Luận văn Việc làm cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh

Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước những năm qua đã tạo nên những thay đổi đáng kể đối với khu vực nông thôn cả nước nói chung và nông thôn ở Hà Tĩnh nói riêng. Người lao động ở nông thôn chính là chủ thể trực tiếp thực hiện quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Họ là những người tiếp thu và ứng dụng những tri thức, thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ vào phát triển sản xuất. Chính vì vậy, giải quyết việc làm, phát huy vai trò to lớn của lực lượng lao động ở nông thôn là vấn đề có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Điều đó không chỉ đòi hỏi sự quyết tâm, phấn đấu nỗ lực của người lao động mà còn cần đến sự giúp đỡ của Nhà nước, của mọi tầng lớp nhân dân và các tổ chức xã hội.

pdf111 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/01/2014 | Lượt xem: 2355 | Lượt tải: 26download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Việc làm cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h tế hộ gia đình sẽ tận dụng được các nguồn lực về đất đai, lao động dư thừa, huy động nguồn vốn nhà rỗi trong dân cư, kinh nghiệm quản lý và ngành nghề nông thôn. Trong những năm tới, khuyến khích kinh tế hộ gia đình phát triển ở Hà Tĩnh cần tập trung vào những hướng sau: - Tập trung khai thác những vùng đất mới ở các huyện miền núi Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang, thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc, thượng Thạch Hà, Kỳ Anh, hướng mạnh ra khơi và nuôi trồng thủy sản... Đẩy mạnh hình thức thanh niên xung phong đi xây dựng vùng kinh tế mới, xây dựng các làng thanh niên lập nghiệp nhằm tạo lập các hộ sản xuất trẻ trong tương lai. - Khuyến khích các hộ gia đình khai hoang phục hóa bằng các chính sách miễn giảm thuế, hỗ trợ con giống, cây trồng và kỹ thuật để các hộ nhanh chóng phát triển sản xuất nhất là các hộ kinh tế mới. - Tạo nguồn vốn, cho vay vốn để các hộ có điều kiện phát triển sản xuất. Trong đó, cần phân loại các loại hình hộ theo trình độ phát triển để có chủ trương, định hướng phát triển phù hợp. Đảm bảo đủ nguồn vốn cho các hộ nghèo, hộ khó khăn vay để phát triển sản xuất. Phấn đấu tăng tổng nguồn vốn cho hộ nghèo bình quân mỗi năm là 50.000 triệu đồng. Cùng với việc cho vay vốn phải hướng dẫn bà con cách làm ăn kinh doanh, chi tiêu tiết kiệm để không tái nghèo. - Tăng cường công tác đào tạo nghề, phổ cập kỹ thuật cấp tốc để các hộ tiến hành sản xuất có hiệu quả. Cần mở rộng tuyên truyền những mô hình kinh tế hộ gia đình làm ăn có hiệu quả, thu nhập cao phù hợp với điều kiện cảu từng vùng để nhân rộng mô hình. Ví dụ: mô hình: cá - lúa - vịt, lúa - lợn - vịt... ở đồng bằng; mô hình: cam - bò - gió trầm, cam- vải - gia cầm ở miền núi hay mô hình khai thác vật liệu xây dựng... đạt hiệu quả kinh tế cao để các hộ học tập, vận dụng vào sản xuất. - Tăng cường công tác dịch vụ sản xuất như: cung ứng vật tư, thuốc bảo vệ thực vật, thú y, thủy y, chuyển giao khoa học công nghệ và tiêu thụ sản phẩm cho hộ gia đình. - Tạo hành lang pháp lý cho kinh tế hộ gia đình phát triển. Những giải pháp trên sẽ tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình ở Hà Tĩnh phát triển, thu hút được mọi loại đối tượng lao động trong gia đình: phụ nữ, trẻ em, lao động lớn tuổi lao động có trình độ văn hóa và chuyên môn thấp, tạo việc làm tại chỗ cho người lao động ở nông thôn. 3.2.2.2. Phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã ở Hà Tĩnh hiện nay, các hợp tác xã là loại hình kinh tế có đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà, góp phần xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới. Hợp tác xã còn có vai trò và ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội, là cầu nối giữa hộ nông dân với chính quyền, tạo lập mối quan hệ cộng đồng, góp phần tăng cường tình làng nghĩa xóm, hỗ trợ nhau trong sản xuất và đời sống. Trong những năm tới, Hà Tĩnh xác định phát triển kinh tế hợp tác xã vẫn là hướng đi cơ bản để phát triển kinh tế, nhất là trong kinh tế nông nghiệp nông thôn, mang lại nhiều việc làm cho người lao động khu vực này. Chính vì vậy, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác xã theo các hướng sau: - Cải tiến công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp, phi nông nghiệp hiện có. Phát triển các hình thức đa dạng trong các lĩnh vực chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, chế biến sau thu hoạch, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, sinh vật cảnh... ở những nơi có nhu cầu và điều kiện. - Tập trung chỉ đạo để kiện toàn lại các hợp tác xã đã được chuyển đổi và xây dựng mới. Tổng kết những mô hình tốt đê rút ra bài học kinh nghiệm, đồng thời tập trung hỗ trợ, kiện toàn các hợp tác xã còn gặp khó khăn để tạo sự chuyển biến đồng đều. - Ngoài các chính sách ưu đãi các hợp tác xã nông nghiệp do Nhà nước quy định, tỉnh cần có chính sách hỗ trợ mọi mặt tạo điều kiện cho kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển, như: + Bố trí mặt bằng cho các hợp tác xã xây trụ sở, sân phơi, xây các cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, diêm nghiệp... được miễn tiền thuê đất để sản xuất kinh doanh kể từ khi hợp tác xã nông nghiệp chuyển đổi theo Luật Hợp tác xã hoặc mới thành lập đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh đến ngày 31 tháng 12 năm 2010. + Được vay vốn ở các Ngân hàng Thương mại hay các tổ chức Tín dụng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật với chính sách ưu đãi. + Được hỗ trợ 15 triệu đồng, trong đó ngân sách tỉnh cấp là 10 triệu đồng; ngân sách huyện, thị xã cấp là 05 triệu đồng, đối với những hợp tác xã mới thành lập hay mới chuyển đổi. + Các dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn cần tập trung ưu tiên đầu tư cho các hợp tác xã. + Đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã hàng năm về công tác quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, tìm hiểu các chính sách phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã; không để hợp tác xã lồng ghép với bộ máy chính quyền thôn, xã; tách chức năng quản lý kinh tế hợp tác xã ra khỏi chức năng quản lý nhà nước. Đồng thời có chính sách thu hút cán bộ quản lý, cán bộ khoa hoạc kỹ thuật về công tác lâu dài tại các hợp tác xã; động viên, khen thưởng thích đáng với những cán bộ quản lý hợp tác xã làm việc tốt. Tiến hành việc tham gia đóng Bảo hiểm xã hội đối với cán bộ quản lý hợp tác xã. - Xây dựng một số mô hình hợp tác xã nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp kiểu mới hay chuyển đổi theo quy định của Luật Hợp tác xã để rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng. Ưu tiên hợp tác xã triển khai thực hiện các mô hình thâm canh, trình diễn, chuyển đổi, chuyển giao và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật. 3.2.2.3. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là những doanh nghiệp thuộc những ngành đòi hỏi không nhiều vốn nhưng sử dụng nhiều lao động với trình độ công nghệ vừa phải và sử dụng nguyên liệu tại chỗ được coi là nhân tố chủ yếu để tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn. Đặc biệt hiện nay ở Hà Tĩnh đang triển khai các dự án lớn: Khu kinh tế Vũng áng, mỏ sắt Thạch Khê, khu Liên hiệp luyện thép... với một hệ thống chính sách ưu đãi đã tạo ra nền tảng và cơ hội phát triển tốt nhất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, giữ vai trò vệ tinh cung cấp nguyên, vật liệu, lao động, dịch vụ, thương mại cho các trung tâm kinh tế. Trong giai đoạn từ 2005 - 2010, Hà Tĩnh tập trung ưu tiên phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ về cả số lượng và chất lượng trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống khơi dậy tính sáng tạo và phát huy truyền thống của địa phương. Bên cạnh đó, chú trọng phát triển một số công ty đủ mạnh trên một số lĩnh vực như: công nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng, giao thông thủy lợi, thủy sản để vừa làm đối tượng liên kết, liên doanh trong và ngoài nước, tạo cơ sở thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cần tập trung phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Tĩnh theo những hướng sau: - Rà soát quy hoạch phát triển ngành nghề trên địa bàn tỉnh, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các quy hoạch cho phù hợp với thực tế và xu thế phát triển. Công bố quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu để người dân và doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư có thông tin đầy đủ và chính xác nhất. - Xây dựng, thành lập và ban hành các chính sách khuyến khích phát triển các quỹ dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng cho các doanh gnhiệp. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn tại các ngân hàng thương mại, tín dụng ưu đãi, tổ chức tín dụng quốc tế, các tổ chức thuê mua tài chính; hướng dẫn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp có khả năng lập được những dự án khả thi để thuyết phục các ngân hàng cho vay vốn, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp cùng góp vốn để hình thành các quỹ trợ giúp nhau. - Bồi dưỡng kiến thức, năng lực tổ chức quản lý và phát triển doanh nghiệp cho chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý và những người có nguyện vọng thành lập doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Chấn chỉnh bộ máy cơ quan đăng ký kinh doanh từ huyện, thị; xây dựng phương án củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực để thống nhất đăng ký kinh doanh tất cả các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn. Khuyến khích doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế phát triển nhanh, bền vững. - Tạo điều kiện về mặt bằng sản xuất, bảo vệ môi trường và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ nhu cầu sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp. - Phát triển thị trường, xúc tiến thương mại và đầu tư, phổ biến thông tin kỹ thuật, công nghệ tới các doanh nghiệp và nâng cao năng lực của các doanh nghiệp trong việc xác định, lựa chọn và thích ứng với công nghệ. - Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia liên kết ngành ở mọi cấp và hỗ trợ phát triển các hiệp hội doanh nghiệp để bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trong hội nhập và cạnh tranh. - Thực hiện trợ giúp có trọng điểm về tăng cường khả năng cạnh tranh của một số ngành hàng mà tỉnh có lợi thế so với địa phương khác. Đặc biệt ưu tiên khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, chế biến nông, lâm, hải sản, hàng xuất khẩu, các ngành nghề truyền thống, thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn. 3.2.3. Giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn qua chương trình xúc tiến việc làm quốc gia 3.2.3.1. Tạo việc làm cho người lao động ở vùng nông thôn Hà Tĩnh qua quỹ quốc gia giải quyết việc làm Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm ở Hà Tĩnh những năm qua đã phát huy vai trò tích cực trong việc thực hiện lồng ghép các chương tình kinh tế - xã hội của địa phương như: xóa đói giảm nghèo, chương trình tổ, nhóm giúp nhau làm kinh tế trong các hội, đoàn thể phụ nữ, thanh niên, Hội Nông dân, thực hiện các dự án phát triển các dự án cây, con, ngành nghề, tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến theo vùng, lãnh thổ. Trong những năm tới, để phát huy hơn nữa hiệu quả nguồn vốn này, nhằm giải quyết nhiều việc làm cho người lao động ở nông thôn, tỉnh Hà Tĩnh cần thực hiện tốt các giải pháp sau: - Tranh thủ tối đa các nguồn vốn hỗ trợ của ngân hàng cấp trên, đồng thời chủ động khai thác những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, lãi suất thấp tại các địa phương, các chương trình dự án tài trợ trong nước, quốc tế có chính sách ưu đãi, nguồn vốn ngân sách địa phương giành cho chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm để đảm bảo nguồn vốn vay. - Nâng cao vai trò, trách nhiệm, hiệu quả phối hợp giữa các ngân hàng chính sách xã hội các cấp với lãnh đạo chính quyền địa phương, ngành lao động thương binh xã hội, các tổ chức chính trị xã hội tham gia hợp đồng ủy thác, các đơn vị tham gia cho vay vốn, các trung tâm đào tạo, dịch vụ xuất khẩu lao động. Củng cố kiện toàn ban giải quyết việc làm các cấp; thường xuyên kiểm tra giám sát việc tổ chức thực hiện, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh sửa chữa những sai sót trong thực tiễn điều hành, đảm bảo sử dụng nguồn vốn cho vay có hiệu quả, đúng mục đích. Giữ gìn kỷ cương quản lý, đặt mọi hoạt động của chương trình cho vay dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của ban chỉ đạo chương trình, cấp ủy đảng và các cấp chính quyền. - Hoàn thiện cơ chế chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, tạo ra sự thông thoáng trong việc triển khai thực hiện ở các cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai hóa và