Một số kinh nghiệm khi dạy phần “thực hành luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La

Vì tương lai con em chúng ta mỗi một thầy cô giáo nói chung và bản thân tôi nói riêng phải đem hết tinh thần, trách nhiệm, lương tâm và có tâm huyết với công việc để giúp và trang bị cho các em những kiến thức nhằm xây dựng, đào tạo cho các em trở thành những công dân tốt cho đất nước, phát huy được năng lực tư duy sáng tạo của mình, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của giáo dục hiện nay theo tinh thần cuộc vận động mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng về tự học, tự rèn và sáng tạo.

doc33 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 02/12/2013 | Lượt xem: 7440 | Lượt tải: 25download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số kinh nghiệm khi dạy phần “thực hành luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI CẢM ƠN Qua một thời gian nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm“Một số kinh nghiệm khi dạy phần “thực hành luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. ” Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Tiểu học Thị Trấn Phù Yên, tập thể cán bộ giáo viên và các em học sinh trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này. Trong thời gian ngắn và phạm vi nghiên cứu còn hạn hẹp, mặc dù đã có nhiều cố gắng song sáng kiến kinh nghiệm không tránh khỏi thiếu sót. Tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ dẫn, bổ sung của các thầy cô giáo, của các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm ngày một hoàn thiện và đưa vào ứng dụng đạt kết quả cao ở trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La cũng như một số trường Tiểu học khác trên địa bàn huyện Phù Yên. Tôi xin trân trọng cảm ơn! Phù Yên, ngày 01 tháng 01 năm 2013 Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hiển MỤC LỤC Nội dung Trang Lời cảm ơn 1 Mục lục 2 Phần mở đầu 1-Lý do chon đề tài 5 2-Mục đích nghiên cứu 6 3-Đối tượng nghiên cứu 7 4-Nhiệm vụ nghiên cứu 7 5-Phương pháp nghiên cứu 7 6-Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 8 7-Cấu trúc sáng kiến kinh nghiệm 8 Phần nội dung Chương I: Cơ sở lý luận của quá trình dạy thực hành luyện tập trong trường Tiểu học. 10 Chương II: Cơ sở thực tiễn việc dạy thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1. 12 2.1 Vài nét về địa phương và nhà trường 12 2.1.1 Đặc điểm tình hình địa phương 12 2.1.2 Đặc điểm tình hình nhà trường 12 2.2 Thực trạng việc dạy thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1. 12 2.2.1 Thực trạng việc dạy học thực hành luyện tập 12 2.2.2 Thực trạng việc dạy phần luyện tập thực hành của nhà trường: 14 2.3 Nguyên nhân thực trạng dạy học phần thực hành luyện tập ở trương Tiểu học Thị Trấn. 14 Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng khi dạy phần thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1 trường tiểu học Thị Trấn huyện phù Yên tỉnh Sơn la. 16 3.1 Các căn cứ đề xuất biện pháp 16 3.2 Các biện pháp: 16 3.2.1 Biện pháp 1: Để dạy học có hiệu quả phần thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trước hết giáo viên phải nắm vững chương trình. 16 3.2.2 Biện pháp 2: Vận dụng phương pháp dạy học thực hành luyện tập trong dạy toán . 19 3.2.3 Biện pháp 3: Giúp học sinh tự thực hành luyện tập theo khả năng của học sinh. 22 3.2.4 Biện pháp 4: Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. 23 3.2.5 Biện pháp 5:Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành luyện tập. 23 3.2.6 Biện pháp 6: Kết hợp với phụ huynh hướng dẫn cách học toán cho học sinh . 24 3.2.7 Biện pháp 7: Thiết kế bài giảng điện tử dạy trình chiếu PowerPoint. 25 3.3:Kết quả thực hiện các biện pháp. 26 Kết luận và kiến nghị I.Kết luận chung. 29 II.Kiến nghị. 30 1.Với địa phương 30 2.Với nhà trường. 30 PHẦN MỞ ĐẦU 1 – LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Như chúng ta đã biết giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên. Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học .Các kiến thức kĩ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên. Môn toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực .Nhờ đó mà học sinh có nhận thức cơ bản về thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong đời sống. Môn toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề .Nó góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận , có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và tác phong khoa học. Đối với môn toán lớp 1 mở đường cho trẻ em đi vào thế giới kỳ diệu của Toán học rồi mai đây các em lớn nên nhiều em trở thành vĩ nhân, trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ… trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống. Trên tay có máy tính sách tay trong túi có máy tính bỏ túi … nhưng không bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập viết các số 1, 2, 3 … học các phép tính cộng, trừ. Vì những con số những phép tính đơn giản ấy cần thiết cho suốt cả đời người. Vậy là những người trực tiếp hướng dẫn các em học những kiến thức đầu tiên trong chương trình môn Toán lớp 1. Một bộ phận của chương trình môn Toán ở tiểu học, chúng ta cần hiểu nó thế nào và dạy ra sao? Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học giáo viên phải tổ chức giờ học Toán như là tổ chức các hoạt động học tập. Học sinh được phát huy tính tích cực chủ động học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức và vận dụng được các kiến thức đã học vào việc thực hành luyện tập. Mà thực hành luyện tập lại chiếm thời lượng rất nhiều trong chương trình môn Toán lớp 1 (trong tiết dạy bài mới, trong tiết luyện tập, luyện tập chung, ôn tập) nhiệm vụ chủ yếu của dạy thực hành luyện tập là củng cố các kiến thức mà học sinh mới chiếm lĩnh được. Xuất phát từ vị trí quan trọng của môn toán, qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu nhiều năm ở tiểu học, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán đặc biệt nội dung thực hành luyện tập bản thân tôi đã đúc rút và tổng kết được một số bài học kinh nghiệm nhằm góp phần thực hiện thành công trong việc đổi mới nội dung chương trình sách lớp 1, nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục Việt Nam. Chính vì vậy tôi chọn đề tài :“ Một số kinh nghiệm khi dạy phần “thực hành luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Thị Trấn huyện phù Yên tỉnh Sơn La. 2– MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: * Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, vai trò, ý nghĩa việc dạy thực hành, luyện tập trong môn Toán lớp 1 ở trường Tiểu học, qua nghiên cứu thực trạng dạy thực hành luyện tập của nhà trường trong những năm gần đây. Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La góp phần nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường. Nghiên cứu đề xuất một số kinh nghiệm có hiệu quả khi dạy phần “thực hành luyện tập” trong môn toán cho học sinh lớp 1 Trường Tiểu học Thị Trấn huyện phù Yên tỉnh Sơn La. 3 - ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung chủ yếu vào nội dung và các biện pháp nâng cao chất lượng dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. 4 – NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Trong phạm vi đề tài này tôi đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau: - Nghiên cứu những vấn đề về dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1. - Nghiên cứu thực trạng dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 của nhà trường trong những năm vừa qua. - Đề xuất những biện pháp dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. 5 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: *Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học. *Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 của bản thân cũng như của bạn bè đồng nghiệp. - Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng việc dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trong nhà trường trên cơ sở đó tổng hợp phân tích, bổ xung kinh nghiệm cho bản thân. - Phương pháp trò chuyện với giáo viên, với học sinh: Nắm thực trạng việc dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trong nhà trường. - Phương pháp thống kê toán học: Dùng để sử lý số liệu điều tra, phân tích số liệu thu được. 6 – GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU: * Giới hạn nghiên cứu: Việc dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trong nhà trường Tiểu học. * Phạm vi nghiên cứu: Việc dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La từ năm học 2011 – 2012 đến nay. 7 – CẤU TRÚC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: Đề tài được trình bày thành 3 phần: PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG +Chương 1: Cơ sở lý luận của quá trình dạy thực hành luyện tập trong trường Tiểu học. +Chương 2: Cơ sở thực tiễn việc dạy thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. +Chương 3: Biện pháp nâng cao chất lượng khi dạy phần thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện Phù Yên tỉnh Sơn La. