Môn luật tố tụng hình sụ - Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

A/ MỞ ĐẦU B/ NỘI DUNG I/ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1)Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm và căn cứ quy định thẩm quyền xét xử. 1.1.Khái niệm: 1.2.Căn cứ quy định thẩm quyền xét xử: 2)Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án trước khi ban hành BLTTHS: 2.1.Giai đoạn 1945 đến 1960: 2.2.Giai đoạn từ 1960 đến khi ban hành BLTTHS: 3)Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo BLTTHS hiện hành 3.1.Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc: 3.1.1 .Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và TAQS khu vực: 3.1.2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu: 3.2. Thẩm quyền xét xử theo đối tượng: 3.2.1. Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS: 3.2.2. Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND: 3.3. Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ: 3.3.1. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo nơi thực hiện tội phạm và nơi kết thúc điều tra: 3.3.2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong trường hợp bị cao phạm tội ở nước ngoài nhưng được xét xử tại Việt Nam: 3.3.3. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong trường hợp tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam: 3.4. Thẩm quyền chuyển vụ án (Điều 174 BLTTHS) 3.4.1.Chuyển vụ án trước khi mở phiên tòa: 3.4.2.Chuyển vụ án tại phiên tòa: 4) Giới hạn xét xử sơ thẩm 4.1. Xét xử trong phạm vi truy tố và quyết định đưa vụ án ra xét xử: 4.2. Xét xử theo khoản khác hoặc về tội phạm khác với truy tố: II/ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ: 1)Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay và những vấn đề bất cập đang tồn tại: 2)Yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: 3) Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: ​C/ KẾT LUẬN:

doc15 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 840 | Lượt tải: 6download
Tóm tắt tài liệu Môn luật tố tụng hình sụ - Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A/ MỞ ĐẦU Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật. Trong tố tụng hình sự (TTHS), thẩm quyền của Tòa án (TA) các cấp là một chế định quan trọng. Thẩm quyền càng được phân định rõ ràng, khoa học, sát với thực tế bao nhiêu càng bảo đảm cho việc xét xử khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội bấy nhiêu. Với tầm quan trọng đó, các quy phạm pháp luật về thẩm quyền của TA luôn luôn được chú ý từ khi ban hành pháp luật. BLTTHS của nước ta đã quy định tương đối đầy đủ các quy phạm pháp luật về thẩm quyền của TA các cấp. Xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án có ý nghĩa quan trọng và là cơ sở để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong các giai đoạn tiếp theo. B/ NỘI DUNG I/ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1)Khái niệm thẩm quyền xét xử sơ thẩm và căn cứ quy định thẩm quyền xét xử. 1.1.Khái niệm: Thẩm quyền của Tòa án theo nghĩa chung nhất được hiểu là quyền xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Khi xét xử. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản án của Tòa án cụ thể hóa đường lối, chính sách, quan điểm của Nhà nước đối với việc xử lý người có hành vi phạm tội Trong luật tố tụng hình sự, thẩm quyền xét xử của Tòa án theo nghĩa rộng bao gồm quyền xem xét và quyền giải quyết vụ án, ra bản án hoặc các quyết định khác như quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án… Theo đó, thẩm quyền của Tòa án bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức là quyền xem xét và phạm vi xem xét (giới hạn xét xử) của Tòa án. Thẩm quyền về nội dung là quyền hạn giải quyết, quyết định của Tòa án đối với những vấn đề được xem xét. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy đinh cho phép Tòa án được xét xử sơ thẩm vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nơi thực hiện tội phạm hoặc nơi khác theo quy định của pháp luật. 1.2.Căn cứ quy định thẩm quyền xét xử: Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng; Căn cứ vào nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự; Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; Căn cứ vào tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm; Căn cứ vào mối liên hệ giữa thẩm quyền của Tòa án với các chế định khác của TTHS; Căn cứ tính chất các thủ tục xét xử; Căn cứ vào năng lực của đội ngũ cán bộ xét xử và cán bộ điều tra, truy tố cũng như