Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp, thực trạng và giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

MỤC LỤC Chương I : Nguồn vốn trong doanh nghiệp I. Khái niệm,bản chất và vai trò của nguồn vốn. 1. Khái niệm về vốn và nguồn vốn 2. Bản chất, vai trò của của nguồn vốn 2.1. Bản chất của nguồn vốn 2.2 .Vai trò của nguồn vốn II – Nguồn vốn trong doanh nghiệp 1. Nguồn vốn chủ sở hữu 2. Nguồn vốn nợ 3. Điều kiện và động lực để thúc đẩy hiệu quả các nguồn vốn đầu tư: Chương II. Thực trạng vấn đề huy động và sử dụng vốn của DNNN Việt Nam hiện nay I. Doanh nghiệp nhà nước . 1. Khái niệm của doanh nghiệp nhà nước 2.Vai trò của doanh nghiệp nhà nước . II. Vốn đầu tư phát triển trong DNNN 1. Khái niệm 2. Nội dung của vốn đầu tư phát triển trong DNNN 2.1. Theo mục đích sử dụng 2.2 Theo nguồn gốc sở hữu về vốn III . Thực trạng vấn đề huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN Việt Nam 1. Theo mục đích sử dụng 1.1 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.2 Vốn lưu động bổ sung 1.3 Các loại vốn khác 2. Theo nguồn gốc sở hữu vốn 2.1 Thực trạng huy động vốn chủ sở hữu ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay. a) Vốn ngân sách nhà nước b) Vốn góp liên doanh, liên kết, vốn cổ phần hóa 2.2 Thực trạng huy động và sử dụng vốn nợ ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay Chương III . Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong các DNNN hiện nay. I. Nguyên nhân làm giảm hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước. 1. Ở tầm vĩ mô. 2. Ở tầm vi mô. II. Một số giải pháp nhằm nầng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN. 1. Ở tầm vĩ mô . 2. Ở tầm vi mô LỜI MỞ ĐẦU Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương hàng đầu của Đảng nhằm xây dựng một nền móng kinh tế vững chắc, sãn sàng đi lên sản xuất lớn. Để thực hiện được thành công, chúng ta cần đảm bảo nguồn vốn cho nền kinh tế và cho từng doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam đang phải cành tranh hết sức khốc liệt để có thể tồn tại và có được chỗ đứng trên thương trường mà một trong những yếu tố quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp là sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất, làm thế nào huy động nguồn ngân quỹ với chi phí thấp và phương tiện thanh toán nhanh nhất .Vấn đề này đối với các doanh nghiệp nhà nước lại càng khó khăn hơn khi mà việc huy động và sử dụng vốn vẫn mang tính bao cấp. Do vậy, để có thể tồn tại và phát triển xứng đáng với vai trò đầu tàu của nền kinh tế, các DNNN phải sử dụng hợp lí nguồn lực sẵn có, cải tiến máy móc thiết bị để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành .Và trên hết là việc huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước. Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, nhóm sinh viên đầu tư xin nghiên cứu đề tài: “ Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp. Thực trạng và giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay”. Chúng em xin chân thành cảm ơn TS. Từ Quang Phương đã giúp đỡ chúng em hoàn thành đề án này.

doc43 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 12/04/2013 | Lượt xem: 3546 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp, thực trạng và giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thân tư bản quyết định, nghĩa là do giá trị và khối lượng của những tư liệu sản xuất (trong đó tư bản tồn tại) đã được sản xuất ra quyết định”. Yêu cầu khách quan của tích luỹ vốn đã được Mac khẳng định do những nguyên nhân sau :”Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì quy mô tối thiểu mà một tư bản cá biệt phải có để có thể kinh doanh trong điều kiện bình thường cũng tăng lên.” Từ đó Mac khẳng định :” Sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản nếu muốn duy trì tư bản củ mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng thêm mẫi lên và không thể nào tiếp tục làm cho tư bản đó ngày càng tăng lên được nếu không có sự tích luỹ ngày càng nhiều thêm”. Mac còn chỉ ra rằng những nhân tố quy định quy mô của tích luỹ : khối lượng giá trị thặng dư (lơị nhuận) năng suất lao động xã hội và quy mô vốn ban đầu (lượng tư bản ứng trước)... Như vậy, cùng với lao động, vốn (tư bản) là một trong các yếu tố đầu vào sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ.Công nghệ sản xuất hiện có quyết định mức sản lượng được sản xuất ra từ một lượng