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUÁ TRÌNH DẠY THỰC HÀNH LUYỆN TẬP TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC Đảng và nhà nước đã chỉ đạo đổi mới giáo dục ở tất cả các ngành học, bậc học. Bởi vì đổi mới phương pháp dạy học khắc phục được lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền giáo dục nước ta trong thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt việc thay đổi chương trình đối với lớp 1. Môn toán là một trong số môn cơ bản. Chương trình môn toán Tiểu học kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy họcc toán lớp 1 ở nước ta, khắc phục một số tồn tại của dạy học toán lớp 1 trong giai đoạn vừa qua. Thực hiện những đổi mới về giảng dạy toán ở lớp 1 nói riêng, ở Tiểu học nói chung. Cung cấp những kiến thức và kĩ năng cơ bản thiết thực có hệ thống từ đơn giản và cụ thể đến phức tạp và khái quát hơn. Hơn nữa môn toán là một trong những môn học có điều kiện so sánh và đặt kế hoạch để sớm đạt trình độ phát triển chung của giáo dục toán học ở khu vực và trên thế giới. Đối với nội dung chương trình toán 1 với mục tiêu giúp học sinh: - Đếm, đọc, viết các số đến 100. - So sánh, sắp xếp các số theo thứ tự xác định. - Sử dụng bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 để thực hành tính. - Đo và ước lượng độ dài chủ yếu trong phạm vi 10cm, tên gọi các ngày trong tuần lễ, xem giờ đúng trên mặt đồng hồ. - Nhận dạng hình vuông, hình tròn, hình tam giác, đoạn thẳng, điểm, vẽ đoạn thẳng có độ dài trong phạm vi 10cm. - Phát hiện và giải quyết vấn đề: + Bằng nói và viết các phép tính thích hợp. + Bằng giải toán bằng về thêm, bớt ( diễn đạt bằng nói, viết ) + Bằng các hoạt động khác ( Các bài tập mở ). - Cách học toán và phát triển tư duy ( so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng và khái quát hoá). Căn cứ vào nội dung chương trình và yêu cầu của môn toán đòi hỏi giáo viên muốn thực hiện tiết dạy đạt hiệu quả phải có biện pháp hướng dẫn tổ chức thực hành luyện tập cho học sinh phù hợp. Quan tâm đúng mức hơn đến thực hành luyện tập cũng như rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết các tình huống có vấn đề. Phát hiện những năng lực tư duy của học sinh, xây dựng phương pháp học tập toán dựa trên hoạt động của học sinh, giúp học sinh biết cách tự học toán có hiệu quả, phát triển năng lực của từng học sinh. Do vậy giáo viên phải có sự chuẩn bị từ khâu soạn bài đến khâu lên lớp thông qua bài giảng, tuỳ nội dung bài xây dựng cho học sinh tích cực và chủ động lĩnh hội tri thức đạt kết quả cao. Như Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc đã nói: “Học để hành. Học và hành phải đi đôi – học mà không hành thì vô ích …” đặc biệt trong môn Toán vấn đề này lại càng quan trọng. Sau khi tổ chức hướng dẫn để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới cần tổ chức hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập để học sinh nhận ra kiến thức mới trong các dạng bài tập khác nhau, nhằm giúp các em nắm chắc và củng cố được các kiến thức mà các em mới chiếm lĩnh được. CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VIỆC DẠY THỰC HÀNH LUYỆN TẬP CHO HỌC SINH LỚP 1 2.1 Vài nét về địa phương và nhà trường 2.1.1 Đặc điểm tình hình địa phương Thị Trấn Phù Yên được thành lập vào ngày 13 tháng 4 năm 1977 nằm ở trung tâm huyện Phù Yên . Vị trí địa lý và địa hình thuận lợi. Toàn Thị Trấn có tổng diện tích trên 90,87 ha với 7657 nhân khẩu, được chia thành 16 khối phố và có nhiều dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Thái, Mường, Dao, H mông, Hoa, …). Kinh tế chủ yếu của người dân 2/3 là công chức nhà nước, còn lại chủ yếu là kinh doanh, buôn bán nhỏ lẻ và chăn nuôi nên thu nhập của người dân tương đối ổn định, tất cả các yếu tố đó tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục của địa phương. Đa số người dân quan tâm đến việc học hành của con cái. 2.1.2 Đặc điểm tình hình nhà trường Trường tiểu học Thị trấn được tách từ trường phổ thông cơ sở Thị Trấn từ năm 1998. Được sự quan tâm của các cấp các ngành nên nhà trường đã được trang bị khá đầy đủ về cơ sở vật chất. Trường đạt chuẩn quốc gia năm 2001. 2.2 Thực trạng việc dạy thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1. 2.2.1 Thực trạng việc dạy học thực hành luyện tập Để tìm hiểu thực trạng dạy học thực hành luyện tập đạt hiệu quả, ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng học sinh và thống kê kết quả tiết dạy của giáo viên trong khối như sau: Bảng 1: Chất lượng học sinh của khối lớp 1 Tổng số HS khối 1 Xếp loại học lực giỏi Xếp loại học lực khá Xếp loại học lực TB Xếp loại học lực Yếu Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ 149 em 90 em 60,4% 25 em 16,8% 29em 19,5% 5 em 3,3% Bảng 2: Kết quả cụ thể về giờ dạy giáo viên Tổng số giáo viên KI Tổng số giờ dạy môn Toán Xếp loại giỏi Xếp loại khá Xếp loại đạt yêu cầu 5 5 2 2 1 *Nhận xét chung: Nhìn vào chất chất lượng học sinh của khối lớp 1 và kết quả cụ thể về giờ dạy của giáo viên ta thấy: Còn số ít giáo viên chưa có biện pháp để lập kế hoạch, hướng dẫn phù hợp với học sinh, với nội dung chương trình tăng thời lượng, tăng thực hành luyện tập vận dụng gắn với đời sống tạo hứng thú tự tin cho học sinh, giáo viên vừa làm vừa rút kinh nghiệm, chưa thực sự tự tin, một số ít giáo viên chưa thực sự quan tâm đến từng đối tượng học sinh và động viên khuyến khích các em học tập (đối tượng học sinh cá biệt), mà các em lại là học sinh Mẫu giáo năm đầu học lớp 1. Sự nhận thức của học sinh còn không đồng đều. Một số học sinh chưa chịu khó học tập, chủ yếu là học