Môn luật hôn nhân - Gia đình: Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân

Nhằm đảm bảo lợi ích cho vợ, chồng, tôn trọng quyền sở hữu tài sản riêng của công dân, cũng như tạo điều kiện cho họ có những điều kiện tốt nhất để sản xuất kinh doanh thì Luật HNGĐ 2000 đã công nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng. Tài sản riêng của vợ chồng có thể được hình thành từ nhiều nguồn. Trong đó thì việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là 1 căn cứ đặc biệt hình thành tài sản riêng của vợ chồng. Luật HNGĐ đã có những quy định khá cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên thì vẫn còn 1 số những vướng mắc khi áp dụng trong thực tế cũng như khi xác định hậu quả pháp lý khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Nhằm làm rõ hơn về vấn đề này em xin được đi sâu vào phân tích vấn đề: Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn. 1. Cơ sở của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. 2. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. 2.1. Về quan hệ nhân thân. 2.2 Về quan hệ tài sản. 3. Một số vướng mắc trong thực tế về thủ tục khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ, chồng. 4.Vấn đề khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng.

doc13 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/02/2013 | Lượt xem: 662 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Môn luật hôn nhân - Gia đình: Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BÀI LÀM Nhằm đảm bảo lợi ích cho vợ, chồng, tôn trọng quyền sở hữu tài sản riêng của công dân, cũng như tạo điều kiện cho họ có những điều kiện tốt nhất để sản xuất kinh doanh thì Luật HNGĐ 2000 đã công nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng. Tài sản riêng của vợ chồng có thể được hình thành từ nhiều nguồn. Trong đó thì việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là 1 căn cứ đặc biệt hình thành tài sản riêng của vợ chồng. Luật HNGĐ đã có những quy định khá cụ thể về vấn đề này, tuy nhiên thì vẫn còn 1 số những vướng mắc khi áp dụng trong thực tế cũng như khi xác định hậu quả pháp lý khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Nhằm làm rõ hơn về vấn đề này em xin được đi sâu vào phân tích vấn đề: Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn. 1. Cơ sở của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Tài sản chung của vợ chồng được hình thành khi quan hệ hôn được xác lập, tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất. Hình thức sở hữu này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Do tính chất đặc biệt của gia đình đòi hỏi giữa vợ và chồng phải có 1 lượng tài sản chung nhất định để đảm bảo các nhu cầu của gia đình cũng như xây dựng 1 gia đình hạnh phúc. Trên cơ sở đó và kế thừa điều 14 luật HNGĐ 1986, Điều 27 Luật HNGĐ 2000 quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận”. Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu sử dụng định đoạt tài sản chung. Tuy nhiên, theo quy định của luật HNGĐ 2000 thì tài sản chung của vợ chồng cũng có thể được chia trong các trường hợp sau đây: Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Chia tài sản chung của vợ chồng khi 1 bên chết. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là 1 trường hợp đặc biệt đây là điểm mới của luật hôn nhân gia đình 1986 và luật hôn nhân gia đình 2000 so với luật hôn nhân gia đình 1959. Thực tế đã có nhiều trường hợp vợ chồng không muốn ly hôn mà chỉ yêu cầu chia tài sản chung để ở riêng hoặc vì muốn kinh doanh riêng hay vì lý do nào đó mà vợ chồng lại muốn chia tài sản chung trong khi vẫn muốn chung sống với nhau. Để đáp ứng thực tế đó, luật hôn nhân và gia đình đã quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn đang tồn tại giúp cho tòa án có cơ sở pháp lý để xét xử khi có yêu cầu của vợ hoặc chồng. Khoản 1 Điều 29 Luật HNGĐ 2000 quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết”. Theo quy định trên thì chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại được tiến hành vào các trường hợp sau: - Trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng: Xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh của cá nhân, nếu 1 trong 2 vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng, tạo điều kiện cho vợ chồng có tài sản riêng làm vốn kinh doanh. Mặt khác quy định này còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, đảm bảo cuộc sống ổn định của các thành viên trong gia đình gia đình khỏi các rủi do của hoạt động đầu tư kinh doanh gây ra. - Trường hợp vợ, chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng: Nếu vợ hoặc chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng mà hoJ không có tài sản riêng hoặc họ có tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ dân sự thì vợ chồng có thể chia tài sản chung để giúp người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình. - Trường hợp có lý do chính đáng khác: Việc xác định có lý do chính