tư bản và lao động nhất định. Hàm này cho biết các nhân tố sản xuất quyết định mức sản lượng được sản xuất ra như thế nào. Nếu kí hiệu Y là sản lượng thì ta có hàm sản xuất như sau: Y = F(K,L) Phương trình này nói rằng sản lượng là một hàm của khối lượng tư bản và lao động. Tức là hàng hoá, dịch vụ được tạo ra phu thuộc vào lượng tư bản sẵn có. Nhiều tư bản cho phép sản xuất nhiều sản phẩm hơn. * Vốn là yếu tố quan trọng đồi với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế Trên thị trường vốn Ta có đẳng nhất thức nền kinh tế quốc dân như sau: Y – C – G = I Dưới hình thức này, đồng nhất thức của tài khoản kinh tế quốc dân phản ánh tiết kiệm bằng đầu tư. Chúng ta có thể tách tiết kiệm quốc dân thành hai phần, nhằm phân biệt tiết kiệm của hộ gia đình và tiết kiệm của chính phủ: (Y-C-T)+(T-G)=I Trong đó T là thuế Biểu thức (Y-C-T) là tiết kiệm tư nhân. Biểu thức (T-G) là tiết kiệm chính phủ Nếu chi tiêu nhiều hơn thu, chính phủ bị thâm hụt ngân sách thì tiết kiệm công cộng mang dấu âm. Tiết kiệm quốc dân bằng tiết kiệm chính phủ cộng tiết kiệm tư nhân. Trên thị trường tài chính Lãi suất vừa là chi phí đi vay vừa là lợi ích đi vay. Chính vì thế nó đóng vai trò điều chỉnh cân bằng trên thị trường vốn, đồng thời nó cho thấy vai trò của tiết kiệm đối với tăng trưởng kinh tế S(r) = I(r) Ta có sơ đồ thị trường vốn: I(r) r I Nhìn vào sơ đồ ta thấy, bất kì sự thay đổi nào ảnh hưởng đến cung vốn sẽ ảnh hưởng đến lãi suất và thông qua đó ảnh hưởng đến đầu tư. Nếu chính phủ thực hiện chính sáh tài khoá thắt chặt làm tiết kiệm chính phủ tăng, đương cung vốn dích sang phải dẫn tới lãi suất giảm, đầu tư tăng làm sản lượng tăng. Như vậy, sự cắt giảm tiêu dùng sẽ giải phóng nguồn lực cho đầu tư. Một nghiên cứu khác cũng khẳng định vai trò của vốn đầu tư đến tăng trưởng và phát triển kinh tế, đó là hệ số ICOR Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy : muốn giữ tốc độ tăng truởng ở mức trung bình thì tỉ lệ đầu tư phải đạt được ở mức từ 15% đến 20% so vớI GDp tuỳ thuộc vào ICOR của từng nước. Vốn đầu tư ICOR = -------------------------------- GDP do vốn tạo ra Từ đó suy ra: Vốn đầu tư Mửc tăng GDP = ------------------------ ICOR Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư. II. Nguồn vốn trong doanh nghiệp 1. Nguồn vốn chủ sở hữu a. Vốn ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định, do các cổ đông_ chủ sở hữu góp. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của nhà nước. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước chính là nhà nước. Hiện nay, cơ chế quản lí tài chính nói chung và quản lí vốn của doanh nghiệp nhà nước nói riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế. Đối với doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp chủ sở hữu phải có số vốn cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp. Trong thực tế, vốn tự có của chủ doanh nghiệp bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều vốn pháp định, nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng hoạt động kinh doanh. Chẳng hạn với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty. Mỗi một cổ đông đóng góp là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau do đó, cách thức huy động vốn của các công ty này cũng khác nhau. b. Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài trợ bằng lợi nhuận không chia- nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm đước chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài. Để có được lợi nhuận để lại thì trước tiên doanh nghiệp phải đang hoạt động, có lợi nhuận và được phép tiếp tục đầu tư. Đối với doanh nghiệp nhà nước việc tái đầu tư còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của nhà nước. Đối với công ty cổ phần việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố nhạy cảm. Đó là mối quan hệ giữa việc chi trả cổ tức và giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư. Khi công ty để lại lợi nhuận, tức là cổ đông không được nhận cổ tức, bù lại họ có quyền sở hữu số cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kì trước mắt (ngắn hạn) do cổ đôg chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cố tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút. Khi giải quyết vấn đề này cần lưu ý một số yếu tố có liên quan như: - Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ. - Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước. - Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty, tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó. - Hiệu quả của việc tái đầu tư. c. Phát hành cổ phiếu: Là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp và là nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của doanh nghiệp. ♦ Cổ phiếu thường. Cổ phiếu thường( còn gọi là cổ phiếu thông thường)là loại cổ phiếu thông dụng nhất, đồng thời là chứng khoán quan trọng nhất đước trao đổi, mua bán trên thị trường chứng khoán. Sau khi phát hành phần lớn cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư- các cổ đông. Những cổ phiếu này gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường. Công ty phát hành có thể mua lại những cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó, chúng được gọi là cổ phiếu ngân quỹ. Việc mua bán những cổ phiếu này phụ thuộc vào một sổ yếu tố như: Tình hình biến động vốn và khả năng đầu tư. Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường. Chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty. Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của uỷ ban chứng khoán nhà nước. ♦ Cổ phiếu ưu tiên. Được hiểu là loại cổ phiếu phát có kèm theo một số điều kiện ưu tiên cho nhà đầu tư sở hữu nó. Thường chỉ chiểm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Tuy nhiên trong một số trường hợp việc sủ dụng cổ phiếu ưu tiên là thích hợp. Cổ phiếu ưu tiên có đắc điểm là nó thường có cổ tức cổ định. Người chủ sở hữu cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thông thường. Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó. Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công ty phát hành thu lại khi công ty cần thiết Một vấn đề rất quan trọng cần đề cập khi phát hành cổ phiếu ưu tiên là thuế. Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty,cổ tức được lây từ lợi nhuân sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên. Ngoài ra vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể được bổ sung từ phần chênh lệch đánh giá lại tài sản cố định, chênh lệch tỷ giá. ♦Chứng khoán có thể chuyển đổi Ở một số nước, các công ty có thể phát hành những chứng khoán kèm theo những điều kiện có thể chuyển đổi được. Nói chung, sự chuyển đổi và lựa chọn cho phép các bên (công ty,người đầu tư) có thể chuyển đổi, ở đây chỉ đề cập sơ lươc hai loại : - Giấy bảo đảm : người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua một số lượng cổ phiếu thường được quy định trước với giá cả thời gian xác định. 2. Nguồn vốn nợ: a) Phát hành trái phiếu công ty. · Khái niệm. Đối với các công ty nhà nước tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn thì không được phép phát hành cổ phiếu mà chỉ có thể phát hnàh trái phiếu. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành. · Phân loại: Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp. Lãi xuất được ghi ngay trên mặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó. Tính hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào những yếu tố sau: Lãi suất của trái phiếu. Kỳ hạn của trái phiếu. Uy tín của doanh nghiệp. Trái phiếu có lãi suất thay đổi: thực ra lãi suất của loại trái phiếu này phụ thuộc vào nguồn lãi suất quan trọng khác. Trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này. Tuy nhiên loại trái phiếu này có một vài nhược điểm là doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn một phần cho việc lập kế hoạch tài chính; việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanh nghiệp phải thông báo điều chỉnh lãi suất. Trái phiếu có thể thu hồi: tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời gian nào đó. Loại trái phiếu này phải được quy định ngay từ đầu để khách hàng biết. Loại trái phiếu này có những ưu điểm như: có thể sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sử dụng, khi không cần thiết doanh nghiệp có thể mua lại các trái phiếu đó và thay bằng nguồn tài chính khác. Tuy nhiên nếu không có hấp dẫn nào đó thì trái phiếu này không được ưa thích. Chứng khoán có thể chuyển đổi: cho phép doanh nghiệp, người đầu tư có thể lựa chọn cách đầu tư có lợi và thích hợp. Có một số hình thức chuyển đổi như: Giấy bảo đảm : người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua một số lượng cổ phiếu thường được quy định trước với giá cả và thời gian xác định. Trái phiếu chuyển đổi : là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thường. Nếu thị giá của cổ phiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao. b) Nguồn vốn tín dụng ngân hàng ♦ Vai trò: Vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các công ty, các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng. Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương trường. Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngắn hạn ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp. ♦ Phân loại. Về mặt thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân thành ba loại: Vay dài hạn: thường tính từ 3 năm trở lên, có nơi tính 5 năm. Có lãi suất cao, vì mang nhiều rủi ro cho người cho vay. Vay trung hạn: Từ 1 đến 3 năm. Có lãi suất thấp hơn vay dài hạn. Vay ngắn hạn : dưới 1 năm. Có lãi suất thấp nhất. Theo tính chất và mục đích sử dụng, có thể phân thành các loại: Vay để đầu tư tài sản cố định. Vay đầu tư tài sản lưu động. Vay theo dự án. · Hạn chế. Điều kiện tín dụng: các doanh nghiệp muốn vay vốn tại các ngân hàng thương mại cần đáp ứng được những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng. Trước tiên ngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vay vốn, đánh giá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn.Doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu. Các điều kiện đảm bảo tiền vay: khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có bảo đảm tín dụng, phổ biến nhất là bằng tài sản thế chấp. Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp làm chô bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện đi vay, kể cả các thủ tục pháp lí về giấy tờ… Do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng. Sự kiểm soát của ngân hàng: một khi doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng, doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay. Nói chung thì sự kiểm soát này không gây ra vấn đề gì quá lớn cho doanh nghiệp, tuy nhiên trong một số trường hợp điều đó cũng làm cho DN có cảm giác bị kiểm soát. Lãi suất vốn vay: Phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất vốn vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp. Sử dụng vốn vay phải chú ý đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, kế hoạch sử dụng vốn phải đảm bảo hợp lí, đúng mục đích, quản lí sử dụng đúng quỹ tiền mặt, kì trả nợ và kì thu tiền, kế hoạch sản xuất kinh doanh phải được bám sát thực tế…. nếu không vốn vay sẽ trở thành một gánh nặng đối với doanh nghiệp. c. Nguồn vốn tín dụng thương mại (Vốn chiếm dụng của nhà cung cấp) ● Khái niệm Tín do dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được biểu hiện dưới các hình thức mua bán chịu hàng hoá. Tín dụng thương mại xuất hiện là do sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng. Do đặc tính thời vụ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khiến các doanh nghiệp phải mua bán chịu hàng hóa. Mua bán chịu được coi là một hình thức tín dụng và nó chứa đầy đủ nội dung cơ bản của khái niệm tín dụng là vì: + Người bán chuyển giao cho người mua được sử dụng vốn tạm thời trong một thời hạn. + Đến thời hạn đã được thoả thuận, người mua hoàn lại vốn cho người bán dười hình thức tiền tệ và cổ phần lãi suất. ●Vai trò Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các doanh nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứng được nhu cầu vốn của các doanh nghiệp tạm thời thiếu, đồng thời giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. Mặt khác, sự tồn tại của hình thức tín dụng này giúp cho các doanh nghiệp khai thác được vốn nhằm đáp ứng kịp thời hoạt động sản xuất kinh doanh. ● Hạn chế - Hạn chế về quy mô tín dụng: Tín dụng thương mại là do các doanh nghiệp cung cấp và họ chỉ cung cấp với khả năng giới hạn của họ. Nếu người đi vay có nhu cầu cao hơn thì người cho vay không thể đáp ứng đươc. - Hạn chế về thời hạn cho vay: Điều kiện kinh doanh và chu kì sản xuất của các doanh nghiệp có thể không phù hợp với nhau, vì vậy mà khi thời hạn mà người cho vay muốn cung cấp và người đi vay có nhu cầu không phù hợp nhau thì tín dụng này không thể xảy ra. - Hạn chế về phương hướng: Tín dụng thương mại được cung cấp dưới hình thức hàng hóa, vì vậy mà doanh nghiệp chỉ có thể cung cấp được tín dụng cho một số doanh nghiệp nhất định, những doanh nghiệp cần hàng hoá đó để sử dụng cho sản xuất hoặc dự trữ để bán ra 3. Điều kiện và động lực để thúc đẩy có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư: - Tạo lập và duy trì năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững cho nền kinh tế: Đặt trong bối cảnh chung và dài hạn ,năng lực tăng trưởng của nền kinh tế là yếu tố quan trọng xác định triển vọng huy động vốn đầu tư một cách hiệu quả .Tăng trưởng được nhìn nhận như một yếu tố tạo sức hấp dẫn ngày càng lớn đối với cả nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài . Vốn đầu tư được sử dụng càng hiệu quả thì khả năng thu hút nó càng lớn. - Môi trường kinh tế vĩ mô được đảm bảo ổn định : Sự an toàn của vốn đòi hỏi môi trường kinh tế vĩ mô ổn định ,không gặp những rủi ro do các yếu tố chính trị xã hội hay môi trường kinh doanh gây ra. Ổn định giá trị tiền tệ : Ổn định giá trị tiền tệ ở đây bao hàm cả viếc kiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả tình trạng giảm phát nếu xảy ra đối với nền kinh tế. Đây là vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động các nguồn vốn cho đầu tư. - Các chính sách huy động các nguồn vốn có hiệu quả được xây dựng đồng bộ: Các chính sách và giải pháp huy động vốn cho đầu tư phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế -xã hội trong từng giai đoạn và phải thực hiện các nhiệm vụ của các nhiệm vụ của chính sách tài chính quốc gia. Đảm bảo mối tương quan hợp lí giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài . Chương II. Thực trạng vấn đề huy động và sử dụng vốn của DNNN Việt Nam hiện nay. I . Doanh nghiệp nhà nước . 1. Khái niệm của doanh nghiệp nhà nước - Khái niệm : Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích , do Nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc giữ cổ phần chi phối trong doanh nghiệp để nhà nước có thể chi phối hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra. - Điều kiện thành lập : Nhà nước là cổ đông chính trong doanh nghiệp hoặc Nhà nước có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà Nhà nước theo đuổi .Nhà nước bổ sung hoặc cách chức ban quản lí doanh nghiệp. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là sản xuất hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho thị trường . Doanh nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh . 2. Vai trò của DNNN - Doanh nghiệp nhà nước phải là công cụ kinh tế quan trọng để nhà nước trực tiếp tác động đến các quá trình kinh tế xã hội , điều tiết vĩ mô , thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. - Kinh tế nhà nước nói chung , DNNN nói riêng đóng vai trò mở đường và tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển. DNNN phải thể hiện được sự phân công và phối hợp một cách hợp lí về chức năng giữa khu vực DNNN với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác . - Kinh tế nhà nước trong đó DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường , tạo điều kiện cho việc xây dựng chế độ xã hội mới . - DNNN đi đầu trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng , đặc biệt đối với địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh , với các vùng kinh tế khó khăn , vùng sâu , vùng xa. Bên cạnh những ưu điểm trên , DNNN cũng còn những mặt hạn chế nhất định làm ảnh hưởng tới vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nước và là nhân tố gây cản trở , làm giảm hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả đầu tư phát triển nói riêng của khối donh nghiệp này : - Thứ nhất : Số lượng nhiều ,dàn trải ,trong khi quy mô vốn không lớn ,công nghệ lạc hậu . - Thứ hai : Chưa giải quyết tốt vấn đề sở hữu , đại diện sở hữu nhà nước trong doanh nghiệp , cơ chế quản lí của cơ quan nhà nước đối với hoạt động trong doanh nghiệp chậm đổi mới . - Bên cạnh đó , tình trạng kém năng động , trông chờ ỷ lại Nhà nước là nguyên nhân chính gây ra tình trạng kém hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN. Bảng 1 : Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp Biểu đồ 1: Số doanh nghiệp nhà nước làm ăn có lãi: Nguồn Vụ tài chính ngân hàng – Bộ tài chính 2004 Đến hết tháng 7/2004 đã thực hiện sắp xếp lại 2.224 DN, trong đó: - Cổ phần hoá: 1.412 - Giao, bán, khoán kinh doanh: 199 - Sáp nhập, hợp nhất: 362 - Giải thể, phá sản: 102 - Các hình thức khác: 149 Hiệu quả sau khi sắp xếp lại: - Số vốn huy động thêm: 3.300 tỷ đồng - Mức trả cổ tức bình quân từ 10 -15%/năm - Tăng cung hàng hóa cho TTCK II . Vốn đầu tư phát triển trong DNNN 1 . Khái niệm Đầu tư phát triển là một bộ phận cơ bản của đầu tư , là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị …) và tài sản trí tuệ ( tri thức , kỹ năng …) , gia tăng năng lực sản xuất , tạo việc làm và vì mục tiêu phát triển. Trên cơ sở khái niệm về đầu tư phát triển như trên , có thể nêu ra khái niệm về đầu tư phát triển của DNNN như sau : Đầu tư phát triển của DNNN là hoạt động chi dùng vốn cùng các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm tài sản ( tài sản vật chất hữu hình và tài sản vô hình ) của DNNN , tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống của mỗi thành viên trong đơn vị . 