Nghiên cứu thống kê đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam

- Tổng quan chung khái niệm, sự cần thiết và nội dung phát triển bền vững. Đây là cơ sở lý luận để nghiên cứu, phân tích hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững. - Tổng hợp một số hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững đã có trên thế giới; tổng quan và phân tích các ƣu, nhƣợc điểm của hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ở Việt Nam. Với hệ thống chỉ tiêu vừa đƣợc Chính phủ ban hành, luận án phân tích và đề xuất các biện pháp để hoàn thiện, tạo điều kiện đánh giá tốt hơn thực trạng phát triển bền vững của đất nƣớc.

pdf130 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 08/09/2014 | Lượt xem: 1889 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu thống kê đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
(3) 0.415 0.459 0.483 0.530 0.569 0.574 0.523 0.460 0.435 0.565 (Nguồn: Tính toán của tác giả) Trong đó, (1): tính trực tiếp từ chỉ số riêng biệt (2): tính từ chỉ số thành phần, trong đó, chỉ số thành phần đƣợc tính theo công thức bình quân nhân giản đơn (3): tính từ chỉ số thành phần, trong đó, chỉ số thành phần đƣợc tính theo công thức bình quân nhân gia quyền 3.1.5. Nhận xét các cách tính chỉ số tổng hợp phát triển bền vững Qua các bƣớc tính toán, ta đã có chỉ số tổng hợp phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 10 năm, từ 2001 đến 2010. Ba cách tính ở trên cho ra ba kết quả khác nhau. Dựa vào đồ thị 3.1, nhận thấy có sự khác biệt giữa cách tính trực tiếp từ chỉ số riêng biệt và tính từ các chỉ số thành phần. Tính chỉ số phát triển bền vững từ các chỉ số thành phần (cách tính 2 và 3) có sự chênh lệch trong tất cả các năm theo xu hƣớng: chỉ số thành phần tính theo công thức bình quân nhân gia quyền có giá trị lớn hơn khi tính theo bình quân nhân giản đơn. Tuy nhiên, hai cách tính này cho kết quả hai đƣờng xu hƣớng phát triển bền vững gần nhƣ song song và sự chênh lệch khá nhỏ. Điều này cho thấy ảnh hƣởng của hai cách tính tới đánh giá chung về phát triển bền vững là nhƣ nhau. 88 Đồ thị 3.1. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 tính theo ba phƣơng pháp Nhƣ vậy, với bộ dữ liệu cho trƣớc, để có thể đơn giản trong tính toán, chúng ta sẽ chọn cách tính thứ 2, tức là các chỉ số thành phần sẽ đƣợc tính dựa vào công thức bình quân nhân giản đơn. Đồ thị cũng cho thấy, giữa hai cách tính: tính trực tiếp từ chỉ số riêng biệt và tính gián tiếp qua các chỉ số thành phần, có sự chênh lệch lớn trong kết quả. Hai đƣờng xu hƣớng gần nhƣ song song với nhau, nhƣng chỉ số phát triển bền vững theo cách tính trực tiếp từ chỉ số riêng biệt nhỏ hơn nhiều so với việc tính qua chỉ số thành phần. Vì sao có sự khác biệt nhƣ vậy, cần nhìn vào hai đồ thị 3.2 và 3.3. Nhận thấy, chỉ số của nhóm chỉ tiêu về tài nguyên và môi trƣờng có giá trị quá lớn, nằm ở phía trên và cách xa các nhóm chỉ tiêu còn lại. Tƣơng tự vậy, nhóm chỉ tiêu tổng hợp cũng có giá trị khá lớn so với hai nhóm chỉ tiêu về kinh tế và hội. Từ đó, hai nhóm chỉ tiêu nói trên sẽ làm tăng giá trị của chỉ số tổng hợp phát triển bền vững tính ra. Tuy nhiên, mức độ ảnh hƣởng của chỉ số nhóm chỉ tiêu tổng hợp và chỉ số nhóm chỉ tiêu tài nguyên môi trƣờng tới chỉ số chung có sự khác biệt trong hai cách tính. 0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 C h ỉ số p h á t tr iể n b ền v ữ n g Năm Cách tính 1 Cách tính 2 Cách tính 3 89 Đồ thị 3.2. Biến động của từng nhóm chỉ số thành phần và chỉ số phát triển bền vững tính trực tiếp từ chỉ số riêng biệt Đồ thị 3.3. Biến động của từng nhóm chỉ số thành phần và chỉ số phát triển bền vững tính gián tiếp từ chỉ số thành phần 0.000 0.100 0.200 0.300 0.400 0.500 0.600 0.700 0.800 0.900 1.000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng hợp Kinh tế Xã hội Môi trường PTBV chung 0.000 0.100 0.200 0.300 0.400 0.500 0.600 0.700 0.800 0.900 1.000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng hợp Kinh tế Xã hội Môi trường PTBV chung 90 Ở cách tính trực tiếp từ chỉ số riêng biệt, nếu nhƣ trong năm 2001, chỉ số tổng hợp phát triển bền vững chỉ nhận giá trị 0,295 thì ở cách tính thứ hai (đồ thị 3.3), chỉ số này lại lên tới 0,414. Tƣơng tự nhƣ vậy ở các năm tiếp theo. Đó là do tầm quan trọng của từng chỉ tiêu trong công thức tính. Với cách tính thứ nhất, sử dụng công thức bình quân nhân giản đơn n n 1i iII    , mỗi chỉ tiêu có tầm quan trọng nhƣ nhau đối với phát triển bền vững. Quyền số của mỗi chỉ tiêu đều là . Trong khi đó, tầm quan trọng của từng chỉ tiêu ở cách tính thứ hai lại khác nhau khá xa. Vì thiếu số liệu, nhóm chỉ tiêu tổng hợp chỉ có một chỉ tiêu "chỉ số phát triển con ngƣời" làm đại diện và tƣơng tự nhƣ vậy với nhóm chỉ tiêu về tài nguyên và môi trƣờng, chỉ có một chỉ tiêu là "tỷ lệ che phủ rừng". Từ đó, nếu nhƣ mỗi chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu kinh tế và xã hội chỉ có quyền số là thì chỉ tiêu "chỉ số phát triển con ngƣời" và "tỷ lệ che phủ rừng" lại có quyền số là ¼. Khi đó, chỉ số về tỷ lệ che phủ rừng và chỉ số phát triển con ngƣời có giá trị lớn qua các năm (chỉ số tỷ lệ che phủ rừng từ 0,767 tới 0,878; chỉ số phát triển con ngƣời từ 0,53 đến 0,59) làm cho giá trị của chỉ số tổng hợp tính từ các chỉ số thành phần đƣợc kéo lên nhiều so với chỉ số tổng hợp tính từ các chỉ số riêng biệt. Riêng hai năm 2005 và 2006, các chỉ tiêu kinh tế đều đạt đƣợc những kết quả khả quan, chỉ số của nhóm chỉ tiêu này tăng cao hơn cả chỉ số phát triển con ngƣời, làm giảm ảnh hƣởng của chỉ số này tới kết quả chỉ số chung. Chính điều đó làm cho giá trị của chỉ số tổng hợp phát triển bền vững tính từ hai phƣơng pháp chênh lệch ít hơn so với các năm còn lại. Ngoài ra, việc sử dụng duy nhất một chỉ tiêu “tỷ lệ che phủ rừng’ để đại diện cho nhóm chỉ tiêu về tài nguyên và môi trƣờng là một sự gò ép, phản ánh không chính xác thực tế. Môi trƣờng Việt nam trong nguy cơ ô nhiễm và suy thoái ngày một lớn trong khi chỉ số về môi trƣờng với chỉ tiêu đại diện duy nhất là “tỷ lệ che phủ rừng” lại ngày càng tăng. Do thiếu số liệu và có sự chênh lệch đáng kể trong trƣờng hợp này nên việc tính chỉ số tổng hợp phát triển bền vững từ chỉ số riêng biệt sẽ phản ánh tốt hơn thực trạng phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 10 năm qua. 91 Trong trƣờng hợp có đầy đủ số