khả năng thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng; Căn cứ vào cách tổ chức hệ thống cơ quan nhà nước nói chung, các cơ quan tư pháp nói riêng và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử; Căn cứ vào biên chế và cơ sở vật chất; Căn cứ vào tình hình tội phạm, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng thời kỳ nhất định. 2)Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án trước khi ban hành BLTTHS: 2.1.Giai đoạn 1945 đến 1960: Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẩn trương bắt tay xây dựng củng cố bộ máy Nhà nước để bảo vệ thành quả Cách mạng, xây dựng một Nhà nước của nhân dân, vì nhân dân. Ngày 13/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh thành lập TAQS ở các địa phận khác nhau trong cả nước. Tuy nhiên vì yêu cầu Cách mạng lúc bấy giờ, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới chỉ thiết lập các TAQS mà chưa tổ chức hệ thống Tòa án các cấp và các TAQS cũng chỉ xét xử các vụ án hình sự mà không xét xử các vụ án dân sự. Ngày 24/01/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 13 về tổ chức Tòa án và ngạch thẩm phán. Sắc lệnh này đã phân chia Tòa án xét xử thành hai cấp sơ cấp và đệ nhị cấp. Tòa án cấp sơ cấp gồm các Tòa án của phủ, huyện, châu. Tòa án đệ nhị cấp là gồm các Tòa án tỉnh. Nhưng để phân biệt thẩm quyền của các Tòa án, Chính phủ đã ra Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/1946 ấn định thẩm quyền xét xử của các Tòa án. Theo quy định của Sắc lệnh này thì thẩm quyền xét xử của Tòa án sơ cấp về hình sự có quyền xét xử chung thẩm: những án phạt bạc từ 0,50 đồng đến 9,00 đồng; những án xử bồi thường từ 150 đồng trở xuống do nguyên cáo bị thiệt hại trong một vụ vi cảnh thỉnh cầu trong đơn khiếu kiện hay chậm nhất lúc việc vi cảnh đem ra Tòa xử sơ thẩm những vụ án phạt giam từ 1 đến 5 ngày. Việc phân định thẩm quyền xét xử về hình sự trong Sắc lệnh này tồn tại một thời gian khá dài, cho đến ngày 14/07/1960 tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa II đã thông qua Luật Tổ chức TAND. 2.2.Giai đoạn từ 1960 đến khi ban hành BLTTHS: Trên cơ sở của Luật Tổ chức TAND ngày 23/3/1961 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của TAND địa phương. Pháp lệnh này quy định TAND thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền phân xử những việc hình sự nhỏ không phải mở phiên Tòa; sơ thẩm những vụ án hình sự có thể bị phạt tù từ 2 năm trở xuống. Năm 1980, khi Hiến pháp 1980 ban hành, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật tổ chức TAND ngày 04/7/1981 theo quy định tại Điều 36 Luật này thì các TAND các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án hình sự trừ những loại việc sau đây: + Những tội xâm phạm an ninh quốc gia; + Những tội xâm phạm khác có tính chất nghiêm trọng, phức tạp hoặc gây hậu quả quá lớn. Theo quy định trên TAND cấp huyện có quyền xét xử những vụ án mà luật quy định hình phạt từ 5 năm tù trở xuống. Quy định này được QUốc hội thong qua trước khi ban hành Bộ luật hình sự. Vì vậy, khi Bộ luật hình sự được thi hành đã nảy sinh một số vướng mắc nhất định về thẩm quyền của TAND cấp huyện, quận và cấp tương đương. Thứ nhất,trước đây các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quan niệm là những tội phản cách mạng nên không giao cho Tòa án cấp huyện xét xử. Theo Bộ luật hình sự năm 1985 thì những tội xâm phạm an ninh quốc gia bao gồm 2 loại tội: những tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia và những tội khác xâm phạm an ninh quốc gia. Do vậy, Tòa án cấp huyện có khả năng và cần phải được xét xử một số tội khác xâm phạm an ninh quốc gia. Nhưng Luật tổ chức TAND năm 1981 lại loại trừ điều đó. Thứ hai, theo tinh thần Điều 36 Luật tổ chức TAND 1981, Tòa án cấp huyện không được xét xử những tội có tính chất nghiêm trọng, tức là tội mà luật quy định hình phạt trên 5 năm tù. Do đó, Tòa án cấp huyện không được xử những tội thông thường như tham ô, nhận hối lộ… vì hình phạt do luật quy định đến 7 năm tù. Để giải quyết những vướng mắc trên, Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 26/7/1986 đã hướng dẫn: Các Tòa án huyện cũng được xét xử cả một số tội mà pháp luật quy định hình phạt từ 7 năm tù trở xuống nhưng có tình tiết giảm nhẹ cho phép xử 5 năm tù trở xuống. Hướng dẫn trên cũng có một số điểm bất hợp lý: Về nguyên tắc, Tòa án chỉ quyết định hình phạt sau khi đa xét hỏi và cho tiến hành tranh luận tại phiên tòa, do đó chưa xử mà đã biết mức án là 5 năm tù trở xuống là trái