Người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Trong điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, vai trò, vị trí của người bào chữa ngày càng được đề cao, trở thành một trong những chủ thể quan trọng trong việc xây dựng và đảm bảo nền pháp chế nước ta. Cùng với đó là sự đòi hỏi ở người bào chữa, mà cụ thể ở đây muốn nói tới nhiều hơn đó là người luật sư phải luôn hoàn thiện mình, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, trau dồi đạo đức .Đặc biệt, người bào chữa trở thành một trong những chế định quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự nước ta hiện nay. Trong đó, vấn đề quyền và nghĩa vụ của người bào chữa luôn được quan tâm, bàn luận để đưa ra những cái nhìn khách quan vào hệ thống các quy định của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng chế định đó trong đời sống tư pháp. Việc hoàn thiện pháp luật để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa luôn là vấn đề được đặt ra trong tố tụng hình sự. Nghiên cứu về vấn đề quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận cũng như thực tiến. I. Khái quát về người bào chữa. 1 II. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa theo quy định của pháp luật tố tụng 1 1. Về quyền của người bào chữa. 1 2. Về nghĩa vụ của người bào chữa. 5 III. Thực tiễn về sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. 6 1. Thực tiễn về vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố 6 a. Về phía người bào chữa. 6 Người bào chữa là Luật sư: 6Người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. 8b. Từ phía cơ quan tiến hành tố tụng. 9 2. Một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và kiến nghị hướng hoàn thiện. 11 IV. Kết luận. 15

doc15 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/03/2013 | Lượt xem: 3483 | Lượt tải: 23download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ụng của họ sau này tại phiên tòa. Người bào chữa còn có quyền hỏi người bị tạm giữ, bị can khi điều tra viên đồng ý để làm sáng tỏ những tình tiết có lợi cho người bị tạm giữ, bị can. Khi tham gia các hoạt động điều tra, xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa. Quyền được xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng có liên quan đến người mà mình bào chữa là một quyền được bổ sung của người bào chữa so với quy định của BLTTHS năm 1988. BLTTHS năm 2003 bổ sung quyền này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đồng thời đảm bảo tính khách quan, chính xác của các hoạt động điều tra của cơ quan điều tra. Nếu phát hiện những vi phạm pháp luật, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền. - Người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can. Đây là một quy định bổ sung của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988. Mặc dù tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm 1988 đã quy định người bào chữa có quyền “có mặt khi hỏi cung bị can” nhưng không có quy định để đảm bảo cho người bào chữa thực hiện quyền này nên trong thực tế người bào chữa gặp không ít trở ngại từ phía cơ quan điều tra như do không được báo trước nên người bào chữa không biết thời gian, địa điểm hỏi cung để thu xếp công việc tham dự cuộc hỏi cung. Khi người bào chữa có thời gian để tham dự cuộc hỏi cung thì lại không đúng lịch hỏi cung, điều tra viên viện đủ lý do để hoãn cuộc hỏi cung đến khi người bào chữa không có mặt ở đó mới tiến hành hỏi cung. Người bào chữa không thể lúc nào cũng trực ở cơ quan điều tra để tham dự cuộc hỏi cung được. Khắc phục tình trạng đó, điểm b Khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định cho người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung để người bào chữa thu xếp công việc có mặt khi điều tra viên hỏi cung bị can. Theo tinh thần đó, nếu điều tra viên hoãn cuộc hỏi cung hoặc thay đổi địa điểm hỏi cung thì cũng phải báo cho người bào chữa biết. - Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của BLTTHS năm 2003. Theo đó, nếu có căn cứ theo luật định và xét thấy việc tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa thì người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi những người này. - Người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác. Đây cũng là một quyền được BLTTHS năm 2003 bổ sung so với BLTTHS năm 1988. Người bào chữa có quyền độc lập thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án để chuẩn bị luận cứ cho bài bào chữa của mình. Đây không phải là hoạt động tố tụng mà đơn thuần là biện pháp để người bào chữa thực hiện nhiệm vụ của mình. Người bào chữa có thể thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến bào chữa thông qua việc tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc thu thập từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thộc bí mật nhà nước, bí mật công tác. - Người bào chữa có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm 1988 thì quyền này được gọi là quyền được “đưa ra chứng cứ và những yêu cầu” của người bào chữa; BLTTHS năm 2003 đã sửa đổi thành quyền được “đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu” (điểm đ Khoản 2 Điều 58). Quy định này của BLTTHS 2003 là chính xác hơn so với BLTTHS năm 1988 bởi lẽ người bào chữa không có quyền thu thập chứng cứ mà quyền này thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người bào chữa chỉ được thu thập các tài liệu, đồ vật và đưa ra cho các cơ quan tiến hành tố tụng để chứng minh sự vô tội của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của những người này. Việc những tài liệu, đồ vật đó có thể trở thành chứng cứ trong vụ án hay không là do những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định trên cơ sở xem xét các thuộc tính của chứng cứ. Ở thời điểm người bào chữa đưa ra những đồ vật, tài liệu, mặc dù chúng có thể có liên quan đến vụ án nhưng những đồ vật, tài liệu đó chưa thể được gọi là chứng cứ. Bởi vậy, chỉ có thể quy định người bào chữa có quyền “đưa ra đồ vật, tài liệu” chứ không thể quy định người bào chữa có quyền “đưa ra chứng cứ”. Quyền của người bào chữa ở đây là quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Người bào chữa cũng có quyền đưa ra yêu cầu như triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định nếu xét thấy điều đó là cần thiết và có lợi cho người được bào chữa. Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bào chữa. - Người bào chữa có quyền gặp người bị tạm giữ, gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam. Việc gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc với người bị tạ giữ, bị can, bị cáo giúp người bào chữa có thể nắm được đầy đủ các tình tiết của vụ án, các đặc điểm nhân thân và diễn biến tâm lý, tâm tư, nguyện vọng của người được bào chữa. Trên cơ sở đó, người bào chữa mới thu thập được những tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ tội để bào chữa cho những người này. Qua gặp gỡ, trao đổi, người bào chữa giải thích những vấn đề về pháp luật và cũng có thể tác động đến người bị tạm giữ, bị can, bị cáo làm cho họ có thái độ khai báo tốt hơn để có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. BLTTHS năm 2003 đã bổ sung quyền được gặp người đang bị tạm giữ so với BLTTHS năm 1988. Việc bổ sung này nhằm đảm bảo cho việc thực hiện quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa đã được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003. Do pháp luật quy định trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ nên việc quy định quyền được gặp người đang bị tạm giữ của người bào chữa là hoàn toàn hợp lý và chính xác. Khi gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam thì người bào chữa phải tuân thủ các quy chế về tạm giữ, tạm giam quy định tại Nghị định 89/1998/NĐ-CP ban hành quy chế về tạm giữ, tạm giam (đã được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 98/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002). - Người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật. Qua việc đọc và ghi chép hồ sơ vụ án, người bào chữa nắm được nội dung của vụ án, nắm được những chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội đối với người được bào chữa, trên cơ sở đó người bào chữa chuẩn bị cho việc bào chữa, tham gia tranh tụng tại phiên tòa. Qua việc đọc hồ sơ, tài liệu của vụ án, người bào chữa cũng có điều kiện để phát hiện những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra trên cơ sở đó đưa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết đối với cơ quan có thẩm quyền. So với BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung quyền được sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật. Việc BLTTHS năm 1988 không trao cho người bào chữa quyền này đã dẫn đến những hạn chế nhất định. Bởi vì, đối với những vụ án đơn giản, ít hồ sơ, tài liệu cần đọc, ít tình tiết cần ghi chép thì người bào chữa có thể đọc hồ sơ, ghi chép tại chỗ những gì mình cho là cần thiết. Thực tế có những vụ án hồ sơ vụ án bao gồm quá nhiều bút lục, quá nhiều vấn đề nghiên cứu, trong những khoảng thời gian có hạn, người bào chữa không thể đọc được hết và càng không thể ghi chép hết những gì cần thiết. Điểm g Khoản 2 Điều 58 BLTTHS bổ sung cho người bào chữa có quyền được “sao chụp những tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa...” là hợp lý, tạo điều kiện cho người bào chữa thu thập tài liệu, tình tiết chuận bị cho việc bào chữa của mình. Pháp luật chỉ cho phép người bào chữa đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu nào có liên quan đến việc bào chữa của họ chứ không được đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu khác trong vụ án không liên quan đến việc bào chữa. BLTTHS năm 1988 cho phép người bào chữa có thể đọc, ghi chép những gì mình cho là cần thiết, quy định như vậy chưa thực sự rõ ràng, rất có thể dẫn đến tình trạng người bào chữa vì mục đích cá nhân lợi dụng quy định này để đọc, ghi chép cả những vấn đề không liên quan đến việc bào chữa. - Người bào chữa có quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Tại phiên tòa xét xử vai trò của người bào chữa được thể hiện rõ nét nhất. Người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người khác về vấn đề của vụ án để có được những câu trả lời theo hướng có lợi cho bị cáo. Khi tranh luận, người bào chữa phải phân tích, lập luận, đưa ra những lý lẽ để bảo vệ bị cáo và bác bỏ những lời buộc tội bị cáo. - Người bào chữa có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Như vậy, BLTTHS 2003 đã mở rộng đối tượng có thể bị người bào chữa khiếu nại so với BLTTHS 1988 (người bào chữa chỉ có quyền khiếu nại quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng). Bên cạnh các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng thì cả những hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng có thể bị người bào chữa khiếu nại. Ví dụ: Khi hỏi cung bị can điều tra viên đã cố ý cản trở việc người bào chữa tham dự cuộc hỏi cung mà không có lý do chính đáng, người bào chữa có quyền khiếu nại với hành vi đó của điều tra viên. - Người bào chữa có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 57 của BLTTHS 2003. Đây là quyền độc lập của người bào chữa, người bào chữa kháng cáo không phụ thuộc ý chí của bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo. Kháng cáo của người bào chữa phải theo hướng có lợi cho bị cáo. 2. Về nghĩa vụ của người bào chữa Theo quy định tại Khoản 3 Điều 58 BLTTHS 2003, người bào chữa có các nghĩa vụ sau đây: - Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của BLTTHS 2003. Các biện pháp mà pháp luật quy định cho người bào chữa để thực hiện nhiệm vụ của mình là tham gia các cuộc hỏi cung, tham gia vào hoạt động điều tra khác, gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này để thu thập các tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa hoặc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác. Người bào chữa không được sử dụng các biện pháp bào chữa trái pháp luật như mua chuộc, dụ dỗ người làm chứng, người bị hại, người tiến hành tố tụng... Việc giao tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án là trách nhiệm của người bào chữa. Pháp luật ghi nhận người bào chữa có quyền thu thập các đồ vật, tài liệu liên quan đến việc bào chữa nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa hoàn thành nhiệm vụ của mình là bào chữa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chứ không phải thu thập các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án nhằm mục đích