liệu các chỉ tiêu, cách tính thứ hai, tính bình quân của các chỉ số thành phần, sẽ phù hợp hơn. Bởi trong phân tích ban đầu, phát triển bền vững là sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Vì thế, chỉ số tổng hợp phát triển bền vững cũng cần xây dựng dựa trên các mức độ đại diện cho từng lĩnh vực này. Nhƣ vậy, do thực tế phát triển giai đoạn 2001 – 2010 chƣa có đủ số liệu hệ thống chỉ tiêu, nghiên cứu sẽ chọn kết quả từ cách tính thứ nhất, tính bình quân nhân giản đơn từ các chỉ số riêng biệt, làm cơ sở phân tích thực trạng phát triển bền vững của Việt Nam. 3.2. Phân tích xu thế phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 3.2.1. Lựa chọn phương pháp phân tích Để phân tích xu thế phát triển bền vững ở Việt Nam, hai phƣơng pháp thống kê thông dụng là bảng thống kê, đồ thị thống kê. Sử dụng phƣơng pháp bảng và đồ thị thống kê, chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát bằng trực giác về xu hƣớng phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 10 năm vừa qua. 3.2.2. Xu hướng phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 Qua phân tích, đề tài thống nhất lựa chọn cách tính chỉ số phát triển bền vững dựa vào các chỉ số riêng biệt, sử dụng số bình quân nhân giản đơn. Kết quả tính toán phản ánh trong bảng 3.9. Bảng 3.9. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 Đơn vị tính: lần Năm Chỉ số 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 PTBV 0.295 0.344 0.370 0.434 0.494 0.492 0.403 0.316 0.284 0.420 (Nguồn: tính toán của tác giả) Do số liệu của các chỉ tiêu trong lĩnh vực môi trƣờng còn thiếu rất nhiều nên chỉ số tổng hợp phát triển bền vững phần lớn mới đánh giá đƣợc sự biến động chung về kinh tế và xã hội. Từ bảng số liệu, nhận thấy Việt Nam đã có những bƣớc 92 phát triển cụ thể theo thời gian, tuy nhiên, mức độ phát triển chỉ đạt mức trung bình. Để có cái nhìn rõ hơn, biểu diễn số liệu theo dạng đồ thị hình cột (đồ thị 3.4). Đồ thị 3.4. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 Nhìn vào đồ thị, thực tế phát triển của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 không thực sự ổn định và bền vững. Thời gian đầu của thập kỷ này (từ 2001 đến 2005), xu hƣớng phát triển khá tốt. Chỉ số phát triển bền vững tăng dần theo thời gian, nếu nhƣ năm 2001 phát triển bền vững chỉ ở mức yếu là 0.295 thì tới năm 2005 đã bƣớc lên mức trung bình, đạt giá trị 0.494. Năm 2006, phát triển bền vững bắt đầu giảm nhẹ và từ 2007, phát triển bền vững giảm mạnh cho tới năm 2009. Chỉ số phát triển bền vững năm 2009 chỉ nằm trong khoảng phát triển hơi bền vững hay tính bền vững là yếu, thậm chí kém hơn năm 2001 với giá trị 0.284. Tuy nhiên, Việt Nam đã có sự bứt phá mạnh trong năm 2010 với chỉ số phát triển bền vững đạt tới 0.420. Tuy chƣa đạt đƣợc mức phát triển bền vững của những năm giữa thập niên này nhƣng nhìn chung, tới năm 2010, Việt Nam đã có xu hƣớng phục hồi lại đà phát triển của mình. Tất cả những biến động trong giai đoạn 10 năm qua là do ảnh hƣởng bối cảnh chung của thế giới, cũng nhƣ của các chính sách kinh tế, xã hội tới các yếu tố của phát triển bền vững. Vấn đề này sẽ đƣợc phân tích kỹ ở phần sau. 0.0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 C h ỉ s ố Năm 93 Trong các nhân tố đóng góp vào phát triển bền vững, nhóm nhân tố nào có biến động mạnh, ảnh hƣởng tới biến động chung? Câu hỏi này đƣợc trả lời qua các đồ thị 3.5. Đồ thị 3.5. Biến động của từng nhóm chỉ số thành phần phát triển bền vững giai đoạn 2001 - 2010 Nhóm chỉ tiêu tổng hợp chỉ có một chỉ tiêu đại diện là "Chỉ số phát triển con ngƣời" và nhóm chỉ tài nguyên và môi trƣờng cũng có duy nhất một chỉ tiêu"Tỷ lệ che phủ rừng" có số liệu thống kê. Hai chỉ tiêu này có xu hƣớng tăng nhƣng không biến động mạnh trong giai đoạn 2001 – 2010. Tuy nhiên, do giá trị của chỉ số tỷ lệ che phủ rừng lớn nên có ảnh hƣởng mạnh tới chỉ số bền vững nói chung. Từ đó, việc sử dụng công thức bình quân nhân giản đơn đối với tất cả 16 chỉ tiêu để giảm bớt ảnh hƣởng (hay là trọng số) của chỉ tiêu này tới phát triển bền vững (quyền số 1/16 thay vì ¼) là rất phù hợp. Nhƣ vậy, còn hai nhóm chỉ tiêu sẽ có ảnh hƣởng lớn tới phát triển bền vững, đó là nhóm chỉ tiêu về kinh tế và nhóm chỉ tiêu về xã hội. Đồ thị 3.6 sẽ biểu hiện rõ hơn xu hƣớng biến động của hai nhóm chỉ tiêu này so với chỉ số phát triển bền vững. 0.000 0.100 0.200 0.300 0.400 0.500 0.600 0.700 0.800 0.900 1.000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng hợp Kinh tế Xã hội Môi trường PTBV chung 94 Đồ thị 3.6. Biến động của chỉ số thành phần kinh tế và chỉ số thành phần xã hội giai đoạn 2001 - 2010 Từ đồ thị, nhận thấy chỉ số của nhóm chỉ tiêu xã hội tăng lên khá đồng đều qua các năm, trừ 2006 và 2007. Giá trị của nhóm chỉ tiêu này trong năm 2001 chỉ là 0.163, tới năm 2010 đã lên tới 0.374. Điều đó chứng tỏ đời sống ngƣời dân cũng đƣợc cải thiện, tiến bộ dần theo thời gian. Tuy nhiên, cũng nhận thấy nhóm chỉ tiêu này có giá trị khá thấp so với các chỉ tiêu kinh tế. Nghĩa là, việc cải thiện đời sống con ngƣời chƣa theo kịp với phát triển kinh tế của Việt Nam. Cuộc sống và môi trƣờng sống của ngƣời dân vẫn là những vấn đề cần đƣợc quan tâm và ƣu tiên giải quyết. Về lĩnh vực kinh tế, tốc độ phát triển nhanh và ổn định đƣợc duy trì liên tục từ năm 2000 tới 2005. Tuy nhiên, tới năm 2006, sự phát triển này có xu hƣớng chậm lại, và sang 2007, kinh tế bắt đầu giảm sút mạnh, chạm đáy vào năm 2009 với chỉ số thành phần kinh tế chỉ là 0.174. Sự phát triển này cũng phù hợp với thực tế năm 2008 xảy ra suy thoái, khủng hoảng kinh tế thế giới. Việt Nam cũng không phải trƣờng hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, qua từng bƣớc, Việt Nam cũng đã dần hồi phục và đến năm 2010, kinh tế cũng đã có bƣớc tiến, đƣa chỉ số phát triển bền vững 0 0.1 0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Kinh tế Xã hội Chung 95 tăng cao hơn. Qua đồ thị, xu hƣớng biến động của các chỉ tiêu trong lĩnh vực kinh tế tƣơng tự với biến động chung của phát triển bền vững. Vậy, trong những chỉ tiêu kinh tế đó, chỉ tiêu nào có tác dụng quyết định tới sự biến động chung nhƣ vậy? Xét trong hai năm giảm sút mạnh về kinh tế là năm 2008 và 2009, phản ánh trong đồ thị 3.7. Đồ thị 3.7. Biến động của từng chỉ số riêng biệt trong nhóm chỉ tiêu kinh tế năm 2008 - 2009 Với mỗi năm, sự biến