đáng khác: Việc xác định có lý do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại là xuất phát từ lợi ích của gia đình, lợi ích của vợ, chồng hoặc người thứ ba. Vì vậy, lý do chính đáng khác để chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại lại tùy vào từng trường hợp có khác nhau. Tuy nhiên bên cạnh đó thì Luật hôn nhân và gia đình đã dự liệu trước đến trường hợp vợ, chồng có thể lạm dụng quyền của mình trong việc chia tài sản chung có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, khoản 2 Điều 29 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 quy định: “ Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”. Sự quy định cụ thể của luật hôn nhân và gia đình về vấn đề chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là 1 cơ sở pháp lý quan trọng trong việc phân định tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn đặt ra và phụ hợp với hệ thống pháp luật. Quy định của Điều 29 Luật hôn nhân gia đình là phù hợp với điều 32 Luật hôn nhân và gia đình quy định về quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng. Phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt về tài sản của công dân. Cần lưu ý rằng: Việc Luật hôn nhân gia đình quy định việc chia tài sản chung khi hôn nhân còn đang tồn tại không phải là gián tiếp quy định chế định ly thân . Luật hôn nhân gia đình hiện nay không quy định chế định ly thân. 2. Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. 1. Về quan hệ nhân thân. Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt các quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng. Mặc dù có sự phân chia tài sản giữa vợ và chồng nhưng quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại, vì vậy thì các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng không hề hay đổi, vợ chồng tiếp tục phải thực hiện những quyền và nghĩa vụ đó. Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nhằm mục đích tiến hành các hoạt động sản xất kinh doanh riêng vì không muốn ảnh hưởng đến lợi ích gia đình, mặt khác là đảm bảo đời sống ổn định của gia đình, đây là điểm tích cực cần khuyến khích. Do vậy cũng cần khẳng định rằng, việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không phải là gián tiếp quy định chế định ly thân. Mặt khác, luật HNGĐ không quy định chế độ ly thân. Việc cho phép vợ chồng có thể chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân giữa vợ và chồng không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân cũng phản ánh 1 phần những rạn nứt, mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng dẫn đến việc quyền lợi cũng như lợi ích của các thành viên trong gia đình không được đảm bảo. Đây cũng là vấn đề cần xem xét và nghiên cứu nhiều hơn khi ta nghiên cứu vấn đề này. Về quan hệ tài sản. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ làm phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định. Điều 30 Luật HNGĐ 2000 quy định: “hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng: Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại  không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”. Và vấn đề này cũng được quy định cụ thể trong Điều 8 nghị định 70/2001 như sau: “1. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thảo thuận khác. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. 2. Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.” Như vậy, từ các quy định trên ta thấy được 1 số điểm quan trọng sau: 2.2.1 Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân sẽ xác lập quyền sở hữu riêng của vợ chồng với tài sản đã được chia: Tài sản chung sau khi được chia thì đó sẽ trở thành tài sản riêng của vợ và chồng, họ có toàn quyền đối với khối tài sản riêng của mình, có đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Vợ chồng tự quản lý tài sản riêng của mình, nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán bằng tài sản riêng (Khoản 1 Điều 33 Luật HNGD 2000). Như vậy có thể coi việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chính là căn cứ xác lập quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng. Như vậy thì việc quy định “Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”. Là hợp lý và có cơ sở, phù hợp với các quy định của luật dân sự về các căn cứ xác lập quyền sở hữu. Ví dụ như: Vợ chồng anh A chị B có 1 mảnh đất là tài sản chung và chưa sử dụng. Chị B do muốn đầu tư kinh doanh trên mảnh đất đó nhưng sợ sẽ gặp rủi do trong kinh doanh và ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế chung của gia đình do vậy đã thỏa thuận với anh A là tiến hành chia tài sản chung. Mảnh đất được chia làm 2 phần theo thỏa thuận và anh A, chị B được xác lập quyền sở hữu với tài sản riêng của mình. Sau đó những hoa lợi, lợi tức mà mỗi người thu được từ mảnh đất thuộc quyền sở hữu của mình sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người nếu 2 vợ chồng không có thỏa thuận khác. Như đã quy định: “Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình” tuy nhiên thì ngay cả khi quyền sở hữu được xác lập với tài sản tài sản riêng do được chia từ khối tài sản chung trong thời kì hôn nhân thì quyền sở hữu với tài sản riêng của vợ chồng vẫn bị hạn chế theo quy định của khoản 4 và khoản 5 điều 33 Luật HNGD: “Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng. Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản  riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình  thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thoả thuận của cả vợ chồng.” Bởi lẽ, chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, không ảnh hưởng đến các quan hệ nhân thân, vợ chồng phải cùng nhau chăm no, xây dựng gia đình vì vậy đây là quy định hợp lý và cần thiết nhằm đảm bảo cho đời sống gia đình được duy trì ổn định, hạnh phúc. Vấn đề cần quan tâm đối với vấn đề này là xác định tài sản riêng theo theo quy định tại Khoản 2, Điều 8 – NĐ70/2001: “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.” Nếu theo quy định này thì những thu nhập như tiền lương, tiền thưởng, tiền công lao động… mà vợ chồng có từ trước khi chia tài sản chung vốn là tài sản chung thì sau khi chia tài sản chung thì sẽ trở thành tài sản riêng nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác. Như vậy thì quy định này đã mâu thuẫn với quy định của điều 27 Luật HNGĐ 2000. Chế độ sở hữu chung hợp nhất được hình thành chủ yếu do sự đóng góp công sức lao động của 2 vợ chồng “Của chồng công vợ”. Vì thế, nếu theo quy định này thì nếu vợ chồng không có sự thỏa thuận khác thì chế độ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng khó có thể duy trì và tồn tại được. Nếu xem xét theo thực tế thì quy định tại khoản 2 điều 8 Nghị định 70//2001 là không phù hợp với ý chí và mục đích của nhiều cặp vợ chồng khi tiến hành chia tài sản chung. Bởi lẽ, nhiều khi chia tài sản chung, vợ chồng muốn được đầu tư kinh doanh riêng mà không muốn ảnh hưởng đến lợi ích của gia đình, tránh những rủi ro trong hoạt động đầu tư kinh doanh. Khi đề cập đến khía cạnh này, chúng ta cần phân biệt rõ 2 loại thu nhập sau: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ chính tài sản được chia và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng không liên quan đến phần tài sản đã được chia như các khoản thu nhập của vợ chồng trước khi chia tài sản chung cũng như các thu nhập hợp pháp khác không liên quan đến tài sản riêng. Ví dụ như tiền lương, tiền công lao động, tiền trúng sổ xố… Như vậy quy định này là chưa chính xác. Cần phải xem xét lại theo hướng: Những thu nhập hợp pháp và thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh khi dã chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên khi nó gắn liền với phần tài sản được chia. Đồng thời quy định này cũng cho thấy sự chưa quy định trách nhiệm đóng của vợ chồng vào đời sống chung của gia đình. Pháp luật cho phép vợ chồng có quyền thỏa thuận nhung nếu giả sử: họ không có thỏa thuận gì khác, không quan tâm đến đời sống gia đình thì đời sống chung của gia đình sẽ ra sao nếu không còn tài sản chung? Quyền và lợi ích của con chua thành niên sẽ được đảm bảo như thế nào? Vì vậy cần phải quy định rõ hơn trách nhiệm của vợ chồng trong việc thanh toán những chi tiêu của gia đình theo tỉ lệ tương ứng với số tài sản riêng của mỗi người. 2.2.2. Vợ, chồng vẫn có quyền sở hữu với khối tài sản chung thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất. Theo quy định của điều 30 Luật HNGD 2000: “phần tài sản còn lại  không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.” và cũng theo quy định của Khoản 1 Điều 8 – NĐ 70/ 2001: “Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.” Như vậy theo quy định của pháp luật thì tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân bao gồm: Phần tài sản chung không chia và hoa lợi lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung đó. Nếu ta xét theo quy định của Khoản 1 Điều 27 Luật HNGĐ 2000: “ Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.” Và so sánh với khoản 2 Điều 8 – NĐ70 “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác.” Như vậy, ta có thể thấy rằng tài sản chung của vợ chồng sau khi đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân còn bao gồm cả những tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, được thừa kế chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đối với tài sản chung thì vợ chồng có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định tại điều 28 Luật HNGĐ 2000. Như đã phân tích ở phần trên thì quy định tại khoản 2 điều 8 NĐ70/2001 là trái với quy định của điều 27 Luật HNGĐ 2000 và bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý. Do vậy cần quy định thêm những thu nhập của vợ chồng sau khi chia tài sản riêng không liên quan đến tài sản riêng là tài sản chung. Ví dụ như tiền lương, tiền thưởng, tiền công lao động… của vợ chồng không liên quan đến việc tiến hành sản xuất kinh doanh từ phần tài sản