trên lớp, về nhà một số phụ huynh chưa quan tâm đến con em mình, ngay cả đồ dùng chuẩn bị cho học tập còn thiếu. Chính những điều đó gây ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh. 2.2.2 Thực trạng việc dạy phần luyện tập thực hành của nhà trường: Từ nhiều năm nay nhà trương luôn quan tâm đến việc đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học lớp 1, trường luôn chủ động tổ chức các chuyên đề, các hội thảo về đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học trong đó môn Toán là một môn học chủ lực luôn luôn được bàn tới. Chính vì vậy sáu giáo viên dạy khối lớp 1 của trường ngay trong năm học đầu tiên của chương trình đổi mới đã tổ chức hướng dẫn học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề của bài, tự chiếm lĩnh kiến thức mới …(phương pháp dạy học bài mới) rất hiệu quả. Thế nhưng một vài giáo viên khối 1 của trường sau khi tổ chức hướng dãn để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thì thở phào coi như song tiết dạy. Còn phần thực hành luyện tập chẳng qua chỉ để học sinh làm hết các bài tập trong sách giáo khoa. Chính vì vậy khi ban giám hiệu dự giờ kết quả các tiết dạy toán giáo viên trong khối chưa đạt hiệu quả cao và chất lượng học môn Toán của học sinh trong năm học thấp. 2.3 Nguyên nhân thực trạng dạy học phần thực hành luyện tập ở trương Tiểu học Thị Trấn. Còn số ít giáo viên chưa có biện pháp để lập kế hoạch, hướng dẫn học sinh hợp lý, chưa thường xuyên quan tâm đến việc học của học sinh. Nhận thức của giáo viên về nhiệm vụ phần dạy thực hành luyện tập chưa đúng. Khi lập kế hoạch bài soạn, khi lên lớp giáo viên chỉ chú trọng đến việc dạy học bài mới, chưa chú ý đến việc củng cố kiến thức cho học sinh (Phần: Thực hành luyện tập) Còn một số ít phụ huynh chưa quan tâm thực sự đến việc học tập của con em mình mà còn phó thác cho nhà trường . Qua tìm hiểu thực trạng dạy học phần thực hành luyện tập ở trương Tiểu học Thị Trấn huyện phù Yên tỉnh Sơn La tôi thấy còn có hạn chế do đó cần thiết phải tìm ra biện pháp để nâng cao chất lượng phần thực hành luyện tập trong nhà trường. CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHI DẠY PHẦN THỰC HÀNH LUYỆN TẬP CHO HỌC SINH LỚP 1 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRỊ TRẤN HUYỆN PHÙ YÊN TỈNH SƠN LA. 3.1 Các căn cứ đề xuát biện pháp Căn cứ vào cơ sở lý luận đề ra ở chương I. Căn cứ kết quả dự giờ, kiểm tra thực trạng chất lượng dạy học phần thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện phù Yên tỉnh Sơn La. Căn cứ vào chỉ tiêu nhà trường giao đầu năm. Từ thực tiễn và quá trình công tác, tôi đề xuất một số biện pháp có hiệu quả khi dạy học có hiệu quả phần thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trường Tiểu học Thị Trấn huyện phù Yên tỉnh Sơn La. 3.2 Các biện pháp: 3.2.1 Biện pháp 1: Để dạy học có hiệu quả phần thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 trước hết giáo viên phải nắm vững chương trình. 4 tiết/ tuần x 35 tuần = 140 tiết. Nội dung chương trình bao gồm 4 phần: - Số học. - Đại lượng và đo lường. - Yếu tố hình học. - Giải bài toán có lời văn. * Các số đến 10: Ngay tiết học đầu tiên cần giới thiệu về sách giáo khoa toán 1, bộ đồ dùng toán 1 và nội dung môn toán 1. Nhiều hơn, ít hơn, giới thiệu, so sánh số lượng, hình vuông, hình tròn, hình tam giác, nhận biết hình dạng và sử dụng các hình này làm vật liệu để học số, phép tính. * Dạy các số đến 100: - Học sinh nhận ra số lượng, đọc tên viết số, cấu tạo thập phân của số trong dãy số tự nhiên. Quy ước về đọc một vài số có hai chữ số, phân biệt số và chữ số. - Về thứ tự: Dùng tia số ( Các vạch trên tia số ) điền số liền trước, số liền sau, viết các số theo thứ tự. * Cộng trừ ( không nhớ ) các số có 2 chữ số: Nội dung có dạng: 14 + 3 17 - 3 Cộng trừ các số tròn chục: 30 + 20 50 - 30 Cộng trừ số có hai chữ số: 32 + 46 78 - 46 Trọng tâm tính đúng ( nhẩm viết ). Do vậy giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động với đồ dùng học tập để nắm được kĩ thuật tính. * Đại lượng - Đo đại lượng: - Đo độ dài, biểu tượng về độ dài, đơn vị đo, thực hành đo và ước lượng. - Ngày trong tuần, tuần lễ, giờ, làm quen với thời gian biểu hàng ngày. * Yếu tố hình học: - Giới thiệu hình vuông, hình tròn, hình tam giác, tên gọi và nhận dạng hình, nhận dạng hình trong thực tế, thao tác ghép và phân tích hình ( trí tưởng tượng không gian ) . - Điểm, đoạn thẳng: Tên gọi, kí hiệu ( Chữ cái in ). Điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình. Thực hành đo độ dài đoạn thẳng, vẽ đoạn thẳng có độ dài cho trước, thực hành vẽ hình theo mức độ sách giáo khoa. * Giải toán có lời văn : ( Toán đơn về thêm, bớt ). Học kì I : chưa giải toán có lời văn, chỉ phát hiện các vấn đề nhờ tranh vẽ. Nêu phép tính thích hợp . Học kì II : Bước đầu nhận biết bài toán rồi giải bài toán. Học sinh nêu bài toán, nêu phép tính giải bài toán, trình bày bài giải đầy đủ. 3.2.2 Biện pháp 2: Vận dụng phương pháp dạy học thực hành luyện tập trong dạy toán . **Đối với dạy bài mới: * Giáo viên cần giúp học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học. Phần bài học thường được nêu thành cùng một loại tình huống có vấn đề. Chẳng hạn, cùng nêu về hiện tượng có một số ( một, hai ) con ong bay khỏi chỗ đậu của ba con ong. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát hình vẽ ( tranh, ảnh …) hoặc sử dụng đồ dùng thích hợp để tự học sinh nêu ra vấn đề cần giải quyết. Ví dụ: Có ba con ong đậu trên bông hoa, một con ong bay ra khỏi bông hoa, còn mấy con ong đậu trên bông hoa ? Học sinh tham gia giải quyết vấn đề: ( Ba con ong bớt một con ong còn hai con ong ). Thời gian đầu giáo viên hướng dẫn học sinh nêu và giải quyết vấn đề, dần dần khuyến khích học sinh tự nêu và tự giải quyết vấn đề. * Giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới. Có loại bài học, sau khi học sinh đã phát hiện và giải quyết vấn đề, giáo viên phải hình thành kiến thức mới ( chẳng hạn: Giáo viên phải giới thiệu: “ Ba con ong bớt một con ong còn hai con ong ”. Ta bớt một còn hai ta viết: 3 - 1 = 2. Đọc là: “ Ba trừ một bằng hai ”. Dấu ( - ) gọi là: “ Trừ ”. Có loại bài học giáo viên phải giúp học sinh tự nêu, tự giải quyết vấn đề, dần dần khuyến khích học sinh tự nêu và tự giải quyết vấn đề, tự xây dựng kiến thức mới. Ví dụ: Bài học về phép cộng trong phạm vi 8. Cho học sinh quan sát hình vẽ rồi nêu vấn đề: “ Có bảy hình vuông xanh, thêm một hình vuông đỏ. Hỏi tất cả có mấy hình vuông ?” Giải quyết vấn đề: “ 7 thêm 1 thành 8 ”. Sau đó viết 8 vào công thức cộng : 7 + 1 = 8 Cả hai loại bài giáo viên phải giúp học sinh ghi nhớ kiến thức mới, phải qua thực hành vận dụng kiến thức đó để giải quyết các vấn đề nêu trong phần bài tập thì mới có thể khẳng định học sinh đã tự chiếm lĩnh kiến thức mới đến mức độ nào, vì vậy sau khi đã thuộc bài mới, học sinh phải làm được các bài tập trong phiếu bài tập. * Giúp học sinh cách thức phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Quá trình dạy học toán phải dần dần giúp học sinh cách thức ( con đường, phương pháp ) phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Chẳng hạn, qua các bài học và luyện tập về số và phép tính trong phạm vi 10 của toán lớp 1, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận biết từ tình huống có thực trong đời sống ( thể hiện trong tranh, hình vẽ, mô hình, mô tả bằng lời ). Nêu được vấn đề cần giải quyết dưới dạng câu hỏi, bài toán đến giải quyết vấn đề tìm ra kiến thức mới ( Số mới hoặc công thức tính mới ). Xây dựng rồi ghi nhớ và vận dụng kiến thức mới vào các tình huống khác nhau trong thực hành sẽ chiếm lĩnh được kiến thức mới đó. * Hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học. Khi hướng dẫn học sinh nhận biết khái niệm ban đầu về số: 6. Giáo viên cho học sinh quan sát hình vẽ ( mô hình ) và sử dụng kiến thức đã học để nhận ra rằng có 5 đến tiếp 1 được 6. Khi đã giới thiệu 6 học sinh tự nhận ra qua phép đếm, qua phân tích số 6 đứng tiếp sau 5 trong dãy số 1, 2, 3, 4, 5, 6. Vậy: 6 là 5 và 1. 6 là 4 và 2. 6 là 3 và 3. Nên: 6 > 1; 6 > 2; 6 > 3; 6 > 4; 6 > 5. Do đó 6 là số lớn nhất trong các số từ 1 đến 6. Như vậy giáo viên đã giúp học sinh huy động kiến thức đã học và vốn sống để phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức đã có. * Giúp học sinh thực hành rèn luyện cách diễn đạt thông minh bằng lời, bằng kí hiệu. Đối với đối tượng học sinh của trường, tiếng phổ thông chưa thành thạo, do vậy khi dạy học toán giáo viên phải quan tâm đúng mức đến rèn luyện cho học sinh các diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, vừa đủ nội dung của một thông tin bằng lời hoặc bằng kí hệu hay bằng sơ đồ. ** Đối với bài dạy thực hành, luyện tập. * Giúp học sinh nhận ra kiến thức mới trong các dạng bài tập khác nhau. Khi luyện tập, nếu học sinh nhận ra các kiến thức đã học trong mối quan hệ mới thì học sinh sẽ làm được bài. Nếu học sinh không tự nhận ra kiến thức đã học trong các dạng bài tập khác nhau thì giáo viên nên giúp học sinh bằng gợi ý, hướng dẫn để học sinh nhớ lại kiến thức và cách làm bài, không nên làm thay học sinh. Chẳng hạn, khi học “Phép cộng trong phạm vi 8” nếu làm các bài tập dạng 7 + 1 = …, 5 + 3 = … thì học sinh dễ dàng nhớ lại và sử dụng các công thức đã học với dạng bài tập phải so sánh hai biểu thức số như 7 + 1 … 2 + 6 đã gặp trong các công thức đã học: 7 + 1 = 8; 2 + 6 = 8, do đó phải điền dấu bằng vào chỗ chấm: 7 + 1 = 2 + 6 *3.2.3 Biện pháp 3: Giúp học sinh tự thực hành luyện tập theo khả năng của học sinh: - Bao giờ cũng yêu cầu học sinh phải làm các bài tập theo thứ tự sắp xếp trong phiếu (hoặc do giáo viên sắp xếp), không tự ý lướt qua hoặc bỏ qua bài tập nào, kể cả bài tập học sinh cho là dễ. - Không nên bắt học sinh chờ đợi