Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần petrolimex

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰCỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ VÀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ 1. Trách nhiệm dân sự 2. Các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự 2.1. Đặc điểm của trách nhiệm dân sự 2.2. Các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm dân sự 3. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự II. SỰ CẦN THIẾT TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA 1. Đặc điểm và tính năng động của xe cơ giới 2. Sự cần thiết phải triển khai nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba 3. Cơ sở hình thành tính bắt buộc bảo hiệm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba 4. Tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba 4.1. Đối với chủ xe 4.2. Đối với người thứ ba. 4.3. Đối với xã hội III. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ BA 1. ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM VÀ PHẠM VI BẢO HIỂM 1.1. Đối tượng bảo hiểm 1.2. Phạm vi bảo hiểm 2. Phí và phương pháp tính phí 2.1. Phí bảo hiểm 2.2. Phương pháp tính phí 2.3. Các yếu tố làm tăng phí 3. Hợp đồng bảo hiểm 3.1. Hợp đồng bảo hiểm 3.2. Trách nhiệm pháp lý trong hợp đồng bảo hiểm 4. Những quy định về trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm 4.1. Công tác giám định 4.2. Xác định thiệt hại thực tế của bên thứ 3 4.3. Bồi thường thiệt hại thực tế CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ 3 TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM XĂNG DẦU I. VÀI NÉT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM XĂNG DẦU 1. Quá trình hình thành 2. Các nghiệp vụ triển khai tại Pjico 3. Cơ cấu tổ chức 4. Một số kết quả mà Pjico đạt được từ khi thành lập II. THỰC TẾ TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI VỚI NGƯỜI THỨ 3 TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM PJICO 1. Công tác khai thác 2. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất 3. Công tác giảm định - bồi thường 4. Đánh giá tình hình kinh doanh nghiệp vụ qua một số nămMỘT SỐ NĂM 4.1. Kết quả kinh doanh 4.2. Hiệu quả kinh doanh CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ 3 TẠI PJICO I. ĐÁNH GIÁ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CÔNG TY CỦA CÔNG TY 1. Những thuận lợi 2. Khó khăn cơ bản của Pjico II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐÔÍ VỚI NGƯỜI THỨ 3 TẠI PJICO 1. Mục tiêu và phương hướng trong thời gian tới 2. Một số kiến nghị 2.1. Công tác khai thác. 2.2. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất 2.3. Công tác giám định bồi thường 2.4. Hoàn thiện hệ thống pháp lý 2.5. Tăng cường công tác quản lý KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc74 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 2947 | Lượt tải: 16download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phần petrolimex, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
,11 7,74 11,29 7,42 33,45 34,82 33,33 107,74 111,29 107,42 133,45 134,82 133,33 8,4 8,36 8,4 44,66 46,14 44,53 108,4 108,36 108,4 144,66 146,14 144,53 14,5 6,368 15,25 65,64 55,45 66,57 114,5 106,368 115,25 165,64 155,45 166,57 B, Đối với số xe tham gia bảo hiểm 1, Tốc độ tăng * Tốc độ tăng liên hoàn - Ô tô - Xe máy * Tốc độ tăng định gốc - Ô tô - Xe máy 2, Tốc độ phát triển * Tốc độ phát triển liên hoàn - Ô tô - Xe máy * Tốc độ phát triển định gốc - Ô tô - Xe máy 85,11 64,81 121,56 85,11 64,81 121,56 185,11 164,81 221,77 185,11 164,81 121,56 13,35 12,96 13,84 109,83 86,18 152,19 113,35 112,96 113,84 209,83 186,18 252,19 11,3 17,12 3,87 133,54 118,06 161,96 111,3 117,12 103,87 233,54 218,54 261,96 44,79 44,8 44,86 238,167 215,75 279,49 144,79 144,8 144,86 338,1672315,75 379,49 58,07 58,05 58,12 434,5 339,04 500 158,07 158,05 158,12 534,59 439,04 600 Nhìn vào bảng tính chỉ tiêu trên ta thấy số lượng xe cơ giới tham gia lưu thông ngày càng tăng dần. Năm 2000 so với năm 1996 lượng xe cơ giới tăng 65,64%, số xe tham gia bảo hiểm cũng tăng dần từ năm 1996 đến năm 2000 cụ thể như sau : Năm 1996 số xe tham gia bảo hiểm chiếm 0,51% tổng số xe lưu hành Năm 1999 số xe tham gia bảo hiểm chiếm 0,89% tổng số xe lưu hành Năm 200 số xe tham gia bảo hiểm chiếm 1,19% số xe lưu hành Năm 2001 số xe tham gia bảo hiểm chiếm 1,65% số xe lưu hành Về số tuyệt đối năm 1996 số xe tham gia bảo hiểm tại công ty là 23.414 xe. Năm 2000 số xe tham gia bảo hiểm là 79439 xe tăng 46,66% so với năm 1996 Tuy nhiên nhìn vào tỷ trọng số xe cơ giới tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 tại công ty còn rất nhỏ bé so với số lượng xe thực tế lưu hành. Mặc dù trên thực tế số lượng xe máy tham gia giao thông gấp 12 lần xe ô tô đó là điều nghịch lý, chứng tỏ công ty chưa chú tâm khai thác nghiệp vụ này đối với xe máy. So với bảo việt thì số lượng xe máy tham gia nghiệp vụ này lại cao hơn rất nhiều so với ô tô. Điều này cũng dễ hiểu bởi bảo việt là công ty triển khai nghiệp vụ này là sớm nhất, họ đã giành được thị phần lớn, hơn nữa họ lại có một hệ thống, mạng lưới kinh doanh trong cả nước. Ngoài ra bảo việt còn phối hợp với các cơ quan đăng kiểm, đăng kí xe để bắt buộc các chủ phương tiện phải mua bảo hiểm khi đăng ký xe. Đối với PJICO là một công ty mới thành lập, nhưng đã sớm khẳng định mình trên thị trường bảo hiểm. Những nghiệp vụ mà công ty triển khai đã và đang đóng góp không nhỏ vào thành quả chung của công ty. Trong đó nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 đang có mức tăng trưởng khá và ổn định. Tuy vậy công ty chưa thực sự khai thác được tiềm năng của thị trường này. * Đối với ô tô Số lượng ô tô từ năm 1996 đến năm 2001 tăng xấp xỉ 9,3% một năm. Năm 1996 cả nước có 386.946 xe thì đến năm 2001 có 601.520 xe. Trong đó số xe được bảo hiểm trong cả nước năm 1996 là 86.998 xe, trong khi tham gia tại PJICO là 14.796 xe chiếm gần 6% số lượng xe tham gia bảo hiểm trong toàn quốc. Số lượng xe ô tô tham gia bảo hiểm năm 1999 là 167.625 xe trong khi số xe tham gia tại công ty là 32265 xe chiếm gần 19,24% số lượng xe tham gia bảo hiểm trên toàn quốc. Năm 2000 số xe ô tô tham gia bảo hiểm trên cả nước là 199.630 xe trong đó tham gia tại PJICO là 46719 xe chiếm gần 23,4% số lượng xe tham gia bảo hiểm trong toàn quốc.Tỷ lệ ô tô được bảo hiểm bình quân ở giai đoạn này mới chỉ đạt gần 35% tổng số xe các loại. Điều đó chứng tỏ số lượng xe ô tô tham gia bảo hiểm tại công ty có xu hướng tăng nhanh, thị phần của công ty ngày càng được củng cố và không ngừng mở rộng * Đối với xe máy Số lượng xe máy lưu hành trên toàn quốc từ năm 1996 đến năm 2001 tăng bình quân 12,575% một năm. Năm 2001 số lượng xe máy tăng 66,57% so với năm 1996. Về số tuyệt