riêng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung của vợ chồng. Vấn đề đặt ra trong việc xác định tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất mà vợ hay chồng có được sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng? Điều 27 Luật HNGĐ 2000 quy định “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng”. Trong khi những quy định của pháp luật về hậu quả pháp lý sau khi chia tài sản chung của vợ chồng thì chưa quy định cụ thể vấn đề quyền sử dụng đất của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Vì vậy vấn đề này cần được xem xét theo hướng “ quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là tài sản chung nếu không liên quan đến kết quả của hoạt động lao động sản xuất kinh doanh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng” Khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không làm ảnh hưởng đến quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng. Vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế. 3. Một số vướng mắc trong thực tế về thủ tục khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân của vợ, chồng. Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên khi áp dụng vào thực tế thì vẫn còn 1 số vướng mắc. Theo quy định tại Khoản 3 điều 33 luật HNGĐ 2000: “Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó”. Nếu vợ hoặc chồng không đủ khả năng để thanh toán các nghĩa vụ tài sản riêng của mình mà pháp luật không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào? Vì vậy pháp luật cần quy định rõ hơn theo hướng: Trong trường hợp người có quyền có đủ chứng cứ cho rằng, vợ chồng không có thoả thuận hoặc không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản, thì người có quyền có thể yêu cầu Toà án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản của người vợ hoặc người chồng có nghĩa vụ thực hiện thanh toán các khoản nợ. Yêu cầu của người có quyền sẽ không được Toà án công nhận, nếu việc chia tài sản chung ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích gia đình của người có nghĩa vụ hoặc bản thân vợ, chồng có nghĩa vụ có đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ. Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70 quy định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ lại không quy định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được quy định tại Điều 29 Luật HN&GĐ hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Mặt khác, Luật HN&GĐ cũng chưa qui định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung. Vì vậy, pháp luật cần quy định rõ về người có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản chung trong thờ kì hôn nhân cũng như quy định rõ hậu quả pháp lý khi tòa án tuyên bố hủy thỏa thuận chia tài sản chung. 4.Vấn đề khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng. Vấn đề khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng được quy định cụ thể tại điều 9 và điều 10 nghị định 70/2001: Khoản 1 điều 9 quy định: “trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế độ tài sản chung, thì vợ chồng phải thỏa thuận bằng văn bản và ghi rõ các nội dung sau đây: Lý do khôi phục chế độ tài sản chung. Phần tài sản thuộc sở hữu mỗi bên. Phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nếu có. Thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung. Các nội dung khác, nếu có”. Việc quy định vấn đề khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng tại Nghị định 70/2001 là không hợp lý. Bởi lẽ: Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân không làm chấm dứt hình thức sở hữu chung của vợ chồng chỉ có sự khôi phục khi đã chấm dứt. Ngay cả khi chia hết tài sản chung thì sau đó tài sản chung của vợ chồng vẫn có thể được hình thành. Ví dụ như được tặng cho chung, thừa kế chung…. Mặt khác, quy định về khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng là không cần thiết nếu quy định như vậy sẽ trái cả với quy định tại điều 27 về chế độ tài sản chung của vợ chồng và Khoản 2 Điều 32 đã quy định: “Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”, vì khi hôn nhân tồn tại thì theo pháp luật nước ta thì khi nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì tài sản chung đó sẽ tuân theo chế độ pháp tài sản pháp định tức là tài sản chug hợp nhất. Việc khôi phục chế đô tài sản chung thực chất là đem tài sản riêng của mỗi người góp vào tài sản chung. Như vậy, chế độ sở hữu chung của vợ chồng không còn là sở hữu chung hợp nhất nữa mà là sở hữu chung theo phần. Điều đó mâu thuẫn với các quy định về sở hữu trong hệ thống pháp luật nước ta làm phức tạp thêm các mối quan hệ của vợ chồng về tài sản. Để phát huy được những ưu điểm của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chúng ta phải nhanh chóng củng cố những quy định chưa hợp lý này, và có những quy định thật chặt chẽ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMôn luật hôn nhân - gia đình- Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn.doc