riêng nào khác của người bào chữa, bởi vậy, khi thu thập được các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án người bào chữa có trách nhiệm giao cho cơ quan tiến hành tố tụng. Tùy từng giai đoạn tố tụng, những tài liệu, đồ vật đó sẽ được giao cho cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 BLTTHS năm 2003. - Giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự không chỉ nhằm bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà với tư cách là người hiểu biết pháp luật họ còn phải giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp của họ như tư vấn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để họ thực hiện tốt nhất các quyền của mình trong tố tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Ví dụ, khi điều tra viên có những hành vi xâm hại một cách trái pháp luật tới quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, người bào chữa có thể giúp bị can khiếu nại với hành vi trái pháp luật đó của điều tra viên. - Không được từ chối bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận bào chữa, nếu không có lý do chính đáng. - Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. Khi tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa có nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật. Họ chỉ được sử dụng các biện pháp hợp pháp để thực hiện việc bào chữa, không được bóp méo sự thật của vụ án, biến không thành có, biến có thành không; họ phải tôn trọng và triệt để tuân thủ các quy định của pháp luật và không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp các tài liệu sai sự thật cho các cơ quan tiến hành tố tụng. - Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Thông thường, người bào chữa tham gia phiên tòa sơ thẩm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Nếu vụ án được xét xử ở cấp phúc thẩm mà có liên quan đến bị cáo hộ nhận bào chữa, tòa án xét xử phúc thẩm sẽ triệu tập người bào chữa tham gia phiên tòa. Đối với thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm, chỉ những trường hợp cần thiết thì tòa án mới triệu tập người bào chữa. Khi được triệu tập ở bất cứ cấp xét xử nào người bào chữa có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập. Việc có mặt tại tòa án theo giấy triệu tập của tòa án vừa là nghĩa vụ, vừa là quyền của người bào chữa. Họ phải có mặt theo giấy triệu tập của tòa án để thực hiện nhiệm vụ bào chữa của mình và đồng thời họ cũng được có mặt tại phiên tòa để thực hiện quyền tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa theo quy định tại điểm h Khoản 2 Điều 58 BLTTHS 2003. - Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa, không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. BLTTHS ghi nhận người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can, có mặt trong các hoạt động điều tra khác để thu thập các thông tin cần thiết cho việc bào chữa của mình. Trong quá trình tham dự các hoạt động điều tra, người bào chữa có thể biết được những bí mật điều tra, theo quy định tại Khoản 3 Điều BLTTHS năm 2003, người bào chữa không được tiết lộ những bí mật điều tra mà mình biết. Sau khi kết thúc điều tra, người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa, họ chỉ được phép sử dụng những tài liệu, tình tiết đó cho mục đích bào chữa cho bị can, bị cáo mà không được sử dụng vào mục đích xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. - Ngoài việc quy định nghĩa vụ cuả người bào chữa, tại khoản 4 Điều 58 BLTTHS năm 2003 còn quy định quyền, trách nhiệm của người bào chữa khi “làm trái pháp luật”, cụ thể là: “Người bào chữa làm trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. III. Thực tiễn về sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa 1. Thực tiễn về vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự a. Về phía người bào chữa: Người bào chữa là Luật sư: BLTTHS được hoàn thiện là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động bào chữa, hoạt động bảo vệ quyền lợi của Luật sư được nâng lên. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những năm qua cho thấy rằng hoạt động của Luật sư đã góp phần rất quan trọng vào việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ quyền lợi của đương sự; góp phần giải quyết đúng đắn, khách quan các vụ án hình sự. Đặc biệt, việc tham gia tố tụng của Luật sư đã thể hiện được tinh thần tranh tụng trong đổi mới, cải cách tư pháp hiện nay ở nước ta. Các Luật sư đã tích cực nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ, tham gia xét hỏi để xác định sự thật khách quan của vụ án; phát hiện các vi phạm tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng để kiến nghị khắc phục; tích cực tranh luận tại phiên toà… Hoạt động của Luật sư đã làm cho người tiến hành tố tụng có trách nhiệm hơn trong thực thi quyền hạn của mình v.v..Có thể nói rằng, hoạt động bào chữa của các Luật sư những năm qua đã góp phần nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng; hạn chế được oan sai trong tố tụng hình sự; hạn chế vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân từ phía cơ quan, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng không ít luật sư đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình, đồng thời bỏ qua các quyền của người bào chữa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Vẫn còn một tỷ lệ rất lớn (80%-85%) các vụ án hình sự được xét xử mà không có sự tham gia của người bào chữa. Trong số các vụ án có người bào chữa tham gia tố tụng thì khoảng 50% số vụ án người bào chữa được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu tham gia theo quy định của pháp luật. Số vụ án có người bào chữa tham gia chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Hải phòng…nơi tập trung đội ngũ Luật sư cả nước (() Vai trò của luật sư trong giải quyết vụ án hình sự., PGS.TS Trần Văn Độ, thẩm phán Tòa án Quân sự trung ương, nguồn: Tạp chí nghề luật – Học viện tư pháp - 2008. ). Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như thiếu đội ngũ luật sư hành nghề tranh tụng, điều kiện khó khăn của nhiều người không cho phép họ thuê Luật sư bào chữa, bảo vệ cho mình... Hoạt động bào chữa hoặc bảo vệ của Luật sư tập trung vào hai nội dung: làm sáng tỏ các tình tiết, góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án và nhận thức áp dụng đúng các quy định của pháp luật vào trường hợp cụ thể. Để làm được điều đó, Luật sư không chỉ nghiên cứu hồ sơ vụ án, mà phải thực hiện việc thu thập chứng cứ, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng là sáng tỏ những nội dung cần thiết, tích cực tham gia vào các hoạt động tố tụng… để một mặt có đủ chứng cứ cho việc bào chữa; mặt khác hạn chế các vi phạm tố tụng từ phía cơ quan, người tiến hành tố tụng. Trong thực tế, Luật sư rất ít khi tham gia vào quá trình chứng minh, không thực hiện nghĩa vụ chứng minh theo quy định của BLTTHS; chỉ thoả mãn với việc nghiên cứu hồ sơ vụ án. Nhiều trường hợp, do nghiên cứu hồ sơ không kỹ, không tham gia vào quá trình tố tụng và nắm nội dung vụ án không chắc, tại phiên toà thay cho việc chứng minh, lập luận để thuyết phục người khác, nhiều luật sư chỉ đưa ra các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Toà án khoan hồng cho bị cáo; thậm chí có trường hợp có lời lẽ và hành động xúc phạm người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác. Cũng không ít luật sư đã thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hình thức, qua loa, đặc biệt chất lượng bào chữa trong các vụ án Luật sư được chỉ định bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng là rất thấp. Có lúc luật sư tham gia bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng (luật sư chỉ định) bào chữa theo kiểu nghĩa vụ, thậm chí có trường hợp “cãi” nhầm từ vụ này sang vụ khác (() Những hạn chế trong viêc thực hiện quyền bào chữa của ngưởi bị tạm giữ, bị can và bị cáo, TS. Hoàng Thị Minh Sơn, tạp chí luật học số 10/2008, trường Đại học Luật Hà nội. ). Có trường hợp luật sư lại bào chữa cho bị can, bị cáo bằng những biện pháp trái với quy định của pháp luật. Điều tra viên đôi khi cũng gặp khó khăn trong việc bị can và người bào chữa trao đổi nhau rồi phản cung. Có trường hợp bị can nhận tội, sau khi tiếp xúc với luật sư lại phản cung và kêu là bị tức cung... Trên đây là một số nét hạn chế dễ thấy của thực trạng người bào chữa là luật sư trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, những hạn chế này xuất phát từ các nguyên nhân chính như: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Luật sư còn hạn chế, trách nhiệm của một số luật sư chưa cao; nhận thức của những người tiến hành tố tụng về vai trò của Luật sư trong tố tụng chưa đúng với tinh thần cải cách tư pháp ở nước ta v.v.. Người bào chữa là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân: Người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo cũng được pháp luật xác định là người bào chữa trong tố tụng từ khi BLTTHS năm 1988 ra đời. Tuy nhiên, từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời rồi đến BLTTHS năm 2003 thì cho đến nay đã hơn 20 năm nhưng về phương diện pháp lý chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích rõ người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo là ai. Năm 1988 có một văn bản đó là Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 18/12/1988 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao được ban hành, đề cập đến quyền kháng cáo đã hướng dẫn: “Đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên là bố mẹ hoặc người đỡ đầu của họ”. Quy định này đã gián tiếp làm rõ người đại diện hợp pháp nhưng chỉ là người đại diện hợp pháp của bị cáo là người chưa thành niên chứ không phải là người đại diện hợp pháp cho bị can, bị cáo nói chung như quy định trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành. Trong kết luận của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 1991 đã khẳng định: “Người thân thích của bị cáo không phải là người bào chữa, nhưng thực tiễn cho thấy có những vấn đề, có những tình tiết thuộc về vụ án, thuộc về nhân thân của bị cáo thì chỉ có những người thân thích mới thấu hiểu và nắm bắt được một cách tường tận và do đó họ có thể giúp cho Hội đồng xét xử cân nhắc việc xử lý được chính xác hơn, bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, người thân thích của bị cáo có quyền làm người bào chữa cho bị cáo” (() “Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng”, Tòa án nhân dân tối cao, Hà nội – 1992, thư viện trường Đại học luật Hà Nội. ). Rõ ràng, nội dung hướng dẫn trên chứa đựng sự mâu thuẫn có tính chất nội tại khi khẳng định người thân thích của bị cáo không phải là người bào chữa nhưng sau đó lại cho phép người thân thích của bị cáo có quyền tham gia tố tụng hình sự để bào chữa cho bị cáo. Hơn nữa, hướng dẫn này cũng đã không làm rõ người thân thích của bị cáo là ai. Đến lúc Nghị quyết 05/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời có đề cập rất nhiều đến người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng vẫn không có quy định nào hướng dẫn thế nào là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Thực tiễn tố tụng hình sự những năm qua cũng cho thấy là rất ít có trường hợp người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa. Người bào chữa trong tố tụng hình sự còn có thể là Bào chữa viên nhân dân. Chức danh Bào chữa viên nhân dân ở nước ta ra đời trên cơ sở Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949. Sau đó, Nghị định số 01 – NĐ – VY ngày 12/1/1950 của Bộ Tư pháp đã quy định rõ tiêu chuẩn Bào chữa viên nhân dân. Trong suốt thời gian dài ( từ 1949 – 1987) Bào chữa viên nhân dân đã đóng một vai trò rất lớn trong tố tụng hình sự. Đến năm 1987 cả nước có 30 Đoàn Bào chữa với tổng số gần 400 Bào chữa viên nhân dân (() “Luật sư và tư vấn pháp luật trong cơ chế thị trường”, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Hà Nội - 1995, ( ). Tuy nhiên từ năm 1989 đến nay khi các Đoàn luật sư được khôi phục lại ở các địa phương thì các Đoàn Bào chữa đã chấm dứt hoạt động và giải thể, do đó chức danh Bào chữa viên nhân dân gần như chỉ tồn tại trên phương diện pháp lý. Và trên thực tế, các vụ án có sự tham gia của bào chữa viên nhân dân với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đếm trên đầu ngón tay. b. Từ phía cơ quan tiến hành tố tụng: Vấn đề thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa không chỉ phụ thuộc vào người bào chữa mà nó còn phụ thuộc vào phía cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tạo