đối năm 1996 trên cả nước có 4.208.247 xe thì đến năm 2001 số xe lưu hành đã là 7.010.100 xe. Năm 1996 số xe máy tham gia bảo hiểm là 900.000 chiếc chiếm 21,386%. Năm 2001 thì chỉ có 1.121.616 chiếc được bảo hiểm chiếm 10,6% tổng số xe lưu hành đó là điều nghịch lý bởi cũng trong khoảng thời gian này số lượng xe máy tăng lên 66,57% so với năm 1996. Trong khi đó số xe máy tham gia tại công ty năm 1996 là 8.622 chiếc chiếm chưa đầy 1% so với lượng xe bảo hiểm trong toàn quốc. Đến năm 2001 thì số xe tham gia bảo hiểm tại công ty là 51.738 chiếc gấp 6 lần số xe tham gia bảo hiểm năm 1996. Tỷ lệ xe máy được tham gia bảo hiểm bình quân cả nước trong giai đoạn 96 đến 2001 mới chỉ đạt 10,6% tổng số xe lưu hành, tỷ lệ xe máy tham gia bảo hiểm lại thấp dần qua các năm : Cụ thể năm 1996 tỷ lệ xe máy tham gia bảo hiểm là 21,368%, năm 1997 là 16,6%, năm 2000 chỉ còn 10,6%. Sở dĩ có tình trạng như vậy là do số lượng xe tham gia bảo hiểm tăng nhẹ trong khi số xe tham gia lưu thông lại tăng rất nhanh qua các năm. Từ khi có nghị định 115/1997/CP về chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 thì số xe tham gia bảo hiểm tại công ty có xu hướng tăng trong khi số xe tham gia bảo hiểm trong cả nước lại có xu hướng giảm chứng tỏ việc khai thác ở công ty đã giành được những thành tích đáng khích lệ. Tuy nhiên trong khâu khai thác còn rất nhiều mặt hạn chế cần sớm được khắc phục. Những hạn chế này xuất phát từ rất nhiều những nguyên nhân khác nhau : Xét trên giác độ chủ quan ( về phía công ty ) Hầu hết cán bộ công nhân viên công ty có trình độ cao (trên 95% có trình đại học trở nên) tuy nhiên do chưa có nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là khâu khai thác do đó hiệu quả khai thác là chưa cao. Mặc dù có nhiều nhân viên có trình độ đại học nhưng số nhân viên được đào tạo chuyên sâu về bảo hiểm là còn nhiều hạn chế. Do công ty chưa biết tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các ngành, các cấp có liên quan trong việc tạo điều kiên thuận lợi để khai thác hết tiềm năng bảo hiểm Do sự cạnh tranh gay gắt khiến cho các công ty hạ phí xuống mức tuỳ ý đã làm cho công ty bị động, nên việc cạnh tranh thu hút khách hàng gặp nhiều khó khăn Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế, do vậy người dân chưa thấy được lợi ích và nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm Các mức phí mà công ty áp dụng chưa linh hoạt, chưa phù hợp với khả năng tài chính của công ty và người tham gia bảo hiểm * Về phía cơ quan hữu quan : Đứng về phía người tham gia bảo hiểm : Do các chủ xe và lái xe chưa nhận thức đúng, đầy đủ về ý nghĩa tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3, tâm lý của một số người còn cho rằng khi có tai nạn xảy ra thì họ khó có thể đòi ngay được tiền bồi thường do thủ tục bồi thường còn chậm chạp, mất thời gian. Vì vậy họ coi việc tham gia nghiệp vụ này chỉ vì tính bắt buộc, do vậy các chủ phương tiện xe cơ giới chưa có thái độ tự giác tự nguyện tham gia Do sự lỏng lẻo của cơ quan chức năng đặc biệt là lực lượng cảnh sát giao thông chưa kiểm tra sát sao và chặt chẽ các giấy tờ cần thiết khi lưu hành xe, Đặc biệt là giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba 1.2. Về doanh thu phí bảo hiểm Mặc dù thị trường bảo hiểm luôn có sự cạnh tranh gay gắt thậm trí là sự cạnh tranh không lành mạnh, nhưng công tác khai thác của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3 ở công ty vẫn đạt được những kết quả khả quan.Tỷ trọng doanh thu phí nghiệp vụ so với tổng doanh thu toàn công ty có xu hướng giảm nhưng về số tuyết đối thì doanh thu nghiệp vụ có xu hướng tăng qua các năm cụ thể : Bảng 5 : Bảng tỷ trọng doanh thu phí nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 Năm Doanh thu nghiệp vụ (triệu đồng) Doanh thu bảo hiểm gốc toàn công ty (Triệu đồng) Tỷ trọng doanh thu bảo hiểm trách nhiệm dân sự (%) 1996 4232 52230 8,1 1997 5355 80279 6,67 1998 6058 96353 6,287 1999 6795 97276 6,985 2000 9732 123655 7,87 2001 15604 146538 10,648 Nguồn phòng quản lý nghiệp vụ Trong bảng 4 ta thấy tốc độ tăng xe máy tham gia bảo hiểm là nhanh hơn số lượng xe ô tô tham gia bảo hiểm. Cụ thể tốc độ tăng về số xe máy tham gia bảo hiểm năm 2001 so với năm 1996 là 500% trong khi ô tô tỷ lệ này là 339,04% Tuy nhiên do mức phí bảo hiểm bình quân một xe máy là thấp hơn rất nhiều lần so với phí bảo hiểm bình quân của một đầu xe ô tô. Các chủ xe máy tham gia bảo hiểm phần lớn là tham gia do tính bắt buộc nên không tham gia với mức trách nhiệm cao. Trong khi các chủ xe ô tô tham gia với mức trách nhiệm cao và có tính tự nguyện bởi họ ý thức được sự nguy hiểm khi điều khiển xe ô tô, họ ý thức được trách nhiệm của mình. Do vậy nguồn phí thu được từ ô tô đem lại nhiều hơn : Bảng 6 : Doanh thu phí theo cơ cấu xe tham gia bảo hiểm Doanh thu phí (triệu đồng) 1996 1997 1998 1999 2000 2001 - Ô tô 3895,28 4926,6 5573,36 6238,8 9054,6 13899,4 - Xe máy 338,72 428,4 484,64 556,93 667,488 1704,56 Tổng cộng 4234 5355 6058 6795 9732 15604 Nguồn phòng kế toán công ty PJICO Tổng doanh thu phí nghiệp vụ tăng nên hàng năm, năm sao cao hơn năm trước và luôn vượt mức kế hoạch đề ra : Bảng 7 : Tình hình thực hiện kế hoạch thu phí nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 Năm Số phí bảo hiểm kế hoạch (triệu đồng) Phí thực thu (Triệu đồng) Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch ( đơn vị %) 1996 3535 4234 119,8 1997 4137 5355 128,32 1998 4639 6058 130,6 1999 6067 6795 112 2000 8896 9732 109,4 2001 12238 15604 127,5 Nguồn phòng quản lý nghiệp vụ Nhìn vào bảng 7 ta thấy : Năm 1996 công ty thu được 4234 triệu đồng đạt 119,8% kế hoạch vượt kế hoạch 699 triệu đồng Năm 1997 công ty thu được 5355 triệu đồng đạt 128,32% vượt kế hoạch Năm 1998 là năm vượt kế hoạch cao nhất đạt 130,6% kế hoạch Năm 2000 công ty thu được 9732 triệu đồng đạt 109,4% kế hoạch, vượt kế hoạch 836 triệu đồng Nhìn chung công tác khai thác đã giành được nhiều kết quả khả quan, số phí thu được và số lượng xe tham gia bảo hiểm tại công ty ngày một tăng thế nhưng so với số lượng xe thực tế lưu hành thì tỷ lệ này là quá nhỏ (năm 2001 là 1,65%). Do vậy tiềm năng về khả năng phát triển nghiệp vụ này là rất khả quan. Công ty cần tích cực trú trọng vào khâu khai thác, tích cực nâng cao chất lượng nghiệp vụ và không ngừng tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm của các chủ phương tiện cơ giới. Điều đó góp phần không nhỏ làm tăng doanh thu cho công ty và giúp ổn định cuộc sống cho người bị hại. . CÔNG TÁC ĐỀ PHÒNG VÀ HẠN CHẾ TỔN THẤT Trong những năm qua tình hình tai nạn giao thông đường bộ ngày càng có diến biến phức tạp, số vụ tai nạn xảy ra ngày càng tăng và tính nghiêm trọng của nó cũng cao hơn. Với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” công