Luận văn Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp

Với việc nghiên cứu yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp – một trong những nhà văn tiên phong của khuynh hướng văn học có yếu tố kì ảo ở Việt Nam đương đại – chúng tôi nhận thấy rằng sự tái xuất hiện với một diện mạo mới mẻ của yếu tố kì ảo trong văn học đương đại Việt Nam nói chung là một tín hiệu lạc quan của quá trình đổi mới văn học, giúp văn học Việt Nam có thể tiến nhanh hơn trên con đường hội nhập vào tiến trình vận động của văn học thế giới.

pdf128 trang | Chia sẻ: toanphat99 | Ngày: 21/07/2016 | Lượt xem: 2031 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng nét độc đáo trong nghệ thuật xây dựng cốt truyện của ông. Tính chất phi lí, ngẫu nhiên được tác giả hợp lí hóa triệt để cùng với quá trình phân rã cốt truyện. Tác phẩm vì thế là sự nối ghép ngẫu nhiên những mảnh rời rạc, không mấy logic với nhau cho nên dẫu cắt bỏ một hoặc một vài yếu tố nào đó vẫn không mấy ảnh hưởng đến tính vẹn của cốt truyện. Tướng về hưu kể chuyện về ông Tướng Thuấn thông qua những hồi ức của người con trai sau khi ông mất, gồm 15 phần được đánh số La mã, mỗi phần kể một nội dung khác. Sự sắp xếp các phần không liên tục mà ngắt quãng. Chẳng hạn ở phần I người con trai giới thiệu về cha mình và việc về hưu của ông rồi kết thúc ở “Đúng một tháng sau tôi mới có dịp ngồi với cha tôi bàn chuyện gia đình” [25, tr.18]. Sang phần II lại kể về những người khác trong gia đình rồi đến phần III mới tiếp tục kể chi tiết việc bàn chuyện gia đình Ở Không có vua mỗi khoảng thời gian là một câu chuyện mang tính độc lập, không có sự nối tiếp liên tục với nhau. Các mốc thời gian dùng để đặt tiêu đề cho mỗi phần trong truyện không nhằm vào việc diễn tả thời gian trong mối quan hệ nhân quả của sự kiện mà chỉ là lắp ghép sự kiện và thời gian của nó. Cũng bởi tính chất lắp ghép này đã đưa đến cách cấu tạo theo kiểu truyện lồng trong truyện gặp ở một loạt truyện như: Những ngọn gió Hua tát, Con gái thủy thần, Thương nhớ đồng quê, Chút thoáng Xuân Hương, Không có vua 101 Việc đẩy hiện thực sang phạm vi siêu thực, phi lí trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn liên quan đến cách tạo lập không gian u linh, thời gian mơ hồ và cách xây dựng nhân vật đan xen thực ảo (xem mục 2.2 và 2.3 của chương II). Như vậy, việc xây dựng yếu tố kì ảo bằng những chi tiết hiện thực được đẩy sang phạm vi của cái siêu thực, phi lí đã góp phần giúp Nguyễn Huy Thiệp mang đến một lối tự sự hoàn toàn mới lạ. Sự mới lạ ấy đã gây ra những cú sốc lớn cho việc tiếp nhận của công chúng văn học một thời. Nhưng thời gian qua đi, thực tế sáng tác đã chứng minh rằng những nỗ lực cách tân thể nghiệm này của Nguyễn Huy Thiệp đều là những đóng góp quan trọng và có giá trị. Chúng góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới văn học Việt Nam nói chung và văn xuôi đương đại nói riêng theo hướng hiện đại về mặt cốt truyện, không thời gian nghệ thuật và xây dựng nhân vật. 3.2. Hiệu quả của việc sử dụng yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Yếu tố kì ảo vốn là linh hồn của những tác phẩm văn học kì ảo và văn học có yếu tố kì ảo cho nên nó luôn giữ vai trò rất quan trọng. Trong tiến trình hành chức của mình yếu tố kì ảo có thể giữ vai trò là là thành phần nhưng cũng có thể là tổng thể căn cứ vào mục đích sáng tạo của nhà văn. Trong mỗi tác phẩm văn học, yếu tố kì ảo lại có những nhiệm vụ khác nhau. Todorov trong cuốn Dẫn luận về văn chương kì ảo [103] đã đề cập đến ba dạng chức năng chính của cái kì ảo cũng có thể hiểu là chức năng chính của yếu tố kì ảo trong tác phẩm văn học. Trước hết có thể kể đến là chức năng ngữ dụng. Yếu tố kì ảo mang chức năng ngữ dụng khi nó được đặt trong mối quan hệ với ngữ cảnh sử dụng. Lúc này yếu tố kì ảo được đặt cạnh hỗ trợ cho hiện thực, không lấn át được hiện thực nhưng có thể gia giảm tính chất và thu hút, định hướng tập trung người đọc. Do đó, trong trường hợp này, yếu tố kì ảo có thể bị lược bỏ mà không ảnh hưởng đến nội dung tác phẩm. Thứ hai là chức năng ngữ nghĩa. Với chức năng này yếu tố kì ảo mang ý nghĩa nhất định trong văn bản, là đặc trưng riêng của kiểu truyện kì ảo. Yếu tố không chỉ tồn tại với tư cách bổ sung cho hiện thực mà là một con đường riêng để khám phá hiện thực. 102 Như vây, ở dạng này nếu tách rời yếu tố kì ảo khỏi tác phẩm sẽ tạo một khoảng trống khiến tác phẩm còn lại chỉ là một thể bình thường hoặc có thể không thể đứng được trọn vẹn vì sự mất mát ý nghĩa. Dạng chức năng thứ ba của yếu tố kì ảo là chức năng cú pháp. Yếu tố kì ảo trong trường này khó có thể tách bạch vì nó gắn với tổng thể tác phẩm. Nó thúc đẩy sự tiến triển của trần thuật, cơ cấu tác phẩm thành một chỉnh thể như nó phải có và việc loại bỏ yếu tố kì ảo ra khỏi tác phẩm đồng nghĩa với việc tiêu hủy cả tác phẩm. Trên đây là những chức năng rất cơ bản của yếu tố kì ảo trong tác phẩm văn học nói chung, tuy nhiên không phải tác giả nào khi sử dụng yếu tố kì ảo trong sáng tác cũng sẽ phát huy được tất cả vai trò kể trên. Qua quá trình tìm hiểu về yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi nhận thấy trong phần lớn tác phẩm của mình nhà văn đã phát huy hiệu quả chức năng thứ hai (chức năng ngữ nghĩa) và thứ ba (chức năng cú pháp) của yếu tố kì ảo. Có thể thấy, yếu tố kì ảo trong văn học có yếu tố kì ảo ở Việt Nam các giai đoạn trước Nguyễn Huy Thiệp thường nặng về chức năng ngữ dụng. Tức là, yếu tố kì ảo luôn tồn tại trong mối quan hệ với ngữ cảnh sử dụng. Lúc này nó là nhân tố hỗ trợ cho hiện thực, không lấn át hiện thực và làm cho hiện thực trở nên thu hút người đọc trong tính bí ẩn của nó. Đặc tính chức năng này có thể tìm thấy trong truyện truyền kì và ảnh hưởng không nhỏ tới văn học có yếu tố kì ảo giai đoạn 1930 – 1945. Tuy nhiên, với Nguyễn Huy Thiệp mặc dù vẫn có một số ít tác phẩm yếu tố kì ảo giữ chức năng ngữ dụng, nghĩa là yếu tố kì ảo là một nhân tố không quá thiết yếu trong tác phẩm nhưng đa phần truyện ngắn của ông, yếu tố kì ảo giữ chức năng ngữ nghĩa và phần nào đã thể hiện chức năng cú pháp. Với chức năng ngữ nghĩa yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trở thành một con đường riêng để nhà văn khám phá hiện thực đồng thời tận dụng nó trong vai trò một nhân tố cố kết cấu trúc tác phẩm. Còn với chức năng cú pháp, yếu tố kì ảo tác động lên cấu trúc chỉnh thể truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật về kết cấu, cốt truyện rõ rệt mà các sáng tác phi yếu tố kì ảo không dễ gì có được. Mục 103 3.2.1. và 3.2.2 dưới đây sẽ diễn giải rõ hơn hiệu quả nghệ thuật của yếu tố kì ảo trong khi thực hiện chức năng ngữ nghĩa và chức năng cú pháp của chúng. 