Nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong điều kiện thực hiện Hiệp định thương mại Việt – Mỹ

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc tăng tốc xuất khẩu, tích luỹ để tiến lên nước công nghiệp hoá vào năm 2025. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp, công nghiệp còn lạc hậu thì viêc xuất khẩu những tài nguyên sẵn có, tận dụng những điều kiện thuận lợi của nước ta để xuất khẩu thu ngoại tệ. Trong những năm gần đây xuất khẩu dệt may được coi là mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu, mũi nhọn trong nền kinh tế, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia. Phát triển xuất khẩu hàng dệt may rất phù hợp với điều kiện nền kinh tế nước ta, nó cần ít vốn, tốc độ quay vòng vốn nhanh và tận dụng được khối lượng lớn lao động nhàn rỗi. Vì nó phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của nước ta nên rất được sự quan tâm của Nhà nước. Với xu thế hợp tác toàn cầu, thiết lập các quan hệ kinh tế để cùng phát triển, việc ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ là một tất yếu. Sau khi hiệp định thương mại Việt – Mỹ được ký kết hàng hoá của chúng ta đã xâm nhập rất nhanh vào thị trường Mỹ trong đó có hàng dệt may. Kim ngạch xuất khẩu của chúng ta vào thị trường này tăng lên đáng kể, đặc biệt là ngành hàng dệt may (sau khi Hiệp định thương mại song phương được ký kết kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dệt may vào thị trường Mỹ tăng tới 20 lần). Thị trường Mỹ là một thị trường rất lớn cho các các doanh nghiệp dệt may của chúng ta xuất khẩu, nhưng thị trường Mỹ cũng là thị trường có mức độ cạnh tranh khốc liệt nhất, muốn tồn tại trên thị trường này thì phải cạnh tranh. Đây là vấn đề quan tâm không chỉ của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mà là vấn đề quan tâm của các cơ quan quản lý Nhà nước, của mọi người. Làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ đang là vấn đề thời sự của các Nhà xuất khẩu dệt may. Trong quá trình thực tập tại Viện Nghiên cứu Thương mại em đã chọn đề tài “ Nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong điều kiện thực hiện Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ”. NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU 3 1.Khái quát về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh 3 1.1. Khái niệm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh 3 1.2. Chức năng của cạnh tranh 6 1.3. Các phương thức cạnh tranh 7 2. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu hàng dệt may 11 2.1. Đánh giá cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam 12 2.2.Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu 15 2.3. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu 18 3. Các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ 20 3.1. Môi trường cạnh tranh 21 3.2. Môi trường văn hoá xã hội 22 3.3. Môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp và công nghệ 23 3.4. Môi trường địa lý sinh thái 25 3.5.Tiềm lực của doanh nghiệp 26 Chương II. Tình hình cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ 29 1. Tổng quan về thị trường dệt may Mỹ 29 1.1 . Khái quát nền kinh tế Mỹ 29 1.2 . Khái quát thị trường dệt may Mỹ 31 1.3 . Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ với việc xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ 33 1.4 Các chính sách quy định đối với hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ 34 2. Thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ 41 2.1.Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ trong thời gian qua 41 2.2. Khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 47 2.3. Đánh giá chung về khả năng cạnh tranh 51 3. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ 51 3.1. Những thuận lợi của hàng dệt-may Việt Nam khi xuất khẩu sang Mỹ 51 3.1.1. Thị trường Mỹ rất lớn cho dệt may Việt Nam 51 3.1.2.Vị trí địa lí và điều kiện giao lưu hàng hoá 52 3.1.3 Nguồn lao động rẻ tạo lợi thế cho cạnh tranh 52 3.1.4. Chính sách quản lý, hỗ trợ của Chính phủ 54 3.2. Những bất lợi của hàng dệt may Việt Nam trong cạnh tranh xuất khẩu sang Mỹ 55 3.2.1.Sự phân biệt đối xử trong thương mại 55 3.2.2. Thiếu thông tin về thị trường 55 3.2.3.Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu còn lạc hậu 57 3.2.4. Thiếu vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị 59 3.2.5. Sự khập khiễng giữa nghành dệt và may 60 3.2.6. Sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu 61 Chương III. Phương hướng và biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu hàng Dệt May vào thị trường Hoa Kỳ 63 1. Mục tiêu của nghành trong thời gian tới 63 2. Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ 65 2.1. Tầm Vĩ mô 65 1. Đẩy mạnh quá trình hội nhập WTO 65 3. Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ 67 4. Cung cấp thông tin, hỗ trợ các doanh nghiệp trong xúc tiến xuất khẩu 71 5. Quy hoạch vùng nguyên liệu cho dệt may 74 2.2. Cấp Doanh nghiệp 76 1. Xây dựng chiến lược về công nghệ 76 2. Xây dựng chiến lược tiếp thị, xúc tiến bán hàng 77 3. Xây dựng chiến lược về nhân lực 81 4. Xây dựng chiến lược về sản phẩm, thương hiệu 83 5. ổn định nguồn nguyên liệu cho sản xuất 86 6. Nghiên cứu và nắm vững luật pháp Hoa Kỳ 87 Kết luận 89 Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục

doc92 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/09/2013 | Lượt xem: 1029 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong điều kiện thực hiện Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
gạch xuất khẩu của chúng ta về hàng dệt may sẽ tiếp tục tăng. Dự đoán kim ngạch xuất khẩu dệt may của chúng ta vào thị trường Mỹ tiếp tục tăng trong những năm tới. 2. Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ 3.1. Tầm Vĩ mô Đẩy mạnh quá trình hội nhập WTO Đối với Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO chúng ta sẽ có những thuận lợi như: - Khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO thì đương nhiên sẽ được hưởng chế độ MFN của các nước thành viên WTO, bình đẳng như các nước khác. - Hàng hoá, dịch vụ của Việt Nam khi thâm nhập thị trường của các nước thành viên khác được đối xử như hàng hoá dịch vụ của nước sở tại. - Hệ thống thuế quan của Việt Nam cũng như những nước nhập khẩu rõ ràng, minh bạch hơn nvà có xu hướng giảm, giúp các doanh nghiệp có thể lập kế hoạch đầu tư và hoạt động thương mại dài hạn. - Việt Nam được hưởng ngay lập tức và vô diều kiện kết quả thành tựu cắt giảm thuế đa phương của WTO, chính sách thuế nhập khẩu mới sẽ giúp nền kinh tế và các doanh nghiệp tái cơ cấu sản xuất theo hướng hiệu quả hơn. - Cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn sẽ giúp các doanh nghiệp và người tiêu dùng sử dụng sản phẩm có chất lượng tốt. - Cạnh tranh phát triển và thuế nhập khẩu giảm giúp chi phí nguyên liệu, máy móc nhập khẩu giảm, giá thành sản phẩm hạ. Sản phẩm do Việt Nam sản xuất mang tính cạnh tranh về giá. - Các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế có điều kiện thuận lợi hơn về thủ tục và chi phí trong hoạt động xuất khẩu. - Việt Nam có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 1000 USD/năm