động của mỗi chỉ tiêu lại khác nhau. Trong năm 2008, cán cân vãng lai là nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút về kinh tế: xuống thấp nhất trong giai đoạn 10 năm, thâm hụt tới 10.79 tỷ USD, thấp hơn rất nhiều so với các năm khác. Nguyên nhân thứ hai là do chỉ số giá tiêu dùng CPI hay lạm phát (CPI năm 2008 lên tới 123%). Sự sụt giảm của những chỉ số này là do trong những tháng đầu năm 2008, giá nguyên liệu, dầu mỏ và lƣơng thực tăng chóng mặt kèm theo chính sách nới lỏng tiền tệ và tài khóa một cách quá mức của chính phủ trong những năm trƣớc đây đã tạo là chỉ số giá tiêu dùng tăng vọt. Đồng thời với đó, do nhiều lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế chịu tác động mạnh của khủng hoảng nhƣ xuất nhập khẩu: nền kinh tế phát triển quá nóng dẫn tới đầu tƣ tràn lan kém hiệu quả gây ra nhập khẩu tăng vọt đẩy thâm hụt thƣơng mại lên mức kỉ lục, trong khi thị 0.000 0.100 0.200 0.300 0.400 0.500 0.600 0.700 0.800 0.900 1.000 ICOR NSLĐ XH Tỷ trọng TFP CPI Cán cân vãng lai Bội chi NSNN Nợ nước ngoài 2008 2009 96 trƣờng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là Mỹ và EU (chiếm khoảng gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu) - là những nền kinh tế rơi vào suy thoái nặng nề nhất, nên xuất khẩu bị thu hẹp. Ngƣợc lại với 2008, năm 2009 Chính phủ thực hiện các gói kích cầu tạo nên sự hồi phục nhất định của quan hệ kinh tế quốc tế cũng nhƣ giữ tốc độ tăng giá tiêu dùng chỉ trong vòng một chữ số (nhờ sử dụng gói giải pháp kiềm chế lạm phát, chủ trƣơng thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt), nhƣng lại gây sự sụt giảm trong các chỉ số về tỷ trọng đóng góp của TFP vào tốc độ tăng trƣởng chung và bội chi ngân sách Nhà nƣớc. Đặc biệt là mức tăng trƣởng âm của TFP năm 2009 (-0.34%) đã gây ra sự tụt lùi của kinh tế nói chung. Điều đó cho thấy, dù tốc độ tăng trƣởng kinh tế có cao đến đâu, trong khi các chỉ tiêu kinh tế khác thấp đi, nền kinh tế cũng không thể duy trì bền vững đƣợc. Nhƣ vậy, để đảm bảo phát triển bền vững, quá trình phát triển không thể coi trọng bất kỳ lĩnh vực nào trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trƣờng. Trong mỗi lĩnh vực đó, cũng lại không thể coi trọng bất cứ chỉ tiêu nào hơn vì mỗi thay đổi nhỏ của từng chỉ tiêu cũng có ảnh hƣởng nhất định tới phát triển bền vững. Quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi những chính sách cải cách phù hợp và từng bƣớc hoàn thiện. 3.3. Đánh giá chung về chỉ số phát triển bền vững và một số kiến nghị 3.3.1. Đánh giá chung về chỉ số phát triển bền vững Từ kết quả tính toán thử nghiệm chỉ số phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010, tác giả sẽ trở lại đánh giá sự phù hợp của hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững cũng nhƣ các công thức tính đã đề xuất ở chƣơng 2. Thứ nhất, về hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững: - Số lƣợng chỉ tiêu còn khá nhiều, làm cho quy trình tính toán chỉ số chung trở nên cồng kềnh - Một số chỉ tiêu chƣa đảm bảo thống nhất về phƣơng pháp tính, nguồn số liệu cũng nhƣ kỳ báo cáo khiến việc thu thập dữ liệu rất khó khăn, ảnh hƣởng tới độ chính xác của kết quả tính toán. - Có sự trùng lặp giữa chỉ tiêu chỉ số bền vững môi trường với một số chỉ tiêu 97 trong nhóm chỉ tiêu tài nguyên và môi trƣờng, dẫn tới việc tính trùng đối với chỉ số tổng hợp phát triển bền vững. Thứ hai, về các công thức tính đề xuất. Việc đề xuất các bƣớc tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững là phƣơng pháp luận tổng quát để xác định chỉ số chung dựa trên hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững. Với sự thay đổi về hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững sau này, việc nghiên cứu và phân tích trên đây vẫn có ý nghĩa nhất định về mặt lý luận. Các chỉ số tính ra trong cùng một giai đoạn phải thống nhất phạm vi và phƣơng pháp tính để đảm bảo tính chất so sánh đƣợc. Tuy nhiên, đối với từng giai đoạn phát triển khác nhau có thể có những thay đổi khác nhau. Cụ thể: - Việc xác định các giá trị tối đa, giá trị tối thiểu trong công thức tính chỉ số riêng biệt đã nêu chỉ mang tính chất tƣơng đối. Vì không có thông tin đầy đủ về mục tiêu phát triển mà Chính phủ đƣa ra ứng với từng chỉ tiêu trong giai đoạn phát triển 2001 – 2010, các giới hạn tối đa, giới hạn tối thiểu đƣợc chọn theo giá trị lớn nhất, nhỏ nhất hoặc giá trị xu hƣớng. Bên cạnh đó, nhóm chỉ tiêu hƣớng tâm cũng có một số chỉ tiêu chƣa xác định đƣợc giá trị tối ƣu nên gây khó khăn trong việc tính toán. Tác giả đã tham khảo các tài liệu khác nhau để đƣa ra đƣợc con số hợp lý. Tuy nhiên, để có đƣợc đánh giá chính xác nhất về phát triển bền vững cho các giai đoạn sau, cơ quan quản lý cần đƣa ra mục tiêu cần hƣớng tới một cách cụ thể, là cơ sở xác định các giá trị tối đa, tối thiểu hợp lý. - Tầm quan trọng của từng chỉ tiêu trong nhóm chỉ tiêu kinh tế, xã hội hay tài nguyên môi trƣờng mang tính lịch sử cụ thể. Do mục tiêu và chiến lƣợc phát triển khác nhau nên tầm quan trọng của từng chỉ tiêu trong các giai đoạn phát triển khác nhau cũng có thể thay đổi. Từ đó, cần xác định lại tầm quan trọng của từng chỉ tiêu trong các nhóm chỉ tiêu cụ thể trong các nghiên cứu sau này. - Về công thức tính chỉ số tổng hợp phát triển bền vững, với điều kiện số liệu còn thiếu nhƣ giai đoạn 2001 – 2010, tính bình quân trực tiếp từ các chỉ số riêng biệt sẽ mang lại kết quả chính xác hơn. Tuy nhiên, trong trƣờng hợp có đầy đủ số liệu, cần tính chỉ số chung từ các chỉ số thành phần, đảm bảo theo đúng nội dung phát triển bền vững: phát triển hài hòa, cân đối ba mặt kinh tế, xã hội và môi trƣờng. 