Nghiên cứu đề xuất quy hoạch cây xanh đường phố và bảo vệ môi trường cho hệ thống cây xanh tp Thanh Hóa

CHƯƠNG I MỞ ĐẦU Thành phố Thanh Hoá đang trên đà phát triển mạnh về mọi mặt, đặc biệt tốc độ đô thị hoá đang diễn ra ngày càng nhanh. Các khu đô thị, khu dân cư mới đang được xây dựng và hình thành, nhiều tuyến đường đang đợc cải tạo mở rộng hoặc làm mới. Các cơ quan công sở, trường học, bệnh viện cũng được đầu tư xây dựng mới để hướng tới một thành phố Thanh Hóa giàu đẹp trong tương lai, góp phần nâng cao đời sống về cả vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh đầu tư phát triển về cơ sở hạ tầng có một vấn đề nữa mà chúng ta không thể bỏ qua được, đó là vấn đề môi trường và cây xanh đô thị. Cây xanh là một thành phần không thể thiếu trong đời sống con người, nó không những mang đến nhiều giá trị về mặt tinh thần, đưa con người xích lại gần với thiên nhiên hơn mà còn mang lại giá trị kinh tế và bảo vệ, cải thiện môi trường. Tuy nhiên hiện nay có nhiều hoạt động của con người đã tác động không tốt tới môi trường làm cho môi trường ngày càng xấu đi. Không giống như môi trường ở vùng nông thôn là nơi có nhiều cây xanh, không khí trong lành. Người dân sống ở thành phố luôn phải đối mặt với môi trường có chất lượng ngày càng suy giảm do ô nhiễm nước, khói bụi, nhiệt độ, khí thải và tiếng ồn. Để góp phần tạo một môi trường sống trong lành và xây dựng một thành phố có cảnh quan đẹp phục vụ cho việc tiến tới đô thị loại 1 của thành phố Thanh Hóa, tôi đã làm đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất quy hoạch cảnh quan và bảo vệ môi trường cho hệ thống cây xanh đường phố ở thành phố Thanh Hóa” để nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố của thành phố Thanh Hóa hiện nay, đánh giá một số loài cây trồng được chọn làm cây bóng mát đường phố từ đó đưa ra đề xuất quy hoạch lại hệ thống cây xanh đường phố cho phù hợp với mục đích phát triển và hướng vào mục tiêu bảo vệ môi trường.

doc59 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 10/01/2013 | Lượt xem: 5848 | Lượt tải: 31download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đề xuất quy hoạch cây xanh đường phố và bảo vệ môi trường cho hệ thống cây xanh tp Thanh Hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU Thành phố Thanh Hoá đang trên đà phát triển mạnh về mọi mặt, đặc biệt tốc độ đô thị hoá đang diễn ra ngày càng nhanh. Các khu đô thị, khu dân cư mới đang được xây dựng và hình thành, nhiều tuyến đường đang đợc cải tạo mở rộng hoặc làm mới. Các cơ quan công sở, trường học, bệnh viện cũng được đầu tư xây dựng mới để hướng tới một thành phố Thanh Hóa giàu đẹp trong tương lai, góp phần nâng cao đời sống về cả vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh đầu tư phát triển về cơ sở hạ tầng có một vấn đề nữa mà chúng ta không thể bỏ qua được, đó là vấn đề môi trường và cây xanh đô thị. Cây xanh là một thành phần không thể thiếu trong đời sống con người, nó không những mang đến nhiều giá trị về mặt tinh thần, đưa con người xích lại gần với thiên nhiên hơn mà còn mang lại giá trị kinh tế và bảo vệ, cải thiện môi trường. Tuy nhiên hiện nay có nhiều hoạt động của con người đã tác động không tốt tới môi trường làm cho môi trường ngày càng xấu đi. Không giống như môi trường ở vùng nông thôn là nơi có nhiều cây xanh, không khí trong lành. Người dân sống ở thành phố luôn phải đối mặt với môi trường có chất lượng ngày càng suy giảm do ô nhiễm nước, khói bụi, nhiệt độ, khí thải và tiếng ồn. Để góp phần tạo một môi trường sống trong lành và xây dựng một thành phố có cảnh quan đẹp phục vụ cho việc tiến tới đô thị loại 1 của thành phố Thanh Hóa, tôi đã làm đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất quy hoạch cảnh quan và bảo vệ môi trường cho hệ thống cây xanh đường phố ở thành phố Thanh Hóa” để nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây xanh đường phố của thành phố Thanh Hóa hiện nay, đánh giá một số loài cây trồng được chọn làm cây bóng mát đường phố từ đó đưa ra đề xuất quy hoạch lại hệ thống cây xanh đường phố cho phù hợp với mục đích phát triển và hướng vào mục tiêu bảo vệ môi trường. CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ THANH HÓA 2.1 Điều kiện tự nhiên 1) Vị Trí Địa Lý Thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, chính trị của tỉnh Thanh Hóa, phía bắc và đông bắc giáp huyện Hoằng Hóa, phía nam và đông nam giáp huyện Quảng Xương, phía tây giáp huyện Đông Sơn, phía tây bắc giáp với huyện Thiệu Hóa Hệ thống đô thị Thanh Hóa hình thành từ lâu đời và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trong đó, thành phố Thanh Hóa là đô thị trẻ, nằm bên bờ sông Mã, có vị trí, cảnh quan sinh thái rất thuận lợi, khí hậu khá ôn hòa. Quốc lộ 1A xuyên Việt chạy qua trung tâm thành phố dài gần 10 km, cảng Lễ Môn, Sầm Sơn ở phía Ðông, đường sắt Bắc - Nam chạy ở phía Tây, tạo thành một mạng lới giao thông đa dạng và thuận tiện. Nhờ đó, thành phố Thanh Hóa đã trở thành trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của tỉnh Thanh Hóa, đồng thời ở vào vị thế thuận lợi trong việc giao thương với tất cả các tỉnh trong nước. 2) Địa Hình Thành phố Thanh Hóa nằm ở trung tâm đồng bằng Thanh Hóa, có nhiều núi đất, núi đá nằm rải rác với những cánh đồng không đồng đều nơi rộng nơi hẹp khác nhau. Núi Núi Hàm Rồng án ngữ cửa ngõ phí bắc thành phố, chạy từ làng Dương Xá xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, men theo hữu ngạn sông Mã về đến chân cầu Hàm Rồng Núi Mật Sơn: Là núi sót thấp nằm trên địa phận phường Đông Vệ. Đồi Thông : là quả đồi thấp nằm ở phía tây bắc thành phố. Trên đồi trồng thông để khai thác gỗ và nhựa. Sông Sông Mã: là sông tự nhiên lớn bắt nguồn từ Điện Biên chảy về phí tây tỉnh Thanh Hóa và chảy qua thành phố. Trong tương lai hệ thống đô thị thành phố sẽ tập trung hai bên bờ sông Mã Hệ thống sông đào bao gồm : sông Thọ Hạc, sông Cốc, sông Lai Thành, sông Nhà Lê, sông Kênh Bắc được xây dựng để cung cấp tưới tiêu, chống hạn, chống lụt cho nhân dân trên địa bàn thành phố 2.2 Điều kiện khí hậu Nhiệt độ Với vị trí trong vùng nhiệt đới gió mùa, trong một năm thành phố Thanh Hóa chịu ảnh hưởng của hai mùa nóng và lạnh rõ rệt. Mùa nóng: Bắt đầu từ cuối Xuân đến giữa mùa thu. Ở khoảng thời gian này trong năm, thời tiết nắng lắm, mưa nhiều, gây ra lụt lội và hạn hán. Những