nên được duy trì các loại trợ cấp xuất khẩu bị cấm đối với đa số các thành viên WTO khác. - Giải quyết tranh chấp thương mại một cách dễ dàng hơn, thông qua bộ máy của WTO. - Mẫu mã, sáng chế, sản phẩm, thương hiệu của Việt Nam được thừa nhận, bảo hộ trên thị trường trong và ngoài nước. - Môi trường đầu tư của Việt Nam được cải thiện theo hướng hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tăng khả năng thu hút vốn cho phát triển kinh tế. - Thể chế và pháp luật Việt Nam thay đổi theo các tiêu chuẩn chung của quốc tế, tạo hành lang pháp lý phát triển kinh tế thị trường , nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Khi chúng ta gia nhập WTO kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam với Mỹ sẽ tăng nhanh chóng cũng như xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ cũng sẽ tăng. Nếu tham gia được vào hệ thống thương mại quốc tế rộng lớn, chúng ta có cơ hội tăng trưởng nhanh bằng việc phát huy nội lực về lao động, tài nguyên thiên nhiên, cũng như lợi dụng được thành tựu khoa học công nghệ, vốn của các nước phát triển để nâng cao hiệu quả kinh tế, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và thế giới. Đối với ngành công nghiệp dệt may việc gia nhập WTO trước năm 2005 sẽ có một thuận lợi vô cùng lớn, xuất khẩu dệt may Việt Nam sẽ được hưởng mọi quy chế ưu đãi của các thành viên WTO, cũng như việc xuất khẩu không hạn ngạch hàng dệt may nói chung vào thị trường Mỹ nói riêng. Chúng ta sẽ không bị phân biệt đối xử trong thương mại, tạo tâm lý tự tin cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ. Việc giải quyết các tranh chấp thương mại cũng dễ dàng hơn, thông qua bộ máy của WTO. Thủ tục xuất khẩu hàng sang Mỹ cũng sẽ đơn giản hơn ở cả hai phía, chi phí xuất khẩu cũng sẽ giảm đáng kể. Chúng ta có cơ hội cải tiến công nghệ, mua nguyên liệu với giá rẻ hơn, có lợi hơn trong cạnh tranh. Một nước điển hình là Trung Quốc khi gia nhập vào WTO lượng hàng dệt may của Trung Quốc tăng lên rõ rệt qua các năm và hiện giờ Trung Quốc đang đứng đầu về xuất khẩu dệt may vào Mỹ. Trong hai năm vừa qua mặc dù đã có những ưu đãi rõ nét về thuế nhập khẩu đối với mặt hàng dệt may nhưng không phải tất cả mọi mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ đều được hưởng mức thuế NTR của Mỹ.(NTR là viết tắt của Normal Trade Relations, đây là cách gọi mới của Mỹ về MFN để không bị hiểu lầm là các quốc gia sẽ được hưởng mọi ưu đãi trong quan hệ thương mại theo khái niệm tối huệ quốc). Đồng thời cần tiến hành đàm phán để phía Mỹ thực hiện việc áp dụng lộ trình giảm thuế trong khuôn khổ của quy định NTR ( các loại thuế NTR sẽ được hạ thấp đều đặn theo thời gian, tuỳ thuộc kết quả đàm phán thương mại đa phương). Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ ỉ Cải cách hành chính, hoàn thiện môi trường pháp lý Đây là việc hết sức cần thiết để tạo tâm lý tin tưởng cho các doanh nghiệp chấp nhận bỏ vốn đầu tư cho hoạt động xuất khẩu. Một số biện pháp để khắc phục tình trạng luật và các văn bản hướng dẫn thi hành luật không đồng bộ gây khó khăn cho doanh nghiệp: Nghiêm khắc xử lý đối với các trường hợp ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật chậm hơn so với quy định. - Cần quy định thời gian bắt buộc phải ban hành các thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành trong một thời điểm nhất định. Điều đó nhằm tạo ra sự đồng bộ trong các văn bản hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp. - Cần có quy trình kiểm tra chặt chẽ về nội dung, văn phạm của các thông tư hướng dẫn trước khi ban hành nhằm tránh những hướng dẫn lấp lửng để cán bộ tuỳ ý vận dụng, gây khó dễ cho doanh nghiệp. - Hạn chế tối đa các văn bản lưu hành nội bộ sau thông tư. - Một vấn đề ảnh hưởng lớn đến sức cạnh tranh của sản phẩm cũng như tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững của doanh nghiệp là việc nâng cao chất lượng các nguồn lực. ỉChính sách thuế quan: Hoàn thiện hệ thống thuế xuất nhập khẩu: Tiếp tục cải cách hoàn thiện hệ thống thuế để phát hiện và khắc phục kịp thời những vướng mắc trong hoạt động xuất nhập khẩu hàng dệt may, đơn giản hệ thống thuế suất, mỗi mặt hàng chỉ có một thuế suất, mỗi mặt hàng chỉ có một thuế suất, để tránh việc áp dụng mã tuỳ tiện. Cần xem xét lại danh mục các mặt hàng chịu thuế, những ưu đãi đối với thiết bị phục vụ cho hoạt động xuất khẩu. Phương thức gia công sẽ vẫn còn tiếp tục tồn tại trong nhiều năm nữa. Vì vậy, việc quản lý nhập khẩu máy móc thiết bị phụ tùng dụng cụ và nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất cũng như việc giải quyết các trường hợp khi thanh lý hợp đồng... Vấn đề quy định tỷ lệ phế phẩm để các doanh nghiệp dệt may không phải nộp thuế quá cao cho nhập khẩu phụ liệu có tỷ lệ phế phẩm. Ngành dệt may là ngành nhập khẩu hầu hết nguyên phụ liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu. Đây là ngành mà nhà nước coi là mũi nhọn, vì vậy nên áp dụng mức thuế nhập khẩu nguyên liệu chính như bông, vải sợi là 0%. Khi đã đảm bảo được nguyên liệu sản xuất khi đó có thể tăng mức thuế để tăng ngân sách. Nhà nước nên miễn thuế nhập khẩu các loại hoá chất, thuốc nhuộm, thuốc trợ nhuộm trong nước chưa sản xuất được, tăng thời gian khấu hao cho các loại máy dệt, sợi từ 10-15 năm nhằm tạo điều kiện giảm giá thành vải cung cấp trong nước, thúc đẩy sử dụng để may xuất khẩu. Hoàn thuế tạm nhập tái xuất cần phải tiến hành nhanh chóng để các nhà sản xuất tận dụng để quay vòng vốn nhanh hơn. Giảm mức thuế VAT cho ngành. Đối với luật thuế VAT mới áp dụng cần giảm mức thuế suất 10% đối với các doanh nghiệp kéo sợi xuống còn 5%. Mức thuế VAT 10% là quá cao với mức thuế suất, doanh thu trước đây (2và 4%). Với VAT 10%, doanh nghiệp sẽ phải nộp thuế nhiều hơn trước 45%-70%, điều đó không thuận lợi đối với một ngành đang cần đẩy mạnh xuất khẩu. ỉChính sách đầu tư phát triển. Thị trường Mỹ là thị trường cạnh tranh quyết liệt giữa các nhà xuất khẩu dệt may. Đây là thách thức đối với các nhà xuất khẩu mà sức cạnh tranh của sản phẩm còn thấp. Hiện tại, ngành dệt may Việt Nam do thiết bị và công nghệ lạc hậu nên phần nào đã giảm khả năng cạnh tranh, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Để tự vươn lên khẳng định mình, đứng vững và cạnh tranh được trên thị trường Mỹ, ngành công nghiệp dệt may cần thực hiện chiến lược đầu tư đồng bộ để nhanh chóng đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ trong từng giai đoạn, tạo ra được những sản phẩm có sức cạnh tranh. Nhà nước phải có những chính sách ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào ngành dệt may. Chính sách đầu tư phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau đây: - Có định hướng rõ ràng và kích thích cao vào những mục tiêu ưu tiên với những bước đi thích hợp. -Tạo ra môi trường, huy động được các nguồn lực đa dạng trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành. - Hướng tới khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may trên thị trường trong nước và thế giới. - Kết hợp các mục tiêu kinh tế và xã hội, lấy mục tiêu kinh tế làm nền tảng cho các mục tiêu xã hội. - Hiện nay ngành dệt may đang dự kiến xây dựng các cụm doanh