3.2.1. Yếu tố kì ảo và việc làm mới khả năng phản ánh hiện thực của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Giả sử có một câu hỏi được đặt ra là liệu văn học có yếu tố kì ảo ở Việt Nam đương đại có đảm bảo được chức năng phản ánh đời sống, vốn được xem là chức năng cơ bản của văn học hay không? Việc trả lời câu hỏi này không khó, bởi không ai có thể phủ nhận chức năng phản ánh hiện thực của các thể loại văn học dân gian như thần thoại, cổ tích hoặc văn học viết có yếu tố kì ảo như truyền kì. Hơn nữa, cũng chưa có ai phủ nhận chức năng phản ánh hiện thực của những tác phẩm văn học kì ảo trên thế giới. Cho nên điều giả sử ấy sẽ là không cần thiết, tuy nhiên chúng ta không thể quên rằng đã có một thời ở Việt Nam mối quan hệ giữa văn học và đời sống là mối quan hệ trực tiếp cho nên văn học được quan niệm như là sự minh họa đời sống còn phê bình văn học nghiêng về phê bình xã hội học thuần túy. Điều này đẫn đến quan niệm về hiện thực của văn học luôn được đặt trong thế so sánh với đời sống hiện thực một cách máy móc. Tư duy ấy cũng đã khiến không ít người khó có thể chấp nhận được những sáng tác kì lạ như những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Tuy nhiên để văn học tồn tại và thực sự có giá trị trong bối cảnh vận động cuộc sống thì nó cũng cần phải vận động và đổi mới thực sự, Aimatôp đã đúc kết: “Chúng ta chỉ nhận thấy hiện thực tuyệt vời của chúng ta, sự nghiệp của chúng ta, lịch sử của chúng ta, cuộc sống của chúng ta. Nhưng theo tôi cách nhìn nhận hời hợt trong văn học lỗi thời rồi, cần phải có một cách nhìn bổ sung, cách nhìn “từ phía bên”, cách nhìn sâu thẳm, cách nhìn của quá khứ. Tất cả những cái đó hợp lại làm cho sức mạnh của hình tượng nghệ thuật thêm cô đọng. Truyền thuyết, huyền thoại, bài ca, toàn bộ kết cấu của chúng đã giúp tôi trong việc tìm kiếm tính nhiều bình diện và tính nhiều chiều như vậy” [99]. Do đó sẽ là không quá lời khi nói rằng nếu Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh cho văn học thời kì Đổi mới thì Nguyễn Huy Thiệp là một người đi đầu, xông pha trên con đường chông gai ấy, trong lĩnh vực đổi mới truyện ngắn. 104 Giờ đây văn học đương đại Việt Nam đang vận động theo hướng dân chủ hóa, văn học được nhìn thẳng và nói thẳng sự thật nhưng ở giai đoạn đầu tiên của công cuộc đổi mới văn học cũng là thời điểm những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp ra đời, nói thẳng như thế nào lại là cả một vấn đề lớn đặt ra với đội ngũ nhà văn đang khao khát được viết khác đi. Và có thể nói văn học có yếu tố kì ảo là một gợi ý tuyệt vời giúp các nhà văn ấy cũng như Nguyễn Huy Thiệp có thể truyền tải những cách tân của mình. Với tư cách là một thủ pháp, một phương thức nghệ thuật đắc dụng, yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã thực sự trở thành phương tiện phản ánh hiện thực và thể hiện quan điểm của nhà văn về hiện thực một cách mới mẻ. Nó giống như một lưỡi dao sắc bén và đa năng giúp nhà văn giải phẫu hiện thực, để phơi bày tất cả những tăm tối, nhếch nhác nói chung của xã hội. Qua đó người đọc nhận ra hiện thực giờ đây không được hiểu một cách đơn giản như trước, mà đã được hiểu theo nghĩa mở rộng hơn trong sự xem xét, soi chiếu ở nhiều góc độ trên tinh thần dân chủ. Cuộc sống ấy không còn vẻ an nhiên bằng lặng mà chất chứa đầy sóng gió, bất an. Con người trong cuộc sống ấy cũng không chia rõ lằn ranh xấu – tốt mà nhập nhằng tranh tối tranh sáng; không có gì đảm bảo rằng người tốt sẽ được báo đáp và không phải lúc nào người xấu cũng bị trừng phạt. Vì vậy mà con người luôn phải cảnh giác không phải chỉ với cái được cho xấu, với người được cho là xấu mà còn phải cảnh giác cả với người được cho là tốt và những điều tưởng như đẹp đẽ. Một bản Hua Tát nhỏ bé, xinh đẹp và nguyên sơ nằm kín đáo trong thung nhỏ hẹp, tưởng như an bình mà lại ghi dấu bao câu chuyện về những “nỗi đau khổ của con người” [25, tr.214] (Những ngọn gió Hua Tát). Một khúc sông chảy qua bến Cốc mơ màng trong huyền thoại về con trâu đen, tưởng chừng như yên ả lại ẩn chứa trong nó bao nhiêu đau đớn xót xa “Khốn nạn! Nhà Thắm cứu được không biết bao nhiêu người ở khúc sông này thế mà cuối cùng nó lại chết đuối mà không ai cứu ” [25, tr.15] (Chảy đi sông ơi) Ngay cả gia đình, nơi vốn được xem là bến bờ bình yên cho tâm hồn neo đậu trước phong ba bão táp cuộc đời thì giờ đây nó không con đủ sức mạnh để bảo bọc con người. Xã hội đầy rẫy bất công, ngang trái. Nhưng đáng sợ hơn là con người trong những toan tính của 105 thời buổi đồng tiền làm vua đã khiến bao tình cảm hồn nhiên, trong trẻo hoàn toàn biến mất. Con người tha hóa và bị tiêu diệt trong chính môi trường tha hóa do chính họ tạo ra (Tướng về hưu, Không có vua, Huyền thoại phố phường ). Không chỉ đem đến cái nhìn sâu hơn về hiện thực đời sống khách quan, yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn giúp “nối dài cánh tay” cho nhà văn trong việc đi sâu khám phá con người trong chiều sâu tâm linh với tất cả sự bí ẩn của nó. Qua sự xuất hiện của kiểu nhân vật gắn với những bí ẩn tâm linh Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng mô hình nhân vật gần gũi hơn, thực hơn trong văn học. Bởi “con người thời kỳ này đã được đặt ra ngoài “bầu không khí vô trùng vốn có”, bước dè dặt, vừa đi vừa vấp ngã trước một thế giới đa chiều đầy biến ảo. Con người phải đối diện với chính mình, với số phận của mình với tư cách là một con người riêng lẻ, không nhân danh ai, không dựa vào ai” cho nên “Nhận thức về thế giới khách quan và nhận thức thế giới tâm linh trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con người” [27]. Có thể nói khi chấp nhận sự chi phối của yếu tố kì ảo trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp đồng thời đã có cách tiếp cận biện chứng hơn về thế giới và con người. Như vậy, yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không những không làm giảm sút giá trị hiện thực tác phẩm mà còn đưa khả năng khám phá hiện thực một cách sâu sắc. Tác phẩm trở nên phong phú và giàu chất triết lí