tác đề phòng và hạn chế tổn thất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phòng chống tai nạn giao thông xảy ra ở nước ta. Đề phòng và hạn chế tổn thất đó là một khâu không thể thiếu được trong quá trình kinh doanh của bất kì một công ty bảo hiểm nào. Bởi vì thực chất của hoạt động bảo hiểm là chuyển giao rủi ro cho nhà bảo hiểm, theo đó người tham gia bảo hiểm đồng ý trả cho người bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm và người bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người tham gia. Do vậy công ty bảo hiểm rất quan tâm đến việc quản lý rủi ro tổn thất thông qua đề phòng và hạn chế tổn thất. Đề phòng hạn chế tổn thất không chỉ là trách nhiệm mà còn là quyền lợi của công ty bảo hiểm Nếu thực hiện tốt khâu này thì số vụ tổn thất sẽ giảm đi và công ty bảo hiểm sẽ giảm số tiền bồi thường cho các đối tượng tham gia bảo hiểm góp phần làm tăng lợi nhuận cho công ty. Mặt khác công tác đề phòng và hạn chế tổn thất còn đem lai sự an toàn, sự bình yên và một tâm lý thoải mái cho mọi người trong cuộc sống và trong hoạt động sản suất kinh doanh Bởi vậy ngay từ khi triển khai nghiệp vụ này công ty bảo hiểm PJICO luôn quan tâm chú ý coi trọng công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Công ty đã cùng các ngành giao thông xây dựng hàng loạt đường lánh nạn và các đường rào chắn ở một số các đoạn đường nguy hiểm như đèo Măng Găng, đèo Hải Vân, đèo Gió, đèo Ngoạn Mục Công ty cũng tiến hành phối hợp với các cơ quan, ngành chức năng như sở giao thông công chính, phòng cảnh sát giao thông thực hiện tuyên truyền trên địa bàn về luật an toàn giao thông nhằm nâng cao sự hiểu biết và ý thức chấp hành luật lệ giao thông của nhân đân và các chủ phương tiện cơ giới Đối với ngành đường sắt công ty tiến hành lắp các lưới chống gạch đá và lắp các barie để tránh các nơi có đường bộ giao với đường sắt, công ty cũng lắp đặt các pa nô- áp phích, biển báo góp phần nhắc nhở lái xe và mọi người đề phòng tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra Công ty cũng yêu cầu các chủ xe thực hiện công tác đề phòng và hạn chế tổn thất như thường xuyên kiểm định tu dưỡng bảo dưỡng xe, đảm bảo an toàn kỹ thuật khi vận hành xe Khi tai nạn xảy ra thì các chủ phương tiện phải có trách nhiệm hạn chế tối thiểu thiệt hại cho tài sản và đưa người bị thương đến cơ sở y tế nơi gần nhất. Hàng năm công ty luôn trích 3% kinh phí để thực hiện công tác đề phòng và hạn chế tổn thất Để thấy rõ tình hình chi đề phòng và hạn chế tổn thất của PJICO ta có bảng sau đây Nhìn vào bảng 8 ta thấy số tiền chi đề phòng và chế tổn thất tăng qua các năm : Năm 1996 chi đề phòng và hạn chế tổn thất là 95,265 triệu đồng Năm 1999 chi đề phòng và hạn chế tổn thất 147,45 triệu đồng Năm 2000 chi đề phòng và hạn chế tổn thất 219,9 triệu đồng Năm 2001 số tiền tăng nên là 336,3 triệu đồng tăng gấp 2,8 lần so với năm 1996. Trong đó tuyên truyền quảng cáo chiếm tỷ trọng lớn. Năm 1996 chi cho tuyên truyền quảng cáo chiếm tới 40,64% tổng chi. Năm 2000 chiếm tới 42,62% tổng chi. Sang năm 2001 chi cho tuyên truyền quảng cáo tại công ty vẫn có xu hướng tăng Tỷ lệ chi cho hỗ trợ và khen thưởng chiếm một phần lớn. Năm1996 chiếm tới 29,12% tổng chi, năm 2001 thì tỷ lệ này giảm xuống còn 25,82%. Tổng chi đề phòng và hạn chế tổn thất cũng tăng nhanh qua các năm qua các năm: Năm 1998 so với năm 1996 tăng 84,94% Năm 1999 so với năm 1998 giảm 17,8% Năm 2000 so với năm 1999 tăng 49,15% Năm 2001 so với năm 2000 tăng 52,9% Qua đây ta thấy được rằng trong giai đoạn đầu công ty chi nhiều cho công tác tuyên truyền quảng cáo. Sở dĩ như vậy là do trong giai đoạn này công ty mới gia nhập thị trường bảo hiểm công ty cần tạo được hình ảnh cho mình, tạo uy tín và khắc sâu trong ý thức của khách hàng. PJICO luôn nhận thức được vai trò công tác đề phòng và hạn chế thất thế nhưng hiệu quả của công tác nay chưa cao, điều này thể hiện tuy số vụ tai nạn đã giảm nhưng mức độ thiệt hại của mỗi vụ lại có xu hướng tăng nên Sở dĩ như vậy là do cơ sở hạ tầng kỹ thuật giao thông lạc hậu lại bị xuống cấp nghiêm trọng, ít sửa chữa, mật độ của các phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng do vậy dẫn đến tỷ lệ tai nạn giao thông có xu hướng tăng lên. Mặt khác do doanh thu phí nghiệp vụ là nhỏ, chi phí dành cho đề phòng hạn chế tổn thất lại chỉ chiếm 3% doanh thu thì lại càng ít ỏi hơn do vậy hiệu quả của công tác này còn nhiều hạn chế Công ty cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa, cần nghiên cứu sao cho việc thực hiện công tác này có hiệu quả, giảm thiểu được những thiệt hại, đẩm bảo an toàn cho các phương tiện giao thông cơ giới, người thứ 3 và cộng đồng 3. CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH - BỒI THƯỜNG 3.1 Công tác giám định Công tác giám định là một khâu trung gian giữa khâu khai thác và khâu bồi thường Nó có tác dụng giúp cho việc tính toán bồi thường được chính xác và kịp thời. Những thiệt hại về người và tài sản và mức độ lỗi của các bên là rất phức tạp đòi hỏi có sự chính xác. Khi có sự thông báo tai nạn xảy ra các giám định viên của công ty phải kịp thời tới ngay hiện trường để thu thập các chứng cứ có liên quan đến vụ tai nạn và phối hợp với cảnh sát giao thông để xác định nguyên nhân gây ra tai nạn. Đồng thời cán bộ giám định đánh giá mức dộ thiệt hại và mức độ lỗi của các bên. Tuy nhiên công việc này rất là phức tạp vì nó liên quan đến lợi ích của nhiều bên, đặc biệt là bên thứ 3, việc xác định căn cứ vào luật dân sự và luật lệ an toàn giao thông. Do vậy đòi hỏi cán bộ giám định phải có chuyên môn sâu về nghiệp vụ, phải am hiểu luật dân sự và luật an toàn giao thông, hiểu biết về thông tin giá cả thị trường, am hiểu về kỹ thuật Kiến thức này sẽ giúp cho việc giám định một cách chính xác, tránh tình trạng giám định sai làm tổn hại đến uy tín của công ty và mất đi quyền lợi khách hàng. Ngoài ra để tránh trường hợp trục lợi bảo hiểm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty. Các giám định viên ngoài trình dộ chyên môn phải có tư cách đạo đức tốt, tận tụy với khách hàng. Góp phần nâng cao uy tín với khách hàng và thu hút nhiều khách hàng mua nhiều sản phẩm bảo hiểm của công ty Để tạo điều kiện cho công tác giám định thì công ty đã không ngừng đầu tư trang thiết bị hiện đại như : máy ảnh, thước, phương tiện liên lạc, phương tiện đi lại… Ngoài ra công ty cũng đã phối hợp với các cơ quan chức năng, phòng cảnh sát giao thông cùng phân định lỗi mỗi khi có thiệt hai xảy ra, tạo nên sự phối hợp chặt chẽ và khách quan trong khâu giám định tạo lòng tin cho khách hàng giúp cho quá trình bồi thường nhanh gọn tiết kiệm, tạo tâm lý thoả mái, tin cậy lẫn nhau Năm 1996 xảy ra 617 vụ tai nạn thuộc trách nhiệm của công