nghiệp dệt may theo từng vùng, đính hướng này có tính hiệu quả và khả thi cao. Chính phủ chỉ đạo các tỉnh và thành phố cấp đất (không thu phí ) để xây dựng. Nên khuyến khích các dự án đầu tư mới ngành dệt may vào các cụm, khu công nghiệp tập trung để thuận tiện cho việc xử lý môi trườngvà liên kết kinh doanh, bằng các chính sách ưu đãi cụ thể như: - Giảm 50% phí hạ tầng trong 5 năm đầu. - Miễn thuế thu nhập trong 5 năm đầu và được giảm 50% trong 5 năm tiếp theo. Để hướng tới sự phát triển nhanh và bền vững của ngành dệt may chính sách đầu tư cần lưu ý: Các mục tiêu đầu tư mang tính cấp thiết trước mắt là phát triển và hiện đại hoá ngành dệt, Mục tiêu có tính chất trung và dài hạn là sản xuất nguyên liệu cho ngành dệt (trồng bông, sản xuất sợi hoá học, thuốc nhuộm), sản xuất các phụ liệu cho ngành may, cơ khí dệt may. Đối với ngành dệt may xuất khẩu, cần ưu tiên trong việc thanh lập các liên doanh may xuất khẩu vào thị trường Mỹ và cam kết cấp hạn ngạch vào Mỹ( nếu có) tương ứng với số thực xuất trong các năm được hưởng chế độ phi hạn ngạch. Có sự phân công hợp lý giữa đầu tư của Nhà nước với đầu tư nước ngoài. Để các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài tập trung theo định hướng phát triển ngành dệt may, cần có những kích thích đủ mạnh, tạo sự hấp dẫn cao đối với các nhà đầu tư, như những ưu đãi về thuế, thuê đất, về tiêu thụ sản phẩm. Đổi mới chính sách tín dụng cho đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp. Bằng cách: Mở rộng tín dụng đầu tư dài hạn với những điều kiện ưu đãi đối với các doanh nghiệp dệt may đầu tư đổi mới công nghệ. Phân phối nguồn tài trợ ODA với những điều kiện ưu đãi về thời hạn hoàn vốn và lãi suất cho việc đầu tư đổi mới công nghệ. áp dụng hình thức thuê mua tài chính cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may. Với hình thức này các ngân hàng thương mại sẽ tham gia trực tiếp hơn vào sự phát triển của công nghiệp dệt may. Tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư nước ngoài vào phát triển ngành dệt may bằng tạo ra những khuyến khích và đơn giản hoá các thủ tục hành chính. ỉChính sách tín dụng, trợ cấp xuất khẩu và tỷ giá. Do hiệp định ATC của WTO sẽ bỏ các hạn ngạch cho các nước thành viên vào năm 2005 tới. Các nước cạnh tranh của Việt Nam như Trung Quốc, Campuchia, bangladesh sẽ có lợi thế rất lớn khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu Việt Nam phải đối diện với nhiều bất lợi trong đó có chi phí đóng hạn ngạch. Hiệp hội dệt may đã có công văn lên Bộ thương mại và Bộ Công nghiệp xin bãi bỏ lệ phí hạn ngạch đối với các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu . Nhà nước nên xem xét bãi bỏ phí hạn ngạch để giảm bớt chi phí cho các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh với các đối thủ. Thành lập Quỹ bảo hiểm và quỹ hỗ trợ xuất khẩu chung cho cả nước đồng thời cho phép Hiệp hội dệt may thành lập quỹ bảo hiểm riêng của ngành nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp khi giá cả thị trường thế giới có biến động cũng như gặp rủi ro trong thực hiện hợp đồng. Chính phủ hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua lãi suất, ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Thành lập quỹ khen thưởng xuất khẩu để thưởng cho các doanh nghiệp có thành tích trong xuất khẩu dệt may. Thưởng cho những doanh nghiệp xuất khẩu những Cat phi hạn ngạch vào thị trường Mỹ. Vừa qua (31/3), Bộ Thương mại đã thông qua thông báo về việc thưởng cho các doanh nghiệp trong 6 tháng đầu năm. Theo đó doanh nghiệp sẽ được hưởng 10% giá trị xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ với những nhóm hàng không bị quản lý bằng hạn ngạch. Việc thưởng này sẽ khuyến khích các doanh nghiệp chú ý tới các Cat phi hạn ngạch và sẽ thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ tăng lên. Chính sách tỷ giá hối đoái. Ngành dệt may đang giai đoạn khuyến khích xuất khẩu, nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu, việc duy trì một chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý như hiện nay là rất phù hợp. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề khủng hoảng tài chính tiền tệ rất thường trực, cần có giải pháp quản lý, điều chỉnh tỷ giá hối đoái một cách khéo léo. Khi điều chỉnh tỷ giá, cần chú ý mối quan hệ chặt giữa tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất khẩu, phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trên cơ sở phân tích các biến số như: tỷ lệ lạm phát trong và ngoài nước, cán cân thương mại, khuynh hướng thay đổi giá của các đồng tiền và tâm lý của người dân. Đối với ngành dệt may, việc áp dụng chính sách nhiều tỷ giá là rất quan trọng vì xuất, nhập khẩu rất nhiều. Cung cấp thông tin, hỗ trợ các doanh nghiệp trong xúc tiến xuất khẩu Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động xúc tiến xuất khẩu hàng dệt may Việt nam trong thời gian tới : Xây dựng và triển khai chiến lược hoạt động xúc tiến thương mại trọng điểm để hỗ trợ cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu, công tác xúc tiến thương mại có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ngành thương mại, dệt may cần thiết phải xây dựng chiến lựoc xúc tiến thương mại trọng điểm theo khu vực, đồng thời đẩy mạnh quảng bá theo thế mạnh sản phẩm. Xây dựng mạng lưới tổ chức xúc tiến thương mại bên cạnh Thương vụ Việt Nam ở Hoa Kỳ. Xây dựng và quảng bá thương hiệu, thông tin tuyên truyền , Bộ thương mại cần phối hợp với Hiệp hội dệt may, cơ quan báo trí và các tổ chức xúc tiến thương mại hoàn thiện chương trình “ thương hiệu quốc gia”. Đồng thời Bộ thương mại phát huy vai trò đầu mối phát động chương trình xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu trong cộng đồng doanh nghiệp, tổ chức triển lãm thương hiệu trên internet và các hội thảo về thương hiệu, phối hợp với ngành dệt may và địa phương để xây dựng danh mục sản phẩm cần có chỉ dẫn địa lý và xuất sứ. Thông tin tuyên truyền: để nâng cao chất lượng, tính định hướng và dự báo của thông tin. Bộ thương mại cần thiết lập mạng thông tin thị trường, đảm bảo kết nối thành hệ thống từ Bộ đến Thương vụ, tổ chức xúc tiến thương mại cấp tỉnh, thành phố và doanh nghiệp. Về lâu dài,Thương vụ Việt Nam tại Mỹ cần thiết lập hệ thống các trung tâm thương mại tại một số thành phố lớn như NewYork, LosAngeles, Chicago, Fransisco, Boston...nhằm tạo cầu nối, giảm chi phí giao dịch cho các công ty xuất nhập khẩu trong nước. Các trung tâm này có thể do Nhà nước bảo trợ hoặc do các công ty Mỹ và Việt kiều tổ chức... Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin, thương mại điện tử mang tầm cớ quốc gia nhằm đảm bảo kết nối các kênh xúc tiến thương mại một cách đầy đủ, cập nhật và hiệu quả cao. Hiện nay chúng ta đã có Cục Xúc tiến thương mại hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thông tin thương mại, cần thành lập một phòng chuyên môn về cung cấp thông tin, xúc tiến xuất khẩu dệt may vào Mỹ. Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xúc tiến thương mại trong tình hình mới, trước hết là năng lực nghiên cứu, tổng hợp, phân tích tình hình, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng về xúc tiến thương mại và nghiệp vụ ngoại thương theo kịp trình độ quốc tế. *Phát huy vai trò của Hiệp hội dệt may trong việc giúp các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường xuất khẩu. Trong xu thế phát triển chung của kinh tế quốc tế, cùng với sự cạnh tranh ngày càng cao, các doanh nghiệp có xu hướng mở rộng liên kết với nhau. Với ngành dệt may Việt Nam, việc hình thành một tổ chức nghề nghiệp gồm các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác khác nhau được nhìn nhận như một yêu cầu tất yếu khách quan. Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS) được Chính phủ cho phép thành lập 16/7/1999 với ba nhiệm vụ chính là: - Trao đổi và cung cấp thông tin kinh tế kỹ thuật. - Tư vấn và xúc tiến thương mại. - Đại diện cho các doanh nghiệp thành viên khuyến nghị với Chính phủ về hoàn thiện các chính sách vĩ mô liên quan đến nghành. Hiện nay VITAS có hơn 400 thành viên ở 38 tỉnh, thành phố và có 5 chi hội khu vực. Vai trò hiệp hội rất lớn trong thời gian tới, đặc biệt là chức năng thông tin thị trường và đại diện cho các doanh nghiệp đứng ra bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp khi có tranh chấp xảy ra trong buôn bán quốc tế. Nhà nước cần động viên phát triển hiệp hội, vì đó cũng là một nhu cầu tất yếu khi ngành dệt may phát triển lên một bước cao. Trong tình hình hiện nay cần phát huy mạnh vai trò của Hiệp hội trong việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp thành viên. - Nhà nước phải có sự đầu tư, hỗ trợ về mặt tài chính, kiến thức, kinh nghiệm cho Hiệp hội dệt may trong việc xây dựng mạng lưới thông tin riêng, nghiên cứu tìm hiểu thị trường. - Hiệp hội dệt may cần liên kết với các cơ quan thuộc thông tin của Bộ thương mại, các Thương vụ, đại sứ quán, Cục xúc tiến thương mại trong vấn đề tìm hiểu thị trường xuất khẩu, xúc tiến thương mại. - Hiệp hội cũng cần những cán bộ có chuyên môn sâu về xúc tiến thương mại, nghiệp vụ ngoại thương, thạo về khả năng khai thác thông tin, thương mại điện tử để phục vụ cho việc tìm kiếm thông tin về thị trường. Quy hoạch vùng nguyên liệu cho dệt may Vấn đề nguyên liệu cho ngành may hiện nay đang là vấn đề lớn của ngành dệt may nước ta. Công nghiệp phụ thì chưa được quan tâm đúng mức càng làm cho hoạt động họat động xuất khẩu hàng dệt may nói chung và xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt hiệu quả kinh tế thấp, giảm khả năng cạnh tranh. Để khắc phục tình trạng này, cần có quy hoạch và các chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng, phát triển vùng nguyên liệu, đồng thời cũng có những chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất phụ liệu may mặc. Xây dựng vùng nguyên phụ liệu phải xem xét: Khả năng đảm bảo chất lượng bông theo yêu cầu công nghệ dệt, chú ý là chất lượng bông ảnh hưởng đến chất lượng vải, mặt hàng hiện đang yếu thế trong cạnh tranh. Việc sử dụng giống bông nhập để thay thế giống bông cũ vẫn cần có thời gian thích ứng với điều kiện khí hậu. Hiệu quả về mặt tài chính. Trên thế giới giá bông biến động thường xuyên, đòi hỏi phải tính toán cả chi phí đầu tư cho phát triển cây bông. Chính phủ cần tính đến khả năng can thiệp của mình để dung hoà mâu thuẫn lợi ích có thể phát sinh khi khuyến khích và hỗ trợ nông dân trồng bông, chứ không thể tạo sức ép với doanh nghiệp dệt hoặc nông dân . Để chủ động cung ứng được nguyên liệu chính của ngành dệt với giá cả cạnh tranh, việc đầu tư phát triển cây bông vải cần được Chính phủ quan tâm, hỗ trợ. Hiện nay, diện tích trồng bông mới đạt 22.600 ha với sản lượng bông xơ 6.700 tấn (đáp ứng được 11% nhu cầu ngành dệt). Dự kiến năm 2010, diện tích trồng bông vải cần đạt 150.000 ha với sản lượng bông xơ 95.000 tấn, đáp ứng được 70% nhu cầu ngành dệt. Để thực hiện mục tiêu này Chính phủ chỉ đạo Bộ, ngành, UBND các tỉnh sớm thực hiện Quyết định số 168/1999/QĐ-CP ngày 17/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số khuyến khích phát triển cây bông và Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp. Trước mắt cần sớm thực hiện: Quy hoạch các vùng trồng bông trên cơ sở bố trí lại cơ cấu cây trồng thích hợp để tăng nhanh diện tích trồng bông. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như thuỷ lợi, giao thông cho các vùng trồng bông để tăng nhanh diện tích trồng bông. Hỗ trợ vốn cho Công ty bông Việt nam trong các công tác quy hoạch vùng trồng bông, nghiên cứu khoa học, khuyến nông, sản xuất hạt giống, chế biến bông để đủ khả năng giữ vai trò chủ đạo của ngành sản xuất bông. Kiến nghị với Chính phủ xây dựng quỹ Bình ổn và trợ giá cho người trồng bông để khuyến khích và duy trì các cánh đồng chuyên canh bông vải. *Cho phép ngành bông được sử dụng các quỹ sau: Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp để giúp cho nông dân trồng bông trong giai đoạn đầu. Quỹ bảo lãnh tín dụng để hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong đầu tư tín dụng cho nông dân trồng bông. Quỹ bảo hiểm ngành hàng đối với một số hàng nông sản xuất khẩu thay thế nhập khẩu Bảng 14 : Mục tiêu phát triển cây bông đến năm 2010. Chỉ tiêu Đơnvị tính Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010 Diện tích trồng cây côngnghiệp Năng suất bông hạt Sản lượng bông hạt Sản lượng bông xơ Nhu cầu bông xơ toàn ngành Đáp ứng yêu cầu ngành dệt 1000 ha tạ/ha 1000 tấn 1000 tấn 1000 tấn % 22.6 9.0 20.3 6.8 60.0 11.0 60.0 14.0 84.0 30.0 97.0 30.0 150.0 18.0 270.0 95.0 130.0 70.0 (Nguồn: Chiến lược “tăng tốc” phát triển ngành dệt may VN đến năm 2010-Tổng công ty Dệt May Việt Nam) Bên cạnh chương trình phát triển cây bông vải, cần phải thực hiện đồng bộ cả việc phát triển các cơ sở chế biến để tạo đầu ra thuận lợi cho cây bông. Nhà nước nên miễn thuế nhập khẩu các loại thuốc nhuộm, hoá chất, thuốc trợ nhuộm. Đối với các doanh nghiệp sản xuất phụ liệu may mặc, Nhà nước nên có nhiều biệ pháp ưu tiên để thúc đẩy việc sản xuất mặt hàng này. Phát triển hệ thống công ty sản xuất nguyên phụ liệu trong nước sẽ là một hướng đi đúng nhằm sản xuất một cách đồng bộ tất cả các loại phụ liệu cần thiết. Các cơ quan chức năng cần tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án sản xuất phụ liệu may mặc có công nghệ hiện đại. Ngoài ra, Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích sản xuất sử dụng nguyên phụ liệu trong nước.Theo ước tính, phụ liệu chiếm khoảng 10-15%, có khi đến 25-35% giá thành sản phẩm may, vì vậy, nếu chủ động và hạ chi phí bằng cách lựa chọn hợp lý, chính xác nhà cung cấp có thể đem lại hiệu quả đáng kể trong việc giảm giá sản phẩm này. 3.2. Cấp Doanh nghiệp 1. Xây dựng chiến lược về công nghệ Để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp cần nhanh chóng đổi mới công nghệ, đây là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu và cần phải đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm trong việc đổi mới công nghệ. Điểm lưu ý trong đổi mới công nghệ là không phải cứ công nghệ cao, hiện đại mới tốt, vấn đề ở chỗ doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề của người lao động nhằm tối ưu hoá việc kết hợp các nguồn lực để đạt được hiệu quả cao. Từ đó chúng ta mới có điều kiện tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm biện pháp quan trọng để chúng ta chủ động được cắt giảm thuế nhập khẩu cho nguyên liệu theo các cam kết quốc tế (theo cam kết với AFTA đến năm 2006 thuế nhập khẩu giảm còn từ 0%-5%), để có thể chiếm ưu thế về cạnh tranh , đây là khâu trọng yếu của quá trình hội nhập. Thực hiện tốt chiến lược công nghệ sẽ quyết định đến nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn. Chiến lược công nghệ của doanh nghiệp chỉ có thể được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả khi doanh nghiệp xem đây là khâu đột phá có tính chất cách mạng và sẵn sàng trả thù lao xứng đáng cho các phát minh sáng chế có giá trị thực tiễn trong việc đổi mới quy trình công nghệ phục vụ sản xuất và hoạt động dịch vụ. Để chiến lược công nghệ thực thi có hiệu quả cần phải đẩy mạnh hơn nữa sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu. Trong ngành dệt may công nghệ sản xuất hiện đang rất lạc hậu, yêu cầu đổi mới công nghệ rất cấp bách, nhưng chúng ta đang thiếu vốn để đầu tư đổi mới công nghệ. Vừa qua, Bộ Thương mại vừa ra quyết định sẽ ưu tiờn dành hạn ngạch dệt may sang Hoa Kỳ năm nay cho cỏc DN đầu tư lớn, sản phẩm xuất khẩu giỏ cao. Theo đú, cỏc DN cú cơ sở sản xuất trờn 1.000 thiết bị được giao hạn ngạch dành cho cỏc hợp đồng xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh theo phương thức bỏn hàng FOB. Cụ thể, DN cú 1.000-2.000 thiết bị được giao 1 cat., DN cú từ 2.001-4.000 thiết bị được giao 2 cat. và DN cú trờn 4.000 thiết bị được giao 3 cat. Ngoài ra, nếu DN cú trờn 2.000 thiết bị, đăng ký 1 cat. sẽ được giao bằng 150% tiờu chuẩn cat. đăng ký. DN cú trờn 4.000 thiết bị, đăng ký 1 cat. được giao bằng 180% tiờu chuẩn cat. đăng ký, nếu đăng ký 2 cat. sẽ được giao bằng 120% tiờu chuẩn 2 cat. đăng ký. Do vậy, nếu các doanh nghiệp muốn xuất khẩu sang thị trường Mỹ cũng phải đầu tư vào công nghệ sản xuất, mở rộng quy mô. 2. Xây dựng chiến lược tiếp thị, xúc tiến bán hàng Chúng ta cần phải đổi mới quản trị chiến lược Marketing xuất khẩu. Đa số các doanh nghiệp đã thực hiện hoạch định chiến lược xuất khẩu của doanh nghiệp (94.7%) và đã có chiến lược Marketing xuất khẩu (85.1%) hầu hết các doanh nghiệp đã có tổ chức phòng Marketing (75.5%). Tuy nhiên những hiểu bết về quy định, nội dung và cách thức quản trị chiến lược nói chung, quản trị Marketing nói riêng vẫn còn rất hạn chế, ở hầu hết các doanh nghiệp, sự hiểu biết và sự sắp xếp các quy trình quản trị chiến lược Marketing xuất khẩu còn rất đơn giản, phần lớn các doanh nghiệp chỉ chú trọng đến mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu lợi nhuận trước mắt chứ chưa chú trọng đến mục tiêu dài hạn. Việc tổ chức các hoạt động, phân tích môi trường và tổ chức hệ thống thông tin Marketing xuất khẩu được thực hiện vừa thiếu vừa yếu. Các doanh nghiệp dựa vào hỗ trợ trong nước để xúc tiến khuyếch trương sản phẩm xuất khẩu là chủ yếu. Việc tham gia hội chợ quốc tế rất còn hạn chế, chỉ một số ít doanh nghiệp có quy mô lớn thực hiện. Đổi mới và thúc đẩy quản trị chiến lược Marketing xuất khẩu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam. Trong thời gian tới, môi trường quốc tế sẽ càng ngày cáng thuận lợi hơn cả ba cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Vì thế, để đón bắt được cơ hội, vượt qua thách thức nhằm giành thắng lợi trong cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam phải tiếp tục hoàn thiện quản trị chiến lược Marketing xuất khẩu. Trong đó, mỗi doanh nghiệp phải đổi mới tư duy về quản trị, từ quản trị theo tình huống cụ thể sang quản trị chiến lược; tập trung các nỗ lực doanh nghiệp vào giải quyết những khâu yếu nhất, quan trọng nhất trong các công đoạn của quy trình quản trị. Cần tập trung vào một số lĩnh vực là điểm mạnh của doanh nghiệp thương mại như nghiên cứu Marketing, tổ chức kênh và mạng lưới phân phối, xúc tiến bán hàng… ỉ Thúc đẩy sự phát triển thương mại điện tử Hiện nay thương mại điện tử (TMĐT) được áp dụng chủ yếu ở các nước phát triển với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 200%( riêng nước Mỹ chiếm 1/2 tổng doanh số TMĐT toàn thế giới năm 2002 khoảng 300 tỷ USD). Mỹ là quốc gia có nền công nghệ thông tin rất phát triển chính vì vậy mà TMĐT rất quan trọng với nước Mỹ, nhờ nó chi phí giao dịch giảm đi rất nhiều lần, hàng chục thậm chí hàng trăm lần. TMĐT có thể giúp cho các doanh nghiệp nhỏ mở rộng thị trường, mà nó có thể làm thay đổi cơ cấu, tính chất căn bản của doanh nghiệp. Mạng Internet là phương tiện giao lưu giữa các doanh nghiệp thuận tiện và nhanh chóng hơn. Là công cụ mới cho chiến lược quản lý do nó nối trực tiếp người mua với người bán, không bị hạn chế về không gian và thời gian, nâng cao hiệu quả của hoạt động tiếp thị quảng cáo, giao dịch…Bằng việc tận dụng các công nghệ mới để làm tăng khả năng kinh doanh, Mỹ đang tích cực khai thác mạng Internet và muốn hợp tác với Mỹ một cách nhanh chóng và có hiệu quả, các doanh nghiệp Việt Nam không còn con đường nào nhanh hơn là tiếp cận với TMĐT. Nhưng tình hình hiện nay của Việt Nam cơ sở vật chất chưa thực sự đáp ứng được cho TMĐT. Việc xây dựng một hệ thống thanh toán điện tử, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo mật thông tin… sẽ cần phải mất nhiều thời gian trong tương lai, nhưng trước mắt việc xây dựng website cung cấp thông tin về các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam thì hiệp hội dệt may, Tổng công ty Dệt may Việt Nam trong vai trò đầu mối, nhằm cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác. Trong thời gian qua đã có nhiều website của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam ra đời nhưng những thông tin hữu ích còn rất hạn chế, thậm chí rất sơ sài. Các doanh nghiệp cần có một chiến lược phát triển khả năng tiếp cận, khai thác thông tin cũng như khả năng cung cấp thông tin một cách chính xác trên các website của mình. Doanh nghiệp có thể tự phát triển đội ngũ cán bộ mạnh hoặc có thể đi thuê các đơn vị khác làm, nhưng trong tương lai doanh nghiệp cần có một đội ngũ bộ phận chuyên trách phát triển thương mại điện tử, có khả năng sử dụng internet, sử dụng tiếng anh một cách thành thạo. ỉ Xây dựng hệ thống kênh phân phối, tiêu thụ sản phẩm. Tại thị trường Mỹ có các kênh tiêu thụ hàng hoá: Bán buôn cho các cửa hàng bán lẻ. Bán buôn cho nhà phân phối Bán trực tiếp cho nhà công nghiệp Bán buôn qua đường bưu điện Bán lẻ qua bưu điện Bán lẻ Bán hàng qua các cuộc trưng bày hàng hoá trên các kênh truyền hình Bán trực tiếp cho các nhà máy công xưởng. Đại lý bán hàng. Bán hàng qua các buổi tiệc giới thiệu bán hàng Bán ở chợ ngoài trời Bán hàng qua các hội chợ, triển lãm tại Mỹ Bán hàng qua hệ thống Internet Bán cho nguồn trung gian đặt hàng Trong các kênh tiêu thụ trên, bán hàng qua Internet đã được nói ở trên, ta có thể lựa chọn các kênh phù hợp với khả năng, kinh nghiệm của doanh nghiệp. Hiện tại hàng dệt may của chúng ta bán chủ yếu bán buôn cho các nhà phân phối, bán cho trung gian. Người tiêu dùng Mỹ hiện biết rất ít về hàng của Việt Nam, chưa hiểu được hàng hoá của chúng ta nên họ còn chần chừ trong việc ra quyết định mua. Do chúng ta mới chân ướt chân ráo