điều kiện để người bào chữa có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng. Thực tiễn thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ và bị can, bị cáo trong những năm qua cho thấy nói chung các cơ quan tiến hành tố tụng đã cố gắng tạo điều kiện để người bào chữa thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo luật định, đặc biệt là những trường hợp bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần được các cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo sự tham gia tố tụng của người bào chữa. Tuy nhiên trên thực tế còn có những trường hợp vai trò của người bào chữa chưa được tôn trọng đúng mức. Có những trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng coi thường, phủ nhận vai trò của luật sư, gây khó khăn cho luật sư khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Khoản 1 Điều 58 BLTTHS 2003 quy định: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ...”. Mặc dù luật quy định như vậy nhưng trong hầu hết các vụ án,  luật sư  bào chữa chưa được tham gia tố tụng từ giai đoạn này bởi nhiều lý do khác nhau trong đó có sự suy nghĩ của một số điều tra viên là sự tham gia của luật sư từ giai đoạn khởi tố bị can sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra của họ. Thậm chí có điều tra viên còn cho rằng, nếu tham gia từ giai đoạn này người bào chữa sẽ bày đặt cho bị can khai không đúng hoặc giấu tội... Do đó, họ tìm cách đối phó lại bằng cách “từ chối khéo” hoặc “xin ý kiến thủ trưởng cơ quan”. Qua nhiều lần như vậy nên không ít luật sư đành bỏ dở và buộc phải chấp nhận một thực tế như đã nêu trên mà không biết kêu ai. Việc tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can không được bảo đảm nên đã dẫn tới việc thực hiện các quyền khác của họ trong giai đoạn điều tra là rất khó khăn. Điểm a Khoản 2 Điều 58 BLTTHS 2003 quy định người bào chữa có quyền “Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác”. Theo quy định này thì việc có cho phép được hỏi cung bị can hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của điều tra viên, do vậy có trường hợp điều tra viên không cho người bào chữa hỏi mà chỉ cho “ngồi nghe” hỏi cung. Điều tra viên dường như không để ý đến sự có mặt của người bào chữa và ý kiến đề xuất của họ. Việc gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam cũng rất khó khăn. Nếu người bào chữa có được gặp thì họ phải chịu sự giám sát trực tiếp của điều tra viên và giám thị trại giam. Điều đó khiến cho người bị tạm giữ, bị can không dám phản ánh những vấn đề cần thiết cho người bào chữa. Sau khi kết thúc điều tra, hầu như cơ quan điều tra không thông báo cho người bào chữa biết về việc kết thúc điều tra. Do đó, việc đọc hồ sơ và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra và trước khi hồ sơ vụ án chuyển sang viện kiểm sát là rất khó khăn và rất ít khi được thực hiện. Có lúc nhận thức của những người tiến hành tố tụng về vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự còn chưa đúng với tinh thần của pháp luật tố tụng hình sự. Nhiều Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cho rằng vụ án có được giải quyết tốt hay không là do họ chứ không phải nhờ sự có mặt của Luật sư; rằng sự tham giai tố tụng của Luật sư chỉ là hình thức; rằng Luật sư tham gia tố tụng chỉ làm cho hoạt động tố tụng phức tạp thêm…Vì thế, những người tiến hành tố tụng như vậy đã không chú trọng đến yêu cầu, nội dung bào chữa của Luật sư trong vụ án hình sự. Nhiều Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán không cho rằng vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Ví dụ: trong nhiều trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không yêu cầu cử người bào chữa cho bị can là người chưa thành niên, nhưng đến khi Toà án thụ lý lại không cho đó là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để trả hồ sơ điều tra bổ sung. Chỉ khi có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân hướng dẫn về vấn đề này thì tình trạng đó mới được khắc phục (() Vai trò của luật sư trong giải quyết vụ án hình sự., PGS.TS Trần Văn Độ, thẩm phán Tòa án Quân sự trung ương, nguồn: Tạp chí nghề luật – Học viện tư pháp - 2008. ). BLTTHS hiện hành trao thêm cho người bào chữa quyền sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật, tuy nhiên việc sao chụp hồ sơ trong thực tế cũng còn gặp nhiều khó khăn từ phía cơ quan tiến hành tố tụng. Vai trò của người bào chữa tại phiên tòa xét xử còn nhiều hạn chế nhất định vì nhiều lý do khác nhau. Hội đồng xét xử thường chú ý đến các chứng cứ do viện kiểm sát đưa ra hơn là chứng cứ do người bào chữa đưa ra. Có trường hợp thẩm phán xem sự tham gia của luật sư chỉ là để “cho đủ lệ bộ, thủ tục” chứ không phải để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị cáo (() Những hạn chế trong viêc thực hiện quyền bào chữa của ngưởi bị tạm giữ, bị can và bị cáo,TS. Hoàng Thị Minh Sơn, tạp chí luật học số 10/2008, trường Đại học Luật Hà Nội. ). Vị trí, vai trò của luật sư bào chữa tại phiên toà rất mờ nhạt và chưa được coi trọng đúng mức. Cá biệt có thẩm phán còn coi thường và phủ nhận vai trò của luật sư, gây khó khăn cho hoạt động bào chữa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo. Bản bào chữa cùng các đề nghị của luật sư ít được hội đồng xét xử xem xét. Như vậy, từ thực tiễn nêu trên chúng ta thấy quyền bào chữa của bị cáo trong phiên tòa vẫn chưa được thực hiện tốt, do đó việc người bào chữa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng cũng khó được đảm bảo.Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hạn chế đó là do vẫn còn hiện tượng “án tại hồ sơ” (() “Vai trò của luật sư, người bào chữa - thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự”. PGS.TS.LS  Phạm Hồng Hải. ( ). 2. Một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa và kiến nghị hướng hoàn thiện Qua việc khái quát tình hình thực tiễn về thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trên đây có thể thấy, hiện nay các quy định của BLTTHS về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đang có những vướng mắc, bất cập mà điều đó đã tạo nên những rào cản pháp lý khiến người bào chữa gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng. Thứ nhất, xuất phát từ thực trạng hiện nay đó là hiện tượng người bào chữa là luật sư không làm hết trách nhiệm của mình, không toàn tâm, toàn ý để thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo...Điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như đã nêu qua ở trên, có thể thấy pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể, rõ ràng các trách nhiệm pháp lý để ràng buộc người bào chữa phải có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tố tụng của mình. Vấn đề nghĩa vụ của người bào chữa cũng như việc thực hiện nghĩa vụ đó trong thực tế chưa được các nhà làm luật quan tâm đúng mức, khi mà thực tiễn đã diễn ra nhiều trường hợp người bào chữa tham gia vào tố tụng với tư cách là người bào chữa để cho đúng thủ tục, có khi là vì lợi ích cá nhân...mà quên đi nhiệm vụ của một người bào chữa. Việc pháp luật quy định nghĩa vụ của người bào chữa làm sáng tỏ các tình tiết vụ án, nhưng lại quy định việc có mặt khi hỏi cung, thu thập chứng cứ, xét hỏi và tranh luận chỉ là quyền của họ vô hình chung đã tạo cơ sở pháp lý cho Luật sư thực hiện không đầy đủ, hiệu quả nghĩa vụ tố tụng của mình. Có ý kiến cho rằng người bào chữa là luật sư khi đã nhận lời hoặc được phân công tham gia tố tụng thì không chỉ có nghĩa vụ tố tụng, mà còn có nghĩa vụ trước thân chủ của mình, và để Luật sư phát huy hết khả năng và trách nhiệm của mình thì nghĩa vụ đó phải được pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể ((7) “Vai trò của luật sư, người bào chữa - thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong tố tụng hình sự”. PGS.TS.LS  Phạm Hồng Hải. ( (8) Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự, Luật sư. Nguyễn Văn Chiến  - Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội. Nguồn:  Về sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng hình sự theo BLTTHS năm 2003, TS. Nguyễn Duy Hưng, Tạp chí Khoa học pháp lý Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. ). Em đồng ý với quan điểm này, bởi vì đây sẽ là một giải pháp hiệu quả về mặt pháp lý để khắc phục những hạn chế trong hoạt động bào chữa của luật sư hiện nay (như đã phân tích ở phần trên). Việc vi phạm các nghĩa vụ đó phải được xử lý bằng các chế tài khác nhau và có thể quy định bổ sung thành một điều luật riêng trong pháp luật nội dung (có thể là Luật luật sư, Luật dân sự...), có như vậy mới tránh được tình trạng bào chữa một cách hình thức trong các vụ án Luật sư được các cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu, tình trạng luật sư không làm hết trách nhiệm của mình trước thân chủ làm cho kết quả bào chữa bị hạn chế như không tham gia hỏi cung, tại phiên toà không xét hỏi, tranh luận phiến diện, chủ yếu xin giảm nhẹ, bào chữa trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ mà không chú trọng thu thập thêm chứng cứ, tình trạng vắng mặt tại phiên toà v.v.. Đồng thời để quy định về nghĩa vụ của người bào chữa hoàn chỉnh hơn, em đồng ý với quan điểm rằng bổ sung vào khoản 4 của Điều 58 cụm từ “nếu tiết lộ bí mật điều tra và” vào sau cụm từ “người bào chữa” nhằm đảm bảo cho việc giữ bí mật điều tra mà người bào chữa biết được khi tham gia tố tụng ( ). Điều này dẫn tới tính khả thi của sự cho phép người bào chữa tham gia sớm hơn trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia và các vụ án đặc biệt nghiêm trọng. Nếu vẫn quy định chung chung là không được tiết lộ bí mật điều tra mà không kèm theo quy định khả năng áp dụng chế tài nếu có sự vi phạm thì cơ quan điều tra e ngại và cho việc giữ bí mật điều tra là cái cớ để không tạo điều kiện luật sư tham gia làm cho quy định đó thiếu tính khả thi. Thứ hai, xuất phát từ thực trạng phía cơ quan tiến hành tố tụng có lúc không coi trọng vai trò của luật sư, coi thường, phủ nhận vai trò của luật sư, gây khó khăn cho luật sư khi thực hiện nhiệm vụ của mình...(như đã nêu trên), có thể thấy một một vấn đề là pháp luật tố tụng hình sự trong trường hợp này lại không quy định cụ thể trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong khi tiến hành tố tụng. BLTTHS nước ta chỉ quy định người tiến hành tố tụng “phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình”; Điều 62 quy định về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng giải thích và bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng và cả Chương XXXV quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự chủ yếu vẫn chỉ là những quy định về thủ tục, chưa có những chế tài cụ thể xử lý những người tiến hành tố tụng cố ý không thực hiện các yêu cầu, kiến nghị hợp pháp đó của người bào chữa. Vì vậy, trong thực tiễn cũng rất khó xác định người tiến hành tố tụng có vi phạm thủ tục tố tụng hay không. Ví dụ: BLTTHS chỉ quy định người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can; nhưng lại không quy định đó là nghĩa vụ, trách nhiệm của điều tra viên. Cho nên, việc xác định điều tra viên có vi phạm tố tụng hay không trong trường hợp không thông báo cho người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung bị can lại không có cơ sở pháp lý. Do đó cùng với quy định về quyền hạn thì pháp luật cần quy định thật cụ thể nghĩa vụ, trách nhiệm tố tụng của người tiến hành tố tụng trong BLTTHS và có thể bổ sung một điều luật riêng ngay sau điều luật quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. Thứ ba, hiện nay BLTTHS chưa có quy định “cơ chế cứng” tạo điều kiện cho người bào chữa tham gia từ giai đoạn điều tra, có mặt tại các buổi hỏi cung bị can. Hầu hết quá trình điều tra người bào chữa chỉ được tham gia một vài buổi lấy lệ, đa số các buổi hỏi cung khác không có mặt người bào chữa. Về nguyên tắc, khi người bào chữa tham gia đã được cấp giấy chứng nhận người bào chữa và có văn bản đề nghị được tham gia tất cả các buổi hỏi cung và các hoạt động điều tra khác thì những hoạt động này bắt buộc phải có người bào chữa mới có giá trị pháp lý. Nhưng thực tế Bộ luật TTHS hiện hành có quy định rất mâu thuẫn và tạo ra những rào cản. Ví dụ: Luật sư muốn hỏi bị can phải được điều tra viên đồng ý. Phiên tòa xét xử trẻ vị thành niên không có người luật sư thì phải hoãn, bản án tuyên trong điều kiện đó thì phải hủy, nhưng bản cung buộc tội ghi lời khai của bị can vị thành niên vắng mặt luật sư (mặc dù Điều 305 