với quy định của pháp luật vì bản án đã được quyết định trước khi xét xử. Có những trường hợp, việc dự kiến mức hình phạt của VKS và Tòa án không thống nhất vì thẩm quyền của Tòa án không được quy định cụ thể. Giữa Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh cũng xảy ra tình trạng tương tự. Ngày 28/8/1988 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS, đồng thời Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung luật TAND và Hội đồng Nhà nước thông qua Pháp lệnh tổ chức TAQS. Theo quy định tại hai văn bản pháp quy này thì thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được quy định cụ thể hơn. Theo Khoản 1 Điều 145 BLTTHS năm1988 thì TAND huyện và TAQS khu vực có thẩm quyền xét xử những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù từ 7 năm tù trở xuống trừ các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia và trừ các tội quy định tại các Điều 89, 90, 91, 92, Khoản 3 Điều 101, các Điều 102, 179, 231, và 232 Bộ luật hình sự. Quy định trên về thẩm quyền của TAND các cấp tập trung vào TAND huyện. Khi quy định và hướng dẫn này đã đầy đủ thì việc thực hiện thẩm quyền xét xử của TAND tỉnh sẽ giảm đi nhiều vướng mắc. Vì vậy, sau khi BLTTHS ban hành, để thi hành một số quy định của Bộ luật này về thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện, TAND tối cao, VKS nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ đã có văn bản hướng dẫn như Thông tư liên ngành số 02 ngày 12/1/1989 và Thông tư liên ngành số 02 ngày 15/2/1990. Ngày 9/6/2000 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS đã quy định: “ TAND cấp huyện và TAQS khu vực xét xử sơ thẩm những tội phạm mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù từ 7 năm tù trở xuống trừ những tội sau đây: - Các tội xâm phạm an ninh quốc qia. - Các tội quy định tại các Điều 95, 96, khoản 1 Điều 172 và các Điều 222, 223, 263, 293, 294, 295, 296, Bộ luật hình sự. Sau một thời gian tương đối thực hiện quy định này, thực tiễn cho thấy số vụ án mà TAND cấp tỉnh phải xét xử sơ thẩm ngày càng nhiều. Do vậy, BLTTHS năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003 một lần nữa lại mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện vì những lý do sau: Thứ nhất, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Thẩm phán ở hầu hết Tòa án cấp huyện ngày càng được nâng cao và có khả năng xét xử được những vụ án mà mức ca nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là 15 năm tù trở xuống. Thứ hai, số lượng biên chế của Tòa án cấp huyện và cơ sở vật chất đã tương đối ổn định. Thứ ba, việc tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp huyện sẽ tránh được việc tồn đọng án ở cấp tỉnh, dành thời gian cho Tòa án cấp tỉnh tập trung xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Thứ tư, việc mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện sẽ tiết kiệm được thời gian và tranh được việc hoãn phiên tòa vì lý do vắng mặt những người tham gia tố tụng. Thứ năm, việc xét xử ở Tòa án cấp huyện sẽ phát huy được tác dụng giáo dục. Thứ sáu, việc xét xử ở Tòa án cấp huyện có hiệu quả kinh tế hơn vì người làm chứng nơi xảy ra vụ án sẽ không phải đi xa, Tòa án không phải thanh toán tiền phương tiện đi lại, tiền lưu trú, tiền ở trong trường hợp vụ án phải được xét xử nhiều ngày… 3)Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo BLTTHS hiện hành Theo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được phân định theo sự việc, đối tượng và lãnh thổ. 3.1.Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc: Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa các cấp tòa án, căn cứ vào tính chất và mức đọ nguy hiểm của tội phạm. Do TAND tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm nên thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa 2 cấp tòa án còn lại: TAND cấp huyện và TAQS khu vực; TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu. Điều 170 BLTTHS quy định: “1. TAND cấp huyện và TAQS khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây : a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; c) Các tội được quy định tại các Điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự. 2. TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAQS khu vực hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.” 3.1.1 .Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và TAQS khu vực: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 170 BLTTHS thì không phải mọi trường hợp và mọi tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng đều thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực. Cụ thể: Những vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực: + TAND cấp huyện và TAQS khu vực đã được giao thẩm quyền mới xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. + Trong trường hợp điều luật về tội phạm cụ thể có nhiều khoản thì TAND cấp huyện và TAQS khu vực xét xử theo khoản thuộc thẩm quyền của mình. TAND cấp huyện và TAQS khu vực có thẩm quyền xét xử cùng một lúc một lần một người phạm nhiều tội, nếu các tội phạm đó đều thuộc thẩm quyền xét xử của các tòa án này. Trong trương hợp một người đang chấp hành hình phạt mà bị truy tố về tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực thì các tòa án này cũng có quyền xét xử, trừ trường hợp người bị kết án đã bị tuyên hình phạt tử hình hoặc tù chung than mà chưa được giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Những vụ án hình sự bị loại trừ khỏi thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và TAQS khu vực gồm những vụ án do pháp luật quy định hoặc do cơ quan tiến hành tố tụng quyết định: + Những vụ án hình sự không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 170 BLTTHS. Đó là những vụ án về các tội: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; Các tội phá hoại hòa bình, chống loại người và tội phạm chiến tranh; Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự năm 1999. Cụ thể: Tội giết người (Điều 93); Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95); Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96); Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu thăm dò, khai thác tài nguyên (Điều 172); Tội vi phạm quy địnhh điều khiển tàu bay (Điều 216); Tội cản trở giao thong đường không không đảm bảo an toàn (Điều 218); Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không (Điều 219); Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy (Điều 221); Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy địnhh về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 222); Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 223); Tội tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi – rút tin học (Điều 224); Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Điều 225); Tội sử dụng trái phép thong tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226); Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước (Điều 263); Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 293); Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội (Điều 294); Tội ra bản án trái pháp luật (Điều 295); Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296); Tội đàu hàng địch (Điều 322); Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh (Điều 323). Những tội phạm này, dù là tội phạm ít nghiêm trọng cũng không thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện và TAQS khu vực. + Những vụ án được lấy lên để xét xử ở cấp trên theo quy định tại khoản 2 Điều 170 BLTTHS. Việc đưa vụ án lên xét xử ở cấp trên căn cứ vào khả năng giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng ở cấp dưới. Đó thường là những vụ án phức tạp, khó chứng minh hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; những vụ án mà bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, sĩ quan công an, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp huyện, người nước ngoài, người có chức sắc cao trong tôn giáo, có uy tín cao trong dân tộc ít người(1), sĩ quan quân đội có quân hàm từ Thượng tá trở lên hoặc có chức vụ từ Phó Sư đoàn trưởng, Phó Cục trưởng và tương đương trở lên.(2) + Vụ án được xét xử toàn bộ ở cấp trên theo quy định tại Điều 173 BLTTHS: “Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên, thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án”. Đây là trường hợp bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của tòa án các cấp. Nghĩa là bị cáo phạm hai tội trở lên, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện hoặc TAQS khu vực và tội phạm khác thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh hoặc TAQS cấp quân khu thì toàn bộ vụ án gồm tất cả các tội sẽ thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án cấp trên tức TAND cấp tỉnh hoặc TAQS cấp quân khu. 3.1.2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu: So với những quy định trước đây, thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu được quy định trong BLTTHS không có gì khác nhau. Theo khoản 2 Điều 170 BLTTHS nưm 2003, TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các loại việc sau: Những vụ án về những tội phạm không thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện và TAQS khu vực; Những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án cấp dưới nhưng được lấy lên để xét xử; Những vụ án được xét xử ở toàn bộ cấp trên do bị cáo phạm nhiều tội mà có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án cấp trên. 3.2. Thẩm quyền xét xử theo đối tượng: Thẩm quyền xét xử theo đối tượng là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa TAND và TAQS căn cứ vào đối tượng phạm tội. 3.2.1. Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS: Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS năm 2002 quy định: “Các TAQS có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là: Quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huân luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sang chiến đấu; dân quân, tự vệ phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý; Những người không thuộc các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này mà phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội.” Theo đó, TAQS xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự mà người phạm tội thuộc 2 nhóm đối tượng: Người phạm tội là quân nhân và những người có nghề nghiệp hoặc nhiệm vụ quân sự bao gồm các đối tượng được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS. Những người này bị TAQS xét xử không phụ thuộc vào việc họ phạm tội gì và phạm tội ở đâu. Người phạm tội không phải là các đối tượng nêu trên. Những đối tượng này chỉ thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: + Liên quan đến bí mật quân sự. Bí mật quân sự là bí mật của Quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. + Gây thiệt hại cho quân đội. Gây thiệt hại cho quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của quân nhân hoặc của những người có nghề nghiệp, nhiệm vụ quân sự được quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của quân đội. Tài snr của Quân đội là tài sản do Quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp Quân đội giao tài sản đó cho dân quân, tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Cũng được coi là gây thiệt hại cho Quân đội trong trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam do Quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội. + Cùng một vụ án, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. Có nghĩa trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì TAQS xét xử toàn bộ vụ án (trừ trường hợp tách vụ án). Trường hợp những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ quân đội; hoặc những người bị phát hiện là phạm tội trước khi nhập ngũ thì thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS về những tội liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội. 3.2.2. Đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND: TAND xét xử sơ thẩm những đối tượng không thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS. TAND xét xử những người không còn phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trong thời gian phục vụ trong quân đội; những người đang phục vụ trong quân đội mà phát hiện tội phạm của họ được thực hiện trước khi vào quân đội nếu những tội phạm đó không liên quan đến bí mật quân sự hoặc không gây thiệt hại cho quân đội. *Tách vụ án để TAQS và TAND xét xử sơ thẩm theo thẩm quyền: - Trường hợp tách vụ án: Về nguyên tắc, TAQS xét xử sơ thẩm toàn bộ vụ án trong trường hợp cùng 1 vụ án, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS, vừa có người phạm tội hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TAND. Tuy nhiên, có thể tách vụ án để TAND và TAQS xét xử riêng theo thẩm quyền, nếu không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án. -Thủ tục tách vụ án: TAQS đã thụ lý vụ án trao đổi với VKS quân sự có nhiệm vụ thực hành quyền công tố về việc tách vụ án. Nếu VKS quân sự thống nhất tách vụ án, TAQS chuyển hồ sơ vụ án cho VKS quân sự để giải quyết theo thẩm quyền. Trường hợp VKS quân sự không thống nhất tách vụ án, TAQS đã thụ lý vụ án phải xét xử toàn bộ vụ án. 3.3. Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ: Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ là sự phân định thẩm quyền xét xử của các tòa án căn cứ vào những dấu hiệu địa điểm nhất định, nơi tội phạm được thực hiện và nơi kết thúc điều tra. 3.3.1. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo nơi thực hiện tội phạm và nơi kết thúc điều tra: - Về nguyên tắc, tòa án nơi tội phạm được thực hiện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, TAQS của quân chủng hoặc tổ chức tương đương có tổ chức TAQS có thẩm quyền xét xử sơ thẩm không phụ thuộc vào vơi thực hiện tội phạm, nếu người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng hoặc tổ chức tương đương, hoặc tội phạm gây thiệt hại trực tiếp cho quân chủng hoặc tổ chức tương đương. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì tòa án nơi kết thúc việc điều tra có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. Trong trường hợp không xác định được nơi thực hiện tội phạm hoặc trong trường hợp có nhiều TAQS khác nhau có thẩm quyền xét xử vụ án do trong vụ án có nhiều bị can thuộc nhiều đơn vị khác nhau hoặc do tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi nếu VKS quân sự truy tố bị can trước TAQS nào thì TAQS đó có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. 3.3.2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong trường hợp bị cao phạm tội ở nước ngoài nhưng được xét xử tại Việt Nam: - Nếu bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của TAND thì TAND cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. Trường hợp không xác định được nơi này, Chánh án TANDTC ra quyết định giao cho TAND thành phố Hà Nội hoặc TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. - Nếu bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS thì TAQS cấp quân khu xét xử sơ thẩm theo quyết định của Chánh án TAQS trung ương. 3.3.3. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm trong trường hợp tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt Nam: Tòa án Việt Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. 3.4. Thẩm quyền chuyển vụ án (Điều 174 BLTTHS) Điều 174 BLTTHS quy định: “Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền xét xử. Việc chuyển vụ án cho Tòa án ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do TAND cấp tỉnh, TAQS cấp quân khu quyết định. Chỉ được chuyển vụ án cho Tòa án khác khi vụ án chưa được xét xử. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Chánh án Tòa án quyết định. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của TAQS hoặc Tòa án cấp trên thì vụ án đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền. Trong trường hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định. Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Tòa án phải thông báo cho VKS cùng cấp, báo cho bị cáo và những người có liên quan trong vụ án.” Tòa án chuyển vụ án cho tòa án khác có thẩm quyền xét xử trong trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình. Việc chuyển vụ án ngoài phạm vi tỉnh do TSND cấp tỉnh quyết định. VIệc chuyển vụ án ngoài phạm vi quân khu do TAQS cấp khu vực quyết định. Việc chuyển vụ án được thực hiện trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa. 3.4.1.Chuyển vụ án trước khi mở phiên tòa: Trước khi mở phiên tòa, việc chuyển vụ án do chánh án tòa án quyết định. Trong giai đoạn này, pháp luật không cho phép bất kỳ vi phạm nào về thẩm quyền xét xử. 3.4.2.Chuyển vụ án tại phiên tòa: Tại phiên tòa, việc chuyển vụ án do hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS hoặc tòa án cấp trên. Do đó, TAND vẫn tiếp tục xét xử trong trường hợp vụ sn thuộc thẩm quyền xét xử của TAND khác cùng cấp và tương tự, TAQS vẫn tiếp tục xét xử trong trường hợp vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS khác cùng cấp. Như vậy, trong giai đoạn này, pháp luật cho phép vi phạm thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ, nhưng không cho phép tòa án cấp dưới vi phạm thẩm quyền xét xử của tòa án cấp trên và không cho phép TAND vi phạm thẩm quyền xét xử của TAQS. 4) Giới hạn xét xử sơ thẩm Giới hạn xét xử sơ thẩm được quy định tại Điều 196 BLTTHS, theo đó phạm vi xét xử của tòa án cấp sơ thẩm bị giới hạn trong phạm vi truy tố và quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng cũng có thể vượt khỏi phạm vi truy tố trong những trường hợp nhất định. 4.1. Xét xử trong phạm vi truy tố và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Trong khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nếu có căn cứ cho rằng bị can phạm 1 tội khác (nặng hơn tội mà VKS truy tố) hoặc có đồng phạm khác thì thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết địnhh trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Qua việc xét xử tại phiên tòa, nếu phát hiện tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra thì hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự (theo khoản 1 Điều 104 BLTTHS). Theo quyết định giám đốc thẩm số 08/2006/HS-GĐT ngày 08/5/2006 của HĐTP TANDTC, việc tòa án cấp sơ thẩm quyết định về tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của những người có hành vi phạm tội nhưng không bị truy tố là vi phạm giới hạn xét xử. 4.2. Xét xử theo khoản khác hoặc về tội phạm khác với truy tố: *Khung hình phạt khác với khung hình phạt mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật: Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn hoặc nhẹ hơn khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật. *Tội phạm khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố: Tòa án không được xét xử theo tội phạm khác nặng hơn tội mà VKS đã truy tố. Nếu có căn cứ cho rằng bị cáo phạm tội khác mà nặng hơn, tòa án yêu cầu VKS điều tra bổ sung. Trong trường hợp VKS không thay đổi cáo trạng theo tội danh nặng hơn, tòa án phải xét xử theo tội danh mà VKS đã truy tố, không được tuyên là bị cáo không phạm tội mà VKS đã truy tố. Tòa án có thể xét xử bị cáo về 1 tội phạm khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố. -Tội phạm nhẹ nhất trong các tội mà VKS truy tố hoặc tội nhẹ hơn tất cả các tội mà VKS truy tố. -Tội phạm khác bằng tội phạm mà VKS đã truy tố. Đây là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với 2 tội như nhau. -Tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà VKS đã truy tố. Đây là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt bổ sung) đối với tội khác nhẹ hơn so với tội phạm mà VKS đã truy tố. II/ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ: 1)Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay và những vấn đề bất cập đang tồn tại: Hiện nay cả nước mới chỉ có 107 TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và TAQS khu vực có đủ điều kiện để thực hiện quy định mới về thẩm quyền xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLTTHS năm 2003. Trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm phán cấp huyện hiện nay có nhiều bất cập, chênh lệch giữa khả năng trình độ và nhiệm vụ được giao. Việc tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện không giải quyết triệt để được tình trạng dồn án, đọng án ở toà án các cấp hiện nay. Sự phân bố không đồng đều các cấp toà do gắn với hệ thống hành chính dẫn đến tình trạng là án của một tỉnh nhỏ chưa bằng số án phải giải quyết của một quận ở nội thành Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh. Trong khi rất nhiều thẩm phán ở toà án huyện, tỉnh không có việc hay đủ việc để làm thì ở nơi khác số án quá nhiều gây tình trạng tồn đọng… và đi theo đó là những vi phạm trong tố tụng. Tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện dẫn đến phải đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường đội ngũ cán bộ nhưng quy mô của một toà án cấp huyện không thể xây dựng như một toà án cấp tỉnh. Nhìn chung các toà án đã thực hiện thống nhất những vấn đề liên quan đến giới hạn xét xử sơ thẩm. Tuy vậy, trong thực tiễn xét xử còn có trường hợp toà án đề nghị VKS chuyển sang tội danh nặng hơn nhưng VKS không nhất trí, hai cơ quan đã báo cáo lên cấp trên của mình nhưng vẫn không thống nhất được quan điểm. Thực tiễn xét xử trong thời gian qua đã cho thấy quy định về giới hạn xét xử của toà án có nhiều điểm không hợp lí: - Thứ nhất, giới hạn tòa án không được xét xử theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà VKS đã truy tố là gián tiếp thừa nhận tội danh do VKS truy tố là đúng nên toà án chỉ xét xử theo tội danh đó và lựa chọn mức hình phạt đã quy định trong điều luật do VKS đã viện dẫn. Điều này trái với chức năng của VKS được pháp luật quy định vì như thế VKS đã thực hiện một phần chức năng xét xử và xác định tội danh được tiến hành trước khi xét xử là vi phạm nguyên tắc “không ai có thể bị coi là có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của tòa án”. - Thứ hai, quy định về giới hạn xét xử buộc tòa án phải xét xử theo tội danh mà VKS đã truy tố là trái với nguyên tắc đã được Hiến pháp quy định “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nguyên tắc này cho phép tòa án xét xử độc lập mà không bị lệ thuộc, chi phối theo ý kiến hoặc quyết định của bất kì cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào. Để quyết định áp dụng hình phạt, tòa án không chỉ đơn thuần căn cứ vào tội danh đã nêu trong bản cáo trạng mà qua việc xét xử, tòa án phải trực tiếp xem xét