vào thị trường Mỹ nên sử dụng các kênh tiêu thụ trên. Sử dụng các kênh tiêu thụ trên không có lợi về mặt lâu dài, nhiều khi chúng ta bị ép giá, khách hàng không hiểu rõ về hàng hoá của chúng ta. Chúng ta cần xây dựng những kênh phân phối trực tiếp với thị trường, tiếp cận được với người tiêu dùng. Bộ thương mại, Tổng công ty dệt may cần hỗ trợ kinh phí để một công ty đầu ngành mở một đại lý bán hàng trực tiếp, bên cạnh đó tìm hiểu thị trường, sau đó giúp các doanh nghiệp khác tìm thông tin khách hàng, mở các đại lý bán hàng. Tại Hoa Kỳ bán lẻ là cầu nối cuối cùng quan trọng nhất giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, nên các nhà bán lẻ có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới. Đứng sau các nhà bán lẻ là hàng triệu nhà sản xuất trên khắp thế giới. Các nhà bán lẻ giúp các nhà sản xuất và đôi khi ép các nhà sản xuất quyết định sản xuất cái gì, ở đâu, như thế nào, và trong bao lâu với chi phí ra sao. Lý do đơn giản là các nhà sản xuất cần thị trường đầu ra thông qua hệ thống nhà bán lẻ. Sự sống còn của công nghiệp sản xuất phụ thuộc và gắn chặt với nhà bán lẻ. Qua hệ thống nhà bán lẻ người sản xuất biết được nhà tiêu dùng đánh giá hàng hoá của mình như thế nào để có những điều chỉnh thích hợp. ở Mỹ doanh số bán lẻ là rất lớn, đứng đầu doanh số các tập đoàn bán lẻ là tập đoàn W.Mart với doanh số 2003 gần 300 tỷ USD. Đối với hàng hoá của Việt Nam (trong đó có hàng dệt may) vẫn chưa thu hút đựơc sự quan tâm đúng mức của các nhà bán lẻ, vì những lý do sau: Việt Nam ít có kinh nghiệm làm việc với các tập đoàn bán lẻ. Nhận thức của xã hội Việt Nam nói chung về vai trò của tập đoàn bán lẻ chưa đầy đủ, đặc biệt là quan hệ giữa họ với người sản xuất. Và Việt Nam chưa có chiến lược thích hợp để thu hút họ vào đặt hàng. Sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam chưa đủ mạnh và hệ thống tiêu chuẩn chất lượng của Việt Nam chưa phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của quốc tế. Hiện chưa có nhà bán lẻ nào của Hoa Kỳ vào đặt hàng dệt may với số lượng lớn ở Vệt Nam. Nếu chúng ta tận dụng được các nhà bán lẻ để phân phối hàng hoá thì có thể nói đây là một trong các kênh phân phối tốt nhất cho sản phẩm tiêu thụ ở Hoa Kỳ. 3. Xây dựng chiến lược về nhân lực Nguồn nhân lực tốt là một sự đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững. Vì vậy, để đáp ứng nguồn lực có tay nghề cho ngành dệt may từ nay đến năm 2010 là hết sức cần thiết và cấp bách. Trong quyết định 55/2001/QĐ-TTg của Chính phủ đã nêu ra 6 điểm để hỗ trợ ngành dệt may phát triển đến năm 2010. Trong đó, điểm 5 của quyết định cho phép : “Dành toàn bộ nguồn thu phí hạn ngạch dệt may cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó có chi phí cho các hoạt động tham gia các tổ chức dệt may quốc tế, cho công tác xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may”. Như vậy, trong chủ trương và trong các chính sách của mình, Nhà nước ta luôn thể hiện sự quan tâm tới việc nâng cao chất lượng của người lao động trong ngành dệt may. Quyết định này sẽ đưa ra một định hướng cho công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp. Hiện nay trình độ quản lý ở các doanh nghiệp chưa cao, lao động tay nghề chưa cao, đội ngũ những kỹ thuật viên, nhà tạo mẫu của các doanh nghiệp dệt may chưa có, đội ngũ những kỹ thuật viên, nhà tạo mẫu của các doanh nghiệp chưa có hoặc năng lực còn kém, thiếu sáng tạo. Để phát triển nguồn nhân lực cho ngành dệt may Việt Nam để mà nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu các doanh nghiệp và ngành cần có chiến lược phát triển nguồn nhân lực về lâu dài. Các doanh nghiệp cần thường xuyên tổ chức những khoá học ngắn hạn bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, các cuộc tiếp xúc trao đổi kinh nghiệm. Khuyến khích công nhân viên tự đào tạo, nâng cao tay nghề. Các doanh nghiệp cần có chiến lược về đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, thị trường, hỗ trợ kinh phí để họ nâng cao nghiệp vụ. Đầu tư kinh phí, gửi đi đào tạo cả trong nước hoặc nước ngoài những nhà thiết kế mẫu, thiết kế thời trang, tạo điều kiện về vật chất lẫn tinh thần để họ phát huy khả năng sáng tạo trong công việc. Huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tốt để bổ sung cho các doanh nghiệp gặp khó khăn, hoặc thực hiện dự án đầu tư mới sau khi đã qua khoá đào tạo ngắn hạn về quản lý hoặc kỹ thuật. Để có thể tiếp nhận các công nghệ phù hợp, nhập các loại thiết bị tương ứng thì việc củng cố các Viện nghiên cứu và sử dụng các chuyên gia kỹ thuật, chuyên gia quản trị là rất cần thiết, kể cả việc thuê các chuyên gia nước ngoài nhằm đảm bảo cho các dự án đầu tư được triển khai thực hiện có hiệu quả. Thuê các nhà quản lý hoặc các chuyên gia nước ngoài nhằm giải quyết các khó khăn, hoặc điều hành các dự án mới. Xây dựng cơ chế ứng xử mới, cả về tinh thần và vật chất nhằm thu hút mọi nguồn chất xám cho phát triển ngành dệt may. Hiện nay cả nước mới có ba trường đào tạo về ngành dệt may đó là Đại học bách khoa Hà Nội, ĐHBK TP Hồ Chí Minh, ĐH Mỹ thuật công nghiệp, nhưng chưa thực sự chuyên sâu. Vì vậy Nhà nước cần phối hợp với các địa phương, hỗ trợ kinh phí, đội ngũ giảng dạy mở những trường, trung tâm dạy nghề về dệt may ở những vùng trọng điểm về dệt may. Nhà nước cần thành lập một trường chuyên về dệt may, đào tạo với chất lượng chuyên sâu về công nghệ, tạo mẫu, quản lý. 4. Xây dựng chiến lược về sản phẩm, thương hiệu Chiến lược về sản phẩm Chiến lược về sản phẩm cho hàng dệt may bao gồm vấn đề mẫu mã và chất lượng. Mẫu mã sản phẩm có ảnh hưởng đến trực giác và ra quyết định mua của người tiêu dùng. Mẫu mã đẹp có tác dụng rất lớn đối với việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp khi mà hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh chất lượng của họ cũng tốt như chúng ta thì vấn đề đầu tiên được xem xét đến là mẫu mã. Cải tiến mẫu mã, tạo ra những mẫu mã đẹp, độc đáo thu hút người tiêu dùng. Nâng cao chất lượng sản phẩm là một yêu cầu tất yếu để hàng dệt may của chúng ta tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Mỹ. Người dân Mỹ yêu cầu chất lượng hàng hoá rất cao nên việc nâng cao chất lượng hàng hoá là một là một việc làm về lâu dài đối với mọi doanh nghiệp dệt may xuất khẩu. Chúng ta phải xây dựng cho hàng dệt may xuất khẩu hệ thống quản lý chất lượng quốc tế, đây là thước đo chất lượng hàng hoá đã được cả thế giới chấp nhận và tin tưởng. Xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ chúng ta có thể xây dựng hệ thống chất lượng ISO 9000, ISO 14000, SA 8000 (Social Accountability 8000). Tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO 9000 đề cập đến các yếu tố chính trong quản lý chất lượng như chính sách chỉ đạo chất lượng, nghiên cứu thị trường, thiết kế triển khai sản phẩm, quá trình cung ứng, bao gói, phân phối, dịch vụ sau bán hàng, kiểm soát tài liệu, đào tạo. Muốn xây dựng theo tiêu chuẩn chất lượng này các doanh nghiệp dệt may cần có chương trình đào tạo cho mọi người trong doanh nghiệp, tiến hành kiểm tra, đánh giá theo chu trình quy định. Doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư cho công tác