BLTTHS quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định luật sư) nhưng họ không thực hiện hoặc tìm cách bảo bị can viết đơn từ chối luật sư trong khi họ chưa hề thực hiện Điều luật là chỉ định luật sư thì bản cung lại được chấp nhận là hợp pháp, Bản kết luận điều tra và Bản cáo trạng vẫn có giá trị pháp lý buộc tội. Đây là lỗ hổng lớn mà các nhà lập pháp phải đặc biệt quan tâm, giải quyết thấu đáo (() Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự,  Luật sư. Nguyễn Văn Chiến  - Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội. Nguồn: Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội ). Hiện nay Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011, quy định chi tiết thi hành các quy định của BLTTHS liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/12/2011, thông tư này ra đời đã hướng dẫn khá chi tiết các thủ tục đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những hướng dẫn mang tính nghiệp vụ và tất cả đều vẫn phải dựa trên tinh thần của các quy định của BLTTHS, phạm vi áp dụng là trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự do Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân thụ lý. Do đó, sự sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong BLTTHS phải được quan tâm để tạo nên sự thống nhất trong áp dụng luật. Theo đó, nên bổ sung vào điểm a Khoản 2 Điều 58 BLTTHS quy định “Đối với những người bào chữa tham gia theo quy định của điểm a và điểm b khoản 2 Điều 57 Bộ luật này thì có quyền có mặt trong tất cả các buổi hỏi cung bị can”. Sự tham gia của người bào chữa trong các buổi hỏi cung những bị can này là rất cần thiết và hợp lý, bởi vì họ không phải là những bị can, bị cáo bình thường, họ cần có người bào chữa bên cạnh vừa tác động tích cực đến tâm lý, vừa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bổ sung điểm a Khoản 2 Điều 58 với nội dung quy định rằng: khi tham gia hỏi cung, người bào chữa được hỏi sau mỗi vấn đề, nội dung điều tra viên hỏi; người bào chữa có quyền giải thích pháp luật cho bị can về quyền trả lời hoặc không trả lời vấn đề điều tra viên hỏi; người bào chữa có quyền phản đối câu hỏi mớm cung, bức cung của điều tra viên; xem xét và có ý kiến về nội dung biên bản hỏi cung có đúng nội dung trả lời của bị can hay không; xác định tình trạng sức khỏe và tâm thần của bị can khi hỏi cung (() Th.S Nguyễn Tiến Đạt (2007), Bảo đảm quyền bào chữa của ngượi bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Số 11, Tạp chí TAND tháng 6/2007. ). Tại điểm e Khoản 2 Điều 58 BLTTHS có quy định quyền gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam của người bào chữa thì ở đây cần quy định rõ là: được gặp riêng và không bị hạn chế về số lượng lần gặp và thời gian gặp, chứ không phải quy định chung chung là được gặp để tránh những sự gây khó khăn từ phía cơ quan và người thi hành tố tụng chỉ cho gặp một cách hình thức và hạn chế thời gian được gặp. Đồng thời với đó là quy định nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng trong việc tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa thực hiện quyền của mình (như đã nêu ở trên) để đảm bảo tính tương thích, khả thi trong quy định của pháp luật. Đồng thời cần bổ sung quy định: lời khai của bị can trong quá trình điều tra, truy tố mà không có sự tham gia của luật sư thì không được công nhận là chứng cứ. Sự bổ sung này hoàn toàn khả thi trong điều kiện hiện nay của nước ta. Ở những nước có nền dân chủ tư pháp phát triển, bị can, bị cáo có quyền từ chối cung khai nếu vắng mặt luật sư. Sự có mặt của luật sư trong các buổi lấy cung có hai ý nghĩa: giám sát, không để xảy ra việc mớm cung, bức cung, nhục hình; và không để xảy ra tình trạng phản cung, bác lời khai tại cơ quan điều tra, viện kiểm sát bởi việc lấy cung đã có người thứ ba chứng kiến(() Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự, Luật sư. Nguyễn Văn Chiến  - Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.  Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội ). Thứ tư, cần quy định sự tham gia của người bào chữa vào thủ tục rút gọn để người bào chữa có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn Tại Điều 319 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn rằng thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện: người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng. Thực tiễn áp dụng điều luật này vào việc giải quyết vụ án hình sự có các bị can phạm tội ở độ tuổi vị thành niên có rất nhiều vướng mắc bất cập, thể hiện qua vụ án trong thực tiễn sau đây: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 16/5/2011 Trần Văn D, sinh ngày 16/7/1994 có hành vi vào bệnh viện đa khoa huyện dùng vam phá khóa lấy một xe mô tô Sirius, khi Trần Văn D vừa dắt xe ra cổng thì bị bảo vệ bắt giữ. Qua định giá chiếc xe mô tô trên trị giá 14.000.000 đồng. Ngày 19/5/2011 Trần Văn D bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại Điều 138 khoản 1 BLHS. Căn cứ Điều 319 Bộ luật tố tụng hình sự thì vụ án đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn, do vậy ngày 20/5/2011, Viện kiểm sát nhân dân huyện đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn để điều tra, truy tố xét xử vụ án nêu trên. Trần Văn D khi phạm tội mới 16 tuổi, 10 tháng, tuy đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng vẫn ở độ tuổi vị thành niên. Áp dung quy định tại Điều 57 khoản 2 BLTTHS thì đây là trường hợp được chỉ định luật sư. Để đảm bảo quyền bào chữa cho bị can vị thành niên, ngày 20/5/2011, Cơ quan điều tra đã có công văn đề nghị Đoàn luật sư phân công Văn phòng Luật sư cử người bào chữa cho bị can. Ngày 25/5/2011 Đoàn luật sư nhận được công văn của Cơ quan điều tra và phân công Văn phòng luật sư để bào chữa cho bị can, ngày 28/5/2011 Văn phòng luật sư phân công Luật sư bào chữa cho bị can D. Đến ngày 05/6/2011 Luật sư được phân công đến Cơ quan điều tra làm thủ tục bào chữa cho Trần Văn D thì hồ sơ vụ án đã được kết luận điều tra và chuyển cho Viện kiểm sát đề nghị truy tố. Đến giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát tiếp tục có công văn đề nghị Đoàn luật sư cử Văn phòng luật sư bào chữa cho D, nhưng do thời gian giải quyết vụ án của Viện kiểm sát quá ngắn (4 ngày), nên Đoàn