Một số ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường và sinh vật

MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỚI MÔI TRƯỜNG VÀ SINH VẬT Sử dụng phân bón hoá học và hợp chất bảo vệ thực vật là chìa khoá thành công của cuộc cách mạng xanh, trong nền nông nghiệp, công nghiệp hoá (nông nghiệp đầu tư cao) để đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm. Tuy nhiên, những năm gần đây có nhiều dấu hiệu đáng lo ngại do sự ảnh hưởng của phân bón hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật đến môi trường và sức khoẻ con người. Vấn đề này không chỉ xảy ra ở các nước phát triển mà nó đang ngày trở lên nghiêm trọng ở các nước đang phát triển. Khi người nông dân áp dụng những công nghệ hiện đại (như giống mới, phân hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), máy móc, thiết bị tưới tiêu ) Đã nảy sinh rất nhiều vấn đề môi trường: - Gây độc hại cho nguồn nước, cho đất bởi thuốc trừ sâu, N03-, do đó tác động xấu đến sức khoẻ con người, động vật hoang dại và suy thoái các hệ sinh thái. - Gây nhiễm độc lương thực, thực phẩm thức ăn cho gia súc bởi dư lượng thuốc trừ sâu, NO3- và chất kích thích sinh trưởng. - Gây xói mòn đất, giảm độ phì của đất do xu hướng sử dụng nhiều phân bón hoá học thay cho phân hữu cơ. - Gây mặn hoá thứ sinh do tưới tiêu không hợp lý. - Gây ô nhiễm không khí do sự khuyếch tán của HCBVTV. - Chặt phá rừng, mở rộng diện tích canh tác gây suy thoái nguồn nước ngầm, làm mất dần và có nguy cơ tuyệt chủng nhiều loài động vật hoang dã. - Xu thế tiêu chuẩn hoá, chuyên canh hoá tập trung vào một số giống cây, con mới đồng nhất về di truyền trong nông nghiệp dẫn đến sự thay thế dần và biến mất những giống loài truyền thống – cơ sở di truyền để cải tạo giống là nguồn gen dự trữ quan trọng trong tương lai. 1. Ô nhiễm môi trường từ phân bón hoá học: Nitrat (N03-) là yếu cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của nhiều loài cây trồng, đồng thời nó cũng được xem là mối đe doạ cho sức khoẻ con người và tính trong sạch của các nguồn nước tự nhiên. Tính trung bình, khi bón phân đạm vào đất thực vật chỉ hấp thụ được khoảng 50 - 60%, số còn lại đi vào các nguồn khác. Mặc dù thực vật rất cần nitơ nhưng ion NO3- gần như không bị đất hấp thụ và luôn tồn tại ở dạng linh động dễ bị rửa trôi vào các nguồn nước. Một nghiên cứu vào năm 1972 ở Anh cho thấy có hiện tượng phú dưỡng ở cả 18 con sông nghiên cứu. Nhiều kết quả nghiên cứu bằng phương pháp nguyên tử đánh dấu đã khẳng định N-NH4 tronh nước có nguồn gốc từ nitơ bón vào đất. Như vậy nguồn gốc N03- trong nước là do phân bón vô cơ và hữu cơ đậc biệt khi người nông dân bón không đúng lúc, bón thúc vào thời kỳ cây không cần và bón không đều. Ô nhiễm nỉtat không phải là vấn đề mới, cách đây hàng trăm năm người ta đã ghi nhận nồng độ coa của nó trong các giếng nước ăn nhưng phát hiện mới nhất là NO3- liên quan tới sức khoẻ cộng đồng thể hiện qua 2 loại bệnh:

doc85 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 15781 | Lượt tải: 20download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường và sinh vật, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ích điều tiết của hồ chứa đã và đang xây dựng cho đến nay đạt gần 30 tỷ m3, chiếm 9% tổng lượng dòng chảy nội địa. Phát triển các hệ thống thu gom và xử lý các loại chất thải. Đối với sông nội đô cần tăng cường nạo vét, làm cống hộp lớn để chuyển tải và dẫn thêm nguồn nước sạch ở sông hồ vào nhằm pha loãng và đẩy nguồn nước bẩn này đến những trạm xử lý; đẩy mạnh việc xây dựng các trạm xử lý nước tải và chất thải rắn tập trung và phân tán. Đẩy mạnh trồng rừng, nâng cao độ che phủ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất nhằm điều hoà nguồn nước, giảm lũ, tăng lưu lượng mùa kiệt. Biện pháp phi công trình Tại Hội nghị Thượng đỉnh Jonhannesburg - Nam Phi 2002, nước đã được xếp vị trí hàng đầu trong phát triển. Liên hợp Quốc lấy ngày 22-3 hàng năm là ngày quốc tế về nước để mọi người và các cơ quan chức năng nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với việc quản lý bảo vệ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước. Công tác quản lý tài nguyên nước ở Việt Nam trong những năm qua đã được quan tâm và đạt được nhiều tiến bộ, tuy nhiên do tính chất phức tạp và mới mẻ nên đang được tiếp tục hoàn thiện. Về tổ chức: Giữa tháng 3/2007, Chính phủ đã quyết định hợp nhất nhiệm vụ quản lý lưu vực sông vào chức năng quản lý tài nguyên nước ngọt. Đây cũng là xu thế tổ chức của Thế giới và các nước ASEAN trong việc tách quản lý ra khỏi sử dụng, gắn việc quản lý số lượng với chất lượng, gắn quản lý nước mặt với nước dưới đất. Trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước thuộc về Bộ Tài nguyên và Môi trường nhưng vẫn cần phải có sự phối hợp liên ngành nhất là các ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngành điện cấp thoát nước, thuỷ sản với ngành tài nguyên và môi trường. Về quy hoạch: Hiện nay, quy hoạch thuỷ lợi, thuỷ điện, cấp nước…đã được Bộ NN&PTNT, Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng…và các Bộ liên quan xây dựng, đã và đang được triển khai mạnh mẽ. Để quản lý tổng hợp lưu vực sông, cần sớm hoàn chỉnh và trình duyệt chính thức quy hoạch các lưu vực sông trọng điểm bao gồm quy hoạch phát triển và quy hoạch bảo vệ nhằm hài hoà lợi ích giữa thượng lưu, hạ lưu, giữa các đôi tượng sử dụng nước để việc sử dụng được tiết kiệm, đạt hiệu quả và bền vững. Trước thực trạng suy thoái tài nguyên nước ngọt ở lưu vực sông đang gia tăng thì quy hoạch bảo vệ càng phải được coi trọng và cần được đầu tư thực hiện quy hoạch bảo vệ với tỷ trọng thảo dáng so vơi tổng nguồn kinh phí đầu tư cho phát triển. Việc quản lý thực hiện quy hoạch tổng hợp lưu vực sông ngoài ngành chủ quản thì các ngành khai thác sử dụng nước và các địa phương liên quan đều có nhiệm vụ tham gia với tinh thần cộng tác vì mục tiêu phát triển bền vững. Về các văn bản và chính sách: Các Bộ, ngành chức năng cần nhanh chóng hoàn thiện các văn bản liên quan đến quản lý của ngành mình. Riêng về chính sách phí ô nhiễm, cần có lộ trình nâng dần càng sớm càng tốt để tạo nguồn kinh phí cho xử lý nước. Về thuế tài nguyên nước ở Việt Nam cũng cần đánh giá lại mức thu cho phù hợp. Về sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên nước: Đối với việc tiết kiệm nước trong nông nghiệp: Kinh nghiệm chỉ đạo của Cục quản lý Tưới tiêu và Cấp nước nông thôn ở Trung Quốc cho thấy: trong chương trình hoàn chỉnh và hiện đại hoá các hệ thống thuỷ nông ở Trung Quốc đã tăng thêm được 6,67 triệu ha, được tưới và tiết kiệm hàng năm được 20 tỷ m3 nước. Ở Việt Nam nếu thực hiện theo chương trình này thì có thể sẽ nâng cao thêm được diện tích tưới tiêu và tiết