quản lý chất lượng hàng hoá từ bắt đầu nhập nguyên liệu- quy trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Hiện nay vấn đề về môi trường đang trở lên vô cùng quan trọng, nó là vấn đề quan tâm toàn cầu. Do bị cam kết đa phương nhiều nước phát triển đã tìm đến môi trường như một cứu cánh cho chính sách bảo hộ. Vì vậy doanh nghiệp cần tiến hành áp dụng ISO 14000( tiêu chuẩn về môi trường khá toàn diện của Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế). SA 8000 là bộ tiêu chuẩn quy định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đước xây dựng trên các cơ sở của Tổ chức lao động thế giới. Tiêu chuẩn này đề cập đến một số khía cạnh như không được sử dụng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, đảm bảo sức khoẻ cho người lao động, các chế độ cho người lao động...Nước Mỹ là một nước rất đề cao nhân quyền nên họ hay dựa vào những quy định về chế độ đối với người lao động để cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Các doanh nghiệp dệt may nếu xây dựng được hệ thống chất lượng theo tiêu chuẩn SA 8000 thì sẽ rất thuận lợi khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ, và nó cũng là một lợi thế tạo ra khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Xuất khẩu vào Mỹ nên cố gắng xây dựng cho hàng hoá hệ thống tiêu chuẩn theo SA 8000 hoặc ISO 14000. Chiến lược về thương hiệu Hàng dệt may của chúng ta xuất khẩu sang thị trường Mỹ chủ yếu qua hình thức gia công cho các công ty, tập đoàn lớn trong lĩnh vực dệt may, có thương hiệu nổi tiếng. Hàng hoá của chúng ta có chất lượng rất tốt nhưng chúng ta không có những thương hiệu lớn hoặc không có thương hiệu, người tiêu dùng không biết đến sản phẩm của chúng ta, chúng ta chịu thiệt thòi khi mà sản xuất cho các thương hiệu lớn chúng ta chỉ thu được khoảng 60% giá trị hàng hoá khi bán trên thị trường. Với các công ty lớn họ chỉ bỏ mỗi thương hiệu ra cũng thu được 40% lợi nhuận. Nếu chúng ta xây dựng được những thương hiệu cho riêng mình, xuất khẩu trực tiếp vào Mỹ với thương hiệu riêng khi đó chúng ta sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Do đó việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ không chỉ là sự quan tâm của riêng các doanh nghiệp mà còn có sự quan tâm của ngành, Bộ thương mại. Xây dựng một nhãn hiệu thành công (hiệu quả của việc sử dụng nhãn hiệu-S) tổng hợp từ ba yếu tố: sản phẩm hiệu quả (P), mức độ nhận biết khác biệt (D) và giá trị tăng thêm VA: S = P. D. VA Hiệu quả của việc sử dụng nhãn hiệu có thể đo lường được bằng thực nghiệm, khi sản phẩm không có nhãn hiệu và khi sản phẩm có nhãn hiệu. Tạo ra thương hiệu là một việc dễ, nhưng phát triển thương hiệu là vấn đề trung tâm của các nhà quản trị cao cấp, bởi nó là nhân tố cơ bản quyết định đến giá trị thị trường của công ty. Khi công ty tạo ra một nhãn hiệu mạnh trong nước không có nghĩa là đã thành công ở nước ngoài. Muốn vận dụng và phát triển thương hiệu ra nước ngoài không phải là dễ do sự khác biệt về môi trường văn hoá, kinh doanh ở mỗi nước. Hơn nữa đòi hỏi khả năng dài hạn về tài chính, không chỉ dành cho quảng cáo mà còn mẫu mã, khuyến mãi, đối ngoại và dịch vụ khách hàng. Ta phải xác định yếu tố thành công và thất bại ở thị trường xuất khẩu dựa vào : thị trường hướng tới, khả năng đưa ra những sản phẩm độc đáo và có tính cạnh tranh, khả năng phản ứng nhanh trước những thay đổi của thị trường, thị hiếu khách hàng, phản hồi của khách hàng. Để phát triển thương hiệu ta cần: Tích cực nghiên cứu thị trường, đến tận nơi và xem xét thị trường, tiếp xúc với các nhà phân phối, khách hàng tiềm năng, thăm các cửa hiệu, tham dự hội chợ, triển lãm một cách đều đặn. Tìm hiểu những khách hàng đầu tiên, khách hàng này sẽ chỉ ra cho bạn nhiều điều và sẵn sàng thử nghiệm sản phẩm. Hoạt động xúc tiến, chuẩn bị Catalogue (ngôn ngữ, chất lượng in) quảng cáo trên trang Web riêng, thường xuyên khảo sát khách hàng, tránh quá nhiều quảng cáo qua e-mail (gây khó chịu cho khách hàng) Phản hồi nhanh với những nhu cầu để thu thập thông tin về khách hàng từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn. Trách nhiệm xây dựng và phát triển nhãn hiệu thành công trên thị trường thuộc về các doanh nghiệp, đó là một sự khó khăn về lâu dài, vấn đề không chỉ là tiền mà quan trọng hơn là tài năng của các nhà làm Marketing của doanh nghiệp. Xây dựng thương hiệu cho hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường Mỹ chúng ta cần đăng ký với các cơ quan chức năng Mỹ để đăng ký bản quyền, tránh bị đánh cắp bản quyền. Chúng ta có thể thuê các chuyên gia Marketing, các công ty tư vấn ở Mỹ giúp đỡ trong việc phát triển thương hiệu tại thị trường này. Chúng ta có thể liên kết, hợp tác với các công ty ở Mỹ xây dựng những thương hiệu chung. 5. ổn định nguồn nguyên liệu cho sản xuất Nguồn nguyên liệu cho sản xuất của các doanh nghiệp may xuất khẩu sang thị trường Mỹ chủ yếu là nhập khẩu, sản phẩm dùng cho may xuất khẩu như vải sợi, phụ liệu may ở trong nước chưa sản xuất được hoặc có chất lượng thấp do vậy các doanh nghiệp may xuất khẩu bắt buộc phải nhập khẩu nguyên liệu. Sản phẩm của chúng ta xuất khẩu dựa trên những lợi thế về lao động, nguyên liệu trong nước, nếu nhập khẩu nguyên liệu sẽ mất đi một phần lợi thế. Do phải nhập khẩu nguyên liệu nên các doanh nghiệp thường bị phụ thuộc vào các nhà cung cấp nguyên phụ liệu, chúng ta không chủ động được nguyên liệu cho sản xuất do giao hàng chậm hoặc không đáp ứng đủ, nhiều khi chúng ta bị người cung ứng ép giá. Việc ổn định nguồn nguyên liệu sẽ tạo một tâm lý an tân sản xuất, chủ động được nguồn lực, có thể thực hiện được các hợp đồng một cách dễ dàng. Hiện nay Nhà nước cũng đang có chương trình xây dựng, quy hoạch vùng nguyên liệu cho dệt may cũng nhằm mục đích giải quyết vấn đề nguyên phụ liệu cho ngành dệt may. Nhưng trước mắt các doanh nghiệp may xuất khẩu vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất, do vậy vấn đề cấp bách đặt ra trước mắt là phải tìm được những nguồn cung ứng nguyên liệu chắc chắn, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp cần tìm cho mình những nhà cung ứng chắc chắn, quen thuộc, tin tưởng được. Nên phân bố rủi ro trong khâu đầu vào bằng cách làm việc với nhiều nhà cung ứng như thế sẽ không bị phụ thuộc vào một nhà cung ứng. Những doanh nghiệp dệt may lớn có đủ tiềm lực tài chính nên đầu tư một phần vào để nghiên cứu sản xuất ra nguyên phụ liệu cho chính mình. Vừa qua, Tập đoàn Yoengone (Hàn Quốc) đầu tư vào khu công nghiệp Hoà Xá-Nam Định 57 triệu USD, họ vừa sản xuất sản phẩm may mặc vừa sản xuất nguyên liệu, phụ liệu dệt, may cung cấp cho mình và cả các đơn vị khác. Đây là một cái nhìn hoàn toàn đúng đắn của các nhà đầu tư trong hoàn cảnh hiện nay. 6. Nghiên cứu và nắm vững luật pháp Hoa Kỳ Đây là công việc vô cùng cần thiết với bất kỳ doanh nghiệp xuất khẩu nào, vào bất kỳ thị trường nào. Có hiểu rõ luật pháp, cung cách làm ăn của họ thì mình mới có thể làm ăn được với họ. Việc nghiên cứu những quy định liên quan đến xuất nhập khẩu trong Luật kinh doanh của Mỹ, cung cách làm ăn và tác phong của người Mỹ...giúp các doanh nghiệp Việt nam tính toán, cân nhắc và có những quyết định đúng đắn trong việc hợp tác kinh doanh với các công ty Mỹ như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất, rủi ro thấp nhất. Để vào được thị trường Mỹ, các doanh nghiệp không những phải nắm vững nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng và đảm bảo có sức cạnh tranh mà còn phải nghiên cứu, thông thạo hệ thống luật pháp của Mỹ, nắm được các quy định về quản lý chất lượng, mẫu mã, quản lý xuất nhập khẩu. Hệ thông luật pháp ở Mỹ vô cùng phức tạp và chặt chẽ, ngoài luật pháp của liên bang mỗi bang còn có một hệ thống luật riêng, nhiều luật rất quái gở. Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng vào thị trường Mỹ cần nắm vững nhứng luật như: Luật bảo hành và bảo vệ người tiêu dùng: bảo hành rõ ràng được hiểu khi trên hàng hoá ghi mẫu mã, quy cách thành phần bên bán đã cam kết, bảo hành ngầm là sự bảo đảm hàng hoá đã bán phù hợp với mục đích của người tiêu dùng. Do khinh xuất, nhiều nhà sản xuất đã tốn hàng triệu USD cho các vụ kiện cáo của người tiêu dùng. Luật về an toàn hàng hoá, đối với hàng dệt may những đạo luật chặt chẽ quy định về an toàn sản phẩm lưu hành trên thị trường như: quy định về chống độc hại do nguồn gốc của sản phẩm, quy định về chống cháy, quy định về bảo vệ môi trường. Luật hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ, như hàng hoá vào Mỹ phải có Visa, ghi rõ nguồn gốc, xuất xứ trên bao bì, tên nhà sản xuất nêu không sẽ không nhập cảnh được vào Mỹ. Các quy định về bảo hộ, đạo luật về chống bán phá giá hàng hoá. Việc tìm hiểu rõ những quy định trong luật pháp Mỹ giúp các doanh nghiệp xâm nhập thị trường Mỹ một cách dễ dàng, thuận lợi, không gặp khó khăn trong quá trình xuất khẩu, thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp. Xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ cần nắm được những vấn đề cơ bản có liên quan của Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và nắm vững những vấn đề của Hiệp định hàng dệt may Việt-Mỹ để vận dụng một cách thành công. Ngoài việc nắm vững luật pháp Mỹ các doanh nghiệp cũng nên tìm hiểu các phong tục tập quán kinh doanh của người Mỹ như tác phong kinh doanh, thói quen trong đàm phán kinh doanh, ký kết hợp đồng để tránh những rắc rối xảy ra trong kinh doanh. Kết luận Cạnh tranh là một xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường, trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, quá trình cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt với sự tham gia của các nước trên thế giới. Việt Nam chúng ta đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá việc tham gia vào thị trường thế giới có tác dụng thúc đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hàng hoá của chúng ta xuất khẩu ra thế giới khả năng cạnh tranh còn kém do nước ta có nền kinh tế thị trường còn kém phát triển, hàng dệt may là một ví dụ điển hình. Việc nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng dệt may đang là vấn đề quan tâm của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may, của các cơ quan Nhà nước. Qua quá trình nghiên cứu chuyên đề: “ Nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ trong điều kiện thực hiện Hiệp định thương mại Việt-Mỹ”. Em đã hiểu được phần nào về khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường, những yêu cầu cần thiết để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Qua nghiên cứu và viết chuyên đề đã giúp em nâng cao khả năng tổng hợp, phân tích và tìm hiểu một vấn đề kinh tế. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định do khả năng còn hạn chế. Nhưng để viết đựơc như thế này là đã có sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo GS-TS Đặng Đình Đào và các bác cán bộ trong Viện Nghiên cứu thương mại. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn GS-TS Đặng Đình Đào đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này. Mục lục Lời Mở đầu 1 Nội Dung 3 Chương I. Những lý luận chung về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu 3 1.Khái quát về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh 3 1.1. Khái niệm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh 3 1.2. Chức năng của cạnh tranh 6 1.3. Các phương thức cạnh tranh 7 2. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu hàng dệt may 11 2.1. Đánh giá cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam 12 2.2.Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và sự cần thiết nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu 15 2.3. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu 18 3. Các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ 20 3.1. Môi trường cạnh tranh 21 3.2. Môi trường văn hoá xã hội 22 3.3. Môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp và công nghệ 23 3.4. Môi trường địa lý sinh thái 25 3.5.Tiềm lực của doanh nghiệp 26 Chương II. Tình hình cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ 29 1. Tổng quan về thị trường dệt may Mỹ 29 . Khái quát nền kinh tế Mỹ 29 . Khái quát thị trường dệt may Mỹ 31 . Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ với việc xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Mỹ 33 Các chính sách quy định đối với hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ 34 2. Thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ 41 2.1.Tình hình xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Mỹ trong thời gian qua 41 2.2. Khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 47 2.3. Đánh giá chung về khả năng cạnh tranh 51 3. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ 51 3.1. Những thuận lợi của hàng dệt-may Việt Nam khi xuất khẩu sang Mỹ 51 3.1.1. Thị trường Mỹ rất lớn cho dệt may Việt Nam 51 3.1.2.Vị trí địa lí và điều kiện giao lưu hàng hoá 52 3.1.3 Nguồn lao động rẻ tạo lợi thế cho cạnh tranh 52 3.1.4. Chính sách quản lý, hỗ trợ của Chính phủ 54 3.2. Những bất lợi của hàng dệt may Việt Nam trong cạnh tranh xuất khẩu sang Mỹ 55 3.2.1.Sự phân biệt đối xử trong thương mại 55 3.2.2. Thiếu thông tin về thị trường 55 3.2.3.Cơ chế quản lý xuất nhập khẩu còn lạc hậu 57 3.2.4. Thiếu vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị 59 3.2.5. Sự khập khiễng giữa nghành dệt và may 60 3.2.6. Sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu 61 Chương III. Phương hướng và biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh xuất khẩu hàng Dệt May vào thị trường Hoa Kỳ 63 Mục tiêu của nghành trong thời gian tới 63 Biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Mỹ 65 2.1. Tầm Vĩ mô 65 1. Đẩy mạnh quá trình hội nhập WTO 65 Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ 67 Cung cấp thông tin, hỗ trợ các doanh nghiệp trong xúc tiến xuất khẩu 71 Quy hoạch vùng nguyên liệu cho dệt may 74 2.2. Cấp Doanh nghiệp 76 Xây dựng chiến lược về công nghệ 76 Xây dựng chiến lược tiếp thị, xúc tiến bán hàng 77 Xây dựng chiến lược về nhân lực 81 Xây dựng chiến lược về sản phẩm, thương hiệu 83 ổn định nguồn nguyên liệu cho sản xuất 86 Nghiên cứu và nắm vững luật pháp Hoa Kỳ 87 Kết luận 89 Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong điều kiện thực hiện Hiệp định thương mại Việt – Mỹ.doc
Luận văn liên quan