ty. Công ty đã tiến hành giám định 602 vụ và chuyển hồ sơ cho phòng bồi thường để giải quyết còn 15 vụ chưa rõ ràng thì chuyển sang năm sau. Năm1997 công ty đã giám định 655 vụ còn 21 vụ chuyển sang năm sau Năm 2001 công ty đã tiến hành giám định 527 vụ còn 25 vụ chuyển sang 2001 Như vậy số vụ tai nạn được giám định trong năm chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số các vụ tai nạn phát sinh thuộc trách nhiệm. Điều đó thể hiện những nỗ lực của cán bộ công nhân viên toàn công ty nói chung và của bộ phận giám định nói riêng Tuy nhiên cũng phải nói nên một thực tế khó khăn gây trở ngại lớn đến công tác giám định của công ty, làm ảnh hưởng xấu đến khâu bồi thường Thứ nhất: Do công ty mới bước vào thị truờng bảo hiểm được 7 năm do vậy kinh nghiệm còn nhiều hạn chế hơn nữa cán bộ công nhân viên giám định tại công ty chưa được đào tạo chính quy về công tác này, những hiểu biết về xe cơ giới còn hời hợt không chuyên sâu Do đó thường xuyên gặp phải những lúng túng và những vướng mắc trong quá trình giám định. Đặc biệt là những vụ tai nạn có tính nghiêm trọng và phức tạp, có nhiều chi tiết bỏ qua mà từ đó có thể bị trục lợi hoặc trốn tránh trách nhiệm bồi thường của chủ xe Thứ hai: Do địa bàn tham gia bảo hiểm cũng như xe cơ giới là rất rộng, mà công ty chưa có chi nhánh ở hầu hết các tỉnh do vậy sẽ gây khó khăn trong việc giám định trực tiếp tại hiện trường Thứ ba: Do số nhân viên giám định trình độ còn hạn chế, số lượng thì ít. Hầu hết hồ sơ biên bản giám định phải dựa trên hồ sơ của công an, bệnh viện và các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Đây là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc giám định thiếu chính xác, không đánh giá đúng tổn thất thực tế là bao nhiêu, gây phát sinh tiêu cực trong khâu bồi thường Hầu hết các vụ tai nạn xảy ra việc xác định lỗi là rất khó, thường là do sự thương lượng giữa các bên tham gia, chỉ khoảng gần 5% số vụ phải đưa ra xét xử. Khi tai nạn xảy ra thì mọi hồ sơ lại do công an trực tiếp quản lý và lắm giữ, sự phối hợp giữa công ty và cơ quan công an còn lỏng lẻo. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới công tác giám định. Để hoàn thiện công tác giám định công ty đã và đang tăng cường đội ngũ cán bộ công nhân viên giám định cả về số lượng và chất lượng nhằm giám định một cách nhanh chóng,chính xác, kịp thời tạo uy tín của PJICO trên thị trường bảo hiểm Việt Nam 3.2. Công tác bồi thường Giải quyết bồi thường là một khâu rất quan trọng, đây là một công việc cuối cùng của một hợp đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Cùng với khâu giám định nó ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, kết quả, hiệu quả kinh doanh của công ty. Đối với nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba thì công tác bồi thường chính là lúc nghiệp vụ này thể hiện rõ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó. Nhận thức được tầm quan trọng này công ty bảo hiểm PJICO đã rất quan tâm chú trọng đến công tác giải quyết bồi thường. Trong quá trình tiếp nhận hồ sơ bồi thường từ khách hàng thì cán bộ công nhân viên luôn hướng dẫn khách hàng hoàn tất thủ tục hồ sơ theo đúng quy định với tinh thần, thái độ tận tình. Nhân viên công ty ấn định rõ ngày trả tiền bồi thường, chủ động liên lạc qua điện thoại nhằm hạn chế việc đi lại gây phiền hà cho khách hàng. Mỗi năm xác suất xảy ra tai nạn là khác nhau, với mức độ khác nhau nên công tác bồi thường ở PJICO hàng năm cũng khác nhau. Để có một cái nhìn thực sự bao quát và một nhận xét chính xác hơn, khách quan hơn về công tác bồi thường tại công ty chúng ta sẽ xem xét phân tích số liệu ở bảng sau đây: Qua bảng trên ta thấy số vụ tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm trách nhiệm dân sự và số tiền bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3 tại công ty có sự biến động qua các năm. Năm 1996 xảy ra 617 vụ chiếm 2,62% tổng số xe tham gia bảo hiểm Năm 1997 số vụ tai nạn là 676 vụ chiếm 1,55% trong đó chủ yếu là ô tô với 466 xe chiếm 68,93% số vụ tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm. Bước sang năm 1998 và 1999 tình hình giao thông có những chuyển biến tích cực số vụ tai nạn có xu hướng giảm. Năm 1998 xảy ra 617 vụ chiếm 1,25% tổng số xe tham gia bảo hiểm. Năm 1999 số vụ tai nạn giảm chỉ còn 574 vụ. Đến năm 2001 là 552 vụ. Điều này cho thấy số vụ tai nạn có xu hướng giảm điều đó là do trong vài năm trở lại đây công tác đề phòng và hạn chế tổn thất đã bắt đầu phát huy hiệu quả, các chủ xe đã ý thức được phần nào trách nhiệm nghề nghiệp của mình do đó đã hạn chế được số vụ tai nạn xảy ra. Mặc dù số lượng các vụ tai nạn giao thông có xu hướng giảm xuống nhưng tổng số tiền bồi thường và số tiền bồi thường bình quân một vụ lại có xu hướng tăng nhanh. Năm 1996 tổng số tiền bồi thường là 3,0188 tỷ đồng, số tiền bồi thường bình quân một vụ là 5,014 triệu đồng. Năm 1998 số tiền bồi thường là 4,325 tỷ đồng, số tiền bồi thường bình quân một vụ là 6,659 triệu đồng. Năm 1999 số tiền bồi thường lên đến 4,599 tỷ đồng. Mặc dù số vụ tai nạn đã giảm đáng kể nhưng do mức độ tổn thất cuả các vụ tai nạn lại có xu hướng tăng thêm làm cho số tiền bồi thường bình quân một vụ năm 1999 tăng lên 8,24 triệu đồng. Bước sang năm 2001 số tiền bồi thường bình quân một vụ là 19,373 triệu đồng tăng 2,35 lần so với năm 1999. Qua số liệu cũng cho ta thấy số tiền bồi thuờng bình quân một vụ của xe ô tô cao hơn rất nhiều lần đối với xe máy. Trong các năm từ 1998 đến 2001 số tiền bồi thường xe ô tô luôn gấp từ 8,3 đến 59,47 lần so với xe máy. Điều này cũng thật dễ hiểu bởi vì mức độ thiệt hại do xe ô tô gây ra luôn cao hơn rất nhiều so với xe máy, xác suất tai nạn ô tô xảy ra cao hơn xe máy và số xe ô tô tham ra bảo hiểm tại công ty nhiều hơn so với xe máy. Quý I năm 2001 xảy ra rất nhiều các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng, tỷ lệ tai nạn giao thông tăng trên 130,3%. Đây là một thách thức lớn cho ngành bảo hiểm nói chung và PJICO nói riêng. Công ty cần phải chú trọng đến công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, đặc biệt chú ý đến công tác tổ chức tuyên tryền giáo dục ý thức chấp hành luật lệ giao thông và nghị định 36 CP của thủ tướng chính phủ. Tỷ lệ được giải quyết bồi thường tại PJICO là khá cao. Năm 1996 tỷ lệ giải quyết bồi thường là 97,57%, năm 1998 tỷ lệ này là 98,92%, sang năm 2000 và 2001 tỷ lệ này lần lượt là 96,5% và 95,63%. Điều đó chứng tỏ công ty rất quan tâm đến giải quyết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm điều này đã được khẳng định trên các phương tiện thông tin đại chúng khi PJICO được công nhận là một doanh nghiệp bảo hiểm có chữ tín trong ngành giao thông vận tải. Tuy vậy trong năm vẫn còn những vụ tồn đọng sang năm mới