nhau trong quá trình làm bài. Học sinh nào đã làm xong và tự kiểm tra (hoặc nhờ giáo viên kiểm tra) được bài 1 thì nên chuyển sang bài tiếp sau. Trong một tiết học phải chấp nhận có học sinh làm được nhiều bài tập hơn học sinh khác. Giáo viên hãy giúp những học sinh làm bài chậm về cách làm bài, hãy giúp học sinh khá giỏi làm các bài tập của tiết học và khai thác hết nội dung của từng bài tập. 3.2.4 Biện pháp 4: Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh: - Khi cần thiết có thể cho học sinh trao đổi ý kiến trong nhóm nhỏ hoặc trong toàn lớp về cách giải hoặc các cách giải một bài tập. Nên khuyến khích học sinh bình luận về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm trong quá trình trao đổi ý kiến ở nhóm, ở lớp. - Sự hỗ trợ giữa các học sinh trong nhóm phải giúp học sinh tự tin vào khả năng của bản thân, tự rút kinh nghiệm về cách học của bản thân. 3.2.5 Biện pháp 5: Khuyến khích học sinh tự kiểm tra kết quả thực hành, luyện tập: - Tập cho học sinh thói quen làm xong bài nào cũng tự kiểm tra lại xem có làm nhầm, làm sai không. - Nên hướng dẫn học sinh tự đánh giá bài làm của mình, của bạn bằng điểm số rồi báo điểm cho giáo viên. - Khuyến khích học sinh tự nói ra những hạn chế của mình, của bạn khi tự kiểm tra, tự đánh giá… * Tập cho học sinh thói quen không thỏa mãn với bài làm của mình, với các cách giải đã có: - Sau mỗi tiết học, tiết luyện tập nên tạo cho học sinh niềm vui vì đã hoàn thành công việc được giao, niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân (bằng khuyến khích, nêu gương…) - Tạo cho học sinh mong muốn tìm được giải pháp tốt nhất cho bài làm của mình. Vì vậy cho dù đã hoàn thành bài học hoặc bài làm, học sinh cũng vẫn không thỏa mãn những gì đã đạt được. Cần tự kiểm tra, tự đánh giá và luôn luôn tìm cách hoàn thiện việc đã làm. Các “bài tập mở” trong Toán 1 là phương tiện để giáo viên động viên học sinh tìm nhiều phương án giải quyết một số vấn đề và biết tự lựa chọn phương án hợp lý nhất. Đừng bao giờ “áp đặt” học sinh theo phương án có sẵn, hãy động viên các em tìm và lựa chọn phương án tốt nhất. 3.2.6 Biện pháp 6: Kết hợp với phụ huynh hướng dẫn cách học toán cho học sinh . - Ngay từ đầu năm học họp phụ huynh tôi đưa ra kế hoạch thực hiện năm học và các quy định chuẩn bị cho học sinh học tập, nhất là môn toán phải đủ: ( Sách, bút, thước… ) vở ghi như các môn học khác, nhưng cần có thêm khuyến khích phụ huynh học sinh tạo điều kiện cho con cái học tốt. - Nêu tầm quan trọng của việc thực hiện đổi mới nội dung chương trình phương pháp giảng dạy lớp 1 để phụ huynh thấy được và có trách nhiệm quan tâm đôn đốc con em học tập. - Tổ chức kí kết thi đua thực hiện tốt các quy định và chỉ tiêu phấn đấu của lớp đồng thời quy định hàng tháng có sự trao đổi giữa nhà trường và gia đình để cùng kết hợp giáo dục học sinh. 3.2.7 Biện pháp 7: Thiết kế bài giảng điện tử dạy trình chiếu PowerPoint . Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy và học (bằng bài giảng điện tử) là cải tiến đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, lúc bấy giờ giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn các hoạt động thông qua hình ảnh trực quan sinh động, học sinh tư duy và tự phát hiện, tìm ra kiến thức mới của bài học và thực hành, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, có những ưu điểm so với phương pháp truyền thống như: - Nội dung, hình thức tiết dạy phong phú, đưa được nhiều hình ảnh động, từ đó, tạo được sự kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo được không khí vui tươi và thi đua trong học tập qua hoạt động thi đua giữa các nhóm hiệu quả cao. - Do tính trực quan cao, nên giúp HS yếu kém dễ tham gia và chủ động chiếm lĩnh tri thức tạo cảm hứng ham mê môn học. - Gv tiết kiệm được thời gian dán, treo đồ dùng trực quan và một số thao tác khác để giành thời gian cho việc rèn luyện kĩ năng, theo dõi và quản lí lớp, chú ý nhiều đối tượng yếu, học sinh khuyết tật hòa nhập. -Giáo viên chỉ cần những thao tác rất đơn giản: đưa chuột, kích chuột là đã có những hình ảnh đẹp, sinh động và có những nội dung kiến thức của bài rất đầy đủ. Nó sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian( viết bảng, đưa tranh, treo bảng phụ...) Thời gian đó giáo viên có thể giành để giúp cho học sinh được thực hành luyện tập nhiều hơn. VD: Khi dạy bài mười ba, mười bốn, mười lăm môn toán lớp 1. Phần hình thành kiến thức mới: Để giới thiệu và hình thành được số 13, 14, 15 thì giáo viên phải vừa thao tác que tính cùng học sinh lại vừa tay cầm phấn để viết lại còn quan sát học sinh thao tác lấy thêm que tính, … Nhưng với bài giảng điện tử thì tất cả những thao tác này của giáo viên chỉ là những cú kích chuột nhẹ nhàng không những thế giáo viên lại có nhiều thời gian hơn để quan sát học sinh và có điều kiện nhiều để hướng dẫn học yếu kém thực hiện. Với phần thực