thực hiện đúng vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong quan hệ với các chủ thể kinh tế, giúp các chủ thể này được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi của Nhà nước một cách bình đẳng và có hiệu quả. - Củng cố, nâng cao vai trò, trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các điểm giao dịch tại xã, tổ tiết kiệm cho vay vốn. Những tổ hoạt động yếu, tổ trưởng có ý thức trách nhiệm thấp hay có biểu hiện rượu chè cờ bạc... cần chấn chỉnh, thay đổi kịp thời. Những tổ trưởng năng lực yếu thực hiện nghiệp vụ chưa đầy đủ, chính xác, cần phối hợp tập huấn bồi dưỡng. - Phối hợp lồng ghép các chương trình, hướng dẫn cách làm ăn để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; thực hiện tốt công tác thông tin hai chiều, duy trì lịch trực báo cáo để kịp thời sơ kết đúc rút kinh nghiệm. - Làm tốt công tác thẩm định kế hoạch dự án, lựa chọn dự án có tính khả thi cho vay vốn ưu đãi; đảm bảo các hộ nghèo, khó khăn được vay vốn; đặc biệt ưu tiên cho vay vốn ưu đãi để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn hoạt động trên các lĩnh vưc thủ công nghiệp, khai thác vật liệu xây dựng, chế biến nông sản, dịch vụ, phát triển trang trại, chế biến thức ăn gia súc phục vụ các trang trại chăn nuôi tập trung, tạo nhiều việc làm cho người lao động khu vực này. 3.2.3.2. Giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn qua các trung tâm dịch vụ việc làm Người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh cũng như người lao động của các vùng quê khác trong cả nước còn gặp nhiều hạn chế, nhất là về thông tin, liên lạc và khả năng nhanh nhạy trong cơ chế thị trường. Vì vậy, vấn đề tự tìm việc làm, lựa chọn việc làm của họ còn nhiều khó khăn, rất cần đến hoạt động hướng dẫn, tư vấn về lao động và việc làm của các cơ quan đoàn thể, trong đó có vai trò to lớn của trung tâm dịch vụ việc làm. Trung tâm dịch vụ việc làm là nơi tư vấn cho người lao động về chính sách lao động và việc làm cho người lao động và người sử dụng lao động; đào tạo ngắn hạn và bổ túc nghề cho người lao động. Có thể nói các trung tâm dịch vụ việc làm là chiếc cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động. Tăng cường hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm, mở rộng các giao dịch việc làm là cơ hội để người lao động tìm được việc làm và đem cơ hội việc làm đến cho người lao động. Trong những năm qua, hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm ở Hà Tĩnh phát triển chưa đáp ứng đủ yêu cầu của giải quyết việc làm. Hoạt động của các trung tâm chưa trở thành một hệ thống, kinh phí của các trung tâm còn hạn hẹp, biên chế còn hạn chế. Chính vì vậy đã gây trở ngại lớn cho các hoạt động của trung tâm. Trong những năm tới, Hà Tĩnh cần đẩy mạnh phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm, tăng cường hoạt động dịch vụ, giới thiệu việc làm cho người lao động theo những hướng sau: - Nâng cao năng lực và hiện đại hóa các trung tâm dịch vụ việc làm, xây dựng cơ sở vật chất theo hướng hiện đại, ứng dụng Công nghệ thông tin vào hoạt động dịch vụ việc làm, nâng cấp trang thiết bị dạy nghề, bổ túc nghề cho người lao động đồng thời nâng cao năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác dịch vụ việc làm. - Quy hoạch mạng lưới dịch vụ việc làm phù hợp với cơ chế thị trường. Củng cố các trung tâm dạy nghề, dịch vụ việc làm đã có trên địa bàn tỉnh. Đồng thời xây dựng mới khuyến khích các tổ chức đoàn thể, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các doanh nghiệp tham gia họat động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ việc làm, xây dựng một số vệ tinh, văn phòng đại diện ở các huyện, thị, các tụ điểm dân cư phối hợp với các trung tâm dịch vụ việc làm từ huyện đến cơ sở. - Đa dạng hóa các hình thức hoạt động của các trung tâm dịch vụ viêc làm như tổ chức giao lưu gặp gỡ giữa người lao động và người sử dụng lao đọng, các cơ sở dạy nghề, xây dựng trang thông tin về thị trường lao động, tự quảng bá năng lực hoạt động của trung tâm qua các hội thảo, nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, mở rộng đội ngũ cộng tác viên, mở rộng các hình thức dịch vụ việc làm. - Thực hiện quản lý nhà nước đối với hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm. Một mặt giám sát sự hoạt động của các trung tâm theo luật định, mặt khác bổ sung các quy định mới về thành lập và hoạt động của các chi nhánh, quy định hoạt động tài chính... đồng thời tăng thêm nguồn kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ nhân viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng đối với các Trung tâm dịch vụ việc làm, kiên quyết xử lý kịp thời các hành vi lừa đảo trong môi giới dịch vụ việc làm. - Thúc đẩy tổ chức hội chợ việc làm lần thứ nhất ở Hà Tĩnh, phát triển thị trường lao động theo hướng tăng cường các giao dịch trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động, nối cung - cầu lao động trong tỉnh và trong cả nước, giải quyết việc làm nhanh chóng cho người lao động. - Tuyên truyền giáo dục và nâng cao nhận thức cho người lao động để người lao động hiểu và coi các trung tâm dịch vụ việc làm là nơi đáng tin cậy của họ trong lựa chọn việc làm, học nghề. Cung cấp các dịch vụ việc làm miễn phí đối với người thất nghiệp, người thiếu việc làm đã đăng ký việc làm, hỗ trợ trực tiếp để giải quyết việc làm cho các đối tượng "yếu thế" trong thị trường lao động. 3.2.3.3. Tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn qua xuất khẩu lao động Công tác xuất khẩu lao động được xác định là công tác mũi nhọn trong giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trong những năm tới, để thực hiện mục tiêu từng bước tăng quy mô xuất khẩu lao động, Hà Tĩnh cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau: - Cần phải tuyên truyền sâu rộng Chỉ thị của Bộ Chính trị, Nghị định Chính phủ và các văn bản hướng dẫn về xuất khẩu lao động trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong các tổ chức đoàn thể; thông báo công khai, cụ thể về thị trường lao động, số lượng, thời gian, tiêu chuẩn tuyển chọn, điều kiện lao động, pháp luật về lao động của nước có nhu cầu tuyển lao động cũng như các chi phí đóng nộp, mức lương và quyền lợi được hưởng để người lao động tìm hiểu và có kế hoạch lựa chọn tham gia xuất khẩu lao động. - Các ngành, các cấp trong tỉnh như Sở Lao động Thương binh và xã hội, Công an tỉnh, ngành Y tế và các ngành liên quan cũng như các cấp chính quyền địa phương phải phối hợp hoạt động đề xuất giải pháp thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động trên địa bàn. - Mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, một mặt khai thác các thị trường truyền thống như: Malaixia, Đài Loan...đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động sang các thị trường có thu nhập cao và có nhu cầu lớn về lao động như đưa người lao động đi làm nghề nông ở Mỹ hay xuất khẩu lao động sang Châu Âu, Trung Đông... các thị trường vốn ổn định và đưa lại thu nhập cao cho người lao động. - Đầu tư thêm cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề trọng điểm, trường Kỹ nghệ Hà Tĩnh, phát triển trung tâm có đủ điều kiện đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao nhập cao. Mặt khác phải xây dựng và hoàn thiện chương trình đào tạo nghề cho người lao động phù hợp với nguồn lao động ở địa phương để nhanh chóng đào tạo lự lượng lao động có trình độ văn hóa cao, tay nghề vững chắc, ý thức tổ chức kỷ luật tốt đáp ứng yêu cấu ngày càng cao của phía sử dụng lao động. - Cần lập quỹ xuất khẩu lao động để có nguồn hỗ trợ kinh phí đào tạo cho người nghèo, nhất là người lao động thuộc diện chính sách để họ có đủ điều kiện đi xuất khẩu lao động. Theo đề nghị của Sở Lao động Thương binh và xã hội cần hỗ trợ kinh phí đào tạo cho bình quân một lao động đi xuất khẩu lao động từ 300 đến 500.000 đồng, đảm bảo cho 100% lao động hộ nghèo đi xuất khẩu lao động nước ngoài được vay vốn tín dụng ưu đãi và đề nghị Ngân hàng Thương mại bỏ quy định thế chấp 10% vốn vay cho người lao động. - Coi trọng công tác đào tạo nguồn và giới thiệu người lao động có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành tốt các quy định của pháp luật để tham dự đi làm việc ở nước ngoài. Công tác tạo nguồn và giới thiệu người đi lao động ở nước ngoài phải gắn với chiến lược mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, phù hợp với quan hệ cung - cầu và quá trình hội nhập quốc tế của thị trường xuất khẩu lao động. - Để công tác xuất khẩu lao động thực sự là tiền đề cho sự phát triển bền vững sau này của địa phương thì bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động cần xây dựng chương trình hậu xuất khẩu lao động để một mặt tận dụng nguồn vốn, tay nghề của người lao động ở nước ngoài về, mặt khác tạo sự ổn định kinh tế xã hội cho địa phương có xuất khẩu lao động. Chương trình hậu xuất khẩu lao động cần phát triển theo hướng khuyến khích người đi xuất khẩu lao động trở về đầu tư kinh doanh những ngành nghề thiết thực, khai thác được tiềm năng lợi thế của địa phương. Ví dụ: ở Cương Gián có thể mở rộng hơn nữa diện tích nuôi trổng thủy sản, phát triển nghề nước mắm là nghề truyền thống của xã, hay nghề mộc, nghề khai thác đá... vừa đưa lại sự phát triển về kinh tế cho địa phương, vừa tạo việc làm cho lao động trong vùng và những vùng lân cận. Để làm được điều đó, chính quyền địa phương cần tạo điều kiện về mặt bằng thuận lợi, tạo môi trường đầu tư và hành lang pháp lý cho người đi xuất khẩu lao động trở về phát triển sản xuất, kinh doanh, làm giàu chính đáng và đóng góp cho quê hương. Đối với những người lao động đã được đào tạo nghề như sản xuất điện tử, cơ khí hay thực phẩm v.v... sau khi đi xuất khẩu lao động trở về có thể được đào tạo lại và được nhận vào làm việc ở các doanh nghiệp ở địa phương để phát huy tay nghề và kinh nghiệm vì họ đã được đào tạo và trực tiếp lao động trong môi trường xã hội công nghệp của nước bạn. Đây sẽ là nguồn nhân lực phục vụ tốt cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương. 3.2.4. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người lao động 3.2.4.1. Chấn chỉnh, kiện toàn hệ thống cơ sở dạy nghề ở Hà Tĩnh Trong những năm gần đây, công tác dạy nghề ở Hà Tĩnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Xã hội và nhân dân đã coi đào tạo nghề là nguồn động lực thay đổi và phát triển kinh tế gia đình, xã hội. Trong những năm tới Hà Tĩnh xác định đào tạo nghề vẫn là nhiệm vụ quan trọng trong sự phát triển nguồn nhân lực, chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh theo hướng tiến bộ, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho thời ký đẩy mạnh CNH, HĐH ở Hà Tĩnh. Phấn đấu từ nay đến 2010, đưa số lao động qua đào tạo nghề ở Hà Tĩnh tăng bình quân hằng năm từ 2000 đến 2.500 người, nâng tỷ lệ lao động qua dào tạo nghề đạt 30%. Để thực hiện mục tiêu đó, tỉnh Hà Tĩnh phải tiến hành đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau đây: - Tiếp tục củng cố, sắp xếp hệ thống các cơ sở dạy nghề trên toàn tỉnh theo hướng hiện đại, vững chắc, chất lượng, có định hướng. Cụ thể là: + Bổ sung nguồn lực nâng cấp Trường Công nhân kỹ thuật Việt Đức lên Trường Cao đẳng nghề; Trung tâm dạy nghề Hà Tĩnh thành Trường Trung cấp dạy nghề; các trung tâm dạy nghề tại các huyện: Cẩm Xuyên, Can Lộc, Hương Sơn thành các trung tâm dạy nghề trọng điểm. + Cho phép UBND các huyện, thị xã lập dự án đầu tư xây dựng các Trung tâm dạy nghề cấp huyện. Ưu tiên và khuyến khích các tổ chức, cá nhân thành lập cơ sở dạy nghề ở miền núi, vùng kinh tế khó khăn. + Khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở dạy nghề. + Huy động mọi nguồn lực để nâng cấp xây dựng cơ bản, đổi mới trang thiết bị đồ dùng, phương tiện dạy học cho các cơ sở; khuyến khích và động viên đội ngũ giáo viên tự làm thiết bị dạy nghề; phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất để sử dụng trang, thiết bị công nghệ kỹ thuật dạy và thực tập nghề; đưa dần công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa vào trợ giúp giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh. - Tập trung bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng sư phạm, cập nhật kiến thức kỹ thuật công nghệ mới cho đội ngũ giáo viên dạy nghề; có cơ chế, chính sách thu hút người có học vị cao, có kinh nghiệm, các nghệ nhân, thợ giỏi về làm giáo viên ở các cơ sở dạy nghề; tổ chức thường xuyên phong trào luyện tay nghề, thi thợ giỏi, giáo viên giỏi; có chính sách động viên, khen thưởng thỏa đáng và tôn vinh giá trị xã hội cho những người đạt tiêu chuẩn thợ giỏi, giáo viên giỏi. - Tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo nghề. Để công tác đào tạo nghề ở Hà Tĩnh từng bước khắc phục khó khăn, tiếp tục phát triển đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong thời kỳ mới, ngành Lao động Thương binh và xã hội tỉnh phối hợp với các cơ quan chức năng hướng