giải quyết chứng tỏ công tác bồi thường vẫn còn một số những điểm yếu nhất định cần sớm được khắc phục như: Hồ sơ yêu cầu bồi thuờng của chủ xe không đầy đủ, thiếu cơ sở pháp lý(dấu, xác nhận của cơ quan chức năng) đã làm kéo dài thời gian bồi thường, nhiều khi các chủ xe không hiểu rõ đã đổ lỗi cho công ty gây nhiều phiền hà, rắc rối. Các chủ xe thường đưa ra mức bồi thường thấp trong khi người bị hại lại đưa ra mức bồi thường vô lý điều này đẩy nhà bảo hiểm rơi vào tình thế đứng giữa hai bên nên cùng thương lượng để giải quyết. Trong một số vụ tai nạn cán bộ giám định thường không thực hiện được giám định trực tiếp do đó công tác xác định lỗi và thiệt hại thực tế chỉ còn căn cứ vào hồ sơ, biên bản giải quyết tai nạn của cảnh sát giao thông làm cho quá trình bồi thường gặp nhiều khó khăn. Những vụ tai nạn hầu hết không xác định đúng thiệt hại như: + Mất thu nhập: Hiện nay chưa có một cơ quan nào xác định được thu nhập thực tế của người lao động + Chi phí y tế: Do chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà bảo hiểm và cơ quan y tế, người bị hại dễ dàng làm các hoá đơn thanh toán giả, xây dựng các bệnh án giả và sử dụng các loại thuốc đắt tiền. Đó là những nguyên nhân xảy ra tình trạng trục lợi bảo hiểm từ phía người tham gia gây khó khăn cho doanh nghiệp bảo hiểm. Mặc dù dang có những hạn chế như vậy nhưng nhìn chung công tác giả quyết bồi thường của công ngày càng hoàn thiện và thực hiện một cách tốt hơn giúp chủ xe thấy đựoc quyền lợi và trách nhiệm của mình khi tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3, góp phần đảm bảo trật tự và an toàn xã hội. 4. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH KINH DOANH NGHIỆP VỤ QUA MỘT SỐ NĂM 4.1. KẾT QUẢ KINH DOANH Kết quả kinh doanh là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả của quá trình thực hiện nghiệp vụ từ khâu khai thác đến khâu bồi thường nó có ý nghĩa thiết thực đối với việc mở rộng và hoàn thiện nghiệp vụ Bởi vì khi kết quả kinh doanh khả quan, có lãi sẽ tạo điều kiện cho công ty triển khai một cách sâu rộng nghiệp vu này và duy trì sự ổn định trong quá trình kinh doanh nghiệp vụ. Kết quả của hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thể hiện ở hai chỉ tiêu chủ yếu là doanh thu và lợi nhuận. Trong đó lợi nhuận là thức đo hữu hiệu nhất kết quả kinh doanh nó cho phép được tốc độ tăng trưởng kinh doanh Lợi nhuận được xác định theo công thức: Lợi nhuận nghiệp vụ = Tổng thu nghiệp vụ - Tổng chi nghiệp vụ Trong đó doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là toàn bộ số tiền hay toàn bộ số phí mà công ty bảo hiểm thu được từ chủ xe cơ giới Chi nghiệp vụ bao gồm các khoản chi : Bồi thường: Đây là khoản chi chủ yếu của các công ty bảo hiểm chiếm tới 73% Chi quản lý Chi cho công tác đề phòng và hạn chế tổn thất (3 % doanh thu) Chi hoa hồng Chi thuế Chi khác Do vậy kết quả hoạt động kinh doanh của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới với người thứ 3 là : Kết quả kinh doanh = Tổng phí thu được – (Tổng chi bồi thường + chi quản lý + chi đề phòng và hạn chế tổn thất + chi hoa hồng + chi thuế + chi khác) Để đánh giá chi tiết hơn ta xem số liệu bảng sau Trong các năm từ 1996 đến 2001 kết quả kinh doanh nghiệp vụ luôn ổn định năm sau cao hơn năm trước. Năm 1996 tổng chi nghiệp vụ là 3,2827 tỷ chiếm 77,59% doanh thu phí thu được. Trong đó tỷ lệ chi bồi thường chiếm 71,3% so với doanh thu, lãi thu được từ hoạt động kinh doanh nghiệp vụ là 948,523 triệu đồng Năm 1997 tổng chi là 4,233 tỷ đồng. Trong đó chi bồi thường là 3,901 tỷ chiếm tới 92,17% so với tổng chi. Chi đề phòng và hạn chế tổn thất 117,1 triệu chiếm 2,53% so với tổng chi. Lợi nhuận nghiệp vụ là 1121,97 triệu đồng tăng 18,28% so với năm 1996. Năm 2000 thì tổng lợi nhuận đạt 2264,89 triệu đồng tăng 32,55% so với năm 1999. Bước sang năm 2001 tổng chi nghiệp vụ 11857,8 triệu đồng chiếm 75,99% doanh thu phí thu được. Trong đó tỷ lệ bồi thường chiếm 89,53% so với tổng chi, lãi từ hoạt động kinh doanh 3746,204 triệu đồng tăng 65,4% so với năm 2000 Đó là những kết quả đáng mừng mà công ty đạt được trong những năm qua. Để có được những kết quả như vậy là do sự cố gắng nhiệt tình của cán bộ công nhân viên toàn công ty. Kết quả này đã tạo ra một nền tảng vững chắc, sự hứng khởi cho cán bộ công nhân viên toàn công ty phấn đấu thực hiện tốt hơn nữa nghiệp vụ này trong thời gian tới. 4.2. Hiệu quả kinh doanh Chỉ tiêu kết quả kinh doanh chỉ là những chỉ tiêu bề nổi thì các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu bề sâu. Bởi vì kết quả kinh doanh chỉ nói nên được một phần trạng thái của các kết quả kinh doanh chứ chưa đề cập đến chi phí. Hiệu quả kinh doanh phản ánh mối quan hệ tương quan giữa chi phí bỏ ra và doanh thu đạt được Để đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty ta xét bảng sau: Bảng 11: chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh Chỉ tiêu 1996 1997 1998 1999 2000 2001 Doanh thu (DT) triệu đồng 4234 5355 6058 6795 9732 15604 Tổng chi (TC) triệu đồng 3285,47 4233,03 4807,7 5086,35 7467,1 11857,8 Lợi nhuận (LN) triệu đồng 948,523 1121,97 1250,28 1708,56 2264,89 3746,204 H = LN/ DT (Đ/Đ) 0,224 0,2095 0,206 0,2514 0,2327 0,24 H=DT/ TC (Đ/Đ) 1,288 1,265 1,26 1,335 1,3 1,315 H= LN/TC (Đ/Đ) 0,288 0,26 0,26 0,335 0,303 0,316 Từ bảng số liệu trên ta thấy hiệu quả kinh doanh của nghiệp vụ còn thấp. Chỉ tiêu LN/DT qua các năm có sự biến động nhưng vẫn duy trì ở mức 0,2 nghĩa là cứ khai thác được 1 đồng doanh thu sẽ cho được 0,2 đồng lợi nhuận. Các chỉ tiêu DT/TC thường dao động ở mức 1,28 đến 1,33 tức là cứ 1 đồng chi phí bỏ ra sẽ thu về 1,28 đến 1,33 đồng doanh thu. Đây là mức còn khiêm tốn chứng tỏ hiệu quả nghiệp vụ này là chưa cao. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là mối quan tâm lớn nhất của một chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Tăng thu giảm chi một cách hợp lý và có kế hoặch làm cho hiệu quả kinh doanh được nâng lên. Ngoài các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế chúng ta còn đề cập các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả về mặt xã hội. Mặc dù chỉ tiêu này không biểu hiện rõ ràng cụ thể bằng các con số thống kê, nhưng nghiệp vụ này đã đóng góp một phần không nhỏ trong việc đảm bảo an toàn xã hội, giúp người bị hại khắc phục khó khăn về vật chất cũng như tinh thần cho chủ xe và người thứ 3 sau những vụ tai nạn. Đây chính là hiệu quả lớn nhất mà nghiệp vụ đã đạt được trong quá trình triển khai. Công ty cần phải duy trì và nâng cao hơn nữa hiệu quả của nghiệp vụ trong những giai đoạn kế tiếp trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐỐI VỚI NGƯỜI THỨ 3 TẠI PJICO I. ĐÁNH GIÁ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CÔNG TY CỦA CÔNG TY Công ty bảo hiểm PJICO là một công ty được thành lập trong hoàn cảnh nền kinh tế nước ta có nhiều những chuyển biến mạnh mẽ, phức tạp trong giai đoạn thị trường bảo hiểm của Việt Nam bắt đầu hình thành và phát triển với nhiều thuận lợi và khó khăn đan xen nhau trong quá trình hoạt động đó là : 1. NHỮNG THUẬN LỢI. Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang dành được nhiều thành tựu đáng khích lệ sau 10 năm đổi mới, tỷ lệ tăng trưởng GDP đạt trên 9%. Thu nhập đầu người tăng nhanh. Số lượng xe cơ giới tham gia lưu thông ngày càng lớn. T heo ước tính cứ GDP tăng 1% thì số lượng xe cơ giới lưu hành tăng từ 1,2 % đến 1,5%. Như vậy là cho thị trường của nghiệp vụ bảo hiểm này thường xuyên tăng mạnh. Năm 1995 là năm đánh dấu thị trường bảo hiểm bắt đầu được mở rộng, chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước diễn ra mạnh. Đây là công ty cổ phần bảo hiểm được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần. Với sự tham gia góp vốn và sự ủng hộ của các cổ đông lớn đặc biệt là tổng công ty xăng dầu Việt Nam. Đối với công ty đây là thuận lợi, nền tảng và xuyên suốt trong quá trình hoạt động và phát triển. 2. KHÓ KHĂN CƠ BẢN CỦA PJICO. Đây là công ty bảo hiểm đầu tiên được thành lập dưới hình thức là công ty bảo hiểm cổ phần, công ty không được hưởng bất kì một sự ưu đãi nào của nhà nước (vốn, thuế) . Nhận thức, thái độ của các cơ quan chức năng, công chúng đối với công ty cổ phần còn có nhiều phân biệt đối xử. Trước đây hoạt động kinh doanh bảo hiểm chủ yếu là do Bảo Việt tiến hành, đây là một công ty lớn được sự ưu đãi đặc biệt của nhà nước. Đội ngũ cán bộ của Bảo Việt có trình độ và kinh nghiệm cao. Công ty còn có mối quan hệ rộng đối với bạn hàng trong nước và quốc tế. Họ đã có kinh nghiệm lâu năm trong nghề, có nhiều khách hàng quen thuộc điều này tạo điều kiện thuận lợi trong khâu khai thác. Khi PJICO tham gia vào thị trường sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tuyên truyền quảng cáo sản phẩm của mình, bởi vì khách hàng lại thường xuyên có thói quen mua sản phẩm bảo hiểm của công ty cũ mà họ đã từng tham gia. Bảo Việt còn tích cực phối hợp với cơ quan công an đăng ký xe bắt buộc các chủ phương tiện phải mua bảo hiểm khi đăng kí xe. Do đó đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty cùng triển khai nghiệp vụ này trong đó có PJICO. Do mới thành lập nên bộ máy tổ chức cán bộ của PJICO còn chưa đầy đủ và ổn định. Số lượng cán bộ công tác tại các phòng, ban còn thiếu kinh nghiệm và trình độ, đặc biệt là trong khâu khai thác và giám định. Ý thức kỉ luật của cán bộ công nhân viên con chưa cao. Thường xuyên đi làm không đúng giờ, làm việc cá nhân trong giờ. Đặc biệt là tình trạng sử dụng điện thoại không đúng mục đích. Do sản phẩm bảo hiểm lợi ích của sản phẩm chưa nhìn thấy được ngay ở lúc tham gia bảo hiểm, để đánh giá được phải trải qua thời gian dài do vậy gây nhiều khó khăn trong công tác khai thác. Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã bước sang giai đoạn cạnh tranh gay gắt. Với sự xuất hiện của nhiều công ty bảo hiểm mới(công ty cổ phần, công ty 100%vốn nước ngoài) dẫn đến thị trường bị chia sẻ Do nhận thức của nhân dân ta về bảo hiểm còn thấp. Họ chưa thực sự gửi chọn niềm tin cho các doanh nghiệp bảo hiểm. Mặt khác do thu nhập của người dân là thấp dẫn đến nhu cầu tham gia bảo hiểm chưa cao. Những người có thu nhập khá họ thường ý thức được các rủi ro, nguy cơ xảy rủi ro, họ thường tham gia bảo hiểm để nhằm bảo vệ mình trước những rủi ro này Các phòng ban còn thiếu các trang thiết bị xử lý thông tin, chưa có sự điều hành bằng quản lý mạng từ trụ sở đến các văn phòng khu vực. Do viếc áp dụng thuế VAT tăng gấp 2,5 lần so với doanh thu trước đây trong đó tỷ lệ phí giảm từ 20 % đến 40 % so với tỷ lệ phí bảo hiểm những năm trước năm 1995 đã gây nhiều khó khăn cho hoạt động khai thác và hiệu quả kinh doanh của công ty. Công ty chưa nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan ban nghành như công an giao thông, chưa có sự phối hợp thông nhất việc kiểm tra giấy chứng nhận bảo hiểm . Các trạm đang kiểm chưa nhiệt tình giúp đỡ các cán bộ khai thác của PJICO. Chưa có những biện pháp sử lý nghiêm minh cho chủ xe tham gia gây thiệt hại cho người thứ 3 mà không mua bảo hiểm. Chính vì chưa có chế tài sử phạt nghiêm minh do vậy các chủ xe thường coi thường pháp luật, coi thường việc tham gia bảo hiểm. II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI ĐÔÍ VỚI NGƯỜI THỨ 3 TẠI PJICO 1. MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI Trong thời gian gần đây số lượng xe tham gia hoạt động có xu hướng tăng nhanh. Theo dự báo của các chuyên gia thì trong thập kỷ tới số lượng phượng tiện cơ giới tiếp tục tăng cao. Nếu căn cứ vào mức tăng trưởng của GDP thì cứ mỗi năm GDP tăng 1% thì tổng lượng vận tải đường bộ tăng từ 1,2 % đến 1,5 %. Theo dự báo đến năm 2010 sẽ có 1,4 triệu ô tô và 12 triệu xe máy, so với năm 2000 chỉ có 750.000 ô tô và gần 6 triệu xe máy. Tức là năm 2010 thì số lượng xe cơ giới sẽ tăng gấp 2 lần so với hiện nay. Điều này tạo ra một xu hướng phát triển bền vững của nghiệp vụ này. Đến năm 2006 Việt Nam sẽ gia nhập AFTA, thực hiện các cam kết cắt giảm thuế và hoàn thành con đường cao tốc xuyên á nối liền các nước Đông Nam Á tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường bộ qua lại giữa các nước. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao về mọi mặt, sự hiểu biết của họ về các loại hình bảo hiểm nói chung và trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 là sâu rộng hơn, họ sẽ cảm thấy được bảo hiểm là cần thiết không thể thiếu được trong cuộc sống của mình. Do vậy nhu cầu về bảo hiểm trách nhiệm dân sự sẽ tăng nhanh hơn. Hơn nữa qua thời gian thì nghiệp vụ này sẽ được hoàn thiện hơn về mọi mặt, từ quy trình khai thác đến thụ lý hồ sơ giải quyết bồi thường và ngày càng vừa lòng khách hàng, khuyến khích được họ tự giác tự nguyện tham gia bảo hiểm. Mặc dù vậy trong điều kiện tình hình khai thác hiện nay của PJICO còn gặp nhiều trở ngại ảnh hưởng lớn tới hoạt đông kinh doanh của công ty. Căn cứ vào tình hình thực tế cùng những thuận lợi và khó khăn cũng như những tồn tại và nguyên nhân của nó. Để phát huy những thành quả mà công ty đã đạt được trong hnững năm vừa qua và nhằm phục vụ khác hàng một cánh tốt hơn nữa, trong thời gian tới công ty đã đề ra các mục tiêu sau đây đối với nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 Tiếp tục giữ vững thị phần, đồng thời đẩy mạnh khâu khai thác nhằm tìm hiểu khách hàng mở rộng thị phần. Cố gắng hoàn thành, hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra. Doanh thu năm sau cao hơn năm trước. Tích cực đóng góp ngày càng nhiều trong tổng doanh thu hàng năm của công ty. Tiếp tục cải thiện chất lượng nghiệp vụ. Tăng cường đào tạo nhân viên có chuyên môn giỏi vào các lĩnh vực giám định – bồi thường. Tiến hành bồi thường một cách nhanh chóng, kịp thời cho người bị hại, góp phần không nhỏ làm tăng uy tín của công ty trên thị trường bảo hiểm . Tiếp tục tuyển chọn và đào tạo lại cán bộ nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu bảo hiểm ngày càng tăng của người dân và kịp theo yêu cầu trong tình hình mới. Tiếp tục mở rộng các văn phòng, chi nhánh của công ty trên phạm vi cả nước, góp phần khuyếch trương công ty và mở rộng thị trường . 