ngày có gió Lào, nhiệt độ còn được đẩy cao tới 39-40 độ C. Mùa lạnh : Bắt đầu từ giữa mùa thu đến hết mùa xuân năm sau. Mùa này thường hay xuất hiện gió mùa Đông Bắc, lại mưa ít; đầu mùa thường hanh khô. Mùa lạnh nhiệt độ có thể xuống thấp tới 5 - 6 độ C. Nhiệt độ trung bình cả năm từ 23,3 đến 23,6 độ C. Gió Do nằm trong vùng đồng bằng ven biển, thành phố Thanh Hóa hàng năm có 3 mùa gió: Gió Bắc: (gió mùa Đông Bắc) Không khí lạnh từ vùng Siberia thổi vào, gây ra mùa đông lạnh và giá buốt. Gió Tây Nam: (gió Lào) Từ vịnh Bengan qua Thái Lan rồi qua Lào, mang theo không khí nóng và khô rát vào những ngày hè. Cường độ gió Lào ở thành phố Thanh Hóa không mạnh bằng ở các tỉnh miền Trung khác. Gió Đông Nam: (gió Nồm) Là gió từ biển vào mang theo khí hậu mát mẻ. Lượng mưa Lượng mưa hàng năm trung bình đạt 1730 - 1980 mm. 2.3 Dân số, lao động và nguồn nhân lực Thanh Hóa là một tỉnh đất rộng người đông, thành phố Thanh Hóa cũng là một thành phố có quy mô tương đối lớn, dân cư đông đúc, đa dạng. Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số thành phố Thanh Hoá khoảng 197,551 nghìn người, mật độ dân số khoảng 3.370 người/km2 (có mật độ gấp 10 lần so với toàn tỉnh - mật độ dân số tỉnh Thanh Hoá là 330 người/km2), trong đó dân số sống trong nội thị là 143,755 nghìn người, chiếm tỷ lệ 72%, dân số ở vùng ngoại ô là 53,796 nghìn người, chiếm tỷ lệ 28%. Dân số nam là 97,799 nghìn người, chiếm tỷ lệ 49% dân số toàn thành phố; nữ có 100,752 nghìn người, chiếm 51%. 2.4 Kinh tế và công nghiệp Theo số liệu năm 2009, tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP ước đạt - Công nghiêp: 49,7% - Nông nghiệp: 4,6% - Dịch vụ: 45,7% - Tăng trưởng kinh tế ước đạt 18,2%. - Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt 2940,13 tỷ đồng. - GDP bình quân đầu người 1520 USD. Đến cuối năm 2009 thu nhập bình quân đầu người đã đạt tới con số 1910 USD/năm Thành phố có 2 khu công nghiệp chính : - Khu công nghiệp Lễ Môn: Là khu công nghiệp tập trung lớn nằm cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 5km về phía đông, trên quốc lộ 47 nối liền thành phố Thanh Hóa với thị xã Sầm Sơn, diện tích quy hoạch 87ha. Đã có hơn 30 doanh nghiệp đăng ký thuê đất để đầu tư xây dựng với số vốn hơn 700 tỉ đồng. - Khu công nghiệp Đình Hương – Tây Bắc Ga Khu công nghiệp này có diện tích 150ha, nằm ở phía bắc thành phố Thanh Hóa. Đây là khu công nghiệp mới hình thành chưa lâu và vẫn đang quá trình thu hút đầu tư mạnh mẽ. Các lĩnh vực được ưu tiên đầu tư là sản xuất lắp ráp hàng điện tử, viễn thông; may mặc, bao bì; sản xuất đồ gia dụng,thủ công mỹ nghệ, chế biến nông lâm thực phẩm, thức ăn gia súc, gia cầm; các ngành cơ khí chế tạo, lắp ráp và dịch vụ 2.5 Thương mại, dịch vụ và du lịch Hệ thống siêu thị bao gồm : Trung tâm thương mại Thanh Hoa Plaza là trung tâm thương mại lớn nhât nằm ngay trung tâm thành phố, siêu thị Thanh Hoa là siêu thị lớn thứ hai với nhiều loại mặt hàng phong phú đa dạng, Trung tâm thương mại Lê Hoàn nằm trên đường Lê Hoàn p.Ba Đình. Hệ thống chợ bao gồm các chợ: Chợ Vườn Hoa, chợ Phú Sơn, chợ Tây Thành, chợ Nam Thành, chợ Đông Thành, chợ Điện Biên...với nhiều mặt hàng đa dạng, phong phú. Ngành du lịch của thành phố Thanh Hóa vẫn còn ở dạng tiềm năng. Trong tương lai với việc khu du lịch Hàm Rồng được xây dựng hoàn thiện, cùng với những sự đầu tư có hiệu quả vào thị xã biển Sầm Sơn,hứa hẹn ngành du lịch - dịch vụ sẽ đóng góp nhiều hơn trong cơ cấu GDP của thành phố. 2.6 Văn Hóa, Giáo Dục Thành phố Thanh Hóa có: - 5 trường đại học, cao đẳng ( Đh Hồng Đức, CĐ Y Thanh Hóa, CĐ TDTT, CĐ Văn Hóa Nghệ Thuật Thanh Hóa, CĐ Nghề ), 8 trường THPT 19 trường THCS, 22 trường tiểu học. CHƯƠNG III TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3.1 Vai trò của cây xanh trong việc cải thiện môi trường đô thị 1). Cây xanh làm giảm sự nhiễm bẩn môi trường không khí Không khí giữ vai trò cực kì quan trọng trong sự tồn tại của mọi hình thức sống trên hành tinh chúng ta. Khí quyển bao quanh quả đất và được chia thành nhiều lớp, nhưng 95% khối lượng không khí nằm ở lớp đối lưu từ độ cao 0 – 10 km trên bề mặt trái đất. Còn lại ở các lớp bình lưu từ độ cao 10 – 50 km, trong đó lớp ozon xuất hiện ở độ cao 18 – 30 km. Lớp trung lưu ở độ cao trên 50 – 90 km và lớp ngoài. Trong lớp đối lưu thì tới 99% thể tích không khí sạch chứa 2 loại khí N2 (78%), O2 (21%). 1% còn lại là các khí khác như argon (0,93%), CO2 (0,03%), hơi nước… Các thành phần này hầu như không đổi. Tuy nhiên trong quá trình phát triển của các hoạt động xã hội loài người, và do sự phân giải tự nhiên của sinh vật nhất là tại các đô thị, qúa trình ô nhiễm không khí đã không ngừng tăng lên. Đặc biệt nặng nề ở những khu vực trong tình trạng công nghiệp lạc hậu, phương tiện kiểm soát và giám sát ô nhiễm không khí thiếu thốn. Sự ô nhiễm không khí diễn ra do khói thải, khí thải từ các nhà máy, giao thông, khí thải của con người ở mật độ cao. Biểu hiện nặng nề nhất là các khí SOx, NOx, COx và những khí gây hiệu ứng nhà kính, khí gây thủng tầng ozon: CO2, NO, CFC… Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe con người, súc vật, cây cối và các vật chất khác. Đối với con người, súc vật có thể gây nên các bệnh ung thư da, mù dác mạc, hen suyễn… hay như làm chết cây, biến đổi sắc tố khác thường cho cây cối… Để khống chế ô nhiễm không khí người ta tiến hành nhiều giải pháp, trong đó vấn đề tăng cường trồng cây xanh ở khu vực đô thị là một trong những giải pháp hữu hiệu. Hiện tượng nóng lên toàn cầu đang được các quốc gia và các nhà khoa học đặc biệt quan tâm và tập trung nghiên cứu các giải pháp có tính chất tòan cầu. Sự nóng lên toàn cầu tiềm ẩn những tác động tiêu cực tới sinh vật và các hệ sinh thái. Một trong những nguyên nhân chính gây ra hiện tượng này là sự tăng lên của khí thải nhà kính. Theo IPCC (Intergovernmental Panel on Climate Change) (2000) thì khí carbonic (CO2) chiếm tới 60% nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu. Nồng độ CO2 trong không khí đã tăng 28% từ 288 ppm lên 366 ppm kể từ năm 1850 tính tới năm 1998. Cây xanh với quá trình quang hợp của mình đã hấp thu một lượng lớn khí CO2, giúp giảm thiểu đáng kể lượng thán khí, đồng thời không ngừng làm gia tăng lượng khí O2 cho khí quyển. Tuy nhiên tác dụng này có hiệu qủa rõ ràng khi cây trồng trên những mảng lớn và ở khắp nơi như