dẫn, chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra thực hiện công tác đào tạo nghề, nắm chắc tình hình họat động, theo dõi việc thực hiện chính sách, chế độ, điều lệ, quy chế hoạt động, nội dung chương trình và chất lượng đào tạo của các cơ sở dạy nghề. Tăng cường hỗ trợ ngân sách cho công tác dạy nghề; ban hành các chính sách huy động vốn và tín dụng, chính sách đất đai và thuế tạo mối quan hệ bình đẳng giữa các cơ sở dạy nghề công lập và ngoài công lập, hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho người lao động có cơ hội học nghề và tìm kiếm việc làm. Sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động dạy nghề phải đem lại quyền chủ động nâng cao trách nhiệm của địa phương và các cơ sở dạy nghề. 3.2.4.2. Thực hiện xã hội hóa dạy nghề ở Hà Tĩnh Xã hội hóa dạy nghề là xu thế khách quan trong phát triển kinh tế - xã hội ở Hà Tĩnh nhằm đưa lại nguồn lao động có chất lượng cao phục vụ xuất khẩu lao động và sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh. Trong những năm qua, tốc độ xã hội hóa dạy nghề ở Hà Tĩnh còn chậm so với tiềm năng, mức độ xã hội hóa dạy nghề không đồng đều giữa các vùng, các cơ sở dạy nghề ngoài công lập còn ít, các cơ sở dạy nghề công lập vẫn áp dụng cơ chế quản lý như cơ quan hành chính nên không phát huy được tính năng động, tự chủ trong công tác dạy nghề; nhận thức của một bộ phận xã hội về xã hội hóa dạy nghề chưa đầy đủ, xem xã hội hóa chỉ là biện pháp huy động sự đóng góp của nhân dân trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, chưa coi dạy nghề là lĩnh vực ưu tiên trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực mà chỉ coi đó là một phúc lợi do Nhà nước đầu tư nên trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Trong những năm tới, Hà Tĩnh cần phải phát huy mọi tiềm năng trí tuệ và vật chất, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp dạy nghề; khuyến khích tối đa sự tham gia của người dân và của xã hội vào phát triển lĩnh vực này. Đồng thời, tạo mọi điều kiện để người dân có cơ hội học tập nghề suốt đời, được hưởng thụ mọi thành quả dạy nghề ở mức độ ngày càng cao, nhất là các đối tượng chính sách, người nghèo, con em đồng bào dân tộc thiểu số và bộ đội xuất ngũ. Xã hội hóa dạy nghề phải có bước đi thích hợp với từng vùng, từng lĩnh vực bảo đảm tính hệ thống trong đào tạo nguồn nhân lực và phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế thế giới. Để thực hiện mục tiêu đó, Hà Tĩnh cần thực hiện tốt các giải pháp cơ bản sau: - Tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức về xã hội hóa dạy nghề trong toàn tỉnh. - Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý khuyến khích phát triển xã hội hóa dạy nghề. Một mặt, các cơ quan chức năng của tỉnh phải sớm hoàn thiện các quy định mô hình, các quy chế họat động của các cơ sở dạy nghề ngoài công lập, các thủ tục hành chính cần thiết trong việc thành lập các cơ sở dạy nghề ngoìa công lập và các chuẩn đánh giá chất lượng, cấp bằng, chứng chỉ dạy nghề. Mặt khác, phải chuyển cơ chế hoạt động của các cơ sở dạy nghề công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp hành chính sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích, không bao cấp tràn lan, có đầy đủ quyền tự chủ quản lý, thực hiện đúng nhiệm vụ, hạch toán đầy đủ chi phí, cân đối thu chi. - Từng bước thực hiện chính sách đấu thầu chỉ tiêu đào tạo do Nhà nước đặt hàng, khuyến khích các doanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề thuộc mọi thành phần kinh tế nếu có đủ điều kiện, được bình đẳng tham gia đấu thầu. - Mở rộng quy mô đào tạo nghề trên cơ sở đa dạng hóa hình thức đào tạo, bao gồm đào tạo dài hạn, ngắn hạn, kèm cặp, truyền nghề, đào tạo lại, đào tạo bổ sung, đào tạo tại chỗ, đào tạo lưu động, đào tạo từ xa... đáp ứng nhu cầu học nghề cho mọi đối tượng, mọi nơi, trong mọi điều kiện. - Đa dạng hóa ngành nghề đào tạo gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi địa phương và nhu cầu xuất khẩu lao động. ở Hà Tĩnh hiện nay, bên cạnh việc đào tạo nghề cho ngành nông nghiệp phát triển nông thôn cần đẩy mạnh đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao cho ngành công nghiệp - xây dựng, trước mắt ưu tiên phát triển đào tạo những ngành phục vụ xây dựng kết cấu hạ tầng cho quá trình đô thị hóa của tỉnh. 3.2.4.3. Đẩy mạnh công tác dạy nghề cho người lao động ở nông thôn Phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề, thực hiện xã hội hóa dạy nghề là điều kiện thuận lợi to lớn, là cơ sở để cho công tác dạy nghề cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh phát triển. Đặc biệt, ngày 18/4/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động ở nông thôn, đã tạo ra những tiền đề quan trọng để Hà Tĩnh tiến hành đẩy mạnh công tác này. ở Hà Tĩnh hiện nay nhu cầu đào tạo nghề của lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn là rất lớn. 85,62% lực lượng lao động nông nghiệp nông thôn chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang đặt ra một nhiệm vụ to lớn. nặng nề cho công tác này. Đặc biệt những hộ nông dân bị thu hồi đất, các đối tượng chính sách, lao động thuộc các dân tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn, lao động nữ chưa có việc làm... tất cả những đối tượng trên đang rất cần việc làm. Thực tế đó đòi hỏi phải đẩy mạnh đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh. Công tác dạy nghề cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh cần phải đáp ứng các yêu cầu của chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh, phù hợp với tình hình sinh thái và ngành nghề của địa phương, gắn với nhu cầu của thị trường, kết hợp với hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư để xây dựng chương trình dào tạo thiết thực cho hoạt động lao động sản xuất của bà con nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao dân trí ở nông thôn. Để đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn, Hà Tĩnh cần thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau: - Có chiến lược quy hoạch tổng thể các đối tượng và các ngành nghề đào tạo phù hợp với từng vùng, trong từng thời kỳ để công tác đào tạo được tiến hành một cách có hệ thống. - Mở rộng và nâng cấp các Trung tâm đào tạo nghề tại các huyện để tăng quy mô đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi về đi lại, ăn ở cho các học viên ở nông thôn tham gia học nghề. - Đổi mới nội dung chương trình đào tạo cho lao động nông thôn, trong đó đặc biệt quan trọng là xác định