2 . Phân loai các vốn đầu tư phát triển Tùy vào các cách thức đánh giá khác nhau mà ta có thể phân loại vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước thành các dạng sau: 2.1 Theo mục đích sử dụng a. Vốn  đầu tư cơ bản của là số vốn  đầu tư để tạo ra tài sản cố định. Nó bao gồm vốn  đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ. Vốn  đầu tư xây dựng cơ bản là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta với nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế. Về thực chất vốn đầu tư xây dựng cơ bản chỉ bao gồm những chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định. Như vậy, vốn đầu tư xây dựng cơ bản gồm 2 bộ phận hợp thành: vốn  đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới TSCĐ mà ta quen gọi là vốn  đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ. Về nội dung chỉ tiêu: vốn đầu tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn TSCĐ bao gồm: - Chi phí cho việc thăm dò, khảo sát và quy hoạch xây dựng chuẩn bị cho việc đầu tư; - Chi phí thiết kế công trình; - Chi phí xây dựng; - Chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn vốn  đầu tư XDCB; - Chi phí cho việc sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết bị, sửa chữa lớn các TSCĐ khác. Vốn  đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của vốn  đầu tư cơ bản được sử dụng để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật như đã nêu trên. b. Vốn lưu động bổ sung bao gồm những khoản đầu tư làm tăng thêm tài sản lưu động trong kỳ nghiên cứu, đó là những khoản đầu tư mua công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định; mua nguyên liệu, vật liệu nhiều hơn năm trước (Không kể số tiền mặt còn tồn quỹ, tiền đang gửi ngân hàng và vàng bạc, đá quý chưa sử dụng vào mua sắm tài sản). c. Vốn  đầu tư phát triển khác bao gồm tất cả các khoản đầu tư của doanh nghiệp nhằm tăng năng lực phát triển của doanh nghiệp. Sự phát triển của doanh nghiệp ngoài yếu tố làm tăng TSCĐ, TSLĐ còn phải làm tăng nguồn lực khác như: nâng cao dân trí; hoàn thiện môi trường xã hội; cải thiện môi trường sinh thái; hỗ trợ cho các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và các chương trình phát triển khác. Như vậy, nội dung của "vốn đầu tư phát triển khác" rất phong phú. Nó bao gồm tất cả các khoản đầu tư tăng thêm cho: - Chi phí cho công việc thăm dò; khảo sát, thiết kế quy hoạch - Chi phí cho việc triển khai thực hiện các chương trình, mục tiêu xã hội - Chi phí cho việc thực hiện chương trình bảo vệ môi trường - Chi phí cho việc thực hiện các chương trình nghiên cứu, triển khai, đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực; 2.2 Theo nguồn gốc sở hữu về vốn a. Vốn chủ sở hữu. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước hình thành cơ bản hình thành từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên đó không phải là nguồn vốn chủ sở hữu duy nhất trong doanh nghiệp nhà nước, mà còn bao gồm vốn góp liên doanh, liên kết đóng góp cổ phần của nhiều thành phần kinh tế khác. b. Vốn nợ Vốn nợ của doanh nghiệp nhà nước xuất phát từ việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp và từ vay tín dụng thương mại. (để tìm hiểu kỹ hơn xem mục II chương I) Về cơ bản nguồn gốc huy động vốn của doanh nghiệp nhà nước không có nhiều khác biệt với doanh nghiệp không thuộc nhà nước, nhưng doanh nghiệp nhà nước có những lợi thế nhất định về khả năng huy động cũng như những lợi thế về thủ tục trong huy động vốn nợ. Tuy nhiên về vấn đề sử dụng vốn nợ lại là một vần đề về thực trạng cần nghiên cứu kỹ hơn trong phần sau. III . Thực trạng vấn đề huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN Việt Nam 1. Theo mục đích sử dụng. 1.1. Đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản là một phần rất quan trọng trong chiến lược kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp vì vậy 1 phần lớn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ bản. Cụ thể từ năm 2001đến năm 2005 tổng lượng vốn sử dụng trên 85600 tỷ đồng, bình quân hàng năm bằng 125%, riêng năm 2006 đạt trên 30000 tỷ đồng bằng 137,8% so với năm 2005. 