hơn. Điều này góp phần khiến cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nói riêng và khuynh hướng văn học có yếu tố kì ảo ở Việt Nam đương đại nói chung góp phần không nhỏ vào việc hiện đại hóa văn học Việt Nam đương đại theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc. 3.2.2. Yếu tố kì ảo và hiệu ứng nghệ thuật trong cấu trúc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp “Theo từ điển Tiếng Việt, khái niệm “cấu trúc” có nghĩa là: Toàn bộ nói chung những quan hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể. Từ điển bách khoa Larousse của Pháp cũng định nghĩa từ “structure (cấu trúc)”: cách sắp xếp giữa các bộ phận của một bộ phận cụ thể hay trừu tượng, hay là “Việc tổ chức 106 các bộ phận của một hệ thống làm cho nó có một tính cố kết mạch lạc và mang tính đặc trưng thường xuyên. Từ “structure”trong tiếng Pháp có xuất xứ từ La-tinh “Structura”, “struere” nghĩa là xây dựng, kiến tạo.” [14] Theo Tiến sĩ Charles Waugh từ Đại học bang UTAH Mỹ trong bài nói chuyện tại Khoa Sáng tác và Lí luận – Phê bình Văn học thuộc Đại học Văn hóa Hà Nội [21] thì về cơ bản, truyện ngắn có hai kiểu cấu trúc là cấu trúc tuyến tính (linear) và cấu trúc phân mảng (modular). Kiểu cấu trúc tuyến tính đặc biệt quan tâm tới cốt truyện. Về điểm nhìn của người kể chuyện trong loại cấu trúc tuyến tính thường không thay đổi từ đầu đến cuối. Còn ở kiểu cấu trúc phân mảng, văn bản truyện là sự lắp ghép những mảng trần thuật khác nhau và được gắn kết thông qua chủ đề. Nếu ở cấu trúc tuyến tính, nhà văn miêu tả sự việc theo trật tự thời gian diễn biến thông thường như trong thực tại, thì ở cấu trúc phân mảng, cho phép nhà văn di chuyển ngược xuôi, đảo ngược về thời gian. Đặc biệt, nếu trong cấu trúc tuyến tính, điểm nhìn là tĩnh và chỉ có một điểm nhìn duy nhất từ đầu đến cuối, thì ở cấu trúc phân mảng, người kể chuyện có thể thay đổi điểm nhìn. Cũng do sự lắp ghép các mảng trần thuật khác nhau lại với nhau, cho nên truyện ngắn được cấu trúc theo kiểu phân mảng thường có nhiều khoảng trống, gợi sự tưởng tượng của độc giả. Dựa vào những đặc điểm trên có thể dễ dàng xác định truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp phần lớn được cấu trúc theo kiểu phân mảng. Đồng thời sự tham gia của yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đóng vai trò là một nhân tố mới, có những tác động nhất định đến cấu trúc truyện ngắn của ông trong việc tạo ra những nét độc đáo về mặt cốt truyện, hệ thống hình tượng và nghệ thuật trần thuật. Cuộc sống hiện thực đi vào tác phẩm nghệ thuật thường thông qua các chi tiết và các chi tiết ấy luôn được trí tưởng tượng của nhà văn nhào nặn và biến đổi. Vì vậy, trong chỉnh thể nghệ thuật chúng có những chức năng nhất định. Sự xuất hiện của các chi tiết kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã khiến cho cốt truyện của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp phong phú hơn so với những cốt truyện truyền thống. Truyện ngắn của ông có cả kiểu cốt truyện mang hơi hướng của các loại kì ảo dân gian (Những ngọn gió Hua tát) nhưng cũng có cốt truyện lại mang đậm nét 107 dấu ấn của văn học kì ảo hiện đại (Chảy đi sông ơi, Huyền thoại phố phường, Giọt máu, tội ác và trừng phạt, Sang sông ) và hậu hiện đại (Con gái thủy thần, Tướng về hưu, Không có vua, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết... ). Đặc điểm đó của cốt truyện được tạo nên bởi Nguyễn Huy Thiệp luôn có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa việc tái sử dụng những motif và biểu tượng với việc đẩy hiện thực sang phạm vi cái siêu thực, phi lí và kĩ thuật nhại. Đồng thời cũng dễ nhận thấy, Nguyễn Huy Thiệp rất quan tâm đến cách kết thúc truyện. Ông thích đưa ra những kết thúc bị bỏ lửng hoặc những kết thúc mang tính giả định. Cách làm ấy càng khiến sự băn khoăn, lưỡng lự ở người đọc gia tăng mạnh mẽ. Có thể khẳng định sự tham gia của yếu tố kì ảo vào cốt truyện đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên chất đa thanh cho truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật đắc địa yếu tố kì ảo không chỉ là sợi dây nối liền các tuyến truyện mà còn là cơ sở để xây dựng hệ thống hình tượng. Hình tượng nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vì vậy thấm đẫm chất kì ảo từ hình tượng nhân vật đến không gian và thời gian nghệ thuật. Nhân vật đan xen thực ảo được khắc họa trong đáy sâu thẳm của cõi tâm linh đầy bí ẩn và những cuộc hành trình vô tận trong không gian u linh và thời gian hư ảo. Yếu tố kì ảo hay nói chính xác hơn là quá trình làm xuất hiện yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng đã có những tác động nhất định đến nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Huy Thiệp và kết quả là yếu tố kì ảo cũng đã có sự ảnh hưởng không nhỏ góp phần tạo nên thành công trong nghệ thuật trần thuật của nhà văn. Nếu trần thuật được hiểu là việc kể và miêu tả các hành động và biến cố trong thời gian, mô tả chân dung, hoàn cảnh, hành động, ngoại cảnh, nội thất, lời bàn luận, lời nửa trực tiếp, lời đối thoại, độc thoại của nhân vật và vai trò của người trần thuật được hiểu là người đóng vai trò trung gian giữa cái được miêu tả và độc giả hay nói cách khác là người chứng kiến và giải thích những gì xảy ra thì điểm nhìn trần thuật là căn cứ để xác định người kể chuyện và tác giả. Trong ba kiểu điểm nhìn mà lí thuyết tự sự học đưa ra, chúng tôi nhận thấy trong hầu hết những truyện ngắn có yếu tố kì ảo của mình, Nguyễn Huy Thiệp thường có sự kết 108 hợp tạo ra sự đa dạng về điểm nhìn song điểm nhìn chủ yếu vẫn là điểm nhìn từ bên ngoài. Đây là điểm nhìn của người kể chuyện khi anh ta đứng ngoài, chỉ đơn thuần là kể “chuyện” chứ không hiểu cũng như không chú tâm để hiểu rõ tâm lí nhân vật. Điểm nhìn từ bên ngoài trong nhiều trường hợp có thể cũng chính là điểm nhìn từ các nhân vật khác trong truyện. Tác dụng cơ bản của điểm nhìn từ bên ngoài là khả năng nhấn mạnh tính khách quan cho câu chuyện được kể. Cho nên chất kì ảo nếu được lồng ghép vào vẫn có được tính chất tự nhiên như nó vốn có chứ không phải là sự gán ghép đầy chủ ý của tác giả. Điểm nhìn từ bên ngoài đã dẫn đến việc người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp luôn là kiểu người kể chuyện thờ ơ hay nói cách khác là không mặn mà với việc khai thác nội tâm của nhân vật. Do không đề cao việc lí