luật sư chưa kịp cử Văn phòng luật sư bào chữa cho D. Ngày 6/6/2011 Viện kiểm sát nhân dân đã có quyết định tuy tố Trần Văn D theo thủ tục rút gọn về tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 khoản 1 BLHS Sau khi thụ lý vụ án, ngày 10/6/2011 Tòa án nhân đã ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì vụ án đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không có luật sư tham gia bào chữa cho bị can vị thành niên. Viện kiểm sát đã ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án và vụ án được giải quyết theo thủ tục chung. (()  Công thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Phòng. ) Xảy ra thực trạng trên, không đảm bảo quyền được bào chữa của bị can vị thành niên là do nguyên nhân sau: Người vị thành niên phạm tội, hội tụ đủ 4 điều kiện quy định tại Điều 319 BLTTHS thì đương nhiên cũng được áp dụng thủ tục rút gọn để điều tra, truy tố, xét xử. Tại chương XXXIV của Bộ luật tố tụng hình sự (quy định về thủ tục rút gọn) mới chỉ quy định áp dụng thủ tục rút gọn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, còn việc tham gia bào chữa của Luật sư theo thủ tục rút gọn thì hoàn toàn không được quy định mà vẫn áp dụng theo thủ tục, trình tự chung thông thường. Chính vì vậy, một vụ án có bị can vị thành niên phạm tội, được áp dụng thủ tục rút gọn thì chỉ có việc điều tra, truy tố, xét xử là “rút gọn”, còn việc tham gia của Luật sư để bào chữa cho bị can thì lại vẫn áp dụng thủ tục chung thông thường. Vì thiếu sự đồng bộ, khập khiễng giữa các giai đoạn tố tụng áp dụng khi giải quyết một vụ án nên đã xảy ra thực trạng Luật sư không tham gia bào chữa cho bị can vị thành niên được. Lý do rất đơn giản là không đủ thời gian để làm các thủ tục, không có thời gian để Luật sư tác nghiệp, thu thập tài liệu chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ…Chính sự thiếu đồng bộ giữa các giai đoạn tố tụng như trên đã vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo được quy định trong BLTTHS, dẫn đến một vụ án áp dụng thủ tục rút gọn, nhưng khi thực hiện thì chẳng “gọn” chút nào. Để tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn nêu trên, đồng thời để việc áp dụng thủ tục rút gọn có hiệu quả trong việc điều tra, truy tố, xét xử, cần quy định bổ sung phần người bào chữa, lựa chọn, thay đổi người bào chữa, quyền, nghĩa vụ của người bào chữa vào chương  XXXIV (Thủ tục rút gọn) của BLTTHS. Theo đó cần quy định rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể của người bào chữa theo thủ tục rút gọn, đặc biệt cần quy định rõ thời gian Cơ quan điều tra gửi công văn yêu cầu Đoàn luật sư cử Văn phòng luật sư bào chữa cho bị can, thời gian Đoàn luật sư quyết định cử Văn Phòng luật sư và Luật sư đến làm thủ tục bào chữa cho bị can. Thời gian này phải thật rút ngắn phù hợp với thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn của các cơ quan tiến hành tố tụng (() Cần quy định sự tham gia của người bào chữa vào thủ tục rút gọn, Đặng Khắc Thắng – VKSND huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng. ). Thứ năm, Theo quy địnhn tại điểm g Kkhoản 2 Điều 38 thì người bào chữa có quyền đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên trên thực tế, luật quy định như vậy chưa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bào chữa của người bào chữa vì như vậy sẽ bỏ qua những tài liệu tuy không liên quan đến hoạt động bào chữa nhưng lại có ý nghĩa chứng minh sự thật khách quan của vụ án, Như vậy, điểm g Khoản 2 Điều 58 sẽ được sửa đổi bổ sung như sau: người bào chữa có quyền “đọc, ghi chép và sao chụp toàn bộ hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật” (() NCS. Nguyễn Ngọc Khanh (2009), một số vấn đề về bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong gia đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. ). Thứ năm, về mặt kỹ thuật lập pháp, nội dung của khoản 1 Điều 58 BLTTHS là không phù hợp với nội dung của Điều 58 bởi vì nội dung của khoản này quy định về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa chứ không phải quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, vì vậy cần phải chuyển khoản 1 Điều 58 sang khoản 3 Điều 56 thì mới phù hợp(() Về sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng hình sự theo BLTTHS năm 2003, Nguyễn Duy Hưng, TS.GV Khoa luật hình sự - ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh. Đăng trên tạp chí KHPL số 3/2004. ) IV. Kết luận Có thể thấy, luật thực định hiện hành về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự ở nước ta đã có những bước phát triển, khắc phục được những hạn chế so với trước đây, do có sự kế thừa phát triển cho phù hợp với thực tiễn mỗi giai đoạn. Vấn đề quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong pháp luật tố tụng hình sự là một trong những vấn đề được quan tâm, bàn luận trong thời gian qua. Việc xây dựng được hệ thống các quy định của pháp luật về vấn đề này được tiến bộ và việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định đó vào quá trình tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa sẽ giúp cho quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được bảo vệ; điều này luôn trở thành một trong những mục tiêu quan trọng trong cải cách nền tư pháp nước ta. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong quá trình tố tụng và việc áp dụng các quy định đó trên thực tiễn cho thấy, bên cạnh những điểm tích cực đạt được từ khi BLTTHS 2003 ra đời, thay thế BLTTHS năm 1988, thì vẫn còn một số vướng mắc, bất cập trong quy định của luật và trong thực tiễn áp dụng. Do sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội và nhiều tác nhân khác, sự tương thích của các quy định pháp luật với thực tiễn sẽ khó tránh khỏi suy giảm, đồng thời khả năng dự liệu chưa cao cũng như tâm lý lợi ích cục bộ trong công tác xây dựng luật ở nước ta vẫn còn tồn tại nên các quy định của pháp luật cũng bị chi phối ít nhiều. Trong thời gian tới việc nghiên cứu lý luận, thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa vẫn tiếp tục được đặt ra, nhằm bảo đảm quyền cũng như tạo điều kiện để người bào chữa thực hiện các nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNgười bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn.doc