nghề để dạy. Xác định ngành nghề đào tạo phải căn cứ năng lực đào tạo của các cơ sở dạy nghề, nhu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm và sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Trong thời gian tới Hà Tĩnh cần tập trung đào tạo các ngành nghề: Kỹ thuật sắt, kỹ thuật điện, luyện kim, kỹ thuật điện tử, vận hành xe máy thi công, khai thác mỏ, xây dựng và công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho các khu kinh tế, khu công nghiệp đang hình thành của tỉnh. Mặt khác, tỉnh phải mở rộng đào tạo đại trà và thường xuyên các ngành nghề chế biến thủy sản, rau quả, thực phẩm, nông, lâm nghiệp, nuôi trông thủy sản, thú y, chăn nuôi phục vụ cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn; đào tạo các ngành nghề phi nông nghiệp, các làng nghề, các ngành dịch vụ, đáp ứng nhu cầu làm việc lúc nông nhàn... - Cần chú trọng cả đào tạo dài hạn và đào tạo ngắn hạn cho người lao động ở nông thôn. + Đối với ngành nghề dài hạn: Phải trang bị cho học viên kiến thức và kỹ năng nghề diện rộng hoặc chuyên sâu, có khả năng đảm nhận những công việc phức tạp, học viên có thể thích nghi với cơ chế thị trường, có thể chuyển đổi nghề trong nhóm có liên quan và có năng lực vươn lên để đạt trình độ cao hơn. Theo hướng này, Hà Tĩnh cần phát huy vai trò của hệ thống các trường dạy nghề: Trường Dạy nghề kỹ thuật Việt Đức; Trường Cơ điện luyện kim -Phân hiệu Hà Tĩnh; Trường Kỹ nghệ Hà Tĩnh, Trường Trung học kỹ thuật Nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh. + Đối với trường dạy nghề ngắn hạn: Cần trang bị cho học viên một số kiến thức cơ bản và kỹ năng nghề nhất định về trồng trọt, lâm sinh, thú y, chăn nuôi, bảo vệ thực vật, sử dụng công cụ máy nông, lâm nghiệp...những kiến thức về quản lý kinh doanh nông nghiệp, để học viên xây dựng kế hoạch tổ chức sản xuất hiệu quả, phát triển kinh tế hộ gia đình. Cần mở rộng và đa dạng hóa loại hình đào tạo này để tạo được cơ hội cho người lao động ở nông thôn tham gia học tập. Ưu tiên đào tạo các hộ nghèo, các hộ phải chuyển đổi mục đích sử dụng đát, các hộ vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn, dạy nghề miễn phí cho người tàn tật, có kế hoạch hỗ trợ kịp thời cho những đối tượng này theo tinh thần Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Trong thời gian trước mắt, Hà Tĩnh cần đẩy mạnh đào tạo nghề cho người lao động theo hướng phục vụ chuyển giao kỹ thuật và sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp: Trồng lúa cao sản, sản xuất ngô đông, chăn nuôi lợn nái ngoại, lợn siêu nạc, bò lai sin, bò lấy thịt, nuôi trồng thủy sản chất lượng cao.... trang bị kỹ thuật công nghệ hướng vào sản xuất hàng hóa có giá trị lớn trong nông nghiệp. - Đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề cho người lao động ở nông thôn. ở Hà Tĩnh, do đặc điểm địa phương có nhiều vùng tiểu sinh thái, ngành nghề sản xuất đa dạng chính vì vậy cần phải có nhiều hình thức đào tạo nghề cho người lao động ở vùng nông thôn, như: đào tạo nghề tạo chỗ gắn liền với tổ chức lại sản xuất kinh doanh và giới thiệu việc làm tại chỗ cho hội viên nông dân. Hình thức này có thể áp dụng cho các hợp tác xã nông nghiệp nông thôn, các làng nghề. Đối với các vùng núi, vùng sâu vùng xa ở Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Kỳ Anh...có thể tổ chức dạy nghề lưu động cho bà con nông dân về các ngành nghề chăn nuôi bò, lợn, trồng các loại cây đặc sản... mang kỹ thuật ngành nghề đến với học viên, kết hợp vừa học vừa thực hành, dạy nghề một cách trực quan sinh động học viên tận dụng được thời gian lúc nông nhàn, ít tốn kém chi phí đi lại... Ngoài ra, có thể tổ chức dạy nghề thông qua xây dựng các mô hình sản xuất điển hình và nhân rộng cho mọi người cùng làm; có thể gắn chương trình dạy nghề với phong trào nông dân sản xuất giỏi, giúp nhau vượt đói nghèo... phối hợp các hình thức phong phú, đa dạng đưa lại hiệu quả cao cho công tác dạy nghề. 3.2.5. Các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế và nâng cao chất lượng nguồn lao động ở nông thôn Trong cơ chế thị trường tất yếu xảy ra sự cạnh tranh về lao động. Ai có sức cạnh tranh lớn người đó sẽ có cơ hội tìm được việc làm lớn hơn, vì khả năng thắng trong cạnh tranh lớn hơn. Sức cạnh tranh ở đây phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nguồn lao động, như: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, thể lực phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động. So với lực lượng lao động ở thành thị thì trình độ trên của lực lượng lao động ở nông thôn còn có sự cách biệt do đời sống vật chất, tinh thần ở khu vực nông thôn còn thấp. Nông thôn và nông dân còn chịu thiệt thòi về nhiều mặt, về cơ sở hạ tầng, về đời sống vật chất, tinh thần... Chính vì vậy, cần phải khắc phục những khó khăn, hạn chế đó trong cuộc sống của người lao động ở nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn lao động, sức cạnh tranh, tạo nhiều cơ hội có việc làm cho người lao động khu vực này. 3.2.5.1. Hạ thấp tỷ lệ tăng dân số ở nông thôn Hà Tĩnh Tốc độ tăng dân số ảnh hưởng đến tăng quy mô nguồn cung lao động, tạo sức ép lâu dài về việc làm cho khu vực nông thôn, ảnh hưởng đến chất lượng của người lao động. ở Hà Tĩnh hiện nay tỷ lệ tăng dân số còn ở mức cao, nhất là ở khu vực nông thôn, đặc biệt là ở vùng giáo dân. Trong những năm tới, Hà Tĩnh phấn đấu giảm nhanh tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên, đạt mức sinh thay thế vào năm 2007, nâng cao chất lượng dân số và trí tuệ, góp phần thực hiện mục tiêu chung của cả nước về chỉ số phát triển con người ở nước ta ở mức trung bình tiên tiến của thế giới vào năm 2010. Để đạt được mục tiêu đó, Hà Tĩnh cần thực hiện các giải pháp sau: - Tăng cường công tác giáo dục dân số, truyền thông dân số đến từng gia đình, từng cá nhân, phát triển nhận thức và nâng cao hiểu biết về tình hình dân số trong nhân dân để họ có thái độ, hành vi hợp lý đối với những tình huống để có được cuộc sống có chất lượng tốt hơn; làm rõ cho người dân hiểu được lợi ích và sự cần thiết của kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con; chống tư tưởng bảo thủ, gia trưởng, trọng nam khinh nữ. - Cung cấp kịp thời những dịch vụ kỹ thuật tránh thai đảm bảo dễ dàng, an toàn và hiệu quả, hỗ trợ các phương tiện dụng cụ tránh thai và các dụng cụ y tế, thuốc men cho người kế hoạch hóa gia đình; động viên nam giới áp dụng các biện pháp tránh thai; tăng cường dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản tới các xã khó khăn, vùng sâu vùng xa. - Nâng cao năng lực quản lý của bộ máy và năng lực chuyên môn cho cán bộ cộng tác viên làm công tác kế hoạch hóa gia đình. - Thông qua hoạt động của các đoàn thể, các tổ chức xã hội như Đoàn thanh niên, hội phụ nữ...thực hiện giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình cho mọi đối tượng. - Có hình thức xử lý nghiêm đối với những gia đình không thực hiện kế hoạch hóa gia đình, sinh con thứ 3 trở lên. - Tăng cường sự hỗ trợ kinh phí của Nhà Nước đối với chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình 2006-2010. 