giải hay bình luận để áp đặt quan niệm của mình lên độc giả nên người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp chỉ đơn thuần kể lại câu chuyện một cách lạnh lùng và khách quan. Cũng có lúc câu chuyện được kể lại bằng hồi tưởng của một nhân vật tôi nào đó, có thể là chính bản thân người kể chuyện (Chảy đi sông ơi, Con gái thủy thần, Những người muôn năm cũ, Thổ cẩm ) hoặc một nhân vật khác trong truyện (Tướng về hưu, Chú Hoạt tôi, Những người thợ xẻ, Những bài học nông thôn, Chuyện tình kể trong đêm mưa... ). Nhưng cũng có lúc người kể chuyện hoàn toàn đứng ngoài lặng lẽ theo dõi và thuật lại những gì anh ta nghe và thấy (Muối của rừng, Sang sông, Không có vua, Cún... ). Việc sử dụng người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được xem là “một phương thức biểu đạt độc đáo mập mờ quy về cả tác giả, cả về người kể chuyện và cả về nhân vật” [1]. Mặc dù theo Roland Barthes thì so với vai “nó”, vai “tôi” ít tính nước đôi hơn nên phương thức kể từ ngôi thứ nhất thường tạo độ tin cậy nhất định. Tuy vậy điểm nhìn bên trong của tôi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp lại thường bị hạn chế đến mức tối thiểu bởi tôi không phải là người kể chuyện toàn tri, “biết tuốt” mọi chuyện. Có thể dẫn ra trường hợp của nhân vật tôi trong Tướng về hưu, người con trai kể về cha ruột của mình. Thông thường anh ta sẽ được hiểu là người hiểu cặn kẽ về cha mình hơn so với những nhân vật khác trong gia đình. Nhưng trên thực tế anh ta lại là 109 người có những hiểu biết mờ nhạt thậm chí không hiểu được người cha của mình. Anh ta nói về cha mình như kể một tiểu sử vắt tắt đã được nghe người khác nói cho biết và không biết gì thêm ngoài những nét lớn ấy. Ngay cả khi sống cạnh cha thì giữa anh và người cha ấy cũng thuộc về hai thế giới riêng và không bao giờ tìm được tiếng nói chung. Anh ta chỉ hiểu cha mình hơn khi người cha ấy đã chết và anh ta ngày càng lặn sâu trong cuộc đời ô tạp, khi tự mình chiêm nghiệm những nỗi cô đơn, lo sợ mà cha anh đã ghi lại trong cuốn sổ. Có thể nói đến tận kết thúc truyện anh ta đã thể hiện rằng mình hiểu cha mình nhưng thật ra sự hiểu ấy lại thông qua một kênh khác đó là những gì cha anh ghi lại. Nhưng đến đây một câu hỏi lại đặt ra: liệu anh ta đã thực sự hiểu đúng về những gì cha anh viết ra chưa? Cho nên những kiến giải của nhân vật tôi này thật ra chỉ là một tiền giả định mà độ tin cậy không phải là tuyệt đối. Ngoài ra, với cái tôi để kể chuyện không phải lúc nào cũng trùng khít với bản thân nhân vật hay tác giả mà có thể là người kể chuyện hoặc một nhân vật khác trong truyện nên dẫn đến hệ quả là có những trường hợp một câu chuyện được đặt trong nhiều điểm nhìn khác nhau cho nên truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trở thành một văn bản đa thanh. Chẳng hạn trong truyện Vàng lửa, điểm nhìn bắt đầu từ nhân vật Phăng – một người nước ngoài về Gia Long và Nguyễn Du thông qua những ghi chép của anh ta. Tuy nhiên sau đó điểm nhìn được di chuyển qua một người Bồ Đào Nha không tên và bao trùm tất cả là điểm nhìn của nhân vật tôi khi anh ta mới chính là người sắp xếp các tư liệu thu thập được. Do đó khi đọc truyện này người đọc không khỏi băn khoăn bởi không biết đâu mới là sự thật. Cũng cần phải khái quát thêm một đặc điểm khác của người kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp là truyện ngắn của ông luôn tồn tại “người kể chuyện không đáng tin cậy”. Điều này là một nhân tố không thể thiếu để việc truyền tải yếu tố kì ảo trở nên hiệu quả hơn. Vì đó là cách trực tiếp nhất để nhà văn gieo vào lòng người đọc những băn khoăn, nghi ngại. Chẳng hạn trong truyện ngắn Vàng lửa người kể chuyện là người về mặt hình thức cố gắng để làm rõ vấn đề nhưng cuối cùng anh ta đành bật lực và kết quả là anh ta đưa ra ba kết thúc để cho độc giả tự chọn lựa và thậm chí có thể không cần chọn lựa mà tự mình viết nên những kết thúc 110 khác bằng sự kiến giải của mình bởi chắc gì cách kiến giải của người kể chuyện đó đã là chân lí? Tóm lại cùng với việc gia tăng tính chất kì ảo thì sự kết hợp của người kể chuyện với điểm nhìn từ bên ngoài và “người kể chuyện không đáng tin cậy” đã trở thành biểu hiện độc đáo trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Huy Thiệp nói riêng, đồng thời góp phần không nhỏ vào việc đổi mới nghệ thuật trần thuật của văn xuôi đương đại nói chung. Bên cạnh những đặc sắc về điểm nhìn yếu tố kì ảo cũng có tác động không nhỏ đến diễn ngôn của người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Khái niệm diễn ngôn vốn là một khái niệm khá phức tạp, tuy nhiên nói đến diễn ngôn “trước tiên người ta muốn nói đến phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chức hoạt động ngôn từ” [44]. Do vậy mà diễn ngôn trần thuật có thể được hiểu như là phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chức ngôn từ trong văn bản tự sự mà trong đó đóng vai trò quan trọng là diễn ngôn của người kể chuyện bao gồm diễn ngôn kể, diễn ngôn tả và diễn ngôn bình luận. Có thể thấy ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp sự xuất hiện của diễn ngôn tả và diễn ngôn bình luận không nhiều, nhà văn tập trung chủ yếu vào diễn ngôn kể trong hai hình thức là lời trung tính của người kể chuyện giấu mặt và lời chủ quan của người kể chuyện ngôi thứ nhất. Điều này có thể là sự giải thích cho việc người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ngay từ đầu đã “thoái thác” trách nhiệm đảm bảo về độ tin cậy của những diễn ngôn. Chúng ta đã biết để tồn tại được trong tác phẩm, yếu tố kì ảo luôn đòi hỏi phải có một trường giao tiếp để nó sẽ được nhận thức như những sự thật hiển nhiên hay là được chấp nhận và diễn ngôn kể trở thành một giải pháp hữu dụng. Vì vậy mà diễn ngôn kể là diễn ngôn chủ đạo của người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Đồng thời đến lượt mình chính diễn ngôn kể lại tạo ra những hiệu ứng nhất định trong việc lôi kéo người đọc vào trò chơi của ngôn từ mà ở đó họ có quyền được kiến giải chứ không phải chịu bất cứ ảnh hưởng nào từ người kể chuyện. Chính bởi tính chất mới mẻ ấy cho nên truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vô tình trở một thách thức lớn đối với lối đọc thụ động. 111 Yếu tố kì ảo cũng tác động nhất định đến nhịp điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vì đây chính là nơi để tác giả thể hiện