98 Nhƣ vậy, tùy thuộc vào tƣơng quan số liệu thu thập đƣợc của từng nhóm chỉ tiêu để lựa chọn công thức phù hợp nhất. 3.3.2. Một số kiến nghị và giải pháp về công tác thống kê phát triển bền vững ở Việt Nam Qua các phân tích, hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định về số lƣợng, nội dung, phƣơng pháp tính và nguồn số liệu của các chỉ tiêu. Điều đó làm ảnh hƣởng nhiều tới kết quả chỉ số tổng hợp phát triển bền vững tính toán đƣợc. Để có thể hoàn thiện hơn, cần có sự thống nhất và phân chia nhiệm vụ giữa các cơ quan có liên quan. 3.3.2.1. Kiến nghị Hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững là hệ thống chỉ tiêu mang tính vĩ mô, thuộc sự quản lý của các cơ quan Nhà nƣớc, bao gồm nhiều chỉ tiêu phản ánh các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Dựa vào số liệu tổng hợp từ hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững, mỗi quốc gia có thể có cái nhìn khái quát nhất về tình trạng phát triển của đất nƣớc mình để từ đó đƣa ra những chính sách phát triển phù hợp. Chính vì vậy, để đảm bảo tính khả thi của hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững đã đề xuất cần có sự quan tâm của các cơ quan Nhà nƣớc theo các cấp độ khác nhau. Cụ thể: - Đối với Hội đồng phát triển bền vững quốc gia: Hội đồng Phát triển bền vững quốc gia cần tổ chức một bộ phận chuyên trách để phân tích các chỉ tiêu thống kê tổng hợp đƣợc, qua đó đánh giá tình trạng phát triển bền vững ở Việt Nam trong từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, Hội đồng phát triển bền vững quốc gia đề xuất với Chính phủ những định hƣớng, chính sách, mục tiêu phát triển bền vững cho những năm tiếp theo. Các mục tiêu phát triển này sẽ là cơ sở thực tế để xác định các giá trị tối đa, giá trị tối thiểu trong công thức tính chỉ số riêng biệt đã đề xuất. - Đối với ngành Thống kê: Ngành Thống kê ở Việt nam đƣợc tổ chức theo ngành dọc từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Tỉnh, Thành phố và các Chi cục Thống kê quận, huyện… + Tổng cục Thống kê là cơ quan cao nhất của ngành Thống kê Việt Nam, cần thực hiện rà soát lại các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền 99 vững để có đƣợc hệ thống chỉ tiêu đánh giá tốt nhất quá trình phát triển ở Việt Nam. Từ đó, Tổng cục Thống kê cũng cần nghiên cứu để đƣa ra phƣơng pháp tính cụ thể, thống nhất chỉ số tổng hợp phát triển bền vững, giúp Hội đồng phát triển bền vững quốc gia trong đánh giá, phân tích thực trạng phát triển của đất nƣớc. Các Vụ chuyên môn trong Tổng cục Thống kê có trách nhiệm làm các báo cáo định kỳ, theo quy trình thống nhất những chỉ tiêu phát triển bền vững theo quy định của Chính phủ. Những chỉ tiêu chƣa có phƣơng pháp luận cũng nhƣ cách xác định cũng cần thống nhất để có thể có dữ liệu chính xác, phục vụ cho công tác quản lý và điều hành của Chính phủ, ví dụ chỉ tiêu GDP xanh, Chỉ số bền vững môi trường, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư... Đây là nhiệm vụ quan trọng, có ảnh hƣởng lớn tới độ chính xác trong tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững cũng nhƣ đánh giá xu hƣớng biến động của chỉ số này theo thời gian. + Cục Thống kê Tỉnh, Thành phố có trách nhiệm tổng hợp tài liệu báo cáo của các Chi cục Thống kê quận, huyện, đồng thời triển khai điều tra, thu thập thông tin trong phạm vi địa phƣơng quản lý. Theo định kỳ, các Cục Thống kê sẽ báo cáo cho các Vụ chuyên môn thuộc Tổng cục Thống kê nằm đảm bảo tiến độ tổng hợp số liệu của cả quốc gia. - Đối với các Bộ và cơ quan ngang Bộ có liên quan: + Phối hợp với các cơ quan có liên quan thống nhất phƣơng pháp tính một số chỉ tiêu mới, ví dụ chỉ tiêu tỷ lệ số xã được công nhận đạt tiêu chí nông thôn mới,... + Thực hiện chức năng quản lý, yêu cầu các Sở trực thuộc báo cáo tình hình số liệu các địa phƣơng theo định kỳ bắt buộc để có thể tổng hợp kịp thời các chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững trong lĩnh vực của mình. + Nắm rõ và báo cáo theo định kỳ các số liệu thống kê đƣợc yêu cầu, phục vụ kịp thời cho khâu tổng hợp, xử lý và phân tích dữ liệu. Riêng đối với Bộ tài nguyên và môi trƣờng có văn phòng phát triển bền vững thì cần giao trách nhiệm tổng hợp, cung cấp thông tin và số liệu cho bộ phận chuyên trách này để thực hiện báo cáo thống kê hiệu quả nhất. 3.3.2.2. Giải pháp Với những yêu cầu đảm bảo tính khả thi của hệ thống chỉ tiêu thống kê phát 100 triển bền vững đã nêu, cần xác định rõ mô hình và chế độ báo cáo thống kê phù hợp. Dƣới đây đề xuất một số giải pháp cụ thể: - Về mô hình báo cáo thống kê theo các cấp: Trong quá trình xây dựng và thực hiện chƣơng trình nghị sự 21 về phát triển bền vững, thông tin đƣợc thu thập từ các nguồn khác nhau. Những thông tin này mang tính chất riêng lẻ, thuộc hệ thống thông tin quốc gia mà từng cơ quan phải trách nhiệm báo cáo cho cấp có thẩm quyền. Để hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ở Việt nam đề xuất có thể áp dụng trong điều kiện hiện nay cần phải có một mô hình báo cáo thống kê thống nhất theo từng cấp, thuận tiện trong các công tác tổng hợp và quản lý. Dƣới đây đề xuất mô hình báo cáo thống kê về các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững từ địa phƣơng tới trung ƣơng: Sơ đồ 3.1. Mô hình báo cáo thống kê theo các cấp Cơ quan có thẩm quyền cao nhất chỉ đạo và thông qua các chƣơng trình, chiến lƣợc quốc gia là Chính phủ. Vì vậy, tất cả các thông tin sau khi đƣợc tổng hợp, thu thập đầy đủ sẽ phải báo cáo lên Chính phủ để cơ quan này thực hiện chức năng quản lý và lãnh đạo, thông qua các chủ trƣơng, chính sách phát triển đất nƣớc. Để giúp Chính phủ chỉ đạo thống nhất việc thực hiện định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam trong phạm vi cả nƣớc, Hội đồng phát triển bền vững quốc gia đƣợc thành lập theo quyết định số 1032/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan Cục Thống kê các Tỉnh, Thành phố Các Vụ chuyên môn - Tổng cục Thống kê Hội đồng PTBV quốc gia Các Sở có liên quan Văn phòng PTBV quốc gia Chính phủ 101 Chính phủ. Các thông tin về phát triển bền vững nói chung và hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững nói riêng cần phải đƣợc báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền cao nhất là Hội đồng phát triển bền vững quốc gia để cơ quan này có báo cáo tổng quát nhất lên Chính phủ về quá trình thực hiện phát triển bền vững của Việt Nam. Giúp việc cho Hội đồng phát triển bền vững quốc gia là Văn phòng phát triển bền vững quốc gia, gọi tắt là Văn phòng Agenda 21, tên giao dịch quốc tế là Vietnam Agenda 21, ký hiệu là VA21. Văn phòng này đƣợc thành lập theo Quyết định số 685/QĐ-BKH ngày 28/6/2004 của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ để thực hiện Chƣơng trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của Việt Nam. Đây là cơ quan có trách nhiệm giám sát, đánh giá kết quả hoạt động phát triển bền vững của cả nƣớc cũng nhƣ phối hợp với các bộ, ngành để xây dựng các cơ chế chính sách, đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy thực hiện Chƣơng trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững của Việt Nam. Chính vì vậy, hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ở Việt nam cần phải đƣợc tổng hợp thống nhất ở cơ quan này. Văn phòng phát triển bền vững quốc gia có trách nhiệm tổng hợp thống nhất số liệu của các chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững từ các cơ quan có liên quan. Đó là Tổng cục Thống kê (thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tƣ) và các Bộ, ngành có trách nhiệm tổng hợp thông tin báo cáo phát triển bền vững theo Quyết định số 432/QĐ- TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Thủ tƣớng Chính phủ). Để có đƣợc tài liệu tổng hợp, báo cáo lên cấp trên, các Bộ và Tổng cục Thống kê không thể tự thu thập. Những cơ quan này phải dựa vào tài liệu báo cáo lên của từng địa phƣơng. Theo ngành dọc, mỗi Tỉnh/Thành phố sẽ có các Sở và Cục Thống kê tƣơng ứng. Đây là các cơ quan hành chính có trách nhiệm thu thập tài liệu thuộc lĩnh vực quản lý, tính toán các chỉ tiêu cần thiết trong hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững của quốc gia. Với những dữ liệu này, các cơ quan sẽ báo cáo lên cấp trên trực tiếp quản lý để tổng hợp cho hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững quốc gia. Bên cạnh đó, văn phòng Phát triển bền vững ở từng địa phƣơng cũng sử dụng phần dữ liệu của những cơ quan này để đánh giá và vạch ra định hƣớng, chính sách cho phát triển bền vững cho địa phƣơng mình. 102 - Về chế độ báo cáo thống kê: Hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững đƣợc tổng hợp và báo cáo theo ngành dọc từ các địa phƣơng. Tuy nhiên, để tránh sự chồng chéo, sau khi xây dựng mô hình báo cáo thống kê, cần thiết phải thiết lập và quy định chế độ báo cáo với nguồn số liệu đƣợc quy định cụ thể đối với từng chỉ tiêu. Theo Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, phần lớn các chỉ tiêu đƣợc tổng hợp báo cáo theo chế độ định kỳ hàng năm. Phát triển bền vững cũng là một vấn đề vĩ mô và cần đƣợc tích luỹ về lƣợng trong một thời gian dài. Chính vì vậy, số liệu của các chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững cũng cần đƣợc các cơ quan có trách nhiệm tổng hợp theo định kỳ hàng năm. KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 Nội dung chính của chƣơng 3 là việc thu thập số liệu của các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững, từ đó áp dụng quy trình tính toán đã nêu ở chƣơng 2 để tính chỉ số tổng hợp phát triển bền vững. Với các công thức khác nhau, tác giả tính toán đƣợc nhiều kết quả khác nhau đối với chỉ số phát triển bền vững. Để có thể lựa chọn phƣơng pháp phù hợp, tác giả đã sử dụng phƣơng pháp đồ thị thống kê và bảng thống kê để so sánh và phân tích. Với các phân tích đã có, tác giả chọn công thức tính phù hợp nhất với điều kiện số liệu giai đoạn 2001 – 2010. Tuy chỉ mang tính tƣơng đối do số lƣợng chỉ tiêu có số liệu còn hạn chế, nguồn số liệu chƣa thống nhất, chỉ số tổng hợp phát triển bền vững đã phản ánh phần nào quá trình phát triển ở Việt Nam trong giai đoạn 10 năm, từ 2001 đến 2010. Điều đó chứng minh tính khả thi trong nghiên cứu của luận án. Qua tính toán và phân tích bằng đồ thị, chỉ số tổng hợp phát triển bền vững cho thấy kết quả phát triển của Việt Nam chƣa thực sự ổn định và bền vững nhƣ mong muốn trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 – 2010. Kinh tế phát triển không ổn định do chịu ảnh hƣởng bối cảnh chung của thế giới, cũng nhƣ của các chính sách liên quan. Đời sống ngƣời dân tuy đã đƣợc cải thiện nhƣng 103 vẫn còn khá thấp, chỉ ở mức trung bình. Trong phần cuối của chƣơng, tác giả quay trở lại đánh giá hệ thống chỉ tiêu cũng nhƣ các công thức đã đề xuất dựa trên kết quả tính toán và phân tích chỉ số tổng hợp phát triển bền vững giai đoạn 2001 – 2010 ở Việt Nam. Từ đó, tác giả đƣa ra một số kiến nghị cùng đề xuất giải pháp để hoàn thiện hơn công tác thống kê trong xây dựng cơ chế thu thập, tổng hợp và công bố số liệu về phát triển bền vững trong tƣơng lai. 104 KẾT LUẬN Phát triển bền vững - quá trình phát triển cân đối, hài hòa cả ba yếu tố kinh tế, xã hội, môi trƣờng - đang là đích hƣớng tới của phần lớn quốc gia trên thế giới hiện nay. Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2020 của Việt Nam đã xác định quan điểm phát triển trong giai đoạn này là “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”. Để đánh giá kết quả thực hiện, Chính phủ đã đƣa ra hệ thống chỉ tiêu thống kê giám sát và đánh giá phát triển bền vững. Từ đó, cần thiết phải có chỉ số tổng hợp đánh giá quá trình phát triển bền vững dựa trên hệ thống chỉ tiêu này. Nhằm góp phần thực hiện yêu cầu đó, luận án đã nghiên cứu và giải quyết đƣợc một số vấn đề cơ bản sau: - Tổng quan chung khái niệm, sự cần thiết và nội dung phát triển bền vững. Đây là cơ sở lý luận để nghiên cứu, phân tích hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững. - Tổng hợp một số hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững đã có trên thế giới; tổng quan và phân tích các ƣu, nhƣợc điểm của hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ở Việt Nam. Với hệ thống chỉ tiêu vừa đƣợc Chính phủ ban hành, luận án phân tích và đề xuất các biện pháp để hoàn thiện, tạo điều kiện đánh giá tốt hơn thực trạng phát triển bền vững của đất nƣớc. - Đề xuất quy trình đánh giá tổng hợp phát triển bền vững gồm các công thức và cách xác định các yếu tố trong tính toán chỉ số riêng biệt, chỉ số thành phần và chỉ số tổng hợp phát triển bền vững. Đây là nội dung trọng tâm của luận án. Kết quả của quá trình này sẽ cho thấy cái nhìn tổng quát về quá trình phát triển của Việt nam theo thời gian nghiên cứu. - Thu thập số liệu các chỉ tiêu giai đoạn 2001 – 2010 để tính toán thử nghiệm chỉ số phát triển bền vững đề xuất. Việc tính toán này chứng minh tính khả thi trong nghiên cứu của luận án. Bên cạnh đó, tác giả thực hiện phân tích thực trạng phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 dựa trên kết quả tính toán đƣợc. - Trình bày một số kiến nghị và giải pháp nhằm thực hiện tốt công tác thống 105 kê phát triển bền vững ở Việt Nam, tạo điều kiện số liệu tốt nhất, góp phần đánh giá tính bền vững trong quá trình phát triển đất nƣớc một cách chính xác. Luận án đề xuất phƣơng pháp luận cơ bản tính chỉ số tổng hợp phát triển bền vững cho Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển. Trong đó, việc xác định các giá trị giới hạn cũng nhƣ quyền số của từng chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu cần đƣợc tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Ngoài ra, trên cơ sở phƣơng pháp luận đã nêu và hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững địa phƣơng, có thể tính toán chỉ số tổng hợp phát triển bền vững cho các vùng, địa phƣơng. Từ đó, tạo điều kiện so sánh và đánh giá trình độ phát triển của mỗi tỉnh thành trong cả nƣớc, rút ra các yếu tố cần khắc phục để đƣa đất nƣớc phát triển ngày càng bền vững hơn. 106 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. (2010), “Về “phát triển bền vững”, Tạp chí Kinh tế phát triển, số 152(II), trang 14-17. 