2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường sự dậm chân tại chỗ của bất kì một tổ chức kinh doanh nào cũng đồng nghĩa đối với sự tụt hậu và thất bại. Chính vì vậy để tồn tại và phát triển thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới và hoàn thiện mình, tìm ra các biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy những mặt mạnh của mình, tìm ra các biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế và phát huy những mặt mạnh của mình để thích nghi với kinh doanh theo cơ chế thị trường . Việc thực hiện được các mục tiêu đã đề ra đối với nghiệp vụ này không chỉ có ý nghĩa nâng cao doanh thu hàng năm mà nó còn mang lại mục đích xã hội là rất lớn, góp phần tạo ra sự an toàn, ổn định cho xã hội, tạo sự ổn định về tài chính cho người bị hại. Trong thời gian học tập và tích luỹ kiến thức trên ghế nhà trường và thực tập tại văn phòng bảo hiểm khu vực VII. Với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và tập thể cán bộ của phòng đã giúp em nắm bắt được phần nào thực tế, thấy được những khó khăn cũng như những triển vọng khi triển khai nghiệp vụ. Để góp phần vào việc hoàn thiện và nâng cao hiêu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của xe cơ giới đối với người thứ ba tai công ty trong thời gian tới. Em xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến đề xuất như sau. 2.1. Công tác khai thác. Công tác khai thác là điều kiện cần quyết định đế sự thành công hay thất bại khi triển khai một nghiệp vụ bảo hiểm. Để duy trì và phát huy những kết quả đã đạt đựoc trong những năm qua thì công tác khai thác cần có sự điều chỉnh : Để tăng cường số lượng đầu xe tham gia bảo hiểm tại công ty. Trước tiên công ty cần tích cực tuyên truyền quảng cáo, giáo dục một cách sâu rộng cho mọi tầng lớp dân cư và các chủ phương tiện để họ thấy được việc tham gia nghiệp vụ bảo hiểm này không chỉ là nghĩa vụ mà họ còn thấy được những lợi ích, quyền lợi của mình. Do đặc trưng của nghành bảo hiểm là sản phẩm trừu tượng, nên việc tìm ra cách thức tuyên truyền quảng cáo tiếp cận đối với khách hàng là rất khó khăn. Việc tuyên truyền quảng cáo các nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự phải được quảng cáo trực tiếp hoặc là thông qua các cuộc tìm hiểu an toàn giao thông. Các cán bộ công nhân trong công ty cần tích cực hơn nữa, luôn tích luỹ kinh nghiệm và trình độ nghiệp vụ. Cần áp dụng các biện pháp khác nhau để tìm khách hàng mới tích cực củng cố mạng lưới đại lý và các cộng tác viên bảo hiểm có chế độ khen thưởng và kỷ luật hợp lý, mở các khoá nâng cao trình độ nghiệm vụ cho các cán bộ công nhân viên để đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Bởi vì người bán bảo hiểm giỏi không chỉ là người bán được nhiều hợp đồng, thu được nhiều phí mà còn phải hướng dẫn, giải thích cho mọi người quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia. Để duy trì và giữ được mối quan hệ thân thiện tin tưởng với khách hàng thì công ty nên phân công cán bộ quản lý theo địa bàn, khu vực. Việc trả lương theo doanh thu phải cân bằng, hợp lý tạo động cơ thúc đẩy họ ý thức được trách nhiệm của mình trong công việc và khuyến khích họ làm việc hiệu quả hơn. Để thu hút được nhiều khách hàng tại công ty và tăng lợi thế cạnh tranh thì công ty phải luôn điều chỉnh linh hoạt mức phí với từng điều kiện cụ thể. Nên phân loại khách hàng để có thể áp dụng chính sách ưu đãi hơn cho từng loại đối tượng. Đối với những công ty, doanh nghiệp có số lượng xe tham gia bảo hiểm lớn, những khách hàng truyền thống thì có thể thu phí làm nhiều đợt. Công ty cũng cần đưa ra các hạn mức trách nhiệm cao nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của người tham gia bảo hiểm. Việc sử dụng xe máy ở nước ta là một tập quán, số lượng xe máy tham gia bảo hiểm ngày càng nhiều. Do vậy đề nghị bộ tài chính nên đưa ra một quy tắc riêng cho xe máy bởi vì một số quy định về xe cơ giới không còn phù hợp với xe máy như quy định về mục đích sử dụng xe, giấy chứng nhận kiểm đinh an toàn, kỹ thuật, giấy phép kinh doanh vận chuyển hành khách. Do vậy cần thiết có một quy tắc bảo hiểm riêng để các chủ phương tiện quan tâm và ý thức được trách nhiệm khi tham gia bảo hiểm. Trong thời gian tới công ty cần có sự tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng như cảnh sát giao thông, sở giao thông công chính tiến hành kiểm soát việc tham gia bảo hiểm của các chủ xe. Các cơ quan cũng sớm nên có các hình thức sử phạt đối với các chủ phương tiện chưa mua bảo hiểm, có thể coi giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 là giấy tờ bắt buộc khi đưa xe vào hoạt động. Ngoài ra cần phải phối hợp với các cơ quan thống kê để xác định đầy đủ số lượng xe cơ giới lưu hành. Điều này giúp PJICO dự đoán được thị trường và mở rộng thị trường. 2.2. Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất Công tác đề phòng và hạn chế tổn thất có một vị trí quan trọng nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ mà nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội. Bởi vì tai nạn giao thông là những mối quan tâm nhức nhối của toàn xã hội. Để hạn chế những thiệt hại xảy ra thì cá nhân cũng như toàn xã hội cần thực hiện tốt công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Để thực hiện tốt hơn công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, em xin đề suất một số ý kiến sau : Đề xuất với công ty cùng với ngành giao thông vận tải, giao thông công chính quan tâm đến đường xá cầu cống, thường xuyên tiến hành tu bổ những đoạn đường xuống cấp, khi tiến hành xây dựng cần phải tiến hành đồng bộ với các cơ quan như điện lực, nước nhằm tránh tình trạng đào đường bừa bãi gây ách tắc giao thông. Tích cực xây dựng thêm các loại biển báo và lắp dặt các lại đèn báo ở những nút giao thông quan trọng. Những đoạn đường vòng thì cần phải xây dựng đường lánh nạn, các rào chắn, bố trí các gương cầu lồi ở các chỗ nguy hiểm. Hàng năm thì PJICO cần tiến hành đánh giá công tác an toàn, tìm ra được những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tai nạn, nhằm đề xuất những biện pháp ngăn ngừa những rủi ro này Công ty cần phải có sự phối hợp chặt chẽ đối với các cơ quan đăng kiểm đăng ký xe nhằm xác định nguồc gốc của xe và xem xét xe lưu hành có đủ các điều kiện an toàn kỹ thuật hay không. Công ty cũng yêu cầu các điểm đào tạo lái xe, các điểm thi cấp bằng lái xe thực hiện nghiêm túc việc thi tuyển, đào tạo phải có chất lượng. Các cơ quan chức năng cần quán triệt nghiêm túc nghị định 36 CP của thủ tướng chính phủ về an toàn giao thông, tích cực xử phạt nghiêm đối với viêc lấn chiến lề đường để buôn bán, họp chợ. Xử phạt nghiêm các lái xe phóng nhanh vượt ẩu, uống các loại đồ uống có cồn khi vận hành tầu xe. Công ty phải thường xuyên kết hợp với các cơ quan thông tin đại chúng và tổ chức các lớp nhằm tuyên truyền đối với các chủ xe và những người tham gia giao thông về luật lệ an toàn giao thông. Công ty cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, cách ngành để tổ chức khen thưởng, hỗ trợ những đơn vị thực hiện tốt công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Những đơn vị này khi tham gia bảo hiểm tại công ty mà số lượng tai nạn ít thì sẽ được giảm phí khi tiếp tục tái thiết hợp đồng. Công ty cần tăng thêm các chi phí cho công tác đề phòng và hạn chế tổn thất. Công ty cần có sự phối hợp với các nghành liên quan để tìm ra những nguyên nhân xảy ra các rủi ro để từ đó nhằm đưa ra được các biện pháp hạn chế, ngăn ngừa, giảm thiểu thiệt hại góp phần giúp công ty ổn định trong kinh doanh tránh những tổn thất lớn có thể xảy ra. 2.3. Công tác giám định bồi thường Công tác giám định bồi thường là hai mắt xích lối liền nhau. Công tác giám định tốt, chính xác thì việc giải quyết bồi thường cho người bị nạn mới nhanh gọn, kịp thời đồng thời nâng cao uy tín và hiệu quả kinh doanh. Việc nâng cao chất lượng của khâu giám định bồi thường chính là nâng cao chất lượng của sản phẩm bảo hiểm, tạo được lợi thế cạnh tranh Để làm được điều đó thì công ty cần tiến hành làm tốt những vấn đề sau : Công ty PJICO cần tiến hành tuyển trọn và tiến hành sàng lọc những người có năng lực chuyên môn, hiểu biết về kỹ thuật, giá cả thị trường. Ngoài ra nhân viên giám định phải có phẩm chất đạo đức tốt, được đào tạo có khả năng giải quyết được những vụ tai nạn lớn, phát hiện và hạn chế các trường hợp trục lợi bảo hiểm Công ty phải nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua việc giải quyết bồi thường đúng đủ kịp thời nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị hại, đồng thời giúp chủ xe ổn định sản suất kinh doanh, góp phần nâng cao uy tín và củng cố niềm tin của khách hàng đối với công ty. Đó là một hình thức tuyên truyền hữu hiệu nhất về hình ảnh của công ty Trước mỗi vụ tai nạn cán bộ giám định bồi thường phải chuẩn bị trước cơ sở pháp lý để gải quyết những vụ tai nạn lớn. Đòi hỏi cán bộ giám định phải có được những hiểu biết về pháp luật. Thủ tục cần phải đơn giản rút ngắn được thời gian trả tiền bảo hiểm Các cán bộ nhân viên công ty phải có sự hướng dẫn khách hành làm các giấy tờ cần thiết khi lập hồ sơ yêu cầu bồi thường để tránh cho khách hàng đi lại nhiều lần, tạo tâm lý thoải mái cho họ khi nhận tiền bồi thường bằng sự ân cần nhanh gọn và thoả đáng để bù đắp kịp thời tổn thất. Trong quá trình giám định phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan an ninh. Công tác giám định cần được tiến hành một cách nhanh chóng ngay sau khi tai nạn xảy ra nhằm đảm bảo chính xác, tránh tình trạng lập hiện trường giả để trục lợi bảo hiểm. Một số những vụ tai nạn xảy ra không thuộc phạm vi bảo hiểm công ty cũng nên hỗ trợ họ một phần kinh phí nhằm khắc phục hậu quả của tai nạn, nâng cao tính nhân đạo của công ty đối với người tham gia bảo hiểm. Công ty nên xây dựng và phân cấp bồi thường cho các văn phòng đại diện và các đơn vị trực thuộc nhằm tạo mối quan hệ chặt chẽ về pháp lý, chế độ tài chính theo từng điều khoản bảo hiểm. Nên có những quy định cho các văn phòng tự giải quyết bồi thường những vụ tai nạn nhỏ, thường xuyên kiểm tra, thanh tra tình hình xét duyệt bồi thường của các đơn vị trực thuộc. 2.4. Hoàn thiện hệ thống pháp lý. Ngày nay nghiệp vụ bảo hiểm không ngừng phát triển cũng như tính phức tạp của nó. Đòi hỏi phải có những quy phạm pháp luật mới điều chỉnh nhằm phát huy vai trò quản lý của Nhà nước ở tầng vĩ mô đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tạo điều kiện cho các quan hệ bảo hiểm phát triển, tạo thị trường cạnh tranh lành mạnh và là cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng. Luật kinh doanh bảo hiểm đã được thông qua ngày 09-12-2000 và có hiệu lực ngày 01-04-2001. Để luật được đi vào cuộc sống thì các cơ quan bảo hiểm, cơ quan tư vấn, cơ quan thi hành pháp luật cần ban hành các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn việc thi hành luật được đúng và sát với đời sống thực tế của người dân. 2.5. Tăng cường công tác quản lý. Công ty cần xây dựng một mạng lưới thông tin xuyên suốt, hiện đại từ công ty đến các văn phòng, các đại diện khu vực. Tích cực xây dựng và sử dụng các loại phần mềm trong thống kê, trong quản lý nghiệp vụ, quản lý việc giải quyết bồi thường giúp cho việc đánh giá hiệu quả kinh doanh được dễ dàng và chính xác. Tăng cường năng lực quản lý cho cán bộ công nhân viên, đào tạo và đào tạo lại cán bộ nhằm thích nghi với tình hình mới. Tích cực sắp xếp và bố trí cán bộ theo đúng năng lực chuyên môn, kiện toàn bộ máy tổ chức theo xu hướng tinh giảm biên chế, thực hiện tốt những công việc được giao góp phần xây dựng PJICO trở thành công ty bảo hiểm cổ phần hàng đầu Việt Nam. `KẾT LUẬN Bảo hiểm là lá chắn cuối cùng về kinh tế trước những hiểm họa xảy ra trong cuộc sống. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là nghiệp vụ có ý nghĩa thiết thực trong việc ổn định tài chính cho người tham gia, đồng thời làm giảm gánh nặng cho cộng đồng, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Để mở rộng và phát huy hơn nữa hiệu quả nghiệp vụ trong điều kiện cạnh tranh hiện nay PJICO cần chủ động sáng tạo, phát huy những thế mạnh của mình, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Với những kết quả đạt được chúng ta tin tưởng rằng trong những năm tiếp theo PJICO sẽ phát huy được nội lực và tiềm năng sẵn có góp phần vào việc hoàn thiện, mở rộng thị trường bảo hiểm Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Kinh Tế Bảo hiểm - Đại học Kinh Tế Quốc dân Giáo trình Quản trị Kinh doanh Bảo hiểm - Đại học Kinh Tế Quốc Dân. Bộ luật dân sự Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy tắc bảo hiểm xe cơ giới của PJICO. Một số tài liệu của uỷ ban an toàn giao thông Quốc gia. Luật kinh doanh bảo hiểm. Tạp chí bảo hiểm. Một số tài liệu về tình hình kinh doanh của PJICO. Một số tài liệu khác

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty cổ phan petrolimex.DOC
Luận văn liên quan