chức năng của một phù thủy ngôn từ khi có thể dồn nén hoặc kéo giãn sự kiện được kể một cách vô tận. Cùng với việc gia tăng tính chất kì ảo của câu chuyện thì sự dồn nén hay sự kéo giãn nhịp điệu trần thuật cũng gia tăng. Trong truyện ngắn Con gái thủy thần tính chất hoang đường mà kì ảo về sự xuất hiện và tồn tại của Mẹ Cả cứ tăng dần lên khi tác giả kéo dài nhịp điệu trần thuật bằng hàng loạt những lời đồn liên quan đến Mẹ Cả. Từ chuyện đôi giao long quấn nhau, đến chuyện ông từ đền Tía hay các mẹ trong nhà tu kín nuôi, đến chuyện cứu người hay đòi trống, chuyện cô bé trộm mía hay chuyện mẹ Chương bảo rằng Mẹ Cả đã cứu anh Còn ở Trái tim hổ nhà văn lại tạo ra một độ căng nhất định khi dồn nén sự kiện. Có thể dẫn ra từ chi tiết Khó đi tìm trái tim hổ trong khi tất cả những chàng trai khác đã bỏ cuộc cho đến khi kết thúc bằng chi tiết Khó chết bên cạnh con hổ với trái tim đã bị lấy mất nhịp độ trần thuật diễn ra hết sức mau lẹ. Tác giả hoàn toàn bỏ qua tất cả những chi tiết kì ảo khi Khó là người anh hùng kì lạ đã tiêu diệt con hổ dữ, nguyên nhân cái chết của người anh hùng cũng như cách mà vật thiêng đã bị đánh cắp. Sự lược bỏ ấy đã tạo ra sự dồn nén cho sự kiện. Và về phía mình chính sự dồn nén trong nhịp điệu trần thuật đã khiến người đọc không khỏi băn khoăn nghi ngại bởi đã không có bất cứ sự giải thích nào từ phía người kể chuyện. Có thể nói đối với một tác phẩm tự sự nói chung sự co, giãn nhịp điệu trần thuật có tác dụng gây hiệu ứng gây tò mò để hấp dẫn người đọc nhưng đối với một tác phẩm văn học có yếu tố kì ảo nói riêng điều đó còn tạo ra sự gia tăng của hiệu ứng gây hoang mang và nghi ngờ. Như vậy, yếu tố kì ảo không tồn tại bên ngoài mà đã thực sự xuyên thấm trong cấu trúc nội tại của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Nó đóng vai trò như chất keo gắn kết những mảng rời rạc của truyện khiến chúng đạt đến sự thống nhất trong chủ đề. Đồng thời điều này đã đem lại cho truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp dáng dấp của những truyện kì ảo phương Tây bên cạnh sự kế thừa truyền thống văn học có yếu tố kì ảo trong lịch sử văn học dân tộc trên nhiều bình diện. 112 Tiểu kết Với tư cách là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm nghệ thuật, yếu tố kì ảo đã có con đường riêng để thâm nhập và phát huy vai trò của mình trong những tác phẩm văn học có yếu tố kì ảo. Điểm nổi bật là ở những truyện ngắn của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã khéo léo trong việc khai thác phương thức huyền thoại hóa trong quá trình xây dựng hệ thống hình tượng giúp đem lại sự phong phú và mới lạ. Ông cũng tỏ ra quan tâm đến việc sử dụng kĩ thuật nhại thể loại (nhại truyền thuyết và nhại cổ tích) để góp phần thể hiện tư tưởng mới mẻ trong nhận thức và sáng tạo của mình. Đó là nỗ lực đi ngược lại với lối tư duy cũ mòn, đóng khung trong những khuôn mẫu quen thuộc, sẵn có. Bên cạnh đó cũng không thể phủ nhận rằng trong nhiều truyện ngắn của mình Nguyễn Huy Thiệp còn tạo ra tính chất kì ảo bằng việc đẩy hiện thực sang phạm vi cái siêu thực, phi lí. Yếu tố kì ảo với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật đắc dụng đã mang lại cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp vẻ đẹp riêng trong sự kết hợp khéo léo giữa truyền thống và hiện đại, Phương Đông và Phương Tây. Chính yếu tố kì ảo là nhân tố quan trong nhất chi phối cách tiếp cận hiện thực theo hướng mới mẻ đồng thời cũng làm cho cấu trúc truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp vượt lên khỏi cấu trúc truyện ngắn truyền thống, xích đến gần hơn với cấu trúc truyện ngắn hiện đại trong các nền văn học lớn. Đây có thể được xem là thành công đáng ghi nhận của Nguyễn Huy Thiệp trong nỗ lực đưa văn học Việt Nam hội nhập vào sự phát triển của văn học thế giới. 113 KẾT LUẬN 1. Đặt vấn đề nghiên cứu yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, luận văn chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở một khía cạnh của sáng tác của ông, thể hiện trong mảng đóng góp nổi bật về truyện ngắn. Mặc dù là một khía cạnh nhưng không thể không khẳng định yếu tố kì ảo là một đặc điểm không thể thiếu làm nên đặc trưng riêng cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng như chính yếu tố kì ảo là thành phần quan trọng tạo nên khuynh hướng văn học có yếu tố kì ảo ở Việt Nam đương đại. Nghiên cứu sâu về yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là cách tiếp cận nhằm góp phần lí giải căn nguyên của những “sóng gió” cũng như sức hấp dẫn của truyện ngắn của ông từ lúc ra đời cho đến nay. 2. Trước hết có thể thấy rằng, sử dụng phổ biến yếu tố kì ảo là một đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, là nhân tố xuất hiện khá đậm đặc trong quá trình xây dựng hình tượng nghệ thuật của tác giả. Với tư cách là một chất liệu không thể thiếu trong quá trình tạo dựng nhân vật, yếu tố kì ảo đã giúp Nguyễn Huy Thiệp xây dựng một hệ thống nhân vật mang sắc thái riêng. Họ vẫn là những con người của đời thường hôm nay nhưng lại được chiếu rọi bởi những ánh sáng khác lạ cho nên thoạt đầu trông họ như đến từ một thế giới khác; nhưng ánh sáng kia thực ra chỉ là một thứ ảo ảnh và khi những ảo ảnh tan biến người đọc không khỏi sửng sốt khi chứng kiến một thế giới người với muôn vàn dáng vẻ đang vùng vẫy để vượt thoát bằng những cuộc ra đi vô tận trong không gian và thời gian với khát khao hướng tới chân – thiện – mỹ. Yếu tố kì ảo không những đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng hình tượng nhân vật mà còn chi phối tới cả hình tượng không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Khác với không gian nghệ thuật trong truyện ngắn nhiều nhà văn thuộc khuynh hướng văn học kì ảo ở Việt Nam đương đại, không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là không gian hiện tồn. Không gian ấy có mối quan hệ mờ nhạt với các không gian trong tín ngưỡng của con người. Đó là không gian rừng núi với những bản làng cô đơn và ẩn chứa trong nó bao điều huyền hoặc. Đó là không gian làng quê với cánh đồng bao la 114 bao bọc xung quanh những thôn xóm của những con người hiền lành chất phác có đời sống tâm linh vô cùng phong phú; là những dòng sông thao thiết chảy mang trong nó bao huyền thoại ngọt ngào mà cũng không ít man trá... Đó còn là không gian phố thị chật chội đến phi lí như muốn bóp nghẹt sự sống con người đến kiệt cùng. Thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là thời gian mang tính lắp ghép, không tuân theo logic với sự trộn lẫn của ba chiều quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó không đơn thuần là thời gian khách quan mà thời gian huyền ảo nhuốm màu tâm trạng. Đồng thời không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn của ông kết hợp thành một dạng thức không – thời gian khá đặc biệt, gắn bó và tương thích với sự hiện hữu của yếu tố kì ảo. 3. Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn là một thủ pháp nghệ thuật đắc dụng giúp nhà văn tạo ra nét đặc trưng trong phong cách truyện ngắn của mình. Có thể thấy rằng yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không dừng lại ở sự kế thừa yếu tố kì ảo dân gian cũng như yếu tố kì ảo trong thể loại truyền kì hay văn xuôi lãng mạn có yếu tố kì ảo ở Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 mà còn là sự tiếp thu tinh hoa văn học phương Tây trong bối cảnh hội nhập. Nếu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo được xem là nơi kết tinh đậm nét và đầy đủ nhất những đặc điểm của yếu tố kì ảo thời hiện đại và đương đại thì chúng tôi khẳng định rằng hoàn toàn có thể tìm thấy dấu ấn của nó trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Phương thức huyền hóa đã trở thành phương thức chủ đạo trong quá trình xây dựng hệ thống hình tượng trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khi ông luôn tỏ khéo léo và sáng tạo trong việc sử dụng những motif và biểu tượng quen thuộc trong văn học và văn hóa Việt Nam nói riêng cũng như nhân loại nói chung. Cùng với huyền thoại hóa là kĩ thuật nhại, nổi bật là nhại thể loại. Ngoài ra Nguyễn Huy Thiệp còn luôn có ý thức đẩy hiện thực sang phạm vi siêu thực, phi lí nhằm tạo ra xúc cảm hoang mang, do dự ở người đọc. Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một tìm tòi, sáng tạo rất đáng ghi nhận của nhà văn trong cuộc dấn thân đầy sóng gió góp phần đổi mới truyện ngắn nói riêng và văn học Việt Nam 115 đương đại nói chung. Bởi nỗ lực ấy không những đã đem đến cách tiếp cận hoàn toàn mới mẻ về hiện thực mà còn góp phần tạo ra những chuyển biến đáng kể trong cấu trúc truyện ngắn về cốt truyện, hình tượng nghệ thuật và nghệ thuật trần thuật. 4. Với việc nghiên cứu yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp – một trong những nhà văn tiên phong của khuynh hướng văn học có yếu tố kì ảo ở Việt Nam đương đại – chúng tôi nhận thấy rằng sự tái xuất hiện với một diện mạo mới mẻ của yếu tố kì ảo trong văn học đương đại Việt Nam nói chung là một tín hiệu lạc quan của quá trình đổi mới văn học, giúp văn học Việt Nam có thể tiến nhanh hơn trên con đường hội nhập vào tiến trình vận động của văn học thế giới. 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Thái Phan Vàng Anh (2010), “Trần thuật từ điểm nhìn bên trong ở tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí non nước, số 158. 2. Lại Nguyên Ân (1992), “Thần thoại, văn học, văn học huyền thoại”, Tạp chí Văn học, số 03. 3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội. 4. Nguyễn Duy Bắc (tuyển chọn) (2001), Về lãnh đạo, quản lí văn học nghệ thuât trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 5. Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Gabriel Garcia Macrquez, Nxb Giáo dục Việt Nam. 6. Nguyễn Hoa Bằng (1999), “Thời gian nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao”, Tạp chí Văn học, số 11. 7. Roland Barthes, (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch và giới thiệu), Nxb Hội nhà văn. 8. Nam Cao (1996), Truyện ngắn (chọn lọc), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 9. Lê Nguyên Cẩn (1992), Cái kì ảo trong tác phẩm Balzac, Nxb ĐHSP Hà Nội I, Hà Nội. 10. Nguyễn Minh Châu (2002), Trang giấy trước đèn, NXb Khoa học xã hội, Hà Nội. 11. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Phạm Vĩnh Cư (chủ biên), Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 12. Nguyễn Văn Công (2011), Những chuyển biến về tư tưởng và bút pháp trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 13. Đào Ngọc Chương (2008), Phê bình huyền thoại, Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh. 14. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội. 15. Nguyễn Đăng Duy (2006), Văn hóa tâm linh, Nxb Hà Nội. 117 16. Đặng Anh Đào (1994) Tài năng và người thưởng thức (Tập phê bình và nghiên cứu văn học), Nxb Hội nhà văn. 17. Đặng Anh Đào (2006), “Vai trò của cái kì ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 08, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 18. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học, Hà Nội. 19. Hà Minh Đức, Trương Đăng Dung, Phan Trọng Thưởng (2001), Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 20. La Mai Thi Gia, “Nguồn gốc phật giáo của motif tái sinh trong truyện kể dân gian Việt Nam”, nguồn: ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=1 262%3Angun-gc-pht-giao-ca-mo-tip-tai-sinh-trong-truyn-k-dan-gian-vit- nam&catid=113 21. Văn Giá (2007), “Với truyện ngắn hiện đại, cấu trúc là quan trọng nhất”, nguồn: quan-trong-nhat/ 22. Hoàng Cẩm Giang (2011), “Vấn đề không – thời gian và sự xóa nhòa những đường biên trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI”, Những lằn ranh văn học (Kỉ yếu hội thảo quốc tế), Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. 23. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục 24. Bích Hạnh (2011), Trịnh Công Sơn, Hạt bụi trong cõi thiên thu, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội. 25. Đỗ Hồng Hạnh (tuyển chọn và hiệu đính) (2004), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hóa Sài Gòn. 118 26. Nguyễn Văn Hạnh (2003), Văn học và văn hóa – Vấn đề và suy nghĩ, Nxb Khoa học xã hội, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh. 27. Phùng Hữu Hải (2006), “Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 28. Vương Thị Thanh Hiền (2010), Ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 29. Lê Từ Hiển (1993), “Nhân vật mĩ nữ, điểm quy chiếu mới của hệ thống nhân vật trong “Liêu trai chí dị””, Tạp chí Văn học, số 01. 30. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. 