các khu công viên, đường phố, khu rừng du lịch, các rừng phòng hộ ngoại thành. Theo các tài liệu cho biết 1 ha cây xanh có khả năng hấp thu 8 kg CO2 /h = lượng CO2 do 200 người thải ra /h. Bên cạnh đó cây xanh còn có khả năng hạn chế các chất độc khác do sự hấp thụ hay ngăn cản bởi hệ lá, bề mặt đất trồng cây đối với các chất như SO2, chì, các monoxít carbon, oxít azot…, các hạt bụi mù khói công nghiệp. Nó còn ngăn cản di chuyển đi xa gây mưa acid ở các vùng ven và vùng xa hơn. 2). Cây xanh có tác dụng điều hòa nhiệt độ không khí Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, mùa hè thường rất nóng, nhiệt độ không khí có khi tới 34 – 350c hay cao hơn (nhất là ở các vùng có gió Lào phải chịu nhiệt độ cao, khô khan). Vào mùa hè, dưới tán lá nhiệt độ có thể giảm từ 2 đến 4oC bằng cách tiết hơi nước qua khí khổng của lá, ngăn cản không cho ánh sáng mặt trời chiếu thẳng xuống mặt đất và giảm hấp thu nhiệt trên nhựa. Trong khu vực đô thị nhiệt độ còn thường tăng cao do hoạt động của các khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Do sự bê tông hóa qúa cao, do mật độ dân cư cao. Nhiệt độ không khí tốt nhất đối với con người từ 16 – 200c, vì vậy điều hòa nhiệt độ ở khu vực đô thị là rất cần thiết. Các đô thị được xây dựng bằng các vật liệu như gạch, bê tông, nhựa đường, tole… được xem là những ốc đảo nhiệt (Moll, 1991) nhất là khi thiếu cây xanh. Nhiệt độ trong thành phố thường cao hơn nhiệt độ ở những vùng đất quanh thành phố, độ chênh lệch nằm trong khoảng 3 – 50C . Các vườn cây, rừng cây, rặng cây, bồn hoa, bãi cỏ… trong đô thị góp phần tạo nên không khí mát mẻ trong lành cho nhân dân nghỉ ngơi, tránh tạo nên những khu vực ẩm thấp, mất vệ sinh. Tán cây làm giảm bức xạ mặt trời chỉ còn 5 – 40%. Nhất là che chắn bức xạ nhiệt trên các nền bê tông, tường bê tông. Cây xanh làm tăng sự lưu thông không khí nhờ sự trao đổi khí mát dưới tán cây và bên ngoài, tạo thành gió cục bộ, hay các luồng gió nhờ các hàng cây trồng dọc ven đường Ở các khu trường học, bệnh viện, cơ quan, bến tàu xe, công viên… những tán cây xanh tạo nên một vòm trời im mát, giúp cho con người nghỉ ngơi, hoạt động tốt hơn. Cây xanh cũng góp phần làm giảm mệt nhọc trong sản xuất hay đi đường cho con người, từ đó tăng sức bền bỉ dẻo dai trong sản xuất và tăng sức khỏe cho con người. Những khoảng không gian xanh đó có tác dụng tích cực đối với vấn đề làm giảm hiệu ứng “nhà kính” cho môi trường. 3). Cây xanh cản bớt tiềng ồn Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh tạp loạn có tần số và chu kì khác nhau hay nói cách khác tiếng ồn là những âm thanh chói tai phát sinh từ những chấn động không tuần hòan. Bất kì loại tiếng ồn nào cũng có thể gây hại tới sức khỏe con người. Các nhà nghiên cứu cho thấy, những người làm việc lâu trong những điều kiện ồn ào thường lười suy nghĩ, dễ nôn nóng, chóng mỏi mệt. Tiếng ồn là đặc điểm của các đô thị, nhất là các đô thị có nhiều nhà máy, lò cao, các phương tiện giao thông, công tác xây cất nhà, dụng cụ sinh hoạt trong gia đình (máy giặt, máy hát, radio…). Cây xanh có khả năng hấp thu và làm khúc xạ tiếng ồn, giảm bớt tác hại của nó. Nhiều nghiên cứu cho thấy vỏ cây, tán cây, thảm cỏ đều có tác dụng như vật liệu xốp, lá cây và thân cây chia cắt nhỏ sóng âm thanh từ đó làm giảm được khoảng 30% tiếng ồn. Đường phố có cây sẽ làm giảm tiếng ồn 5 – 6 lần so với đường không có cây. Theo nghiên cứu của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, nếu trồng đai rừng rộng 30 m và cây cao 12 m có thể giảm 50% tiếng ồn. Tuy nhiên hiệu qủa này còn phụ thuộc vào loài cây trồng, bố trí, mật độ, diện tích trồng cây. 4). Cây xanh góp phần bảo tồn và làm tăng đa dạng sinh học cho khu vực Các khu công viên, vườn hoa, thảo cầm viên… không chỉ tạo nên bầu không khí mát mẻ, trong lành cho mọi người nghỉ ngơi mà ở đó còn là nơi để thưởng thức, nghiên cứu các bộ sưu tập nhiều loài cây phong phú từ mọi miền đất nước và của thế giới. Những vườn cây cảnh, vườn hoa luôn được các nghệ nhân sưu tầm và lai tạo, sáng tạo thêm sự đa dạng, hấp dẫn của thiên nhiên. 5). Cây xanh với các tác dụng phòng hộ cho đô thị - Cây xanh cản bớt tốc độ gió bão Những hàng cây, rặng cây, đặc biệt những rừng cây phòng hộ, rừng cây cảnh quan du lịch nằm ở xung quanh các đô thị góp phần quan trọng, cản trở tốc độ gió bão, hạn chế sự thiệt hại do gió bão gây nên. Hiệu lực phòng hộ này tùy thuộc giống cây, bố trí, số lượng cây trồng. Những cây có thân cao, gỗ tốt, sức chịu đựng gió khỏe, có bạnh vè, trồng thành nhiều lớp sẽ có hiệu quả cao, không chỉ ngăn cản bớt tốc độ gió mà còn hạn chế được những luồng gió lạnh như ở phía bắc vào các thời kì có gió mùa đông bắc. - Cây xanh ngăn đỡ hạt mưa, bảo vệ mặt đường, chống xói mòn đất và các công trình kiến trúc khác Nước ta nằm trong khu vực nhiệt đới, nắng to, mưa nhiều lại tập trung vào một số tháng trong năm. Có những trận mưa lớn làm hư hỏng đường sá, gây xói mòn, sụt lở đường đi, ảnh hưởng xấu tới các công trình xây dựng. Đặc biệt ở những nơi có địa hình dốc như nhiều thành phố ở nước ta, việc trồng cây phân tán và tập trung sẽ có tác dụng chế ngự dòng chảy rất lớn. 3.2 Cây xanh trong kiến trúc cảnh quan của đô thị Từ xa xưa cây xanh đã được đưa vào trồng ở đô thị xen các kiến trúc nhà ở, vườn, ở các đình chùa như ở Trung Quốc, Hy Lạp, Tây á, trong đó phải kể tới công trình nổi tiếng là vườn treo Babylon cách đây 600 năm TCN. Bây giờ không ai còn bàn cãi gì nữa về vấn đề cây xanh làm tăng mĩ quan chung của đô thị, mà chỉ còn bàn về nghệ thuật sắp xếp cây thế nào cho được hài hòa giữa chúng với nhau, giữa chúng với các công trình khác tại từng khu vực. Cây xanh trồng 2 bên đường phố, tại các khu nhà tập thể, cơ quan, trường học, công viên… không chỉ góp phần vào cải thiện môi trưòng sinh thái mà rõ ràng nó đã tạo nên nét đẹp mới, độc đáo riêng cho mỗi thành phố, công trình kiến trúc. Việc chọn lựa loài cây, bố trí cây trồng, chăm sóc cây cảnh… là những công trình nghệ thuật thực sự. Nó không chỉ mang đến gía trị về tính đa dạng sinh học quí báu, mà còn thể hiện nghệ thuật thẩm mĩ phong phú của mỗi đô thị, mỗi dân tộc, thậm chí của từng nhà sáng tạo. Những công trình cây xanh thực sự làm tăng nét văn hóa – nghệ thuật của đô thị. Con người luôn vươn tới cái hoàn mĩ hơn, vì vậy họ luôn luôn cải thiện, sáng tạo từ những nền tảng cũ. Mặc