3.2.5.2 Thực hiện tốt công tác y tế, chăm sóc sức khỏe và vệ sinh môi trường ở nông thôn - Thực hiện công tác y tế chăm sóc sức khỏe cho người lao động ở nông thôn. Người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh sống trong điều kiện môi trường khí hậu khắc nhiệt nên nguy cơ mắc bệnh cao, trong khi đó, phần lớn lao động ở nông thôn chưa có điều kiện đến với các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe cho bản thân mình. Chính vì vậy, Hà Tĩnh cần đẩy mạnh công tác y tế, chăm sóc sức khỏe cho người lao động theo những hướng sau: + Nâng cao nhận thức, thay đổi thói quen không đúng của người dân về chăm sóc sức khỏe cho bản thân mình, xây dựng thói quen khám sức khỏe định kỳ cho người dân và khi mắc bệnh phải được chữa chạy bằng thuốc men và chăm sóc của bác sỹ, không nên dùng những hình thức phản khoa học, thậm chí mê tín dị đoan để chữa bệnh. + Xây dựng, nâng cấp mạng lưới y tế cơ sở, các trạm xá, bệnh viện huyện; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, cung cấp trang thiết bị dụng cụ y tế đầy đủ, thuốc men kịp thời phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân. + Khống chế không để xảy ra những dịch lớn như: sốt rét ở vùng núi Kỳ Anh, Hương Khê...sốt xuất huyết trên địa bàn; triển khai dự án phòng chống lao, kiện toàn và tăng cường năng lực của hệ thống phòng chống HIV/AIDS và các bệnh xã hội, dịch bệnh nguy hiểm khác. + Thực hiện tốt công tác gia đình và trẻ em, đảm bảo 100% bà mẹ trong độ tuổi sinh để được uống Vitamin A, viên sắt, được hướng dẫn kiến thức chăm sóc trẻ sau khi sinh, thực hiện tiêm chủng mở rộng, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em. + Thực hiện bảo hiểm y tế cho người nghèo, tăng cường sự hỗ trợ kinh phí của Nhà nước và địa phương cho chương trình này. - Thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường: + Xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, đảm bảo các yếu tố về cơ sở hạ tầng như điện, đường, trường, trạm kiên cố, khang trang, cải thiện điều kiện đi lại, sinh hoạt của người dân ở nông thôn. + Hỗ trợ kinh phí xây dựng các công trình cấp nước tập trung, các công tình cấp nước nhỏ lẻ, từ hệ thống tự chảy và giếng làng đảm bảo cho mọi người dân ở nông thôn có nước sạch phục vụ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. + Tổ chức tập huấn, giáo dục tuyên truyền về nước sạch và vệ sinh môi trường, hướng dẫn, vận động các hộ dân đầu tư xây dựng hố xí hợp vệ sinh; giao chỉ tiêu bắt buộc các công sở., trường học, cơ sở y tế, chợ nông thôn phải có công tình cấp nước sạch và hố xí hợp vệ sinh, tăng cường việc chỉ đạo, giám sát việc thực hiện chương trình này. + Đảm bảo vệ sinh chuồng trại, quy hoạch các trại chăn nuôi tập trung cách xa khu dân cư, chất thải được xử lý hợp vệ sinh, không gây ô nhiễm môi trường. + Phát triển dịch vụ vệ sinh nông thôn, thu gom rác thải, xử lý hợp vệ sinh; xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải ở các làng nghề, nhất là các làng nghề đúc đồng, nghề làm miến, làm bún... giữ vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn sạch đẹp. + Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ở nông thôn, nghiêm cấm giết mổ, bán gia súc gia cầm bị bệnh, tuyên truyền bắt buộc học tập các tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hộ kinh doanh dịch vụ ăn uống ở các quán, chợ nông thôn. + Tăng cường sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thô, bổ sung ngân sách địa phương tạo nguồn kinh phí hỗ trợ cho gần 20.000 hộ nghèo nhất trong tỉnh xây công trình nước sạch, hố xí hợp vệ sinh. KếT LUậN Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước những năm qua đã tạo nên những thay đổi đáng kể đối với khu vực nông thôn cả nước nói chung và nông thôn ở Hà Tĩnh nói riêng. Người lao động ở nông thôn chính là chủ thể trực tiếp thực hiện quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Họ là những người tiếp thu và ứng dụng những tri thức, thành tựu của khoa học kỹ thuật, công nghệ vào phát triển sản xuất. Chính vì vậy, giải quyết việc làm, phát huy vai trò to lớn của lực lượng lao động ở nông thôn là vấn đề có ý nghĩa quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Điều đó không chỉ đòi hỏi sự quyết tâm, phấn đấu nỗ lực của người lao động mà còn cần đến sự giúp đỡ của Nhà nước, của mọi tầng lớp nhân dân và các tổ chức xã hội. Hà Tĩnh là một tỉnh nông nghiệp, gần 90% dân số sống ở nông thôn; 80,19% lực lượng lao động làm nông nghiệp. Vì thế, vấn đề việc làm cho người lao động ở nông thôn luôn là vấn đề được các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội quan tâm hàng đầu để thực hiện đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Khi nghiên cứu vấn đề "Việc làm cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh", luận văn xác định, người lao động ở nông thôn là những người lao động nói chung được quy định trong Bộ luật Lao động nhưng sinh sống và làm việc ở nông thôn. Công việc của họ gắn liền với điều kiện tự nhiên nơi họ sinh sống và chịu tác động bởi những đặc điểm kinh tế - xã hội ở nông thôn. Chính vì thế, vấn đề "Việc làm cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh" được xem xét từ khái niệm việc làm nói chung và việc làm của người lao động ở nông thôn nói riêng trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở nông thôn dưới tác động của quá trình CNH, HĐH. Đó là cơ sở lý luận để luận văn nghiên cứu khảo sát tình hình giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế, theo chương tình xúc tiến việc làm quốc gia và rút ra những vấn đề mà Hà Tĩnh cần quan tâm giải quyết trong thời gian tới. Bởi vì trong nhiều năm tới nông nghiệp, nông thôn vẫn là địa bàn quan trọng của cách mạng nước ta và tỉnh Hà Tĩnh. Trước xu thế hội nhập kinh tế thế giới, trong cơ chế thị trường, kinh tế nông nghiệp, nông thôn Hà Tĩnh phải có bước phát triển theo hướng hiện đại hóa nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới. Người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh phải tự khẳng định mình, đứng vững trong cạnh tranh, hội nhập và phân công lao động trong nước và quốc tế. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những giải pháp mong muốn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh, tạo điều kiện cho người lao động ở nông thôn Hà Tĩnh phát huy những phẩm chất, những truyền thống tốt đẹp của con người Hà Tĩnh vào sự nghiệp CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Phạm Ngọc Anh (1999), "Các giải pháp tạo việc làm cho lao động nông thôn", Nghiên cứu lý luận, (7), tr.19. 2. Lê Văn Bảnh (2003), "Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn", Lao động và Xã hội, (259), tr.14. 3. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (1998), Ngành nghề nông thôn ở Việt Nam. NXB Lao động và Xã hội. 4. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2001), Báo cáo sử dụng kết quả điều tra lao động - việc làm hàng năm để xây dựng chính sách giải quyết việc làm. 5. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2002), Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 2001. 6. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2003), Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 2002. 7. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2004), Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 2003. 8. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2005), Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 2004. 9. Bộ Lao động Thương binh và xã hội (2006), Báo cáo kết quả điều tra lao động việc làm 1-7-2005. 10. Bộ luật Lao động Nước CHXHCN Việt Nam (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Ngô Đức Cát (2005), "Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó tới lao động nông nghiệp", Tạp chí Kinh tế và phát triển. 12. Chủ nghĩa cộng sản khoa học - Từ điển (1986), Nxb Sự thật, Hà Nội 13. Nguyễn Sinh Cúc (2002), "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn", Tạp chí Cộng sản, (14), tr.43. 14. Cục Thống kê Hà Tĩnh, Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2001 -2005. 15. Nguyễn Hữu Dũng - Trần Hữu Trung (1997), Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Nguyễn Hữu Dũng (2000), "Về chiến lược an toàn việc làm trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước", Lao động và Xã hội tết Canh Thìn, tr.22. 17. Trần Đình Đàn (2002), Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở Hà Tĩnh, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 18. Đảng bộ Hà Tĩnh (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Hà Tĩnh lần thứ XVI, Hà Tĩnh. 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội. 21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Trần Thị ái Đức (2004), Việc làm cho lao động nữ ở Hà Tĩnh hiện nay, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Hà Nội. 25. Nguyễn Thị Hằng (2003), "Đẩy mạnh xuất khẩu lao động ở nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo", Tạp chí Cộng sản, (4+5). 26. Nguyễn Xuân Khoát (1996), Lao động ở nông thôn nước ta hiện nay và những giải pháp chủ yếu nhằm sử dụng hợp lý nguồn lao động đó, Luận án phó tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Đặng Tú Lan (2001), Giải quyết việc làm ở Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 28. Dương Đức Lân (2005), "Về dự án thí điểm dạy nghề cho lao động nông thôn", Lao động và Xã hội, (259), tr.3. 29. V.I.Lênin (1976), Toàn tập, Tập III, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 30. C.Mác (1984), Tư bản, T.1, Q.1, Nxb Sự thật, Hà Nội. 31. C.Mác (1963), Tư bản, T.2, Q.1, Nxb Sự thật, Hà Nội. 32. C.Mác (1973), Tư bản, T.3, Q.1, Nxb Sự thật, Hà Nội. 33. Huyền Ngân (2005), "Thái Bình tăng tốc giải quyết việc làm", Thời báo Kinh tế Việt Nam, (153). 34. Hoàng Kim Ngọc (2003), "Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn", Lao động và Xã hội, (209), tr.26. 35. Park S.S (1992), Tăng trưởng và phát triển tổng sản phẩm vật chất và chiến lược về lao động, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Trung tâm Thông tin tư liệu, Hà Nội. 36. Vũ Văn Phúc (2005), "Giải quyết việc làm và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực lao động nông thôn Việt Nam hiện nay", Tạp chí Kinh tế châu á - Thái Bình Dương, (42), tr.14. 37. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Báo cáo tổng quan tình hình nông nghiệp thời kỳ 2001 -2005 và phương hướng nhiệm vụ phát triển nông nghiệp nông thôn đến năm 2010. 38. Sở Lao động Thương binh và xã hội Hà Tĩnh (2005), Báo cáo kết quả thực hiện xoá đói giảm nghèo - việc làm, đào tạo nghề 2005 và phương hướng nhiệm vụ thời gian tới. 39. Sở Lao động Thương binh và xã hội Hà Tĩnh (2005), Báo cáo trình Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI về công tác đào tạo nghề. 40. Sở Lao động Thương binh và xã hội (2005), Báo cáo tổng kết thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn Hà Tĩnh (2001-2005). 41. Sở Lao động, Thương binh và xã hội tỉnh Nghệ An, Báo cáo tổng kết công tác xoá đói giảm nghèo và việc làm 2001 -2005. 42. Tô Văn Sông (2001), "Phát huy nguồn lực nông dân trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn", Tạp chí Lý luận, tr.34. 43. Vũ Đình Thắng (2002), "Vấn đề việc làm cho lao động ở nông thôn", Tạp chí kinh tế và phát triển, tr.21. 44. Phạm Quý Thọ (2003), Thị trường lao động Việt Nam- Thực trạng và giải pháp phát triển, Nxb Lao động - Xã hội. 45. Thái Ngọc Tịnh (2002), "Khai thác tiềm năng hải sản nhằm giải quyết việc làm cho người lao động ven biển Hà Tĩnh", Tạp chí Lao động và Xã hội, (185), tr.8. 46. Đỗ Thế Tùng (2002), "ảnh hưởng một nền kinh tế trí thức tới vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Lao động và Công đoàn, (6). 47. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (1996), Phương hướng cơ bản về quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ 1996 - 2010. 48. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2001), Báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Hà Tĩnh đến 2010 và đề án chuyển đổí sử dụng đất nông nghiệp. 49. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2003), Hà Tĩnh thế và lực mới - Thế kỷ XXI, Hà Tĩnh. 50. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (2005), Báo cáo tổng kết thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf140_9093.pdf
Luận văn liên quan