2. (2010), “Hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Kinh tế phát triển, số 161(II), trang 3-5. 3. (2012), “Xây dựng chỉ số tổng hợp đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế phát triển, số 186(II), trang 3-6. 4. (2012), “Đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010”, Hội thảo "Ổn định và tăng trƣởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", trang 67-75. 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Lê Quý An (1998), “Phát triển lâu bền và vài phƣơng pháp đánh giá tính lâu bền trong phát triển”, Hội thảo khoa học lần thứ II, chương trình KHCN.07.Hà Nội. 2. Bộ môn kinh tế phát triển, Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân (1999), Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Thống kê, Hà nội. 3. Bộ Tài chính (2007-2011), Bản tin nợ nước ngoài số 1 – 7, Hà Nội. 4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2009-2011), Sách trắng - Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội. 5. Bộ Y tế (2003-2010), Niên giám thống kê y tế 2003 - 2010, NXB Y học, Hà Nội. 6. Nguyễn Thế Chinh (2003), Giáo trình Kinh tế và quản lý môi trường, NXB Thống kê, Hà Nội. 7. Chính phủ nƣớc cộng hoà XHCN Việt Nam (2004), Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Vietnam Agenda 21), Hà Nội. 8. Nguyễn Đình Cung (2010), "Yêu cầu cấp bách của tái cơ cấu kinh tế", hội thảo Tái cơ cấu đầu tư công trong bối cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế ở Việt Nam, Huế. 9. Đặng Ngọc Dinh (2005), chuyên đề “Phƣơng pháp luận xây dựng mô hình phát triển bền vững”, Dự án AG-21, Bộ Kế hoạch và Đầu tư 10. Dự án VIE/01/021 (12/2004), Phát triển bền vững - Kỷ yếu hội nghị toàn quốc lần thứ nhất, Hà Nội. 11. Phạm Ngọc Đăng (2004), "Phát triển đô thị bền vững về môi trƣờng ở Việt Nam", Kỷ yếu hội nghị toàn quốc về phát triển bền vững tháng 12/2004. 12. Phạm Đại Đồng (2011), "Xây dựng chỉ số tổng hợp đánh giá chất lƣợng dân số", Tạp chí dân số và phát triển, 2(119). 13. Lê Thế Giới, Nguyễn Trƣờng Sơn, Nguyễn Thị Trâm Anh (2010), "Xây dựng khung phân tích đa chiều và hệ thống chỉ số đánh giá phát triển bền vững của ngành thủy sản - trƣờng hợp ngành thủy sản Khánh Hòa", Tạp chí khoa học và công nghệ, (40). 14. Tăng Văn Khiên (2008), "Lựa chọn các chỉ tiêu đặc trƣng và xác định phƣơng 108 pháp tính chỉ số tổng hợp phát triển kinh tế", Quản lý kinh tế, (18), p.3-12. 15. Phạm Ngọc Kiểm (2002), Giáo trình Phân tích kinh tế xã hội và lập trình, NXB Lao động – xã hội, Hà Nội. 16. Lê Anh Sơn, Nguyễn Công Mỹ (2002), Xây dựng cơ sở dữ liệu giám sát phát triển bền vững ở Việt Nam, Viện Chiến lƣợc và phát triển, Hà Nội. 17. Tổng cục Thống kê(2002-2010), Kết quả khảo sát mức sống dân cư 2002 - 2010, NXB Thống kê, Hà Nội. 18. Tổng cục Thống kê (2004), Một số thuật ngữ thống kê thông dụng, NXB Thống kê, Hà Nội. 19. Tổng cục Thống kê (2003-2011), Niên giám thống kê 2003 - 2011, NXB Thống kê, Hà Nội. 20. Tăng Văn Khiên, Nguyễn Văn Trãi (2012), "Phƣơng pháp xây dựng chỉ số tổng hợp đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu thống kê khác nhau ở Việt Nam", Tạp chí Quản lý kinh tế, (48). 21. Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, Quỹ dân số Liên hợp quốc (2011), Dân số và phát triển, Tài liệu dùng cho chƣơng trình bồi dƣỡng nghiệp vụ dân số - kế hoạch hoá gia đình. 22. Trung tâm năng suất Việt Nam (2011), Báo cáo năng suất Việt Nam 2010, Hà Nội. 23. USAID (2005), Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2005 của Việt Nam, Hà Nội. 24. Viện chiến lƣợc phát triển (2001), Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tiếng Anh 25. Department for International Development (2002), "Socially Sustainable Development: Concepts And Uses". 26. Jiawei Han, Micheline Kamber, Jian Pei (2012), Data mining – Concepts and Techniques, 3 rd edition, Elsevier Inc, USA. 109 27. Robert W. Kates, Thomas M. Parris, and Anthony A. Leiserowitz (2005), "What is sustainable development? Goals, indicators, values, and practice", Environment: Science and Policy for sustainable development, 47 (3), p. 8-21. 28. Sabina Alkire, José Manuel Roche, Maria Emma Santos and Suman Seth (2011), Multidimensional Poverty Index 2011: Brief Methodological Note, Queen Elizabeth House (QEH), University of Oxford. 29. Scottish Executive Social Research (2006), “Sustainable Development: A review of international Literature”. 30. Sharachchandra M.LéLé (1991), “Sustainable Development: A critical review”, World Development, 19 (6), p. 607-621. 31. Sudhir Anand, Amartya K.Sen (1994), "Human development index: Methodology and measurement", Human development report, New York. 32. UN (2007), Indicators of Sustainable Development: Guidelines and Methodologies, 3 rd edition, New York. 33. UNDP (1991), Human Development Report 1991, Oxford University Press, USA. 34. UNDP (2011), Human Development Report 2011, Oxford University Press, USA. 35. Yale Center for Environmental Law and Policy, Yale University and Center for International Earth Science Information Network, Columbia University (2006), 2005 Environmental Sustainability Index, IUCN/UNEP/WWF. Trang thông tin website 36. Bộ thông tin và truyền thông, Thông báo số liệu phát triển internet Việt Nam [Trực tuyến]. Hà Nội: Trung tâm Internet Việt Nam. Địa chỉ: [21/12/2012]. 37. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 [Trực tuyến]. Hà Nội: Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX. Địa chỉ: /portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankiendaih oidang?categoryId=10000714&articleId=10038387 [Truy cập: 02/8/2012]. 38. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 – 2020 [Trực tuyến]. Hà Nội: Ban 110 chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá XI. Địa chỉ: page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop/noidungvankien daihoidang?categoryId=10000716&articleId=10038368 [Truy cập: 02/8/2012]. 39. Cơ sở dữ liệu về thống kê - thông tin an ninh lương thực[Trực tuyến]. Hà Nội: Bộ Nông nghiệp. Địa chỉ: =thongke [Truy cập: 27/2/2013]. 40. Nguyễn Trọng Hậu, Phương pháp tổng quát xây dựng các chỉ số tổng hợp [Trực tuyến]. Địa chỉ: vienthongke.vn/attachments/article/669/Bai%202.doc [Truy cập: 7/11/2011]. 41. Trƣơng Quang Học, Phát triển bền vững – Chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ XXI [Trực tuyến]. Địa chỉ: [Truy cập: 19/10/2012] 42. IUCN. 1980. World conservation strategy [Trực tuyến]. Địa chỉ: www.iucn.org/ dbtw-wpd/edocs/WCS-004.pdf [Truy cập: 01/7/2013]. 43. UN. 1987. Our common future [Trực tuyến]. Địa chỉ: conspect.nl/pdf/ Our_Com mon_Future-Brundtland_Report_1987.pdf [22/8/2013]. 44. UN. 1992. Rio Declaration on Environment and Development 1992 [Trực tuyến]. Địa chỉ: www.unesco.org/education/information/.../RIO_E.PDF [22/8/2013]. 45. Văn phòng phát triển bền vững, Báo cáo nghiên cứu, đề xuất Bộ chỉ tiêu giám sát, đánh giá phát triển bền vững địa phương giai đoạn 2011 – 2020 [Trực tuyến]. Địa chỉ: [05/9/2013] 46. Phạm Thị Hồng Vân (2010), “Giới thiệu một số bộ chỉ tiêu đánh giá bền vững”, [Trực tuyến]. Địa chỉ: [03/7/2011] 111 PHỤ LỤC Phụ lục 1: Hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững do Hội đồng phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UN CSD) khuyến nghị năm 2001 LĨNH VỰC XÃ HỘI Chủ đề Chủ đề nhánh Chỉ tiêu Công bằng Nghèo đói 1. Phần trăm dân số sống dƣới mức nghèo khổ 2. Chỉ số Gini về bất cân đối thu nhập 3. Tỷ lệ thất nghiệp Công bằng về giới 4. Tỷ lệ lƣơng trung bình của nữ so với nam Tình trạng dinh dƣỡng 5. Tình trạng dinh dƣỡng của trẻ em Tỷ lệ chết 6. Tỷ lệ chết dƣới 5 tuổi 7. Kỳ vọng sống của trẻ mới sinh Điều kiện vệ sinh 8. Phần trăm dân số có thiết bị vệ sinh phù hợp Nƣớc sạch 9. Dân số đƣợc sử dụng nƣớc sạch Tiếp cận dịch vụ y tế 10. Phần trăm dân số tiếp cận đƣợc các dịch vụ y tế ban đầu 11. Tiêm chủng cho trẻ em 12. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai Giáo dục Cấp giáo dục 13. Phổ cập tiểu học đối với trẻ em 14. Tỷ lệ ngƣời trƣởng thành đạt mức giáo dục cấp II Biết chữ 15. Tỷ lệ biết chữ của ngƣời trƣởng thành Nhà ở Điều kiện sống 16. Diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời An ninh Tội phạm 17. Số tội phạm trong 10.000 dân số Dân số Thay đổi dân số 18. Tỷ lệ tăng dân số 19. Dân số thành thị chính thức và cƣ trú không chính thức 112 LĨNH VỰC MÔI TRƢỜNG Không khí Thay đổi khí hậu 20. Phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính Phá hủy tầng ozon 21. Mức độ tàn phá tầng ozon Chất lƣợng không khí 22. Mức độ tập trung của chất thải khí ở khu vực thành thị Nông nghiệp 23. Đất canh tác và diện tích cây lâu năm 24. Sử dụng phân hóa học 25. Sử dụng thuốc trừ sâu Rừng 26. Tỷ lệ che phủ rừng 27. Cƣờng độ khai thác gỗ Hoang hóa 28. Đất bị hoang hóa Đô thị hóa 29. Diện tích thành thị chính thức và phi chính thức Đại dƣơng, biển và bờ biển Khu vực bờ biển 30. Mức độ tập trung của tảo trong nƣớc biển 31. Phần trăm dân số sống ở khu vực bờ biển Ngƣ nghiệp 32. Loài hải sản chính bị bắt hàng năm Nƣớc sạch Chất lƣợng nƣớc 33. Mức độ cạn kiệt của nguồn nƣớc ngầm và nƣớc mặt so với tổng nguồn nƣớc 34. BOD trong khối nƣớc 35. Mức tập trung của Faecal Coliform trong nƣớc sạch Đa dạng sinh học Hệ sinh thái 36. Diện tích hệ sinh thái chủ yếu đƣợc lựa chọn 37. Diện tích đƣợc bảo vệ so với tổng diện tích Đa dạng sinh học Loài 38. Sự đa dạng của số loài đƣợc lựa chọn LĨNH VỰC KINH TẾ Cơ cấu kinh tế Hiện trạng kinh tế 39. GDP bình quân đầu ngƣời 40. Tỷ lệ đầu tƣ trong GDP Thƣơng mại 41. Cán cân thƣơng mại hàng hóa và dịch vụ 113 42. Tỷ lện nợ trong GDP Tình trạng tài chính 43. Tổng viện trợ ODA hoặc viện trợ ODA so với GNP Tiêu dùng vật chất 44. Mức độ sử dụng vật chất Sử dụng năng lƣợng 45. Tiêu thụ năng lƣợng bình quân đầu ngƣời hàng năm 46. Tỷ lệ tiêu dùng nguồn năng lƣợng có thể tái sinh 47. Mức độ sử dụng năng lƣợng Mẫu hình sx và tiêu dùng Xả thải và quản lý xả thải 48. Xả thải rắn của công nghiệp và đô thị 49. Chất thải nguy hiểm 50. Chất thải phóng xạ 51. Chất thải tái sinh Giao thông vận tải 52. Khoảng cách vận chuyển theo đầu ngƣời theo một cách thức vận chuyển LĨNH VỰC THỂ CHẾ Khung khổ thể chế Quá trình thực hiện chiến lƣợc PTBV 53. Chiến lƣợc phát triển bền vững quốc gia Hợp tác quốc tế 54. Thực thi các Công ƣớc quốc tế đã ký kết Năng lực thể chế Tiếp cận thông tin 55. Số lƣợng ngƣời truy cập Internet/ 1000dân Cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc 56. Đƣờng điện thoại chính/ 1000 dân Khoa học và công nghệ 57. Đầu tƣ cho nghiên cứu và phát triển tính theo % GDP Phòng chống thảm họa 58. Thiệt hại về ngƣời và của do các thảm họa thiên nhiên 114 Phụ lục 2: Hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững của Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội 2001- 2010 1. Tăng trƣởng GDP 2. Cán cân thanh toán quốc tế 3. Dự trữ ngoại tệ 4. Bội chi ngân sách 5. Lạm phát 6. Nợ nƣớc ngoài 7. Tỷ lệ tích luỹ nội bộ trên GDP 8. Tăng trƣởng xuất khẩu 9. Cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ trong GDP 10. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động 11. HDI 12. Tỷ lệ tăng dân số 13. Tỷ lệ hộ đói nghèo 14. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tỷ lệ quỹ thời gian sử dụng ở nông thôn 15. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề 16. Tỷ lệ trẻ em (dƣới 5 tuổi) suy dinh dƣỡng 17. Tuổi thọ trung bình 18. Độ che phủ của rừng 19. Diên tích rừng tự nhiên đƣợc bảo vệ 20. Tỷ lệ nƣớc sạch cho đô thị và nông thôn 21. Số máy điện thoại, số ngƣời sử dụng Internet/100 dân 115 Phụ lục 3: Hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững của Chiến lƣợc toàn diện tăng trƣởng và xóa đói giảm nghèo - 2002 1. Tăng trƣởng GDP 2. Tỷ lệ tích luỹ nội bộ trên GDP 3. Cơ cấu nông nghiêp - công nghiệp - dịch vụ trong GDP 4. Tỷ lệ lao động công nghiêp, nông nghiệp và dịch vụ trong tổng số lao động 5. Tỷ lệ nghèo (theo chuẩn quốc tế và chuẩn Việt Nam) 6. Tỷ lệ xã nghèo đƣợc cung cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu 7. Tỷ lệ số xã có điện đến trung tâm xã 8. Tỷ lệ dân số thành thị và nông thôn đƣợc dùng nƣớc sạch, lƣợng nƣớc sạch bình quân đầu ngƣời/ngày 9. Tỷ lệ gia đình có hố xí hợp vệ sinh 10. Tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động đƣợc giải quyết việc làm mới 11. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tỷ lệ quỹ thời gian sử dụng ở nông thôn 12. Tỷ lệ trẻ em dƣới 3 tuổi đến nhà trẻ 13. Tỷ lệ trẻ em từ 3-5 tuổi đến trƣờng, lớp mẫu giáo 14. Tỷ lệ học sinh đi học trong độ tuổi 15. Tỷ lệ học sinh học xong tiểu học 16. Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi 17. Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông trong độ tuổi 18. Tỷ lệ xoá mù chữ cho phụ nữ mù chữ dƣới 40 tuổi 19. Tỷ lệ thu hút học sinh trong độ tuổi vào các trƣờng trung học chuyên nghiệp 20. Tỷ lệ thu hút học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào các trƣờng dạy nghề 21. Tỷ lệ sinh 22. Tỷ lệ tử vong của trẻ em dƣới 1 tuổi 23. Tỷ suất tử vong của trẻ em dƣới 5 tuổi 24. Tỷ lệ suy dinh dƣỡng của trẻ em dƣới 5 tuổi 116 25. Tỷ lệ trẻ sinh thiếu cân (dƣới 2500 gram) 26. Tỷ suất chết mẹ liên quan đến sinh sản 27. Tỷ lệ gia đình, cộng đồng đạt tiêu chuẩn văn hoá 28. Số bản sách/ ngƣời/ năm 29. Tỷ lệ số hộ đƣợc nghe đài, xem truyền hình 30. Tỷ lệ KCN, đô thị, làng nghề đƣợc xử lý nƣớc thải, chất thải rắn, chất thải vệ sinh 31. Tỷ lệ che phủ của rừng 32. Tỷ lệ tái nghèo do thiên tai và các rủi ro khác 33. Tỷ lệ phụ nữ làm việc ở các công sở 117 Phụ lục 4: Hệ thống chỉ tiêu phát triển bền vững theo Agenda 21 của Việt Nam 1. Tỷ lệ hộ nghèo 2. Số xã nghèo 3. Tỷ lệ ngƣời sống trên đƣờng nghèo 4. Tỷ lệ số hộ thoát nghèo so với tổng số hộ nghèo 5. Khoảng cách thu nhập giữa thành thị, nông thôn, miền núi với đồng bằng 6. Trợ cấp dân tộc thiểu số 7. Hỗ trợ ngƣời tàn tật 8. Hỗ trợ ngƣời bị thiệt hại do thiên tai 9. Số chỗ làm việc mới tạo cho ngƣời lao động 10. Số phụ nữ hoạt động kinh tế, hoặc giữ cƣơng vị lãnh đạo so với nam 11. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dƣỡng so với tống số 12. Kỳ vọng sống của trẻ em mới sinh 13. Thực phẩm sạch và an toàn 14. Cung cấp nƣớc sạch 15. Số ngƣời tiếp cận đƣợc các dịch vụ y tế 16. Tỷ lệ tiêm phòng 17. Số lần khám thai 18. Tỷ lệ trẻ em từ 36 tháng đến 6 tuổi đƣợc uống vitamin A 19. Tỷ lệ trẻ em đƣợc tiêm phòng 20. Số lần phá thai 21. Tỷ lệ sủ dụng các biện pháp tránh thai 22. Tỷ lệ phổ cập tiểu học 23. Số năm đi học trung bình của dân số 24. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 25. Tỷ lệ ngƣời trƣởng thành (từ 15 tuổi trở lên) biết chữ 26. HDI 27. Áp lực nhà ở và vệ sinh môi trƣờng 28. Đấu tranh chống tội phạm 29. Tốc độ tăng dân số 118 30. Tỷ lệ sinh 31. Bụi, khí phát thải 32. Khí thải SO2, NO2, COX 33. Ô nhiễm không khí ở chỗ làm việc 34. Mƣa Axid 35. Ô nhiễm không khí ở thành phố lớn, khu công nghiệp 36. Tỷ lệ đất bị xói mòn 37. Tỷ lệ che phủ của rừng 38. Tỷ lệ nƣớc thải chƣa đƣợc xử lý 39. Chất thải rắn và rác thải 40. Tỷ trọng dân số sống ở bờ biển so với tổng số dân 41. Mức độ khai thác san hô 42. Đa dạng các loài 43. Lƣợng mƣa 44. Nƣớc ngầm bị ô nhiễm bới chất hữu cơ 45. Khai thác nƣớc ngầm 46. Diện tích hệ sinh thái lựa chọn 47. Diện tích đƣợc bảo vệ so với lựa chọn 48. Số loài đƣợc bảo vệ so với tổng số đã chọn 49. Nhịp độ tăng kinh tế 50. Khả năng cạnh tranh 51. Gánh nặng nợ lần cho thế hệ mai sau 52. Cân đối ngân sách 53. Lạm phát 54. Đầu tƣ nƣớc ngoài 55. Năng suất lao động 56. Sử dụng năng lƣợng nội địa 57. Sử dụng than hóa thạch 58. Sử dụng dầu 59. Năng lƣợng tái sinh 119 60. Công nghệ sử dụng ít năng lƣợng 61. Ô nhiễm công nghiệp 62. Cơ sở hạ tầng đƣờng sắt 63. Cơ sở hạ tầng đƣờng bộ, đƣờng thủy, đƣờng hàng không 64. Nhu cầu đi lại của ngƣời dân, nhu cầu vận tải cho sản xuất 65. Định hƣớng chiến lƣợc phát triển bền vững ở Việt Nam 66. Thực hiện đầy đủ các công ƣớc quốc tế về PTBV 67. Huy động sự hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ, tài chính để xóa đói giảm nghèo theo hƣớng PTBV 68. Khuyến khích trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệm về phát triển bền vững 69. Đầu tƣ cho nghiên cứu và triển khai 120 Phụ lục 5: Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững đƣa ra trong khuôn khổ Dự án VIE/01/021 1 Tổng dân số 2 Tỷ lệ dân số sống dƣới ngƣỡng nghèo 3 Chỉ số Gini 4 Tỷ lệ tiền lƣơng của nam so với nữ 5 Tỷ lệ tử vọng của các bà mẹ lúc sinh nở 6 Tỷ lệ trẻ em suy dinh dƣỡng dƣới 5 tuổi 7 Tỷ lệ thất nghiệp thành thị 8 Tuổi thọ (kỳ vọng sống) 9 Dân số đƣợc sử dụng nƣớc sạch 10 Tỷ lệ biết chữ ở ngƣời lớn 11 Tỷ lệ phổ cập THCS đối với trẻ em trong độ tuổi 12 Tỷ lệ sinh viên đại học và cao đẳng trên 1000 dân 13 Tỷ lệ lao động đƣợc đào tạo 14 Tỷ lệ dân số tiếp cận các phƣơng tiện truyền thông hiện đại 15 Diện tích nhà ở bình quân đầu ngƣời ở thành phố 16 Số lƣợng tội phạm trong năm trên 100.000 dân 17 Số tai nạn giao thông trong năm trên 100.000 dân 18 Tỷ lệ che phủ của rừng 19 Tỷ lệ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên so với diện tích tự nhiên 20 Tỷ lệ đất bị suy thoái hàng năm 21 Tỷ lệ khai khoáng 22 Tỷ lệ các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nƣớc thải/rác thải rắn 23 Số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO 14001 24 Phát thải các khí nhà kính 25 Tỷ lệ các vùng đô thị có mức ô nhiễm không khí vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép 26 Hệ sinh thái đang bị đe doạ và các loài có nguy cơ diệt chủng 121 27 Sản lƣợng cá đánh bắt hàng năm 28 Tổn thất về kinh tế do thiên tai 29 GDP bình quân đầu ngƣời 30 Tăng trƣởng GDP 31 Cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân 32 Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động 33 Tỷ lệ đầu tƣ so với GDP 34 Tỷ lệ vốn ODA và FDI trong vốn đầu tƣ toàn xã hội, tính theo 35 Tỷ lệ đầu tƣ cho nghiên cứu và triển khai (R&D) so với GDP 36 Tỷ lệ đầu tƣ cho giáo dục so GDP 37 Cán cân xuất nhập khẩu hàng hoá 38 Tỷ lệ nợ so với GDP 39 Tiêu thụ năng lƣợng / GDP hàng năm 40 Tỷ lệ tái chế và tái sử dụng rác thải 41 Công cụ phát triển bền vững 42 Huy động nguồn tài chính cho việc xoá đói giảm nghèo 43 Số các địa phƣơng có Chƣơng trình nghị sự 21

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfla_nguyenminhthu_6242.pdf
Luận văn liên quan