dù vấn đề cây trồng đô thị diễn ra ở mọi nơi trên thế giới, nhưng các nhà chuyên môn vẫn luôn mong muốn gìn giữ nét văn hóa nghệ thuật độc đáo riêng của mỗi vùng, mỗi con đường, mỗi vườn hoa, mỗi dân tộc …có sự kết hợp hài hòa và mang được tính hiện đại. Những cây đa, cây đề cao lớn, bề thế sẽ làm tăng thêm nét uy nghi, tĩnh lặng của những ngôi đình, chùa. Những cây phượng vĩ thường đem đến sự trẻ trung, sôi động cho các trường học. cây liễu rủ ven hồ nước trong xanh thật quyến rũ. Còn những rặng cây trên con đường làng, cùng với vườn cây trái xum xuê tô điểm thêm nét thanh bình, đầm ấm của các vùng ven đô…Như trong bài “ Đô thị xanh : Nét văn minh trên con đường công nghiệp hóa”, G.S Lâm Công Định (1998) đã viết: Lấy vẻ đẹp của thiên nhiên xanh làm nền tôn tạo cho công trình kiến trúc, lấy nét tân kì của kiến trúc để làm nổi bật lên vẻ đẹp bất diệt của tự nhiên, ấy chính là gía trị đích thực văn minh của một thành phố hiện đại. 3.3 Giá trị tinh thần của cây xanh đô thị Những mảng xanh trong vườn hoa, công viên, rừng du lịch, khu chung cư, biệt thự …ở đô thị, luôn tạo ra những môi trường mát mẻ, trong lành, giúp cho người dân được thư giãn, nghỉ ngơi sau những giờ làm việc, học tập căng thẳng. Những lúc đắm chìm vào thiên nhiên, con người dễ giải tỏa được ưu phiền của cuộc sống, hiệu quả làm việc cao hơn. Việc tham gia trồng cây, chăm sóc, bảo vệ cây cũng thắt chặt thêm tình cảm giữa mọi người, giữa con người với thiên nhiên; nâng cao tác dụng giáo dục, nhận thức tình cảm cho trẻ em về gía trị, vai trò cây xanh và sự giàu có của thiên nhiên đất nước, về vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái. Trước những cảnh quan đó không chỉ khắc sâu tình cảm của người dân đô thị, người dân trong nước mà còn lưu giữ những ấn tượng, tình cảm tốt đẹp của du khách nước ngoài khi tới thăm nước ta. Như vậy, chúng ta thấy rõ giá trị của cây xanh đối với con người rất lớn, việc chăm sóc, quy hoạch cây xanh đường phố cho phù hợp là một việc quan trọng, không những tạo cảnh quan có giá trị thẩm mỹ mà còn bảo vệ, cải tạo môi trường, tạo không gian xanh có ích cho con người cả về vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh đó, hiện nay hệ thống cây xanh đường phố ở tp.Thanh Hóa chưa được quy hoạch nghiêm chỉnh, cây trồng không ngay ngắn, thẳng hàng, không được lựa chọn, đánh giá, việc chăm sóc cắt tỉa cây chưa được quan tâm đúng mực cho nên cần thiết phải có một chương trình cụ thể điều tra quy hoạch lại hệ thống cây xanh đường phố cho tp.Thanh Hóa Đề tài : “Nghiên cứu, đề xuất quy hoạch cảnh quan và bảo vệ môi trường cho hệ thống cây xanh đường phố ở thành phố Thanh Hóa” sẽ phân tích hệ thống cây xanh để tìm ra những loài cây thích hợp với điều kiện khí hậu, tự nhiên của thành phố Thanh Hóa, phù hợp với tiêu chuẩn cây trồng đường phố và có khả năng bảo vệ môi trường để từ đó đề xuất quy hoạch đưa tp.Thanh Hóa trở thành một thành phố xanh kiểu mẫu. CHƯƠNG IV MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá được hiện trạng cây xanh được trồng trên đường phố trong thành phố Thanh Hóa. Làm rõ tác dụng bảo vệ môi trường của cây xanh trên đường phố tại thành phố Thanh Hóa. Đề xuất quy hoạch được hệ thống cây xanh trên các tuyến đường nghiên cứu tại thành phố Thanh Hóa. 4.2 Đối tượng nghiên cứu Các loài cây xanh dược trồng trên các tuyến đường của thành phố Thanh Hóa bao gồm: Đại Lộ Lê Lợi Quốc lộ 1A Đường Nguyễn Trãi Đường Hải Thượng Lãn Ông Đường Hà văn Mao Đường Phan Chu Trinh Đường Hạc Thành 4.3 Nội dung nghiên cứu 1). Nghiên cứu hiện trạng cây xanh đường phố tại thành phố Thanh Hóa. Tổng số cây xanh trên địa bàn thành phố Thanh Hóa Tổng số tuyến đường, tổng diện tích công viên, quảng trường Đơn vị quản lý, chăm sóc cây xanh Thực trạng về chăm sóc và quản lý cây xanh Danh sách cấc loài cây xanh đường phố được trồng Các Tuyến đường chính được nghiên cứu Thông tin về chiều dài, rộng, hướng Tổng số lượng cây được trồng trên tuyến đường Thành phần loài cây Phân loại theo chiều cao Khoảng cách trồng cây trên vỉa hè Vị trí và phân bố cây 2). Nghiên cứu đặc điểm cây xanh đô thị được trồng tại thành phố Thanh Hóa + Đặc điểm hình thái cơ quan một số loài cây xanh đô thị được trồng tại thành phố Thanh Hóa. Hình dạng tán lá Kiểu lá Loại quả Loại hoa Phân loại cây ( cây gỗ lớn hay bé ) Loại cây thường xanh hay rụng lá + Xác định các tiêu chuẩn cảnh quan và bảo vệ môi trường Tiêu chuẩn hình dáng. Tiêu chuẩn hương sắc hoa. Tiêu chuẩn hoa, quả, nhựa không gây ô nhiễm, độc hại Tiêu chuẩn khả năng thích ứng Tiêu chuẩn khả năng chống chịu gió bão Tiêu chuẩn chống bụi chống ồn 3). Đánh giá tác động cảnh quan và bảo vệ môi trường của cây xanh đường phố tại thành phố Thanh Hóa. Đánh giá bằng phương pháp cho điểm Đánh giá các chỉ tiêu bao gồm: Lá, Hoa, Quả, Rễ, Tinh dầu, khả năng giữ bụi, giảm tiếng ồn, diệt khuẩn, tạo hương thơm. 4). Đề xuất quy hoạch mạng lưới cây xanh đường phố trên các tuyến đường nghiên cứu tại thành phố Thanh Hóa. 4.4 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện các nội dung trên, đề tài sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp điều tra thực tế. Thực hiện đo đếm số lượng cây xanh trên các tuyến đường nghiên cứu, xác định loài, đo thông số chiều dài, rộng của các tuyến đường. Xem xét đặc điểm thân, lá, rễ, hoa, quả của một số loài cây nghiên cứu. Phương pháp kế thừa số liệu Kế thừa số liệu điều tra của xí nghiệp công viên cây xanh, công ty môi trường đô thị Thanh Hóa. Phương pháp đánh giá chỉ tiêu bằng cách cho điểm Dựa vào đặc điểm của cây sau đó xét theo các tiêu chuẩn như hình dáng, hương sắc hoa, khả năng thích ứng... rồi cho điểm theo thang điểm. CHƯƠNG V KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5.1 Hiện Trạng cây xanh đường phố thành phố Thanh Hóa Hệ thống cây xanh đường phố có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển của từng đô thị. Tại TP Thanh Hóa, trong các năm gần đây, hệ thống cây xanh đã được đầu tư trồng và chăm sóc, bước đầu tạo nên diện mạo mới trên một số tuyến phố. Các khuôn viên, công viên cũng được chăm sóc tốt hơn bằng những thảm cỏ, thảm hoa. Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ mới nhận thấy trên thực tế việc trồng, chăm sóc và quản lý cây xanh đô thị tại thành phố Thanh Hóa hiện nay còn nhiều bất cập. Theo số liệu từ Xí nghiệp Công viên cây xanh (thuộc Công ty Môi trường và Đô thị Thanh Hóa), trên địa bàn TP Thanh Hóa hiện nay có hơn 20.000 cây xanh trên gần 60 tuyến đường phố chính; ngoài ra còn có 12 khu vực công viên, khuôn viên, quảng trường với diện tích 36 ha. Tuy nhiên, là đơn vị được giao quản lý hệ thống công viên, khuôn viên, quảng trường và cây xanh đường phố, xí nghiệp cũng chỉ mới duy trì việc chăm sóc thường xuyên được khoảng 500 cây, còn lại chỉ là quản lý và cắt tỉa. Điều dễ nhận thấy đối với hệ thống cây xanh đô thị tại thành phố Thanh Hóa là sự đa dạng về chủng loại, kích cỡ và cả mật độ cây trên một đơn vị diện tích. Chất lượng cây xanh trên các tuyến phố cũng là điều gây nhiều băn khoăn khi hiện nay chưa có quy định cụ thể về tiêu chuẩn cây khi đưa ra trồng tại các công viên, đường phố. Ngoài ra sự phụ thuộc vào các công trình, các dự án xây dựng, quy hoạch và cả kinh phí đã tạo nên sự không đồng bộ, thống nhất trong công tác quản lý, bảo vệ, thậm chí còn làm đường phố trở nên xấu xí, nguy hiểm hơn. Bảng 5.1:Danh sách một số loài cây xanh đường phố được trồng tại thành phố Thanh Hóa Stt  Tên Loài  Loại cây  Phân cành  Hình dạng tán  Hoa  Lá  Quả  rụng lá/thường xanh    Tên Việt Nam  Tên Khoa Học          1  Xà cừ     lớn  cao  Trứng     klc 1lần chẵn  Nang  rụng lá   2  Sấu  Dracontomelum  lớn  vừa     tự xim  klc  hạch  thường xanh   3  Sao đen  Hopea odorata  lớn  cao  tròn     đơn - cách     thường xanh   4  Bàng  Anogeissus acuminata  lớn  vừa  tầng  tự bông  đơn mọc vòng  hạch  rụng lá   5  Muồng hoa vàng  Cossia surattensis sphendida  nhỡ  cao  tự do  đơn  klc  đậu  thường xanh   6  Cau vua     nhỡ  không  chùm  tự bông  xẻ thùy lông chim  hạch  thường xanh   7  Cau  Areca catechu  nhỏ  không  chùm  tự bông  xẻ thùy lông chim  hạch  thường xanh   8  xoài   Mangifera  lớn  cao  trứng  tự xim  đơn  hạch  thường xanh   9  Hoa sữa  Alstonia scholaris  nhỡ  vừa  tầng  tự xim  đơn mọc vòng  đại kép  rụng lá   10  Lát hoa  Chukrasia tabularis A. Juss  lớn  cao  tự do     klc     rụng lá   11  Lim xanh  Erythrophloeum fordii  lớn  thấp  tự do  tự chùm  klc  đậu  thường xanh   12  Phượng vỹ  Delonix regia  nhỡ  thấp  tự do     klc 2 lần chẵn  đậu  rụng lá   13  Bằng Lăng  Lagerstroemia speciosa  nhỡ  thấp  tự do  tự xim  đơn,mọc đối  nang  rụng lá   14  Côm tầng  Elaeocarpus dubius  lớn  cao  tầng  tự xim  đơn mọc đối  nang  rụng lá   15  Tếch  Tectona grandis Linn.f  lớn  cao  tự do  tự chùm  đơn, mọc cách  hạch  rụng lá   16  Trứng cá  Muntingia calabura  nhỏ  thấp  tự do  tự xim  đơn- cách  mọng  thường xanh   17  Móng bò  Bauhinia purpurea  lớn  thấp     tự chùm  kép lông chim  đậu  thường xanh   18  Me chua  Tamarindus indica  lớn  cao  tự do     kép lông chim  đậu  rụng lá   19  Lim xẹt  Peltophorum pterocarpum  lớn  thấp     tự chùm  kép lông chim  đậu  thường xanh   20  Keo lá tràm  Acacia auriculaeformis  nhỡ  thấp  Trứng  tự bông  đơn,mọc cách  đậu  rụng lá   21  Keo tai tượng  Acacia mangium Willd  nhỡ  thấp  Trứng  tự bông  đơn,mọc cách  đậu  rụng lá   22  Dừa  Cocos nucifera  nhỏ  không  chùm  tự bông  xẻ thùy lông chim  hạch  thường xanh   23  Trúc đào  Nerium oleander  nhỏ  thấp        vòng     thường xanh   24  Đa lông  Ficus bengalensis  lớn  thấp  tròn     đơn,mọc cách     thường xanh   25  Vạn tuế  Cycas revoluta  nhỏ  không  xoắn ốc  nón đơn tính  lông chim  noãn  thường xanh   26  Long não  Cinnamomum camphora  lớn  cao  trứng     đơn mọc đối  hạch  rụng lá   27  Lộc vừng  Barringtonia acutangula  nhỡ  cao  Trứng  tự bông  đơn,mọc cách     thường xanh   28  Ngọc lan  Michelia alba  lớn  vừa     đơn, to  đơn, mọc cách  đại kép  thường xanh   29  Vông nem  Erythrina variegata  nhõ  cao  tròn  đơn  đơn, mọc cách  hạch  thường xanh   30  Bồ đề  Ficus religiosa  nhỡ  vừa        đơn     thường xanh   31  Đa búp đỏ     nhỏ  thấp  tròn     đơn, mọc cách     thường xanh   32  Dẻ sồi  Lithocarpus pseudosundaicus  lớn  cao  trứng  tự bông đuôi sóc  đơn, mọc cách  kiên  thường xanh   33  Sanh     nhỏ  thấp  thuỗn     đơn, mọc cách     thường xanh   34  Tùng xà  Sabina sinensis  nhỏ     tháp  nón  kim     thường xanh   35  Bông gạo  Ceiba pentandra Gaertn  lớn  cao  trứng     kép chân vịt  Nang  thường xanh   36  Liễu  Salix babilonica Linn  nhỏ  thấp     bông đs  đơn,mọc cách  Nang  rụng lá   Hiện trạng cây xanh trên các tuyến đường nghiên cứu Đại lộ Lê Lợi Đại lộ Lê Lợi chạy dài theo hướng Đông-Tây, nằm ở trung tâm thành phố Thanh Hóa. Là đại lộ lớn và hiện đại nhất được khởi công xây dựng và đưa vào lưu thông với tổng chiều dài là 7,8km, rộng 29,5 m. Trong đó lòng đường rộng 20m, dải phân cách rộng 2m, vỉa hè 2 bên mỗi bên rộng 7,5m. Tổng số cây trồng trên vỉa hè của đại lộ: 1287 cây Bảng 5.2: Các loài cây đường phố trên đại lộ Lê Lợi Stt  Tên loài  Số lượng  Chất lượng      Tốt  Tb  Xấu   1  Phượng vỹ  26  12  9  3   2  Cau vua  960   955  5   3  Bàng  37  5  29  1   4  Lát hoa  17   16  1   5  Xà cừ  13  10  3    6  Tếch  21  16  5    7  Dẻ sồi  8  2  6    8  Bằng lăng  191  2  188  1   9  Đa Lông  4  3  1    10  Sao đen  6   6    11  Hoa sữa  4  1  3    Tổng  1287  51  1221  11   Đường có nhiều cây lớn, nhiều bóng mát, thành phần loài đa dạng, có tính chất đối xứng, phân bố không đều. Mỗi bên vỉa hè trồng 2 hàng cây bao gồm một hang Cau vua sát lề đường, mỗi cây cách nhau 5m, phía trong trồng các loài khác không theo khoảng cách nhất định (trung bình mỗi cây cách nhau khoảng 3-4m). Cây trồng trên dải phân cách gồm: vạn tuế (706 cây),cô tông, cỏ, ngũ sắc… Số lượng cây tuy nhiều nhưng phân bổ không đều. Đoạn đầu đại lộ từ ngã tư Đông Thọ đến tượng đài Lê Lợi tuy chỉ dài bằng 1/6 chiều dài con đường nhưng tập trung đến gần 1/3 tổng số cây trên toàn tuyến, mật độ 50cây/100m. Từ trung tâm thương mại Thanh Hoa Plaza đến hết tuyến hầu như chỉ có 2 hàng cau vua, hàng Bằng lăng bắt đầu từ cầu Đông Hương cách điểm cuối đường 2km, mật độ trung bình 13cây/100m. Quốc lộ 1A Quốc lộ 1A đoạn chạy qua thành phố Thanh Hóa có tổng chiều dài 9.4Km là đường giao thông huyết mạch của tỉnh cũng như của đất nước, có vai trò quan trọng trong việc đi lại, vận chuyển lưu thông. Quốc lộ 1A (chỉ xét đoạn đi qua thành phố Thanh Hóa ) có chiều rộng 20m, gồm 2 làn đường với dải phân cách rộng 1m, lòng đường rộng 14m, vỉa hè mỗi bên 3m. Qua điều tra, hiện tại trên tuyến quốc lộ 1A có tổng số cây