hành luyện tập: Với bài giảng thông thường giáo viên phải tự vẽ những hình tượng trưng chỉ có thể là hình tam giác hay hình vuông. Với mỗi bài tập giáo viên phải chuẩn bị rất nhiều bảng phụ cồng kềnh nếu không giáo viên sẽ mất rất nhiều thời gian vào việc viết đề bài tập, với những loại bài tập về đếm số lượng con vật, hay nối hình ảnh số lượng con vật theo mẫu thì với bàn tay của giáo viên không phải là hoạ sĩ thì không thể có được những hình ảnh đẹp sinh động thu hút sự chú ý học sinh khi làm bài. Ngược lại, với bài giảng điện tử giáo viên chỉ mất thời gian chuẩn bị, thì khi lên lớp sự tiếp thu bài hứng thú học tập của học sinh sẽ làm giáo viên thực sự hài lòng. Với bài giảng bình thường không thể làm được. Ví dụ khi dạy với bài giảng điện tử PowerPoint thì hình ảnh có thể là con vật có thể di chuyển được. Với loại bài tập: Điền số thích hợp vào ô trống: +Học sinh số 1 “ đếm số lượng thỏ chạy ra và viết số mà con đếm được vào bảng con” +Học sinh số 2 “đếm số lượng táo rơi xuống và viết số mà con đếm được vào bảng con” Ngoài ra khi sử dụng bài giảng điện tử trình chiếu PowerPoint giáo viên còn có thể tổ chức nhiều trò chơi học tập hấp dẫn, bổ ích cho học sinh. 3.3. Kết quả thực hiện các biện pháp Sau khi đã tìm hiểu nghiên cứu và tìm ra phương pháp dạy năm học 2011 – 2012 được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở lớp 1A3 được ban giám hiệu dự giờ, kiểm tra hồ sơ đánh giá xếp loại cao (các tiết dạy đều đạt khá giỏi, hồ sơ xếp loại A) đặc biệt chất lượng học sinh cuối kỳ I của lớp 1 A1 do tôi chủ nhiệm khá cao hơn so với các lớp khác cùng khối. Chất lượng giờ dạy giáo viên và chất lượng cuối năm học sinh tăng rõ rệt. Bảng 3: Kết quả về giờ dạy giáo viên năm học 2011 – 2012: Tổng số giáo viên K 1 Tổng số giờ dạy môn Toán Xếp loại giỏi Xếp loại khá Xếp loại đạt yêu cầu 5 5 2 3 0 Bảng 4: Chất lượng học lực môn Toán của học sinh năm học 2011 - 2012: Tổng số HS khối 1 Xếp loại học lực giỏi Xếp loại học lực khá Xếp loại học lực TB Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ 142 em 112 em 78,9% 26 em 18,3% 4 em 2,8% So kết quả học kì I năm học 2011 – 2012 với chất chất lượng giữa học kì I môn Toán năm học 2012 – 2013 tăng rõ rệt cụ thể: - Số học sinh xếp loại học lực giỏi tăng: 5 % - Số học sinh xếp loại học lực trung bình yếu giảm: 2,1 %. Như vậy: Khi giáo viên nhận thức rõ nhiệm vụ của phương pháp dạy “Thực hành luyện tập” và áp dụng dạy theo phương pháp trên thì chất lượng dạy học môn Toán của giáo viên và học sinh khối 1 được tăng cao. Chính vì vậy các biện pháp này đã được Ban giám hiệu ghi nhận và triển khai tới tất cả các giáo viên dạy lớp 1 của trường trong năm học 2012 - 2013 và giữa học kỳ I vừa qua cũng đã thu được kết quả rất khả quan toàn khối 1. Bảng 5: Chất lượng học lực môn Toán của giữa học kì I năm học 2012 - 2013: Tổng số HS khối 1 Xếp loại học lực giỏi Xếp loại học lực khá Xếp loại học lực TB Xếp loại học lực yếu Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ 149 125 em 83,9% 23 em 15,4% 1 em 0,7% 0 *Kết luận: Qua áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng dạy thực hành luyện tập môn toán cho học sinh lớp 1 cho thấy kết quả bộ môn toán của học sinh tăng đáng kể điều đó khẳng định tính hiệu quả và giá trị của các biện pháp đã đề xuất nghiên cứu và được nhà trường ghi nhận và áp dụng. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I.KẾT LUẬN CHUNG: Trên đây là toàn bộ những cơ sở lý luận, các biện pháp khi dạy phần thực hành luyện tập cho học sinh lớp 1 ở trường Tiểu học Thị Trấn mà bản thân tôi đã nhận thức được. Đến nay bằng vốn lý luận của bản thân tiếp thu và những việc đã làm, bản thân tôi rút ra được những điều tâm đắc qua quá trình nghiên cứu một số biện pháp dạy thực hành luyện tập trong môn toán cho học sinh lớp 1 ở trường Tiểu học là: 1. Vì tương lai con em chúng ta mỗi một thầy cô giáo nói chung và bản thân tôi nói riêng phải đem hết tinh thần, trách nhiệm, lương tâm và có tâm huyết với công việc để giúp và trang bị cho các em những kiến thức nhằm xây dựng, đào tạo cho các em trở thành những công dân tốt cho đất nước, phát huy được năng lực tư duy sáng tạo của mình, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu của giáo dục hiện nay theo tinh thần cuộc vận động mỗi thầy cô giáo là một tấm gương sáng về tự học, tự rèn và sáng tạo. 2. Dạy học toán không chỉ là dạy tri thức và kỹ năng mà còn hình thành và phát triển ở học sinh phương pháp, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Đặc biệt là việc dạy học Toán cho học sinh lớp 1 (lớp nền tảng cho bậc tiểu học nói riêng cho cả hệ thống giáo dục quốc dân nói chung) 3. Phải nắm chắc nhiệm vụ yêu cầu của môn Toán để lựa chọn phương pháp dạy thích hợp cho từng bài, từng đối tượng học sinh. 4. Cần sử dụng thường xuyên đồ dùng khi dạy học sẵn có của trường đặc biệt cần mạnh dạn ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, trong tiết học nên thiết kế tổ chức các trò chơi sinh động phù hợp với học sinh. 5. Cần coi trọng tổ chức hướng dẫn học sinh “thực hành luyện tập” để giúp học sinh nắm chắc hơn và củng cố kiến thức. Cần giúp học sinh nhận thức ra kiến thức mới trong các dạng bài tập khác nhau. Giúp học sinh “thực hành luyện tập” theo khả năng của mình cần tạo ra sự hỗ trợ giúp đỡ kiểm tra lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. II.KIẾN NGHỊ: Với địa phương: Quan tâm phối hợp giúp đỡ nhà trường có nguồn kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất đặc biệt là việc trang thiết bị máy chiếu phục vụ cho việc dạy và học nhằm đáp ứng đổi mới chương trình và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. 2.Với nhà trường: Tiếp tục tổ chức các buổi hội thảo phương pháp dạy học theo chuyên đề vào thời điểm đầu năm học. Duy trì các buổi sinh hoạt chuyên môn học tập trao đổi phương pháp dạy học hàng tuần. Mở các lớp tập huấn, tổ chức hội thảo, hội giảng về giáo án điện tử, bài giảng điện tử cho giáo viên thường xuyên và đưa vào thành chỉ tiêu thi đua để động viên và khuyến khích giáo viên trong việc tự học để thiết kế bài giảng điện tử và và xây dựng thói quen trình chiếu bài giảng trong giảng dạy. Ngày càng có nhiều thầy cô giáo thành thạo giảng dạy có ứng dụng CNTT. Nếu nhiều lớp cùng dạy cùng tiết có sử dụng máy chiếu thì số lượng máy chiếu, máy tính không đáp ứng đủ . Cho nên cần trang bị các thiết bị cố định mỗi phòng học sẽ làm cho GV cảm thấy nhẹ nhàng hơn trong khâu lắp ráp hệ thống trình chiếu. Trên đây là một số quan điểm của cá nhân tôi về biện pháp khi dạy phần thực hành luyện tập. Rất mong đồng nghiệp đóng góp để bản thân tôi có nhiều kĩ năng hơn khi thiết kế và dạy phần thực hành luyện tập có chất lượng nhằm phục vụ tốt cho công tác giảng dạy theo tinh thần đổi mới phương pháp theo hướng đề cao chủ thể nhận thức – học sinh. Chân thành cảm ơn. Người viết Nguyễn Thị Hồng Hiển XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG ................................................................................................................................. ............................................................................................................................... ................................................................................................................................ ............................................................................................................................... ................................................................................................................................ ................................................................................................................................. ............................................................................................................................... ................................................................................................................................ ............................................................................................................................... ................................................................................................................................ ................................................................................................................................. ............................................................................................................................... ................................................................................................................................ ............................................................................................................................... ................................................................................................................................ ................................................................................................................................. ............................................................................................................................... ................................................................................................................................ ............................................................................................................................... ................................................................................................................................ .................................................................................................................................

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docde_tai_hien__244.doc