đánh giá toàn bộ các chứng cứ của vụ án để xác định cho đúng tội danh mà bị cáo đã thực hiện. Trên cơ sở đó mới áp dụng hình phạt tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Như vậy, tội danh do hội đồng xét xử xác định cũng có thể trùng với tội danh nêu trong bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng cũng có thể khác theo hướng nhẹ hơn hoặc nặng hơn. Vì thế phải quy định cho tòa án có quyền xét xử và kết tội bị cáo theo đúng tội danh mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. - Thứ ba, quy định về giới hạn xét xử mâu thuẫn với nguyên tắc “xác định sự thật của vụ án”, theo đó tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Thế mà, khi tòa án thấy có đầy đủ chứng cứ để xác định bị cáo phạm tội này lại phải tuyên án bị cáo phạm tội khác như truy tố của VKS. - Thứ tư, quy định về giới hạn xét xử mâu thuẫn với nhiều quy định khác của BLTTHS hiện hành. Chẳng hạn, Điều 222 quy định: “Các thành viên của hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một…“, “khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa“; Điều 224 quy định: “Bản án của tòa án quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội và nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của BLHS”. Các quy định trên đều cho phép tòa án có quyền thảo luận và căn cứ vào những chứng cứ của vụ án để quyết định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của BLHS. Giới hạn xét xử buộc tòa án phải xét xử theo tội danh mà VKS đã truy tố thì những quy định trên chỉ còn là hình thức để tòa án hợp pháp hóa một tội danh đã được VKS xác định. 2)Yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: - Một là, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo hướng phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động TTHS; tăng quyền hạn, trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Có như vậy, hoạt động tố tụng mới chủ động, khách quan, hiệu quả; người tiến hành tố tụng mới phản ứng kịp thời với tình hình và dám tự mình chịu trách nhiệm về các quyết định của mình; - Hai là, đảm bảo quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng. Không để xảy ra tình trạng quyền hạn của một người còn trách nhiệm lại thuộc về người khác hoặc tình trạng quyền hạn thì quy định cụ thể nhưng trách nhiệm thì chung chung. Chỉ khi quyền hạn đi liền với trách nhiệm thì người tiến hành tố tụng mới thận trọng hơn trong thực hiện nhiệm vụ tố tụng của mình, góp phần xử lý vụ án đúng đắn, khách quan; - Ba là, đảm bảo nguyên tắc độc lập trong TTHS. Người trực tiếp tiến hành các hoạt động tố tụng phải là người được quyết định các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án; - Bốn là, các quy định phải đảm bảo tính khả thi. Nhiệm vụ, quyền hạn được quy định phải được bảo đảm thực hiện bằng các quy định của pháp luật, bằng các biện pháp tổ chức và được sự kiểm tra, giám sát cụ thể, chặt chẽ v.v.. 3) Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: - Các nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng cụ thể liên quan đến xét xử sơ thẩm vụ án (như ra các quyết định đưa vụ án ra xét xử, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, ra bản án, tuyên án…) do Thẩm phán được phân công thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật; không nên để tình trạng người trực tiếp thực hiện các biện pháp tố tụng thì không có thẩm quyền quyết định và ngược lại, người có thẩm quyết định thì chỉ nghe báo cáo mà không trực tiếp tiến hành tố tụng làm cho các quyết định tố tụng khó có thể chính xác, khách quan. Hơn nữa, tình trạng này cũng dễ dẫn đến trách nhiệm không rõ ràng giữa những người tiến hành tố tụng; - Điều 174 về giới hạn xét xử cần được sửa đổi sao cho không trái với các quy định của Hiến pháp, các nguyên tắc cơ bản và những quy định khác của BLTTHS, tạo điều kiện để tòa án được độc lập, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. C/ KẾT LUẬN: Thẩm quyền xét xử của tòa án là một chế định lớn trong luật TTHS. Hiện nay, trước sự phát triển của tình hình kinh tế - xã hội, một số quy định về thẩm quyền của TA các cấp bộc lộ nhiều điểm bất cập không còn phù hợp gây khó khăn cho hoạt động xét xử. Để nhanh chóng phát hiện và xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, tiết kiệm thời gian và công sức cần nghiên cứu quy định thủ tục rút gọn và xét xử phúc thẩm theo thủ tục bút lục trong pháp luật TTHS phù hợp hơn với thực tiễn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBai tap hoc ki to tung hinh su.doc