là 1957 cây trồng trên vỉa hè,dải phân cách gồm cau (927 cây) và một số loài cây bụi, cây cỏ Bảng 5.3: Các loài cây đường phố trên quốc lộ 1A Stt  Tên loài  Số lượng  Chất lượng      Tốt  Tb  Xấu   1  Bông gạo  98  57  32  9   2  Xà cừ  374  267  76  31   3  Bàng  135  34  87  23   4  Vông đồng  16  10  5  1   5  Trứng cá  113  26  82  5   6  Lát hoa  148  121  12  15   7  Sao đen  76  3  68  5   8  Sấu  83  65  12  6   9  Phượng vỹ  207  16  184  7   10  Dâu gia xoan  93  85  8    11  Lim xanh  36  26  8  2   12  Tếch  16  9  6  1   13  Bằng lăng  152  4  135  13   34  Hoa sữa  157  64  52  41   15  Keo tai tượng  78  45  22  11   16  Dừa  9  5  2  2   17  Sanh  14  9  3  2   18  Lộc vừng  63  60  3    19  Lim xẹt  57  48  9    20  Phi lao  32  16  9  7   Tổng  1957  970  815  181   Đoạn đầu quốc lộ 1A từ cầu Hoàng Long ( sông Mã) đến ngã tư giao nhau với đại lộ Lê Lợi dài 3.2km, số lượng cây: 579 cây, mật độ trung bình: 9cây/100m chiều dài. Phân bố: tập trung chủ yếu ở khu vực gần trung tâm ( từ bến xe phía bắc đến ngã tư Lê Lợi) từ cầu Hoàng Long đến bến xe rất ít cây, có đoạn 300m mà không có cây nào. Đoạn trung tâm từ Ngã tư Lê Lợi đến ngã ba Voi ( giao nhau với đường Hải Thượng Lãn Ông), tuy nằm trong khu vực trung tâm, có nhiều công trình kiến trúc xây dựng hai bên, vỉa hè không rộng nhưng phần lớn số lượng cây lại tập trung vào khu vực này, tổng số cây:1192 cây/4,2km (14-15cây/100m). Đoạn cuối từ ngã ba Voi đến cầu Quán Nam, số lượng cây rất ít, 186cây/2k ( 4-5cây/100m). Khu vực phía cổng trường đại học Hồng Đức đến bệnh viện Nhi Thanh Hóa không có cây. Nhận xét chung: Cây trồng trên tuyến quốc lộ 1A không thằng hàng, không có khoảng cách đều nhau, đặc biệt có một số đoạn cây xõa cành ra lòng đường gây trở ngại cho giao thông hoặc một số đoạn không có cây như đoạn đường từ bệnh viện Nhi Thanh Hóa đến trường đại học Hồng Đức cơ sở 3. Trong khi những đoạn đường đó là những nơi cần có nhiều cây bóng mát.Sự phân bố cây không đồng đều.Trên tuyến đường 1A chủ ngoài cây xanh được quản lý và nuôi trồng bơi công ty công viên cây xanh, có tới gần một nửa số cây là do người dân tự trồng trước nhà, không theo quy hoạch gây nên tình trạng lộn xộn, mất mỹ quan đô thị.  Ảnh 5.2: Quốc Lộ 1A ( khu vực trung tâm) Đường Nguyễn Trãi Đường Nguyễn Trãi: Dài: 1.5 Km Rộng :16m ; lòng đường 10m, vỉa hè 1.5-3m Hướng: đông – tây Đường Nguyễn Trãi là một đoạn chạy qua thành phố của tuyến quốc lộ 45 nối liền thị xã Sầm Sơn với các huyện phía tây tỉnh Thanh Hóa. Tổng số cây trên đường là : 147 cây. Gồm 9 loài. Cây trồng trên đường hầu hết là cây nhỏ và vừa do nhiều cây bị chặt hạ để xây dựng nhà ở và công trình kiến trúc. Do đó trên tuyến đường có đoạn nhiều cây, có đoạn không có cây nào. Đa số các cây đều sinh trưởng kém, cành lá trơ trụi. Bảng 5.4: Các loài cây trồng đường phố trên đường Nguyễn Trãi Stt  Tên loài  Số lượng  Chất lượng      Tốt  Tb  Xấu   1  Xà cừ  35  1  32  2   2  Dẻ ăn quả  3   3    3  Sao đen  19   19    4  Sấu  21  3  17  1   5  Bông gòn  8  2  6    6  Lim xẹt  21   18  3   7  Phượng vỹ  21  2  15  4   8  Vông nem  2   2    9  Trứng cá  17  1  14  2    Ảnh 5.3: Đường Nguyễn Trãi Đường Hạc Thành Đường Hạc Thành dài 510m rộng 15m, là đường 2 chiều, không có dải phân cách. Lòng đường rộng 10m, vỉa hè rộng 5m. Đây là tuyến đường mới được thí điểm trồng cây sao đen. Tuy vẫn còn lẫn vào một số cây khác nhưng theo dự án quy hoạch cây xanh năm 2011 của xí nghiệp công viên cây xanh Thanh Hóa trên tuyến đường này chỉ trồng một loài cây duy nhất là cây sao đen. Các cây khác sẽ được thay thế trong thời gian tới. Theo điều tra hiện tại, số lượng và thành phần loài cây trên tuyến đường như sau: Bảng 5.5: Các loài cây trồng đường phố trên đường Hạc Thành Stt  Tên loài  Số lượng  Chất lượng      Tốt  Tb  Xấu   1  Sao đen  153  3  149  1   2  Phượng hoa vàng  8  5  2  1   3  Lát hoa  4   4    Tổng  165  8  155  2   Cây được trồng mỗi bên vỉa hè 1 hàng, mỗi cây trồng cách nhau 5-6 m, trung bình 13-14cây/100m. Đường Hạc Thành có thành phần loài ít, hầu hết cây đều mới lớn, chiều cao trung bình 5-7m. Ảnh 5.4: Đường Hạc Thành Đường Hà Văn Mao Đường Hà Văn Mao là đoạn đường ngắn, chỉ dài 300m tuy nhiên cần phải quy hoạch hệ thống cây xanh sao cho tạo cảnh quan đẹp mắt vì tại đó tập trung các trụ sở hành chính, giáo dục…của tỉnh như : sở giáo dục và đào tạo, sở văn hóa thông tin… Kết quả điều tra trên đường như sau: Bảng 5.6: Các loài cây trồng đường phố trên đường Hà Văn Mao Stt  Tên loài  Số lượng  Chất lượng      Tốt  Tb  Xấu   1  Ngọc lan  15   15    2  Lộc vừng  21  5  16    3  Long não  8   7  1   4  Me chua  3   3    5  Phượng vỹ  12   10  2   6  Côm tầng  3   3    7  Dừa  1    1   8  Phi lao  1    1   Tổng  64  5  54  5   Ảnh 5.5: Đường Hà Văn Mao Đường Phan Chu Trinh Đường Phan Chu Trinh nằm phía trước quảng trường Lam Sơn,giao cắt với quốc lộ 1A Đường dài 988m, rộng 25m bao gồm vỉa hè 15m và lòng đường 10m. Tổng số cây : 371 cây Bảng 5.7: Các loài cây trồng đường phố trên đường Phan Chu Trinh Stt  Tên loài  Số lượng  Chất lượng      Tốt  Tb  Xấu   1  Cau vua  50   48  2   2  Bằng lăng  198  3  182  13   3  Xà cừ  123   120  3   Tổng  371  3  350  18   Đường Phan Chu Trinh tuy có ít xe cộ lưu thông nhưng lại là đường vào quảng trường Lam Sơn, là nơi thường tổ chức các hoạt động văn nghệ, nghệ thuật lớn của tỉnh cho nên đã được quy hoạch lại rất đẹp. Bên phía quảng trường, gồm 25 cây cau vua, phía đối diện trồng 2 hàng cây gồm 25 cây cau vua và 25 cây bằng lăng. Đoạn đường còn lại, mỗi bên vỉa hè trồng 2 hàng cây, một hàng bằng lăng bên ngoài, một hàng xà cừ bên trong. Tổng số cây mỗi bên là 148 cây, bằng lăng 86 cây, xà cừ 61 cây. Như vậy, trong tất cả các tuyến đường nghiên cứu, cùng với đường Hạc Thành, đường Phan Chu Trinh cũng là con đường có ít loài cây trồng nhất, nhưng số lượng cây nhiều, quy hoạch đẹp hơn so với đường Hạc Thành.   