kiệm được rất nhiều nước. Các ngành sử dụng nước khác nhau cũng cần có chương trình sử dụng nước tiết kiệm. Riêng đối với thuỷ điện, cần có quy trình vận hành hợp lý để vừa đảm bảo yêu cầu ngành điện và phục vụ các yêu cầu sử dụng nước ở hạ lưu cũng như duy trì động thái của dòng chảy. II.2. Tài nguyên đất II.2.1. Đặc điểm của tài nguyên đất: Khái niệm Đất của Đacutraev: Đất là một hợp phần tự nhiên được hình thành dưới tác động tổng hợp của năm yếu tố đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật và thời gian. Trên quan điểm sinh thái, đất không phải là một khối vật chất trơ mà là một hệ thống cân bằng của một tổng thể gồm các thể khoáng nghiền vụn, các chất hữu cơ và những sinh vật đất. Thành phần vật chất của đất gồm: các hạt khoáng (40%), các chất mùn hữu cơ (5%), không khí (20%) và nước (35%). Chức năng cơ bản của đất là: - Là môi trường (địa bàn) để con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và phát triển, địa bàn lọc và cung cấp nguồn nước cho con người,địa bàn cho các công trình xây dựng. - Là địa bàn để cho các quá trình biến đổi và phân hủy các phế thải khoáng và hữu cơ. Nơi cư trú cho các động vật và thực vật đất. II.2.2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất Sự sử dụng đất tùy thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu, đặc trưng của tập đoàn cây trồng, vào trình độ phát triển xã hội và vào mục đích kinh tế của con người . Theo tài liệu của Tổ chức Lương Nông Thế giới (FAO) thì diện tích của phần đất liền của các lục địa là 13.400 triệu ha, trong số này có - 1.500 triệu ha (11%) là đất canh tác. - 3.200 triệu ha (24%) là đồng cỏ chăn nuôi gia súc. - 4.100 triệu ha (31%) là diện tích rừng và đất rừng. - 4.400 triệu ha (34%) còn lại là diện tích đất dùng vào các việc khác (dân cư, đầm lầy, đất ngập mặn...). Diện tích đất có thể dùng cho canh tác được đánh giá vào khoảng 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác khoảng 1.500 triệu ha. Diện tich đất toàn cầu và quy mô sử dụng đất trên trái đất được tóm tắt ở bảng sau Diện tích và sử dụng đất trên thế giới TT Hệ sinh thái Diện tích (x 10 km2) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 Rừng mưa nhiệt đới Rừng nhiệt đới theo mùa Rừng thường xanh vùng khí hậu ôn hòa Rừng rụng lá vùng khí hậu ôn hòa Rừng Taiga Rừng cây gỗ, cây bụi Savan Đồng cỏ nhiệt đới Đồng cỏ vùng khí hậu ôn hòa Sa mạc, bán sa mạc Sa mạc khắc nghiệt Đất canh tác Đất lúa Đầm lầy, đầm phá Tundra Pha tạp 7,11 7,105 7,306 6,834 7,013 7,173 10,695 2,115 10,467 12,001 12,575 15,776 1,45 2,101 6,947 15,210 Tổng số 130,428 (Nguồn : Bouwman, 1998) Tỷ lệ phần trăm (%) diện tích các loại đất trên thế giới (FAO, 1990) Loại đất Tỷ lệ % Tuyết, băng, hồ Đất hoang mạc Đất núi Đất đài nguyên Đất podzon Đất nâu rừng Đất đỏ Đất đen Đất màu hạt dẻ Đất xám Đất phù sa Các loại đất khác 11,5 8,7 16,3 4,0 9,2 3,5 17,1 5,2 8,9 9,4 3,9 3,2 Qua bảng trên cho thấy những loại đất xấu (4 loại đầu) chiếm tới 40,5%. Hiện trạng sử dụng đất của thế giới theo FAO nhu sau : - 20% diện tích ở vùng quá lạnh, không sử dụng được - 20% diện tích ở vùng quá khô, hoang mạc không sử dụng được - 20% diện tích ở vùng quá dốc không canh tác nông nghiệp được - 20% diện tích đồng cỏ - 10% diện tích ở vùng tầng đất mảng - 10% diện tích đang trồng trọt Hiện nay, tài nguyên đất thế giới đang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rữa trôi, bạc màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn và ô nhiễm đất, biến đổi khí hậu. Trong đó, 10% đất có tiềm năng nông nghiệp đang bị sa mạc hóa. Như vậy, có thể nói con người đã sử dụng đất vào rất nhiều những mục đích khác nhau chứ không đơn thuần là sử dụng trong nông nghiệp. Đất tham gia vào tất cả mọi hoạt động sống của con người từ định cư, sinh sống, đến vui chơi, giải trí…Tuy nhiên, nhìn vào con số thống kê, ta có thể thấy việc sử dụng đất chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Hiện nay, tài nguyên đất TG đang bị suy thoái nghiệm trọng do nhiều lí do khác nhau, trong đó 10% đất có tiềm năng nông nghiệp đang bị sa mạc hoá. Một lượng lớn đất có thể dùng cho canh tác còn chưa được sử dụng, trong khi đó, quỹ đất dúng choi nông nghiệp thì ngày càng bị cắt xén để dùng vào các mục đích khác như xây dựng đường sá, giao thông, xây dựng nhà cửa, công xưỡng …Đó đang là vấn đề rất bất cập. Ở nước ta, diện tích đất tự nhiên có khoảng 33 triệu ha (xếp thứ 58/200 nước), trong đó có 22 triệu ha đất phát triển tại chỗ và 11 triệu ha đất bồi tụ. Bình quân đất tự nhiên theo đầu người rất thấp: 0,444 ha/người (2001), bằng 1/6 mức bình quân của thế giới. Bình quân diện tích nông nghiệp chỉ khoảng 0,12 ha/người. Tuy nhiên, chúng ta là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng đầu trên thế giới, điều đó chúng tỏ rằng chúng ta đang sử dụng quỹ đất nông nghiệp có hiệu quả và đã đạt được những thành công nhất định. Đa số diện tích chưa sử dụng nằm ở vùng đất trống đồi núi trọc. Đây cũng là đối tượng khai hoang mở rộng diện tích đất nông lâm nghiệp trong nước ta. Trong tổng số diện tích đất chưa sử dụng thì khoảng 8 triệu ha có thể sử dụng cho lâm nghiệp, chỉ có gần 3 triệu ha có thể sử dụng cho nông nghiệp. Như vậy, trong tương lai diện tích đất nông nghiệp tối đa cũng chỉ có khoảng 12 triệu ha. Khi ấy bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ở nước ta với tỷ lệ tăng dân số như hiện nay, thì vẫn không vượt qua ngưỡng 1.300 m2. II.2.3. Nguyên nhân thoái hóa tài nguyên đất và những biện pháp khắc phục - Rửa trôi, xói mòn, suy kiệt dinh dưỡng đất, hoang hoá (Ninh Thuận, Bình Thuận) và khô hạn, cơ cấu cây trồng nghèo nàn, đất mất khả năng sản xuất ở trung du, miền núi (Tây Nguyên). Do lượng mưa tập trung lớn vào mùa mưa (đến 80%), mất rừng, đốt nương làm rẫy, canh tác không hợp lý trên đất dốc. - Mặn hóa, phèn hoá: khoảng 3 triệu ha, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long - Bạc màu do di chuyển cát: khoảng 0,5 triệu ha ở đồng bằng ven biển miền Trung. - Ngập úng, ngập lũ, lầy hóa có diện tích khoảng 1,4 triệu ha Ô nhiễm môi trường đất, nước và bùn do nước thải xung quanh đô thị, các khu công nghiệp và những nơi sử dụng thuốc trừ sâu diệt cỏ, những nơi bị rải chất diệt cỏ, chất độc màu da cam trong chiến tranh. Sự suy giảm diện tích đất bình quânđầu người ở Việt Nam Năm Dân số (tr người) Diện tích đất NN (tr ha) Bình quân/ng (ha/ng) 1940 20,2 5,2 0,26 1955 25,1 4,7 0,19 1975 47,6 5,6 0,12 1980 53,7 7,0 0,13 1985 59,7 6,8 0,11 1990 65,7 7,1 0,105 1995 74,0 7,0 0,095 Chiến lược bảo vệ đất cho cuộc sống bền vững: - Bảo vệ những vùng đất tốt nhất cho nông nghiệp. - Cải thiện việc bảo vệ đất và nước. - Giảm nhẹ tác động của việc trồng trọt lên đất đã bạc màu. - Khuyến khích những phương thức sản xuất kết hợp với chăn nuôi. - Hạn chế sử dụng hóa chất trong nông nghiệp . - Đẩy mạnh biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp. Đối với vùng đồi núi, để chống xói mòn trên đất dốc phải áp dụng tổng thể các biện pháp thủy lợi, canh tác nông – lâm. Đất nông nghiệp vốn đã ít, nên chúng ta cần có biện pháp quản lý chặt chẽ: II.3. Tài nguyên rừng II.3.1. Đặc điểm tài nguyên rừng Rừng là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, nhất là rừng ẩm nhiệt đới. Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự nhiên, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu, đất đai. Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế - xã hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường. Hiện nay rừng được đánh giá là hệ sinh thái đa dạng và giàu có nhất trên cạn, đặc biệt là rừng ẩm nhiệt đới. Năng suất trung bình của rừng trên thế giới đạt 5 tấn chất khô/ha/năm, đáp ứng 2 - 3% nhu cầu lương thực phẩm cho con người. Rừng có vai trò to lớn về môi trường và phát triển, là nguồn cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho con người. Rừng cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, dược liệu, du lịch, giải trí...Rừng là "lá phổi xanh" hấp thụ CO2, tái sinh oxy, điều hòa khí hậu cho khu vực. Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng. Có thể nói nước ta là trung tâm thu nhập các luồng thực vật và động vật từ phía bắc xuống, phía tây qua, phía nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng. Ðồng thời, nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000 m nên có nhiều loại rừng với nhiều loại thực vật và động vật quý hiếm và độc đáo mà các nước ôn đới khó có thể tìm thấy được: - Về thực vật, theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loài thực vật, nhưng chỉ có khoảng 10.500 loài đã được mô tả (Hộ, 1991- 1993), trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài nấm... Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc. Về cây lấy gỗ gồm có 41 loài cho gỗ quí (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3)..., loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha. Ngoài ra rừng VN còn có loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao. Ngoài những cây làm lương thực, thực phẩm và những cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn có những cây được sử dụng làm dược liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có khoảng 75% là cây hoang dại. Những cây có chứa hóa chất quý hiếm như cây Tô hạp (Altingia sp.) có nhựa thơm có ở vùng núi Tây Bắc và Trung bộ; cây Gió bầu (Aquilaria agalocha) sinh ra trầm hương, phân bố từ Nghệ tỉnh đến Thuận Hải; cây Dầu rái (Dipterocarpus) cho gỗ và cho dầu nhựa... - Về động vật cũng rất đa dạng, ngoài các loài động vật đặc hữu Việt Nam còn có những loài mang tính chất tổng hợp của khu hệ động vật miền nam Trung Hoa, Ấn Ðộ, Mã Lai, Miến Ðiện. Hiện tại đã thống kê được khoảng 774 loài chim, 273 loài thú, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 475 loài cá nước ngọt và 1.650 loài cá ở rừng ngập mặn và cá biển; chúng phân bố trên những sinh cảnh khác nhau, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩa khoa học. Nhiều loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ của thế giới.   Điều kiện tự nhiên khí hậu và các nhân tố khác đã tạo cho cây rừng sinh trưởng và phát triển quanh năm, thảm thực vật rừng phong phú đa dạng với nhiều kiểu rừng. Theo các nhà Lâm nghiệp, người ta chia ra các kiểu rừng sau : (Báo cáo về hiện trạng môi trường Việt Nam năm 1994, Cục Môi trường). Các loại rừng chính ở Việt Nam *. Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới Còn gọi là rừng mưa nhiệt đới, rừng nhiệt đới ẩm, kiểu rừng này thường gặp trên các vùng núi cao, dưới 800 m ở phía Bắc, cao trên 1000 m ở phía Nam, là kiểu rừng hỗn loài thuộc họ quen thuộc ở vùng nhiệt đới như họ Đậu (Papilionoideae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), chúng phát triển tươi tốt thành nhiều tầng với nhiều năm tuổi khác nhau. *. Rừng khộp Còn gọi là rừng thưa nhiệt đới, rừng nhiệt đới rụng lá, thường thấy ở miền Nam tại các vùng có độ cao dưới 1000 m. Thành phần gồm cây rụng lá xen lẫn cây thường xanh ở mức độ khác nhau. *. Rừng lá kim Ở các vùng cao trên 1000 m ở phía Nam thích hợp với các loài thực vật lá kim (Tùng, Bách, Thông 2 lá, Thông 3 lá) đã tạo nên những cánh rừng bạt ngàn trên cao nguyên Lâm Đồng. Tùy theo độ cao và chế độ ẩm cụ thể mà rừng thông có thể xen lẫn với cây lá rộng của rừng Khộp hay của rừng thường xanh Á nhiệt đới. *. Rừng thường xanh lá rộng Á nhiệt đới Thường gặp ở các vùng núi cao trên 800 m ở phía Bắc, phần lớn gồm các cây hiện diện thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Long Não (Lauraceae), họ Thạch Nam (Ericaceae)... và các cây Tre, Nứa (họ Poaceae). thực vật phụ sinh phát triển mạnh, thường là Phong lan (Orchidaceae), ráng đuôi phụng, ráng tổ rồng (Polypodiaceae) và các cây Thảo quả (họ Zingiberaceae). Ở vùng rừng này, người ta thường trồng những cây thuốc như: Đỗ Trọng (họ Eucommiaceae), Quế (họ Lauraceae), Nhân sâm (họ Araliaceae)... *. Rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên núi đá vôi Thành phần thực vật trên núi đá vôi khá phong phú, chủ yếu là rừng thường xanh, cây rụng lá chiếm tỷ lệ nhỏ. Các loài cây đặc hữu của vùng này gồm : Nghiến (họ Tilliaceae), cây Kim giao (họ Podocarpaceae), cây Trai ly (họ Clusiaceae)... là những loại gỗ quí, thường chúng có đặc điểm chung là ưa Calci, chịu hạn, ít chịu chua. *. Rừng ngập mặn ở Việt Nam Việt Nam có bờ biển dài 3200 km với nhiều cửa sông giàu phù sa, nên rừng ngập mặn sinh trưởng tốt, đặc biệt là bán đảo Cà Mau (tỉnh Cà Mau). II.3.2. Khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng Năm 1945, Việt Nam có 13,3 triệu ha rừng, chiếm 43,8% diện tích đất đai, đến những năm đầu thập niên 1990 diện tích này đã giảm tới con số 7,8 triệu ha với độ che phủ chỉ còn 23,6% tức là đã ở dưới mức báo động (30%). Tốc độ mất rừng ở Việt Nam trong những năm 1985 - 1995 là 200.000 ha/năm. Trong đó, 60.000 ha do khai hoang, 50.000 ha do cháy và 90.000 do khai thác quá mức gỗ và củi. Trên nhiều vùng trước đây là rừng bạt ngàn thì nay chỉ còn là đồi trọc, diện tích rừng còn lại rất ít, chẳng hạn như vùng Tây Bắc chỉ còn 2,4 triệu ha, Tây Nguyên chỉ còn 2,3 triệu ha. Rừng miền Đông Nam Bộ còn lại khá hơn song đang bị tập trung khai thác. Rừng ngập mặn ven biển trước năm 1945 phủ một diện tích 400.000 ngàn ha nay chỉ còn gần một nửa (200.000 ha) chủ yếu là thứ sinh và rừng trồng. Diện tích đất trống đồi núi trọc đang chịu xói mòn nặng lên đến con số 13,4 triệu ha. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến làm mất rừng trên thế giới và Việt Nam, tập trung chủ yếu vào nhóm các nguyên nhân sau: mở rộng diện tích đất nông nghiệp, nhu cầu lấy củi, chăn thả gia súc, khai thác gỗ và các sản phẩm rừng, phá rừng để trồng cây đặc sản và cây công nghiệp, cháy rừng… Diện tích rừng chúng ta tăng nhưng chất lượng rừng không tăng và ngày càng suy giảm. Bên cạnh đó, tình trạng phá rừng ngày càng tăng, xuất hiện dưới những hình thức mới như “phá rừng chờ quy hoạch”, phá rừng để trồng cây công nghiệp,... đang diễn ra ở một số địa phương hiện nay. Các vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Việt Nam gồm một số nội dung sau: - Trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. - Bảo vệ rừng phòng hộ, các vườn quốc gia và các khu dự trữ tự nhiên - Khai thác hợp lý rừng sản xuất, hạn chế khai hoang chuyển rừng thành đất nông nghiệp, hạn chế di dân tự do. - Đóng cửa rừng tự nhiên. - Thành lập một hệ thống hoàn chỉnh các khu rừng tự nhiên được bảo vệ: - Bảo vệ rừng trong một hệ thống các khu vực bảo vệ là một mấu chốt của việc làm kế hoạch sử dụng đất.. Trong đó ưu tiên bảo vệ đối với các hệ sinh thái rừng già. Các khu bảo tồn phải được bao quanh bằng những vùng đệm rộng rãi hoặc rừng biến cải được quản lý hoặc rừng trồng.. Theo các nhà môi trường, diện tích đất có rừng đảm bảo an toàn môi trường của một quốc gia tối ưu > 45% tổng diện tích. - Duy trì lâu dài và đầy đủ diện tích những khu rừng biến cải: phải duy trì rừng biến cải để bảo vệ hệ hổ trợ sự sống và đa dạng sinh học, đồng thời cung cấp sản lượng bền vững về gỗ và các lâm sản khác. - Tăng thêm diện tích rừng trồng: việc trồng cây là rất quan trọng vừa để cải thiện môi trường vừa giảm nhẹ áp lực khai thác lên các khu rừng biến cải biến - Nâng cao khả năng quản lý rừng bền vững: phải chấm dứt tình trạng khai thác rừng không bền vững, đặc biệt là đối với những khu rừng nhiệt đới. II.4. Tài nguyên biển Biển và đại dương giới chiếm 71% diện tích Trái đất với độ sâu trung bình 3.710m, tổng khối nước 1,37 tỷ km3. II.4.1. Đặc điểm tài nguyên biển Việt Nam Vùng biển Việt Nam chiếm phần lớn diện tích biển Đông, bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với diện tích khoảng 1 triệu km2. Biển Việt Nam được phân chia thành 5 vùng chính: Vùng biển Vịnh Bắc Bộ, vùng biển Trung Bộ, vùng biển Đông Nam Bộ, vùng biển Tây Nam Bộ và vùng biển Giữa Biển Đông. Các hệ sinh thái biển và ven biển có giá trị dịch vụ cực kỳ quan trọng như điều hoà khí hậu, dinh dưỡng trong vùng biển thông qua các chu trình sinh địa hoá; đồng thời còn là nơi cư trú, sinh đẻ và ương nuôi ấu trùng của nhiều loài thuỷ sinh vật không chỉ vùng bờ, mà còn từ ngoài khơi vào theo mùa trong đó có nhiều loài đặc hải sản. Đến nay, trong vùng biển nước ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển hình. Các loài sinh vật đó thuộc về 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó có 3 vùng biển: Móng Cái- Đồ Sơn, Hải Vân- Đại Lãnh và Đại Lãnh- Vũng Tàu có mức độ đa dạng sinh học cao hơn các vùng khác. Trong tổng số loài được phát hiện có khoảng 6.000 loài động vật đáy; 2.038 loài cá (hơn 100 loài cá kinh tế); 653 loài rong biển; 657 loài động vật phù du; 537 loài thực vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước. II.4.2. Khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên biển. Hiện nay, con người khai thác rất nhiều nguồn tài nguyên biển để phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội như các nguồn lợi hóa chất và khoáng chất chứa trong khối nước và đáy biển, nguồn lợi nhiên liệu hóa thạch, sinh vật biển,...nhưng đồng thời cũng tác động xấu đến môi trường, khai thác quá mức tài nguyên sinh học, gây ô nhiễm biển từ các hoạt động khai thác dầu khí, vận tải biển, đổ chất thải độc hại và chất thải phóng xạ xuống biển, đưa nước thải từ đất liền ra biển,... Tại các vùng biển Việt Nam hình thành nhiều ngư trường với sản lượng thủy sản lớn, phục vụ các nghề khai thác: nghề lưới rê, nghề câu vàng, nghề lưới kéo đáy đơn... Từ năm 2000-2005, tổng trữ lượng khai thác thủy sản biển đạt khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lượng cá nổi khoảng 2,8 triệu tấn, chiếm khoảng 70% tổng trữ lượng. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là hiện nay tại những vùng ven bờ đã và đang bị tận dụng khai thác quá mức, làm cho nguồn lợi thủy sản có nguy cơ bị cạn kiệt. số lượng ngư dân trực tiếp khai thác hải sản tăng bình quân 23.155 người/năm. Điều này đồng nghĩa với việc cạnh tranh trong khai thác ven bờ với cường độ cao, ráo riết hơn, hơn nữa để tăng sản lượng ngư dân này dùng mọi biện pháp để đánh bắt: Giảm kích thước mắt lưới, tăng cường độ khai thác hoặc dùng những biện pháp khai thác mang tính hủy diệt, như: Sử dụng chất nổ, chất độc, xung điện… Sự suy giảm nguồn lợi cá đã ảnh hưởng nghiêm trọng và trực tiếp đến hiệu quả đánh bắt của các loại nghề khai thác hải sản. Tỷ lệ cá tạp, cá con trong các mẻ lưới ngày càng cao, chiếm 40-95% sản lượng đánh bắt, tùy theo loại ngành nghề khai thác, kéo theo doanh thu các hoạt động khai thác có xu hướng thấp dần. Biển còn là nguồn năng lượng được khai thác trong vận tải biển, chạy máy phát điện và nhiều lợi ích khác. II.5. Tài nguyên sinh học Tài nguyên sinh học hay đa dạng sinh học là tất cả các loài động vật, thực vật và vi sinh vật sống hoang dại, tự nhiên trong rừng, trong đất và trong các vực nước. Sự phát sinh và phát triển của chúng trên trái đất đã đóng góp cho sự tiến hóa của sinh quyển, đồng thời lại là nguồn sống của con người. Theo tài liệu mới nhất thì chúng ta đã biết và mô tả 1,74 triệu loài và dự đoán số loài có thể lên đến 14 triệu loài. Trong số 1,7 triệu loài đã mô tả có 4.000 loài vi khuẩn, 80.000 loài nhân thật (Protista gồm động vật nguyên sinh, tảo), 1.320.000 loài động vật, 70.000 loài nấm và 270.000 loài thực vật. Đa dạng loài lớn nhất là ở vùng rừng nhiệt đới. Mặc dù rừng nhiệt đới chỉ chiếm 7% diện tích mặt đất và khoảng 2% diện tích bề mặt hành tinh, chúng chứa hơn 1/2 loài trên thế giới. Nhóm ngành Số loài mô tả Số loài dự đoán Vi khuẩn 4.000 1.000.000 Protista 80.000 600.000 Động vật 1.320.000 10.600.000 Nấm 70.000 1.500.000 Thực vật 270.000 300.000 Tổng 1.744.000 14.000.000 II.5.1. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên sinh học Việt Nam Nước ta rất phong phú và đa dạng động thực vật hoang dã đặc trưng cho vùng nhiệt đới gió mùa. Theo các tài liệu đã công bố, hệ thực vật nước ta gồm khoảng 10.084 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm, trong đó có tới 2.300 loài đã được nhân dân sử dụng làm lương thực và thực phẩm, dược phẩm, làm thức ăn gia súc, lấy gỗ, tinh dầu, các nguyên vật liệu khác hay làm củi đun. Hệ thực vật Việt Nam có độ đặc hữu cao. Phần lớn số loài đặc hữu này (10%) tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở Bắc Trung Bộ. Nước ta rất phong phú và đa dạng động thực vật hoang dã đặc trưng cho vùng nhiệt đới gió mùa. Theo các tài liệu đã công bố, hệ thực vật nước ta gồm khoảng 10.084 loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 800 loài rêu và 600 loài nấm, trong đó có tới 2.300 loài đã được nhân dân sử dụng làm lương thực và thực phẩm, dược phẩm, làm thức ăn gia súc, lấy gỗ, tinh dầu, các nguyên vật liệu khác hay làm củi đun. Hệ thực vật Việt Nam có độ đặc hữu cao. Phần lớn số loài đặc hữu này (10%) tập trung ở bốn khu vực chính: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, cao nguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở Bắc Trung Bộ. Tình trạng hiện nay của một số loài gỗ quí như Gõ đỏ, Gụ mật, nhiều loài cây làm thuốc như Hoàng Liên chân gà, Ba kích,... Thậm chí có nhiều loài đã trở nên rất hiếm hay có nguy cơ tuyệt chủng như Hoàng đàn, Cẩm lai, Pơ mu,... Khu hệ động vật cũng hết sức phong phú. Hiện đã thống kê được 275 loài và phân loài thú, 828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, khoảng 500 loài cá nước ngọt và 2.000 loài cá biển và hàng vạn loài động vật không xương sống ở cạn, ở biển và nước ngọt. Động vật giới Việt Nam có nhiều loài là đặc hữu: hơn 100 loài và phân loài chim và 78 loài và phân loài thú là đặc hữu. Có rất nhiều loài động vật có giá trị thực tiễn cao và nhiều loài có ý nghĩa lớn về bảo vệ như voi, Tê giác, Bò rừng, Hổ, Báo, Voọc vá, Voọc xám, Trĩ, Sếu, Cò quắm. Trong vùng phụ Đông Dương (phân vùng theo địa lý động vật) có 21 loài khỉ thì ở Việt Nam có 15 loài, trong đó có 7 loài đặc hữu của vùng phụ này. Có 49 loài chim đặc hữu cho vùng phụ thì ở Việt Nam có 33 loài, trong đó có 11 loài là đặc hữu của Việt Nam; trong khi Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Hải Nam mỗi nơi chỉ có 2 loài, Lào 1 loài và Campuchia không có loài đặc hữu nào. Hiện nay chúng ta đã phát hiện hơn 300 loài san hô cứng ở vùng biển Việt Nam, trong đó có 62 loài là san hô tạo rạn, phù hợp với điều kiện trong vùng. Về các nhóm ở nước mặn, chúng ta đã thống kê được 2.500 loài thân mềm, giáp xác 1.500 loài, giun nhiều tơ 700 loài, da gai 350 loài, hải miên 150 loài, 653 loài tảo biển cũng đã được xác định. Thực vật Thú Chim Bò sát, lưỡng cư Cá Nước ngọt Nước mặn Số lượng loài đã biết 14.500 300 830 400 550 2000 Số lượng loài bị mất dần 500 96 57 62 90 Trong đó, số lượng loài có nguy cơ tuyệt chủng 100 62 29 Sự đa dạng thành phần loài và sự suy giảm số lượng loài thực vật, động vật Các biện pháp bảo vệ tài nguyên sinh học + Ban hành “Sách đỏ Việt Nam, Quy định khai thác và bảo vệ tài nguyên sinh học, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất hợp lý + Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên. Năm 1986 cả nước có 87 khu với 7 vườn quốc gia. Đến năm 2007 cả nước có 30 vườn quốc gia, 65 khu dự trữ thiên nhiên và bảo tồn loài - sinh cảnh, 6 khu được UNECO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Ban hành "Sách đỏ Việt Nam": Để bảo vệ nguồn gen động - thực vật quí hiếm khỏi nguy cơ tuyệt chủng, đã có 360 loài thực vật và 350 loài động vật thuộc loại quí hiếm được đưa vào "Sách đỏ Việt Nam". Trong "Sách đỏ Việt Nam" cũng đã qui định danh sách 38 loài cá nước ngọt và 37 loài cá biển, 59 loài động vật không xương sống cần được bảo vệ. + Để đảm bảo sử dụng lâu dài các nguồn lợi sinh vật, Nhà nước đã ban hành các qui định trong khai thác: Cấm khai thác gỗ quí, khai thác gỗ trong rừng cấm, rừng non, gây cháy rừng; Cấm săn bắn động vật trái phép; Cấm dùng chất nổ đánh bắt cá và các dụng cụ đánh bắt cá con, cá bột; Cấm gây độc hại cho môi trường nước II.6. Tài nguyên khoáng sản II.6.1. Khái niệm chung Luật khoáng sản 20.3.1996 định nghĩa: Khoáng sản là tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể được khai thác. Khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản. Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia, phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Khoáng sản có thể tồn tại ở trạng thái rắn (quặng, đá), lỏng (dầu, nước khoáng,…), oặc khí (khí đốt). Khoáng sản cũng có thể hiểu là nguồn nguyên liệu tự nhiên có nguồn gốc vô cơ hoặc hữu cơ, tuyệt đại bộ phận nằm trong lòng đất và quá trình hình thành có liên quan mật thiết đến quá trình lịch sử phát triển của vỏ trái đất trong thời gian dài từ hàng ngàn năm đến hàng chục, hàng trăm triệu năm. II.6.2. Phân loại khoáng sản: Khoáng sản rất đa dạng cả về nguồn gốc và chủng loại, được phân loại theo nhiều cách: - Theo dạng tồn tại: rắn, khí (khí đốt, He,...), lỏng (dầu, nước khoáng,...) - Theo nguồn gốc: nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất). - Theo thành phần hoá học: Khoáng kim loại: gồm kim loại thường gặp có trữ lượng lớn (nhôm, sắt, crom, magiê,..) và kim loại hiếm (vàng, bạc, bạch kim, thuỷ ngân, ..) Khoáng phi kim loại: gồm các loại quặng photphat, sunphat, clorit..., các nguyên liệu dạng khoáng: cát sỏi, thạch anh, đá vôi,.. và dạng nhiên liệu (than, dầu mỏ, khí đốt,..) Nước cũng được coi là một dạng khoáng (nước biển, nước ngầm chứa khoáng...). - Theo chức năng sử dụng, khoáng sản được phân ra làm 3 nhóm lớn: Khoáng sản kim loại: Nhóm khoáng sản sắt và hợp kim sắt (sắt, mangan, crom, vanadi, niken, molipden, vonfram, coban); Nhóm kim loại cơ bản (thiếc, đồng, chì, kẽm, antimoan); Nhóm kim loại nhẹ (nhôm, titan, berylly); Nhóm kim loại quý hiếm (vàng, bạc, bạch kim); Nhóm kim loại phóng xạ (uran,thori)và nhóm kim loại hiếm và đất hiếm Khoáng sản phi kim loại: Nhóm khoáng sản hoá chất và phân bón: apatit, photphorit, barit, fluorit, muối mỏ, thạch cao, S (pirit, prontin,…), spectin; Nhóm nguyên liệu sứ gốm, thuỷ tinh chịu lửa, bảo ôn: sét – kaolin, magnezit, fenspat, diatomit… Nhóm nguyên liệu kỹ thuật: kim cương, grafit, thạch anh, mica, tan, atbet, zeolit. Vật liệu xây dựng: đá macma và biến chất, đá vôi, đá hoa, cát sỏi Khoáng sản cháy: than (than đá, than nâu, than bùn) dầu khí (dầu mỏ, khí đốt, đá dầu). Trong 100 năm trở lại đây, loài người đã lấy đi từ trong lòng đất một lượng khổng lồ các khoáng sản: 130 tỷ tấn than, 38 tỷ tấn dầu,... Nhu cầu sử dụng một số kim loại thông dụng cho toàn thế giới năm 1990 như sau: sắt 1.300 triệu tấn, đồng:12 triệu tấn, nhôm: 85 triệu tấn,... II.6.3. Tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam Một số loại khoáng sản chính của Việt Nam: - Quặng sắt: trữ lượng gần 1800 triệu tấn, phân bố rải rác từ Bắc Bộ đến Nam Trung Bộ. Mỏ sắt lớn nhất ở Việt Nam là mỏ Thạch Khê (Hà Tĩnh), trữ lượng ước tính trên 500 triệu tấn - Quặng đồng: trữ lượng trên 1 triệu tấn. Các mỏ lớn ở Việt Nam là mỏ đồng Sinh Quyền (Lào Cai) và mỏ Tạ Khoa (Sơn La) - Quặng nhôm (Quặng bauxit): chủ yếu ở Tây Nguyên, ước tính trữ lượng tới 4 tỷ tấn. Ngoài ra còn có ở Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ - Quặng thiếc: Trữ lượng tới 70 nghìn tấn, các mỏ lớn ở Cao Bằng, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Hà Tĩnh - Quặng crôm: Trữ lượng 10 triệu tấn, lớn nhất là mỏ crôm Cổ  Định (Thanh Hoá) - Quặng titan: Phân bố chủ yếu ở ven biển miền Trung Việt Nam - Các quặng kim loại khác như: vàng, chì, kẽm, mangan, niken, đất hiếm, phân bố rải rác nhiều nơi như: mỏ chì kẽm Chợ Đồn, chợ Điền Việt Bắc;  mỏ mangan Cao Bằng; mỏ niken ở Sơn La; mỏ vàng ở Bồng Miêu (Quảng Nam); mỏ vàng ở Bắc Lạng (Bắc Cạn) và các mỏ có trữ lượng hàng chục đến hàng trăm tấn ở Trung Bộ - Quặng apatit (làm phân bón): trữ lượng trên 1 tỷ tấn, mỏ lớn nhất là mỏ ở Cau Đường (Lào Cai), mỏ Quỳ Châu (nghệ An) - Đá vôi: Trữ lượng rất lớn, các dãy núi đá vôi phân bố nhiều ở Bắc, Trung Bộ và Kiên Giang. Trữ lượng được đánh giá trên 10 tỷ tấn - Đá quý: mỏ rubi ở Quỳ Hợp (Nghệ An) và mỏ rubi, saphia Lục Yên (Yên Bái) - Dầu mỏ, khí đốt: Trữ lượng dầu mỏ được thăm dò tới hàng trăm triệu tấn, chủ yếu ở phần thềm lục địa phía Nam Việt Nam như các mỏ Bạch Hổ, Đại Hùng, Rồng, Nam Côn Sơn, bể Cửu Long … Ngoài ra còn có  nhiều mỏ khí đốt ở đồng bằng Bắc Bộ - Than đá: Trữ lượng 3,5 tỷ tấn tập trung ở vùng Quảng Ninh - Than nâu: Trữ lượng hàng trăm tỷ tấn tập trung ở vùng đồng bằng Bắc Bộ - Nước ngầm dưới đất: Trữ lượng 130 triệu mét khối nước/ngày - Nguyên liệu xi măng: chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và Hà Tiên. Trữ lượng đánh giá được 18 tỉ tấn đá vôi, 1,6 tỉ tấn đất sét, 0,2 tỉ tấn phụ gia, dư thừa để sản xuất 29 triệu tấn xi măng/năm. - Cát thủy tinh: phân bố dọc theo bờ biển từ Quảng Ninh đến Bình Thuận. Trữ lượng được đánh giá 2,6 tỉ tấn, đủ cho sản xuất trong nước và xuất khẩu. II.6.4. Khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên khoáng sản  Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú với gần 5.000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại khoáng sản khác nhau. nhưng phần lớn là mỏ nhỏ, phân tán nên khó khăn trong quản lí khai thác. Khoáng sản trong tự nhiên có nguồn gốc từ vô cơ hay hữu cơ, đại đa số nằm trong lòng đất. Sự hình thành của nó có liên quan đến các quá trình địa chất trong suốt hàng triệu năm.Việc khai thác KS là hết sức tốn kém, nhưng vì lợi nhuận kết quả là nguồn tài nguyên này bị suy giảm một cách nhanh chóng. Đối với nước ta, tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng và phong phú. Đặc biệt là than đá, dầu và khí đốt...Ngành công nghiệp khai khoáng đã đóng góp trên 100 sản phẩm. Giá trị sản xuất công nghiệp khoáng sản từ năm 1995 đến năm 1999 tăng liên tục từ 27- 40 nghìn tỉ đồng, chiếm 26% giá trị sản xuất công nghiệp và 5-6% GDP cả nước Cơ chế thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp khai khoáng phát triển mạnh mẽ. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong giai đoạn 1990 - 1999 sản lượng than khai thác tăng gấp hơn hai lần (năm 2002 cả nước đạt 15,8 triệu tấn, gấp hơn 3 lần) so với năm 1990; dầu thô tăng hơn 5 lần (năm 2002 đạt 16,6 triệu tấn, gấp 6 lần) so với năm 1990. Sản lượng các loại khoáng sản khác cũng tăng gấp nhiều lần so với năm 1990 như: apatít đạt hơn 680 ngàn tấn, gấp 2,5 lần; quặng crôm đạt 59 ngàn tấn, gấp 13 lần; đá các loại đạt 19.172 ngàn m3… . Ngoài ra còn có hàng trăm mỏ khoáng sản kim loại như sắt, thiếc, crômit, đồng, niken, kẽm, chì, magan, antimon, vonfram, vàng… và các khoáng sản phi kim loại như đá quý, đá vôi, đá ốp lát, cát, thủy tinh và vật liệu xây dựng đang được tiến hành đầu tư khai thác. Công nghiệp khai thác mỏ phát triển đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp đủ nguyên liệu, nhiên liệu cho hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân, xuất khẩu tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều nơi việc khai thác khoáng sản bừa bãi, không phép, gây lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường làm cạn kiệt các tài nguyên khác. Giá trị của tài nguyên có thể được bảo toàn và nâng cao hơn nếu chúng ta có được những công nghệ tiên tiến. Phụ thuộc công nghệ bên ngoài sẽ dẫn đến chảy máu tài nguyên khi chúng ta không có cách nào khác hơn xuất khẩu tài nguyên thô. Giá trị sản xuất công nghiệp khoáng sản: Ngành sản xuất 1995 1996 1997 1998 Khai thác than 1677,2 1929,8 2229,1 2209,8 Khai thác dầu khí 10844,6 12466,9 14238,6 17641,6 Quặng kim loại 236,1 282,5 172,3 110,7 Đá và các mỏ khác 1161,8 1288,4 1673,7 1696,4 Than cốc, dầu mỏ 343,2 208,7 83,5 86,0 Sản phẩm khoáng sản phi kim 9200 10120 12222,8 13934,0 Sản xuất sản phẩm kim loại 3428,0 4085,9 3999,8 4239,8 Tổng 26890,9 30382,2 34619,8 39918,3 Các ngành công nghiệp trong cả nước 103374,7 118096,6 134419,7 150684,6 Tỷ lệ ngành khoáng sản/công nghiệp, % 26,00 26,00 26,00 26,00 Các biện pháp bảo vệ: - Quản lí chặt việc khai thác. Tránh lãng phí tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường từ khâu khai thác - vận chuyển - chế biến. Xử lí những trường hợp vi phạm luật - Điều tra chi tiết, qui hoạch khai thác và chế biến khoáng sản, không xuất thô các loại nguyên liệu khoáng, tăng cường tinh chế và tuyển luyện khoáng sản - Đầu tư kinh phí xử lý chất ô nhiễm phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng khoáng sản như: xử lý chống bụi, chống độc, xử lý nước thải... - Hạn chế tổn thất tài nguyên và tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác chế biến. - Than đá, dầu mỏ và khí đốt,... dần dần sẽ khai thác hết. Việc giải quyết sản xuất năng lượng cho tương lai sẽ bằng cách sử dụng nhiều hơn năng lượng hạt nhân. Dự báo đến năm 2020 năng lượng hạt nhân sẽ chiếm 60 - 65% cấu thành năng lượng của thế giới. II.7. Tài nguyên khí hậu II.7.1. Khái niệm chung "Tài nguyên khí hậu và cảnh quan bao gồm các yếu tố về thời tiết khí hậu (khí áp, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ mặt trời, lượng mưa...) địa hình, không gian trống..." Các yếu tố khí hậu có vai trò to lớn trong đời sống và sự phát triển của sinh vật và con người. Tác động của khí hậu đến con người trước hết thông qua nhịp điệu của chu trình sống: nhịp điệu ngày đêm, nhịp điệu mùa trong năm, nhịp điệu tháng và tuần trăng. Các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy tình trạng sức khoẻ, tốc độ phát triển của sinh vật phụ thuộc vào thời điểm của các chu trình sống trên. Cường độ và đặc điểm của bức xạ mặt trời có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của sinh vật và tăng trưởng sinh khối. Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tình trạng sức khoẻ con người, tạo ra sự tăng độ tử vong ở một số bệnh tim mạch, các loại bệnh tật theo mùa v.v... Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế và giao lưu xã hội, khí hậu, thời tiết đang trở thành một dạng tài nguyên vật chất quan trọng của con người. Khí hậu thời tiết thích hợp tạo ra các khu vực du lịch, nuôi trồng một số sản phẩm động thực vật có giá trị kinh tế cao (hoa, cây thuốc, các nguồn gen quý hiếm khác.) Ðịa hình cảnh quan là một dạng tài nguyên mới; nó tạo ra không gian của môi trường bảo vệ, môi trường nghỉ ngơi. Ðịa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài (nội sinh, ngoại sinh). Các loại hình thái chính của địa hình là đồi núi, đồng bằng, địa hình Karst, địa hình ven bờ, các kho nước lớn (biển, sông, hồ). Mỗi loại hình thái địa hình chứa đựng những tiềm năng phát triển kinh tế đặc thù. Thí dụ phát triển du lịch, phát triển nông, lâm, công nghiệp v.v... Bức xạ mặt trời Tổng năng lượng và vật chất của mặt trời đi đến trái đất được gọi là bức xạ mặt trời. bức xạ mặt trời là nguồn năng lượng chính của tất cả các quá trình trong khí quyển. Bức xạ mặt trời quy định chế độ nhiệt và chế độ ánh sáng của lớp vỏ địa lý. Nhiệt độ không khí Nhiệt độ không khí được xác định bằng dụng cụ đo trong điều kiện cân bằng nhiệt hoàn toàn, giữa các dụng cụ với khí quyển xung quanh hoặc với mặt đất. Lượng mưa Là lượng nước ở thể lỏng hoặc thể rắn rơi xuống mặt đất hoặc vật thể ở mặt đất từ mây hoặc từ các chất kết tủa trong không khí dưới dạng mưa, tuyết, mưa đá, sương,... Bốc hơi và độ ẩm không khí Do sự bốc hơi từ bề mặt thủy quyển, bề mặt lục địa và do sự thoát hơi nước của thực vật đã tạo nên một khối lượng hơi nước lớn trong khí quyển. Độ ẩm không khí được xác định thông qua sư chênh lệch nhiệt độ giữa hai nhiệt kế: nhiệt kế khô và nhiệt kế ướt đặt trong lều khí tượng. II.7.2. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên khí hậu Các loại tài nguyên khí hậu (nhiệt, độ ẩm của khí quyển, năng lượng gió...) cũng không bị mất, nhưng thành phần khí quyển có thể bị thay đổi do sự ô nhiễm từ nhiều nguồn khác nhau. Trong sinh quyển, nguồn nước dự trữ cũng hầu như không đổi, nhưng trữ lượng của nước ngọt trong vùng khác nhau có thể bị thay đổi. Do hoạt động của tự nhiên và của con người như núi lửa, cháy rừng, khai thác khoáng sản, giao thông vận thải, khai thác lâm sản và các hoạt động sản xuất công nghiệp,...đã thải vào môi trường tự nhiên một lượng lớn chất thải tác động xấu đến tài nguyên khí hậu. Các chất gây nguy hiểm nhất đối với sức khoẻ con người và khí quyển trái đất đã được biết đến gồm: Cácbon đioxit (CO2): CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là nguyên liệu cho quá trình quang hợp để sản xuất năng suất sinh học sơ cấp ở cây xanh. Thông thường, lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với lượng CO2 được sử dụng cho quang hợp. Hai loại hoạt động của con người là đốt nhiên liệu hoá thạch và phá rừng đã làm cho quá trình trên mất cân bằng, có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu. Ðioxit Sunfua (SO2): Ðioxit sunfua (SO2) là chất gây ô nhiễm không khí có nồng độ thấp trong khí quyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu. Dioxit sunfua sinh ra do núi lửa phun, do đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh khối thực vật, quặng sunfua,.v.v... SO2 rất độc hại đối với sức khoẻ của người và sinh vật, gây ra các bệnh về phổi khí phế quản. SO2 trong không khí khi gặp oxy và nước tạo thành axit, tập trung trong nước mưa gây ra hiện tượng mưa axit. Cacbon monoxit (CO): CO được hình thành do việc đốt cháy không hết nhiên liệu hoá thạch như than, dầu và một số chất hữu cơ khác. Khí thải từ các động cơ xe máy là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố. Hàng năm trên toàn cầu sản sinh khoảng 600 triệu tấn CO. CO không độc với thực vật vì cây xanh có thể chuyển hoá CO => CO2 và sử dụng nó trong quá trình quang hợp. Vì vậy, thảm thực vật được xem là tác nhân tự nhiên có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO. Khi con người ở trong không khí có nồng độ CO khoảng 250 ppm sẽ bị tử vong. Nitơ oxit (NOx): NOx (N20,NO2) là loại khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra trong quá trình đốt các nhiên liệu hoá thạch. Hàm lượng của nó đang tăng dần trên phạm vi toàn cầu, hàng năm khoảng từ 0,2 -,3%. Một lượng nhỏ NOx khác xâm nhập vào khí quyển do kết quả của quá trình nitrat hoá các loại phân bón hữu cơ và vô cơ. NOx xâm nhập vào không khí sẽ không thay đổi dạng trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới những tầng trên của khí quyển nó mới tác động một cách chậm chạp với nguyên tử oxy. Clorofluorocacbon ( CFC): CFC là những hoá chất do con người tổng hợp để sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào khí quyển. CFC 11 hoặc CFCl3 hoặc CFCl2 hoặc CF2Cl2 (còn gọi là freon 12 hoặc F12) là những chất thông dụng của CFC. Một lượng nhỏ CFC khác là CHC1F2 (hoặc F22), CCl4 và CF4 cũng xâm nhập vào khí quyển. Cả hai hợp chất CFC 11 và CFC 12 hoặc freon đều là những hợp chất có ý nghĩa kinh tế cao, việc sản xuất và sử dụng chúng đã tăng lên rất nhanh trong hai thập kỷ vừa qua. Chúng tồn tại cả ở dạng sol khí và không sol khí. Dạng sol khí thường làm tổn hại tầng ôzôn, do đó là sự báo động về môi trường, những dạng không sol khí thì vẫn tiếp tục sản xuất và ngày càng tăng về số lượng. CFC có tính ổn định cao và không bị phân huỷ. Khi CFC đạt tới thượng tầng khí quyển chúng sẽ được các tia cực tím phân huỷ. Mêtan (CH4): Mêtan là một loại khí gây hiệu ứng nhà kính. Nó được sinh ra từ các quá trình sinh học, như sự men hoá đường ruột của động vật có guốc, cừu và những động vật khác, sự phân giải kỵ khí ở đất ngập nước, ruộng lúa, cháy rừng và đốt nhiên liệu hoá thạch. CH4 thúc đẩy sự ôxy hoá hơi nước ở tầng bình lưu. Sự gia tăng hơi nước gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của CH4. Hiện nay hàng năm khí quyển thu nhận khoảng từ 400 đến 765x1012g CH4 Một số chất khác: - Các hợp chất flo. - Các chất tổng hợp (ête, benzen). - Các chất lơ lửng (bụi rắn, bụi lỏng, bụi vi sinh vật), nitrat, sunfat, các phân tử cacbon, sol khí, muội, khói, sương mù, phấn hoa. - Các loại bụi nặng, bụi đất, đá, bụi kim loại như đồng, chì, sắt, kẽm, niken, thiếc, cađimi... - Khí quang hoá như ozôn, FAN, FB2N, NOX, anđehyt, etylen... - Chất thải phóng xạ Tiến hành các biện pháp thiết thực để bảo vệ tài nguyên khí hậu như: Ngăn chặn việc khai thác bừa bãi các loại rừng đầu nguồn, rừng tự nhiên và rừng ngập mặn. Rừng là giải pháp hữu hiệu nhất nhằm cải thiện chế độ mưa, chế độ ẩm và nhiệt độ của địa phương, đem lại điều kiện sinh thái thuận lợi cho sản xuất và con người. Trồng mới các loại rừng, xây dựng cơ cấu rừng hợp lý cho từng vùng, tạo các kiểu rừng có kết cấu nhiều tầng để khai thác tối đa điều kiện không gian và nhanh chóng phủ đất, che bóng cho mặt đất, chống xói mòn, mức che phủ phải đạt trên 50% diện tích đất. Củng cố và xây dựng các hồ chứa nước góp phần hạn chế dòng chảy, phân phối, điều hoà nước và làm tăng độ ẩm đất. Ðó là giải pháp điều tiết khí hậu rất có hiệu quả. Quy hoạch hợp lý việc phát triển giao thông vận tải, phát triển công nghiệp, hạn chế tối đa việc giải phóng bừa bãi các chất thải vào môi trường, đặc biệt là các chất khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ việc đốt các nhiên liệu hoá thạch như xăng dầu, than đá... Tổ chức phòng chống thiên tai có hiệu quả, xây dựng và củng cố hệ thống dự báo về lụt, bão, cháy rừng..., tiến hành các biện pháp phòng chống kịp thời, chu đáo sẽ hạn chế được rất nhiều ảnh hưởng xấu của thiên tai. II.8. Tài nguyên năng lượng II.8.1. Khái niệm chung Năng lượng là một dạng tài nguyên vật chất, xuất phát từ hai nguồn chủ yếu là năng lượng mặt trời và năng lượng lòng đất. Năng lượng là nền tảng cho nền văn minh và sự phát triển của xã hội. Con người cần năng lượng cho sự tồn tại của bản thân mình và phần quan trọng là để sản sinh ra công cho mọi hoạt động sản xuất và dịch vụ. Dạng năng lượng thiên nhiên đầu tiên được con người sử dụng là năng lượng mặt trời dùng để soi sáng, sưởi ấm, phơi khô lương thực, thực phẩm, đồ dùng. Năng lượng dầu mỏ thay thế dần vị trí của than đá trong thế kỷ XX và từng bước chia sẽ vai trò của mình với năng lượng hạt nhân. Các dạng năng lượng mới ít ô nhiễm như năng lượng mặt trời, nước, gió, thủy triều, năng lượng vi sinh vật thu nhận được với những phương tiện và công nghệ tiên tiến cũng đang mở rộng phạm vi hoạt động của mình. II.8.2. Năng lượng mặt trời Tiềm năng năng lượng mặt trời ở Việt Nam: Tiềm năng năng lượng mặt trời được phản ánh qua số giờ nắng. Trung bình năm ở nước ta có khoảng 1400 - 3000 giờ nắng. Ở phần trên đã nêu chi tiết phân bố số giờ nắng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Theo bản đồ khí hậu về phân bố số giờ nắng có thể thấy sự phân bố của tiềm năng năng lượng mặt trời theo thứ tự giảm dần như sau: - Lớn nhất là vùng đồng bằng duyên hải cực Nam Trung Bộ và một phần lãnh thổ phía Đông của Nam Bộ. - Đại bộ phận khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ - Phần lớn đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, vùng núi thấp và vừa ở sườn phía Tây Hoàng Liên Sơn. - Ít nhất là sườn phía Đông Hoàng Liên Sơn và phần lớn khu vực Đông Bắc. Việc sử dụng năng lượng ở nước ta được phân ra theo các khu vực như sau: Dân dụng 67% Công nghiệp 22% Giao thông 7% Nông nghiệp và các khu vực khác 4% Trước đây, người ta sử dụng năng lượng mặt trời chủ yếu trong việc phơi, sấy lúa, gạo và các sản phẩm nông nghiệp cần bảo quản khô, hay trong công nghiệp chế biến thủy hải sản dùng để hong khô cá, tôm…hay lợi dụng để làm nước mắm, nước tương…Ngày nay, năng lượng mặt trời được sử dụng trong một số lĩnh vực cộng nghệ cao như: tấm pin năng lượng mặt trời, điện năng lượng mặt trời, các thiết bị sử dụng nhờ năng lượng mặt trời… II.8.3. Năng lượng gió Tiềm năng năng lượng gió phụ thuộc vào tốc độ gió trung bình V và hệ số năng lượng mẫu k. Do sự phân hóa của tiềm năng năng lượng gió phụ thuộc chủ yếu vào sự phân hóa của tốc độ gió trung bình, nên nói chung sự phân bố của năng lượng gió tương tự như sự phân bố của tốc độ gió trung bình. Phân bố tổng năng lượng gió trung bình năm trên lãnh thổ Việt Nam là: Tiềm năng năng lượng gió tăng lên từ đất liến ra ngoài khơi; và có khuynh hướng giảm khi càng gần xích đạo. Tiềm năng lớn nhất tại các đảo phía Đông lãnh thổ, tổng năng lượng năm W > 4000kwh/m2, trên các đảo xa bờ. Tại các đảo phía Nam giảm dần chỉ từ 400 - 900kwh/m2. Ở vùng ven biển có tiềm năng đáng kể. Trên bờ biển thoáng của Bắc Bộ và Trung Bộ, tiềm năng W từ 800 - 1000kwh/m2, ven biển phía Đông Nam Bộ - từ 600 - 800kwh/m2 và giảm đi ở ven biển phía Nam và phía Tây. Ở đồng bằng Bắc Bộ, theo chiều từ trung du ra biển, tiềm năng W tăng từ 250 đến 800 - 1000kwh/m2. Trên dải đồng bằng hẹp Trung Bộ, ở những nơi mà dãy Trường Sơn hạ xuống thấp, tiềm năng khá phong phú, khoảng 700 - 800kwh/m2, có nơi tới 1000kwh/m2. Những khu vực bị ảnh hưởng hưởng bởi sự che chắn của khối núi đồ sộ Trường Sơn như phía Tây Quảng Nam - Quảng Ngãi, chỉ vài ba trăm kwh/m2. Ở đồng bằng Nam Bộ, phân bố tiềm năng năng lượng gió đồng đều hơn, khoảng 300 - 450kwh/m2 và tăng lên đến 500 - 600kwh/m2 khi ra gần tới biển. Ở trung du và núi thấp W nhỏ có giá trị dưới 200kwh/m2. Vùng núi Đông Bắc Bắc Bộ tiềm năng lớn hơn vùng núi Tây Bắc và vùng núi phía Bắc. Ở Tây Nguyên, mặc dầu gió không mạnh, nhưng do hệ số năng lượng mẫu k lớn nên tiềm năng tương đối khá, trên cao nguyên thoáng, W có thể đạt 600kwh/m2. Phân bố năng lượng gió trung bình năm là một thông tin ban đầu quan trọng đối với mục đích sử dụng và phương thức khai thác nguồn tiềm năng này với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Kế hoạch phát triển nguồn điện đến năm 2010 của Tổng Công ty điện lực Việt Nam có nêu: Chú trọng phát triển thủy điện nhỏ, điện mặt trời, điện gió ở những vùng xa xôi, hẻo lánh. Phát triển, khai thác sử dụng năng lượng tái tạo, trong đó có năng lượng gió được đề cập đến trong chính sách phát triển nông thôn, miền núi phục vụ xóa đói, giảm nghèo. II.8.4. Năng lượng thủy triều Nói chung, dao động mực nước triều ở biển Việt Nam không thuộc loại lớn, không phải là nơi công suất nhiều triển vọng để xây dựng các nhà máy điện thủy triều lớn như các địa điểm khác trên thế giới. Tuy nhiên, vùng biển nước ta có một hệ thống vùng vịnh ven biển có thể tận dụng khai thác năng lượng thủy triều. II.8.5. Các giải pháp về năng lượng của loài người - Việc đầu tư triển khai công nghệ chống ô nhiễm môi trường trong các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than, dầu có tác động giảm thiểu các chất thải ra môi trường Việc tăng giá năng lượng như giá điện, giá xăng dầu, than cũng có thể là một biện pháp để giảm sự lãng phí năng lượng, khuyến khích đầu tư cho các công nghệ sạch, các dạng năng lượng khác. - Tăng cường đầu tư nghiên cứu phát triển các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái sinh theo hướng hạ giá thành sản xuất sao cho chúng có thể cạnh tranh các nguồn năng lượng truyền thống. - Nghiên cứu các qui trình sản xuất, thiết bị sản xuất để tiết kiệm năng lượng. Nghiên cứu sử dụng năng lượng sạch trong một số lĩnh vực dễ gây ra tác động xấu đến môi trường như giao thông, sinh hoạt,...

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMột số ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường và sinh vật.doc
Luận văn liên quan