Giao (chủ biên) (1997), Môi trường kinh doanh và đạo đức kinh doanh, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 26. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 27. Giải pháp Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI (2002), Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Viện Công nhân & Công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội. 28. Hà Nội 50 năm thành tựu và những thách thức trên đường phát triển (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Đỗ Huy (1996), "Văn hoá kinh doanh ở nước ta, thực trạng và giải pháp", Tạp chí Triết học, (2) tr. 22 - 25. 31. JERO MEBALLET - FRANCOIEBRY(2005), Doanh nghiệp và đạo đức, Nxb Thế giới, Hà Nội. 32. JMES (2004), Thương hiệu mạnh và thành công, Nxb Thống kê, Hà Nội. 33. Phan Văn Khải (2003), “Doanh nghiệp là lực lượng xung kích trong sự nghiệp phát triển kinh tế, thực hiện dân giàu, nước mạnh", Báo Nhân dân, ngày 25/3/2003. 34. Khoa học chuyên đề “Xây dựng văn hóa doanh nghiệp” (2004), Trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản. 35. Tương Lai (2003) "Doanh nghiệp và doanh nhân", Tạp chí Phát triển kinh tế, (134). 36. Nguyễn Thường Lạng (2002), “Văn hoá doanh nghiệp”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, (55), tr. 24- 27. 37. Luật Công đoàn (1990), Nxb Lao động, Hà Nội. 38. Luật Doanh nghiệp (2004), Nxb Thống kê, Hà Nội. 39. MarLene CaroSelli (2004), Các kỷ năng lãnh đạo dành cho nhà quản trị, Nxb Thống kê, Hà Nội. 40. Phạm Xuân Nam (chủ biên) (1996), Văn hóa doanh nghiệp, Nxb Khoa học và xã hội, Hà Nội. 41. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 của thường vụ Thành uỷ Hà Nội (2003). 42. Nghị quyết 4b của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2005), Công đoàn với nhiệm vụ nâng cao trình độ học vấn và nghề nghiệp cho công nhân, viên chức, lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 43. Pháp lệnh thủ đô Hà Nội (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 44. Tôn Trung Phạm- An Miêu- Phùng Đồng Khánh - Trần Kỳ (2004), Lý luận Công đoàn trong thời kỳ chuyển sang kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, Nxb Lao động, Hà Nội. 45. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2003), Doanh nhân Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 46. Lê Minh Quốc (2004), Doanh nghiệp Việt Nam xưa và nay, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. 47. Dương Văn Sao- Chử Văn Thịnh (2005), Tổ chức và hoạt động của Công đoàn cơ sở trong tình hình mới, Nxb Lao động, Hà Nội 48. Nguyễn Xuân Thảo, Nguyễn Văn Tuyền (1999), Phát huy những nhân tỗ truyền thống của dân tộc trong kinh doanh dịch vụ ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 49. Công Thắng (2003), “Kinh doanh cần có triết lý”, Thời báo kinh tế sài Gòn, ngày 04/12/2003, tr. 27- 28. 50. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 51. Phan Minh Toàn Thư (2001), "ý tưởng sáng tạo trong kinh doanh", Thời báo kinh tế Sài Gòn, ngày 08/02/2001 52. Phạm Quốc Toản (2002), Đạo đức kinh doanh, Nxb Thống kê, Hà Nội. 53. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, (2001), Hệ thống các văn bản về công tác tổ chức và cán bộ Công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội. 54. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2002), Những quy định mới về kinh tế, lao động đối với doanh nghiệp nhà nước, Nxb Lao động, Hà Nội. 55. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2003), Văn kiện Đại hội IX Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội. 56. Tổng cục Thống kê (2003), Kinh tế xã hội Việt Nam 3 năm 2001- 2003, Nxb Thống kê, Hà Nội. 57. Trần Hoàng Trung (2001), Bí quyết thàng công của các nhà kinh doanh nỗi tiếng thế giới, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 58. Tấn Tuấn (2002), "16 nguyên tác kinh doanh của Phạm Lãi", Tạp chí Thương mại, (32), tr. 21. 59. Văn hoá và phát triển ở Việt Nam (2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội 60. Hoàng Vinh (2004), "Bàn về Văn hoá và Văn hoá kinh doanh", Thông tin Văn hoá và phát triển, Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (1), tr.23. 61. Hoàng Vinh (2004), Góp bàn về thuật ngữ văn hoá kinh doanh, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Giải pháp giải quyết một số vấn đề bức xúc vể kinh tế -xã hội - nhân văn ở Hà Nội”, Hà Nội. 62. Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá nước ta, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội. 63. Trần Quốc Vượng (2003), Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, Hà Nội. 64. "Xây dựng văn hóa doanh nghiệp" (2004), Thời báo kinh tế Việt Nam, Số ra ngày 10/01/2001. 65. XOMKHIT CHATUXIPHITHAT (2004), Chiến thuật tiếp thị, bài học từ Nhật Bản, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Văn hoá doanh nghiệp và vai trò Công đoàn trong việc xây dựng Văn hoá doanh nghiệp 2.pdf
Luận văn liên quan