Ảnh 5.6 Đường Phan Chu Trinh Đường Hải Thượng Lãn Ông Đường Hải Thượng Lãn Ông là đoạn đầu trong tp Thanh Hóa của tuyến đường quốc lộ 47 nối liền tp Thanh Hóa với huyện Như Xuân, nối quốc lộ 1A với đường mòn Hồ Chí Minh. Bên cạnh trục đường là khu vực tập trung bệnh viện của tỉnh : bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, bệnh viện da liễu, bệnh viện mắt, bệnh viện nội tiết, bệnh viện lao phổi… Chiều dài tuyến đường :1.7km Chiều rộng : 35m, lòng đường 25m, vỉa hè 10m Hướng : đông bắc – tây nam Kết quả điều tra cây xanh trên tuyến đường: Bảng 5.8: Các loài cây trồng đường phố trên đường Hải Thượng Lãn Ông Stt  Tên loài  Số lượng  Chất lượng      Tốt  Tb  Xấu   1  xoài  3   3    2  Long não  9  4  5    3  Trúc đào  14   12  2   4  Dừa  8  1  3  4   5  Keo tai tượng  13  1  9  3   6  Keo lá tràm  44  5  34  5   7  Bằng lăng  46  6  32  8   8  Bàng  5   5    9  Trứng cá  25  3  15  7   Tổng  162  20  113  29   Nhận xét : đây là đoạn đường gần khu vực bệnh viện, lại là trục giao thông chính có nhiều xe đi lại trong khi số lượng cây trồng quá ít do đó lượng bụi phát sinh lớn, tiếng ồn của các phương tiện giao thông có ảnh hưởng mạnh đến khu dân cư ven đường cũng như đối với khu vực bệnh viện. 5.2 Đặc điểm một số loài cây xanh đô thị được trồng tại thành phố Thanh Hóa 5.2.1 Đặc điểm hình thái cơ quan một số loài cây xanh đô thị được trồng tại thành phố Thanh Hóa 1). Lim xanh-Erythrophleum fordii Oliv. Họ : Vang - Caesalpiniaceae Là loài cây có dáng và tán lá đẹp. Gỗ quý, rất bền,lá kép lông chim 2 lần chẵn, lá trơn, nhẵn màu xanh bong. Gốc cây khi lớn hình thành bạnh vè, rễ ăn sâu nên có khả năng chống chịu với gió bão tốt. Lim xanh là loài cây thường xanh, có độ che bóng tốt rất thích hợp để trồng ở đường phố. 2). Lát hoa- Chukrasia tabularis A. Juss. Họ Xoan – Meliaceae Đây là loài cây có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), phân hạng sẽ nguy cấp (Vulnerable), gỗ quý, có vân đẹp (nhất là gốc và rễ) màu đỏ sang. Lá kép lông chim 1 lần chẵn, mặt dưới lá có lông màu xám trắng, tinh dầu dùng làm thuốc. Cây phát triển nhanh, vươn cành cao . 3). Lim Xẹt-Peltophorum pterocarpum Họ : Vang- Caesalpiniaceae Thân cây có màu xám trắng, vỏ sần sùi, lá kép lông chim 2 lần chẵn. Hoa tự chùm màu vàng, quả đậu khô không nẻ. Hoa màu vàng, mọc thành chùm ở đầu cành gần giống với hoa phượng vỹ. 4). Côm Tầng-Elaeocarpus dubius Họ Côm – Elaeocarpaceae Vỏ cây nhẵn, màu xám, gốc có bạnh vè, cành xếp tầng, lá đơn, mọc cách, có lá kèm, khi rụng lá có màu đỏ. Cây sinh trưởng trung bình, chịu bóng tốt, ra hoa từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau. 5). Bông gạo-Ceiba pentandra Gaertn Họ Bông Gạo – Bombaceae Cây gỗ lớn, thân thẳng có màu xanh, gốc khi lớn có bạnh vè, lá kép chân vịt, mọc cách, rụng lá, tán thành tầng rõ rệt. Quả nang nứt vách, trong quả có nhiều lông dài. 6). Cau vua Họ Cau – Arecaceae Cây thân cột, lớn, thường xanh, thân có sẹo lá rụng vòng rõ. Lá đơn, xẻ thùy lông chim, cuống lá phình to thành bẹ, lá tập trung trên ngọn. Hoa tự bông tập trung trên ngọn, có mùi thơm dễ chịu, quả hạch hình ô van. Rễ chùm ăn nông, gốc phình to 7). Long não - Cinnamomum camphora Họ Re – Lauraceae Cây gỗ lớn, vỏ màu xám tro, nứt dọc, lá đơn, mọc cách, không có lá kèm, mép thường gợn sóng. Mặt trên lá nhẵn, mặt dưới phủ phấn trắng, nách lá có tuyến chứa tinh dầu. Là cây ưa sáng, ưa khí hậu ấm và ẩm. 8). Tếch Tectona grandis Linn.f Họ Tếch – Verbenaceae Cây gỗ lớn, khi nhỏ thân cây có lông hình sao, lá đơn, mọc đối, phiến lá lớn, mặt dưới có long. Cây phân cành cao, tán lá hình trứng, dày , có khả năng ngăn giữ bụi tốt. Lá rụng theo mùa, hoa tự chùm, lưỡng tính, quả hạch. 9).Xà cừ: Khaya senegalensis A.Juss Họ xoan: Meliaceae Cây gỗ lớn cao 15 - 20m, đường kính 0.6 -1.2m, thân tương đối tròn, thẳng. Vỏ xám nâu, già bong vảy tròn, mốc trắng. Phân cành ở độ cao 4 - 6m, cành nhánh rậm rạp, nặng nề. Lá kép lông chim một lần chẵn, mọc cách, mang 3-6 đôi lá chét. Tán hình trứng, đường kính tán từ 10 -15m, mật độ lá dày, tán xanh quanh năm. Hoa nhỏ không đáng kể, màu xanh vàng, nở tháng 4 - 6. Lúc nhỏ rễ cọc phát triển rất mạnh nhưng về sau đâm nhiều rễ ngang, rễ rất to nổi cả lên mặt đất, gốc có bạnh vè. Tán lá nặng nề, phân bố không đều, hay bị đổ khi gió bão. Cây chịu được đất khô hạn, nghèo xấu. 10). Bàng Terminalia catappa Linn. Họ bàng: Combretaceae Cây gỗ nhỡ cao 15 - 20m, thân cây khi còn non thường thẳng vút, khoẻ khoắn nhưng khi đã già thường hay cong queo, vặn xoắn, nổi nhiều u bướu, đường kính thân khoảng 0.8m. Vỏ nâu xẫm, không nhẵn. Phân cành ởđộ cao 2-5m, cành mọc ngang và tạo thành tầng. Tán phân tầng, đường kính từ 8 -10m mật độ lá dầy có màu xanh hơi bóng. Cây trơ cành vào tháng 2 - 3, cây bàng đẹp và hấp dẫn nhất lúc sắp rụng lá cũng như sắp ra lá non. Trước khi trơ cành bàng thường chuyển từ màu xanh sang màu đỏ hồng sau khi rụng lá hàng loạt vào thời tiết lạnh, cây nhú lá non xanh mơn mởn, mỡ màng, tràn đấy sức sống. Lá đơn, mọc cách, tập trung ở đầu cành. Hoa tự bông nở vào tháng 7 - 8. Quả hình thoi hơi tròn, dẹt và có cạnh, quả ăn được. Rễ cây mọc nổi, hệ rễ ngang phát triển mạnh, vì thế bàng chịu được gió bão, nên trồng ở những nơi trang nghiêm cổ kính, công viên, trường học... 11). Bằng lăng (Tử vi tàu): Lagerstroemia speciosa(L) Pers. Họ săng lẻ: Lythraceae Cây gỗ nhỡ cao 15 - 25m, thân thẳng, đường kính 0.4 - 0.6m, vỏ xám nâu nứt dọc. Phân cành ở độ cao 4 - 6m. Tán hình thuỗn tròn, đường kính tán 8-10m, mật độ lá dầy, cây rụng lá hoàn toàn vào mùa đông. Lá đơn, mọc gần đối, hình trái xoan, hoặc hình trứng trái xoan, dài 10-15cm, rộng 5-10cm. Hoa tự chùm hoặc xim viên chuỳ ở đầu cành, dài 20 - 30cm, màu tím hồng, nở tháng 5 - 7. Quả hình trứng tròn, đường kính 1.8 – 2.5cm. Bộ rễ khoẻ, rễ cọc ăn sâu, không có rễ nổi, không có bạnh vè. Cây thích hợp với khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp 18 - 250C lượng mưa 1500mm/năm. Bằng lăng là cây ưa sáng, chịu được gió bão, ít sâu bệnh, ưa đất phù sa nhưng vẫn sống được nơi đất xấu, bạc màu, chịu được khô hạn. Bằng lăng là cây lâu năm, dễ trồng lớn nhanh, có hoa đẹp, màu sắc nhẹ nhàng nên thường được trồng ở đường phố, khu nhà ở, trường học, bệnh viện... 12). Hoa Sữa: Alstonia scholaris L(R).Br Họ trúc đào: Apocynaceae Cây gỗ nhỏ cao 10 - 15m, thân thẳng có múi dọc theo thân, đường kính thân 50 - 60cm. Vỏ màu trắng xám, mềm, rạn dọc. Phân cành ở độ cao 4 - 7m, cành thường mọc vòng xếp thành tầng. Lá đơn, 3 - 8 lá mọc vòng, lá màu xanh nhạt, hai mặt lá nhẵn. Tán hình ô tầng, hoặc trông giống như cái lọng gồm nhiều tầng hẹp, đường kính tán từ 5 - 8m. Hoa nhỏ cụm hoa xim ở đầu cành, hoa màu trắng xanh. Hoa có mùi thơm hắc (nồng), một năm ra hoa 2 lần vào tháng 5 - 8 và tháng 10 - 12. Quả