31. Đào Duy Hiệp (2006), “Cấu trúc cái kì ảo trong truyện ngắn Maupassant”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 09, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 32. La Khắc Hòa (2006), “Những dấu hiệu của Chủ nghĩa Hậu hiện đại trong Văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài”, nguồn: 33. Phạm Thị Hoài (1995), Man Nương, Nxb Hà Nội, Hà Nội. 34. Phạm Thị Hoài (1985), Mê lộ, Nxb Phú Khánh, Phú Khánh. 35. Kiều Thu Hoạch (2006), Văn học dân gian người Việt, góc nhìn thể loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 36. Phạm Việt Hùng (2012), “Không – thời gian bốn chiều, một sáng tạo văn học kì diệu”, nguồn: 4-chie%CC%80u-mo%CC%A3t-sa%CC%81ng-ta%CC%A3o-van- ho%CC%A3c-ky%CC%80-die%CC%A3u/ 37. Nguyễn Thị Huế (1997), “Người mang lốt – motif đặc trưng của kiểu truyện cổ tích về nhân vât xấu xí mà tài ba”, Tạp chí Văn học, số 03. 119 38. Tạp chí sông Hương (1989), Nguyễn Huy Thiệp – Tác phẩm và dư luận, Nxb Trẻ. 39. Nguyễn Thụy Thiên Hương (2009), Dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại trong chương trình ngữ văn lớp 11 theo đặc trưng loại thể, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 40. Lê Thị Hường (1995), Đặc điểm truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1995, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học xã hội và nhân văn, Hà Nội. 41. Franz Kafka (1989), Vụ án Hóa thân, Nxb Văn học, Hà Nội. 42. Franz Kafka (2003), Tuyển tập tác phẩm, Nxb Hội nhà văn, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội. 43. Nguyễn Văn Kha (2000), Đổi mới quan niệm về con người trong văn học hiện đại Việt Nam từ 1975 – 1991(Khảo sát thể loại truyện), Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Tp Hồ Chí Minh. 44. Trần Thiện Khanh (2010), “Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ”, nguồn: ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=1 464%3Abc-u-nhn-din-din-ngon-din-ngon-vn-hc-din-ngon-th-bai- 1&catid=94%3Aly-lun-va-phe-binh-vn-hc&Itemid=135&lang=vi 45. Vũ Ngọc Khánh (2001), “Truyện thần linh ma quái và vẫn đề giáo dục con người”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 10, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 46. Cao Kim Lan, “Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết hệ hình thi pháp Hậu hiện đại”, nguồn: 47. Ngô Tự Lập (1999), “Những đường bay của mê lộ”, nguồn : www.viet-studies.info/NgoTuLap-Melo.htm. 120 48. Nguyễn Trường Lịch (1997), “Huyền thoại và sức sống của huyền thoại trong văn chương xưa và nay”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 05, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 49. Lê Nguyên Long (2006), “Về khái niệm cái kì ảo và văn học kì ảo trong nghiên cứu văn học”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 09, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 50. Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn (đồng chủ biên) (2009), Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 51. Phương Lựu và nhóm tác giả (2002), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 52. Nguyễn Đăng Mạnh (2005), Nhà văn hiện đại, chân dung và phong cách, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh. 53. E. M. Meletinski (2004), Thi pháp của huyền thoại, Trần Nho Thìn và Song Mộc dịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 54. Nguyễn Trà My (2008), “Yếu tố kì ảo trong tác phẩm của Nguyễn Tuân”, Báo Văn nghệ, số 51. 55. Nguyễn Thị Thanh Nga, “Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại – Không gian thể nghiệm của con người hiện đại”, Nguồn: trong-truyen-ngan-viet-nam-duong-dai-khong-gian-the-nghiem-cua-con- nguoi-hien-dai 56. Phạm Thị Thanh Nga (2008), “Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 05, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 57. Vương Trí Nhàn (2001), Sổ tay truyện ngắn, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh. 58. Trần Thị Mai Nhân (2008), “Vấn đề tâm linh trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới”, Tạp chí Sông Hương, số 224, nguồn: tieu-thuyet-Viet-Nam-thoi-ky-doi-moi.html 121 59. Trần Thị Mai Nhi (1999), Văn học hiện đại, văn học Việt Nam giao lưu gặp gỡ, Nxb Văn học, Hà Nội. 60. Nhiều tác giả (2004), Từ diển văn học (Bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội. 61. Nhiều tác giả (1997), Việt Nam nửa thế kỉ văn học (1945 – 1995), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 62. Nhiều tác giả (2007), Huyền thoại và văn học, Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh. 63. Nhiều tác giả (2011), Những lằn ranh văn học (Kỉ yếu hội nghị quốc tế), Nxb ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 64. Nhiều tác giả (2009), Nghiên cứu văn học Việt Nam: những khả năng và thách thức, Nxb Thế giới. 65. Lã Nguyên (2006), “Văn học kì ảo: nhìn từ hệ hình thế giới quan”, Nguồn: 66. Phạm Xuân Nguyên (sưu tầm và biên soạn) (2001), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hóa thông tin. 67. Hoàng Kim Oanh (2010), Đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 68. Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng. 69. D. N. Pôxpêlốp (1997) Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục. 70. Huỳnh Như Phương (1991), “Văn xuôi những năm 80 và vấn đề dân chủ hóa nền văn học”, Tạp chí Văn học, số 04. 71. Huỳnh Như Phương (2007), Trường phái hình thức Nga, Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh. 72. Lê Ngọc Phương (2011), Yếu tố huyền ảo trong truyện ngắn Mĩ La tinh ( Khảo sát qua hai tác gia: Luis Borges và G. Marquez), Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh. 73. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, Nxb Bộ Giáo dục đào tạo – Vụ giáo viên, Hà Nội. 122 74. Trần Đình Sử (1990), “Tư duy truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, nguồn: 75. Vũ Thị Thanh Tâm, “Yếu tố kì ảo và tư duy huyền thoại trong “Những huyền thoại của Guatemala” của Miguel Ansgel Asturias”, Khoa Văn học và ngôn ngữ, Trường Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh. 76. Hồ Anh Thái (2003), Tự sự 265 ngày, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội. 77. Hồ Anh Thái (2004), Bốn lối vào nhà cười, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 78. Hồ Anh Thái (2003), Cõi người rung chuông tận thế – Tác phẩm và dư luận, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 79. Vũ Thanh (1999), “Dư ba của truyện truyền kì, chí dị trong văn học Việt Nam hiện đại”, Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học, Viện văn học. 80. Phạm Minh Thảo (tuyển chọn, biên soạn) (2006), Truyện linh dị Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin. Hà Nội. 81. Bùi Việt Thắng (1999), Bình luận truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội. 82. Bùi Việt Thắng (2000), Truyện ngắn những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 83. Bùi Việt Thắng (2004), “Truyện ngắn hôm nay”, Tạp chí Văn học, số 01. 