dài 20 - 25cm, buông rủ dọc theo thân, tạo cho tán một dáng đặc biệt hấp dẫn, quả non màu xanh, chín màu nâu, sống dai dẳng trên cây cho đến mùa ra hoa sau. Bộ rễ khoẻ, rễ cái ăn sâu, ít ăn ngang, không có rễ nổi, gốc có bạnh vè nhỏ. Sữa ưa khí hậu nhiệt đới, thích hợp với đất ẩm, nhiệt độ từ 21 - 240C, lượng mưa trung bình 2500mm/năm, là cây mọc nhanh ưa sáng, chịu được khô hạn, xanh quanh năm, là cây lâu năm. Sữa là cây trang trí đặc biệt ở nước ta. Cây cao, thân thẳng tắp, tán nhiều tầng, tròn đầu nhưng thưa thoáng, màu sắc xanh dịu, hoa có mùi thơm nên thường được trồng làm bóng mát và làm đẹp đường phố... 13). Phượng vĩ: Delonix regia Raf Họ vang: Caesalpiniaceae Cây gỗ nhỏ cao từ 12 - 15 cm, thân thẳng đường kính thân 0,6 - 0,7 m. Vỏ mầu xám trắng, phân cành ở độ cao 3 - 6 m, cây lâu năm thường bị rỗng ruột, thân bị gãy bất thường. Lá kép lông chim một lần chẵn, cuống chính dài 50 - 60 cm, mang 20 đôi lá chét. Tán hình ô xoè, dáng mềm mại, đường kính tán 8 - 15m, mật độ lá thưa thoáng, rụng lá hoàn toàn vào mùa đông. Hoa rất đẹp, mọc thành chùm, màu đỏ tươi, nở vào tháng 5 - 7. Quả mỏng dẹt, vỏ hoá gỗ cứng, dài 40 - 50cm, rộng 5 - 6cm. Rễ cái ăn rộng, rễ gang nhiều, có bạnh vè nhỏ. Cây ưa khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp 300C, chịu rét kém, ưa đất thịt hoặc đất cát pha, ưa sáng, thiếu ánh sáng cây không phát triển đều, cây hay bị sâu bệnh, bị rỗng ruột nên thường bị đổ khi có gió bão. Phượng vĩ là cây lâu năm, có tán lá nhẹ nhàng, hoa đỏ đẹp thường được trồng ở đường phố, trường học, công viên, .... 14). Liễu: Salix babilonica Linn Họ liễu: Salicaceae Cây gỗ nhỏ, cao khoảng 7 - 10m, thân tròn thẳng, đường kính thân 20 - 30cm, vỏ màu nâu xám, nứt dọc. Phân cành ở độ cao 1 - 2m, cành phân từ thân chính mềm mại rủ xuống. Tán rủ tròn không đều, đường kính tán 4 - 6m, mật độ lá thưa thoáng, lá rụng hoàn toàn về mùa đông. Lá bản nhỏ, hình ngọn giáo, dài 8 - 16cm, rộng 1 - 2cm, mép lá có răng cưa nhỏ. Lá màu xanh nhạt, lá non mọc tháng 3 - 4, màu xanh sáng. Mùa hè tán lá mềm rũ đẹp, cuối mùa thu lá xanh xỉn rụng dần, rụng nhiều vào tháng 10 -12 và trơ cành vào tháng 1- 3. Hoa mọc ở nách lá thành bông như bông đuôi sóc, màu vàng nhạt, nở tháng 4 - 5, hoa ít không rõ. Quả chín vào tháng 6 -7, rễ mọc chìm. Liễu ưa khí hậu ôn đới, nhiệt độ thích hợp 16 - 20oC, ưa ẩm, ánh sáng trung bình và đất màu mỡ, đất ven ao hồ, đất cóđá vôi, độ pH từ 7 - 8. Liễu là cây cành nhánh mềm mại, rũ đẹp, thường được trồng ven hồ, công viên,.... Liễu là cây nhập nội. Chủ yếu phân bố ở á nhiệt đới và ôn đới. ở nước ta đưa vào gây trồng ở miền Bắc. 15). Sấu: Dracontomelum duperreanum Pierre Họ xoài: Anacardiaceae. Cây gỗ lớn cao 20 - 30m, thân thẳng, đường kính thân 0.6 - 1m, gốc có bạnh vè, vỏ màu xám tro, loang lổ, phía gốc bong vẩy nhỏ. Phân cành ở độ cao 4 - 5m. Lá kép lông chim lẻ, dài từ 30 - 45cm, có 11 -15 lá chét. Cây non lá hình tròn, cây lớn lá hình tròn hay thuỗn tròn, đường kính tán 6 - 10m, mật độ lá dầy, tán xanh quanh năm. Hoa mọc thành chùm viên chùy ở nách lá hoặc đầu cành, màu xanh vàng nhạt, có mùi thơm nhẹ, nở vào tháng 3 - 5. Quả mọc thành chùm hình cầu, đường kính từ 2 - 2.5cm, khi chín màu vàng nhạt, ăn được và làm thuốc. Rễ cái ăn sâu, rễ con ăn nhiều, rễ ngang ăn nhiều, rễ ăn nổi lan rộng 2 - 3m, gốc có bạnh vè và có u bướu. Sấu ưa khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp 25 -30oC, lượng mưa từ 1000 -2000mm, cây cần ánh sáng, ưa đất thịt cao ráo thoát nước, độ pH thích hợp 6 - 7, cây thường gây giống bằng hạt. Sấu có tốc độ tăng trưởng trung bình, trở thành cây cổ thụ, cho nhiều bóng mát, nên trồng ở các khu vực rộng rãi như công viên, trường học, đường phố,.... 16). Sao đen: Hopea odorata Roxb Họ dầu: Dipterocarpaceae. Cây cao 20 - 25m, có thể cao tới 30 - 40m, thân thẳng tròn, đường kính thân 0.6 - 1m. Vỏ màu nâu đen, vỏ xù xì nứt dọc theo chiều cao của thân cây, phân cành ở độ cao 8 - 12m, cành nhánh phân từ thân chính. Cây non tán có dáng hình tháp, cây lớn dáng hình thuỗn tương đối tròn, đường kính tán 8 - 10m, mật độ lá trung bình. Lá bản nhỡ hình trứng hay hình bầu dục dài, đầu nhọn, lá dài 8-14cm, rộng 4 - 6 cm. Lá màu xanh thẫm, thay lá dần dần, rụng nhiều vào tháng 10 - 11, lá non mọc rải rác mùa xuân, mùa hè tháng 4 - 5, gần trơ cành vào tháng 2 - 3. Hoa chùm bông mọc ở đầu cành hay nách lá, màu xanh lụa, thơm nhẹ, nở tháng 4. Hoa nhỏ không có giá trị trang trí. Quả hình trứng, đường kính quả 0.7 - 0.8cm, mang hai cánh dài 4 - 6cm, rộng 1 - 2cm. Quả dẹt có cánh, khi chín màu đen, thường bị gió bay đi xa. Rễ trụ ăn sâu, rễ ngang ăn nhiều, cây lớn có rễ nổi trên mặt đất cao 10 - 30cm, lan rộng 1 - 2m. Gốc có múi bạnh nhỏ, bộ rễ cây khoẻ. Sao đen ưa khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp 20 - 30oC, nhiều ánh sáng, chịu rét kém và lượng mưa thích hợp từ 1200 - 1500mm/năm phân bố đều. Cây ưa đất sét pha đến màu mỡ, thoát nước. Cây sinh trưởng chậm, gây giống bằng hạt. Sao đen sống lâu năm, dáng khỏe bề thế, tán xanh quanh năm. Nên trồng ở đường phố lớn, công viên, bách thú, bách thảo, khu nhà ở, giải cách li, khu công nghiệp và các công trình kiến trúc lớn. 17). Cây trứng cá: Muntingia calabura Họđay: Tiliaceae. Cây gỗ nhỏ thân tròn và thẳng, cành nhánh ngang và xà. Phân cành thấp, tán xoè rộng, mật độ lá dày. Lá đơn mọc cách, mặt dưới lá có lông trắng, hình trứng hoặc trái xoan, phiến bất đối xứng, mép có răng cưa, lá bẹ như kim. Hoa đơn độc, màu trắng, nhỏ, có cọng dài 2 -3cm, ra hoa tháng 3 - 5. Quả tròn, đường kính 1 -1.5cm, khi chín chuyển từ màu xanh sang đỏ,quả rụng nhiều và nhanh phân hủy gây ô nhiễm môi trường, rễ mọc chìm. Là cây ưa ẩm, chịu cắt tỉa, ít sâu bệnh, lá xanh quanh năm, thường dùng để trồng cây bóng mát ở đường phố, thích hợp với những nơi có vỉa hè hẹp. 19). Vông đồng: Hura crepitans Họ phụ bã đậu: Crotonoideae. Cây gỗ lớn, cao 15m, thân tương đối tròn, thẳng, phủ đầy gai từ gốc lên tới tận cành, gai ngắn nhưng nhọn và to. Vỏ nâu sẫm, đường kính thân 0.5 - 0.8m, cành nhánh con nhiều, phân cành ở độ cao 3 - 5m. Tán hình trứng hơi rủ, đường kính tán 8 - 10m, mật độ lá dày, màu xanh sẫm, bóng. Là cây thường xanh, kh

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNghiên cứu đề xuất quy hoạch cây xanh đường phố và bảo vệ mt cho hệ thống cây xanh tp Thanh Hóa.doc