84. Nguyễn Văn Thuấn (2008), “Những đặc sắc không thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, Tạp chí Khoa học và giáo dục trường Đại học sư phạm Huế, số 01. 85. Nguyễn Thành Thi (1999), Đặc trưng truyện ngắn Thạch Lam, Nxb Giáo dục. 86. Nguyễn Thành Thi (2010), Văn học thế giới mở, Nxb Trẻ. 87. Nguyễn Huy Thiệp (2002), “Tôi chỉ hướng tới tự nhiên”, Báo Tiền phong, số 40. 88. Nguyễn Huy Thiệp (2006), Giăng lưới bắt chim (Tạp văn, tiểu luận, phê bình, giới thiệu), Nxb Hội nhà văn. 89. Nguyễn Huy Thiệp (2012), Vong bướm, Nxb Nhã Nam. 123 90. Nguyễn Thị Bích Thúy (2007), Hiện thực và huyền thoại trong tác phẩm Franz Kafka, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 91. Trần Ngọc Thủy Tiên (2010), Sắc màu huyền thoại trong truyện ngắn Rabindnarath Tagore, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 92. Nguyễn Thị Như Trang (2011), “Cấu trúc không – thời gian của “Nghệ nhân và Margarita” nhìn từ nguyên lí trò chơi”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số12. 93. Lê Thị Nguyệt Trong (2011), Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 94. Nguyễn Thành Trung (2010), Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Gabriel Garcia Marquez, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 95. Bùi Thanh Truyền (2001), “Ảnh hưởng thần thoại và cổ tích trong cách xây dựng nhân vật văn xuôi hôm nay”, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 12. 96. Bùi Thanh Truyền (2003), “Một số môtip kì ảo truyền thống trong văn xuôi sau Đổi mới”, Kỉ yếu Hội nghị khoa học Những người nghiên cứu Ngữ văn trẻ (Lần thứ II), Khoa Ngữ văn – Trường ĐHSP Hà Nội. 97. Bùi Thanh Truyền (2006), “Đi tìm nguyên nhân hồi sinh của yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam”, Bài viết tại Hội thảo Văn học kì ảo, Trường ĐHSP Hà Nội. 98. Bùi Thanh Truyền (2005), “Truyện kì ảo Việt Nam trong đời sống văn học đương đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 99. Bùi Thanh Truyền (2006), “Sự hồi sinh của yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 11, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 124 100. Bùi Thanh Truyền (2008), “Sự đổi mới của truyện có yếu tố kì ảo sau 1986 qua hệ thống ngôn từ”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 101. Bùi Thanh Truyền (2011), “Hành trình của nhân vật ma trong văn học Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 03, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 102. Bùi Thanh Truyền (2006), Yếu tố kì ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Viện văn học. 103. Tzevan Todorov (2008), Dẫn luận về văn chương kì ảo, Nxb ĐHSP, Hà Nội. 104. Trần Thanh Tùng (2009), Yếu tố kì ảo trong văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 105. Trần Thị Tươi (2011), Yếu tố huyền thoại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại, Luận văn thạc sĩ Văn học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh. 106. Phùng Văn Tửu (2007), “Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 10, Viện Văn học, Viện khoa học xã hội Việt Nam. 107. Hoàng Thị Văn (2008), Yếu tố huyền ảo trong văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975 (đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh. 108. Đinh Phan Cẩm Vân (2000), “Cái “kì” trong tiểu thuyết truyền kì”, Tạp chí Văn học, số 10. 125 PHỤ LỤC Bảng 1: Bảng thống kê truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Truyện ngắn (TN) TN có yếu tố kì ảo TN không có yếu tố kì ảo Truyện ngắn (TN) TN có yếu tố kì ảo TN không có yếu tố kì ảo Chảy đi sông ơi x Sang sông x Tướng về hưu x Thiên văn x Cún x Tội ác và trừng phạt x Không có vua x Thương cho cả đời bạc x Con gái thủy thần x Bài học Tiếng Việt x Những người thợ xẻ x Chăn trâu cắt cỏ x Những bài học nông thôn x Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt x Kiếm sắc x Lòng mẹ x Vàng lửa x Không khóc ở California x Phẩm tiết x Chuyện tình kể trong đêm mưa x Thương nhớ đồng quê x Đưa sáo sang sông x Mưa Nhã Nam x Sống dễ lắm x Những ngọn gió Hua Tát x Thổ cẩm x Tâm hồn mẹ x Những người muôn năm cũ x Huyền thoại phố x Chuyện ông Móng x 126 phường Giọt máu x Chuyện bà Móng x Chút thoáng Xuân Hương x Chú Hoạt tôi x Mưa x Những tiếng líu la líu lo x Nguyễn Thị Lộ x Cánh buồm nâu thủa ấy x Trương Chi x Muối của rừng x Đời thế mà vui x Quan âm chỉ lộ x Bảng 2: Phân loại các kiểu nhân vật Tên truyện ngắn Nhân vật đan xen thực ảo Nhân vật du hành Nhân vật gắn với những bí ẩn tâm linh Chảy đi sông ơi Trùm Thịnh Tôi Chị Thắm, Tôi, Những người đánh cá đêm Tướng về hưu Ông Thuấn Ông Bổng Muối của rừng Ông Diểu Ông Diểu Cún Cún Không có vua Tốn Lão Kiền Con gái thủy thần Mẹ cả Chương Mẹ Chương, Chương Những người thợ xẻ Ngọc, đám thợ Ngọc Những bài học nông thôn Mẹ Lâm, Bà Lâm,Hiên Kiếm sắc Lân Lân 127 Vàng lửa Phăng Phẩm tiết Vinh Hoa Ngô Thị Vinh Hoa Thương nhớ đồng quê Nhâm, Mẹ Nhâm Mưa Nhã Nam Đề Thám Những ngọn gió Hua Tát Trái tim hổ Con thú lớn nhất Nàng Bua Tiệc xòe vui nhất Sói trả thù Đất quên Chiếc tù và bị bỏ quên Sạ Nạn dịch Nàng Sinh Khó Bua Hặc San Ông Pành Sạ Sinh Khó Người thợ săn Ông Pành Lù Người già Tâm hồn mẹ Đăng Huyền thoại phố phường Bà Thiều, Hạnh Giọt máu Ông Chiểu Bà Diêu,Phong, Thiều Hoa, khách lạ, Bà Phương Chút thoáng Xuân Hương Tri huyện Thặng Nguyễn Thị Lộ Nguyễn Trãi Trương Chi Trương Chi Đời thế mà vui Ông Khách Sang sông Nhà sư Thiên văn Khách Tội ác và trừng phạt Cô gái 128 Chăn trâu cắt cỏ Năng Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt Trang Sinh Chuyện tình kể trong đêm mưa Bạc Kì Sinh Đưa sáo sang sông Khách Sống dễ lắm Ông giáo Chi Thổ cẩm Tôi Những người muôn năm cũ Tôi Chú Hoạt tôi Chú Hoạt, Nhã Cánh buồm nâu thủa ấy Nhi Bà Hân Muối của rừng Ông Diểu Ông Diểu Quan âm chỉ lộ Công

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftvefile_2013_01_17_5755323244_5065.pdf
Luận văn liên quan