1.2 Vốn lưu động bổ sung Trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 lượng hàng tồn trữ tại các doanh nghiệp nhà nước là tương đối lớn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp khoảng từ 20% đến 25% và đang có su hướng giảm đần qua các năm . Đây là một tín hiệu tốt, nó thể hiện tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước đang trên đà phát triển, việc sản xuất và tiêu thụ ngày một thuận lợi 1.3 Vốn đầu tư phát triển khác. a) Đầu tư nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học công nghệ Đây là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Nhưng thực tế vẫn chưa được chú trọng đầu tư, các hoạt động này chỉ chiến khoảng từ 1% đến 3% tổng lượng đầu tư của doanh nghiệp. Và nhà nước vẫn đang khuyến khích các doanh nghiệp tích cực đầu tư vào lĩnh vực này để phần nào tăng cường cho nền công nghệ vốn đang còn lạc hậu của nước ta b) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là động lực quan trọng nhất, là nhân tố chủ yếu quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy đầu tư phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu hàng đầu của hầu hết các doanh nghiệp. Hàng loạt các tổng công ty nhà nước, các tập đoàn đã và đang mở những lớp đào tạo ngay tại chính doanh nghiệp mình tạo ra 1 lực lượng lao động có đầy đủ chuyên môn phù hợp nhất với nhu cầu của doanh nghiệp và ngoài ra còn cung cấp cho những doanh nghiệp khác cùng địa bàn. Đây là một hướng đầu tư tích cực đang được nhà nước khuyến khích bằng nhiều chính sách cụ thể như nghị định 143 CP của chính phủ ban hành ngày 15/6/2005 về việc tổ chức đào tạo nhân lực tại các doanh nghiệp… c) Đầu tư phát triển tài sản vô hình Trong thời đại kinh tế thị trường đang phát triển ngày một hoàn thiện nhưngày nay tài sản vô hình của doanh nghiệp là 1 yêu tố quan trọng nó quyết định khả năng tiêu thụ của sản phẩm và giá cả của chúng trên thị trường. Vì lẽ đó hàng loạt các doanh nghiệp nhà nước đang đầu tư rất mạnh tay để nâng cao giá trị tài sản vô hình trong doanh nghiệp bao gổm: thương hiệu, hoạt động marketing, quảng cáo phân phối… chiếmkhoảng từ 18% đến 22% tổng lượng đầu tư của doanh nghiệp d) Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp Việc liên doanh liên kết với các doanh nghiệp khác đang dần trở thành 1 su hướng mới trong chiến lược phát triển của các doanh nghiệp nhà nước. Hiện nay 1 bộ phận lớn các doanh nghiệp thực hiện liên doanh liên kết tạo thành những tập đoàn lớn mạnh như tập đoàn Bảo Việt, Tập đoàn pertronimex V.V… Ngoài ra 1 xu hướng khác đang hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ đó là đầu tư ra nước ngoài. Đây là một hướng đi mới là một tín hiệu tốt cho nền kinh tế Việt Nam, nó khẳng định các doanh nghiệp nhà nước đang ngày càng lớn mạnh đủ tiềm lực kinh tế để kinh doanh ở những thị trường mới, không chỉ quẩn quanh ở “ao làng” nữa. 2. Theo nguồn gốc sở hữu vốn 2.1 Thực trạng huy động vốn chủ sở hữu ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay. a)Vốn ngân sách nhà nước Đây là nguồn vốn lớn và chiếm tỷ trọng thường xuyên của doanh nghiệp nhà nước. Có nguồn vốn ngân sách vừa là một thế mạnh nhưng cũng tạo không ít hạn chế trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp Nhà nước là chủ sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vì là người cấp vốn đầu tư ban đầu và đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp. Như vậy, cho dù theo quy định của pháp luật, DNNN có quyền sử dụng, định đoạt vốn và tài sản trong kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, nhưng vai trò chủ sở hữu đối với các tài sản trong doanh nghiệp vẫn thuộc về Nhà nước. Việc xác định chủ sở hữu đối với tài sản trong DNNN liên quan trực tiếp đến nguyên tắc phân chia, sử dụng lợi nhuận thu được từ nguồn vốn do Nhà nước cấp và từ vốn của bản thân doanh nghiệp tự đầu tư, nhất là xác định tỷ lệ lợi nhuận mà doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp vào ngân sách Nhà nước (NSNN). Do đó, khi chưa có quy định cụ thể, rõ ràng làm căn cứ để phân định tài sản thuộc về sở hữu Nhà nước và tài sản thuộc sở hữu của tập thể người lao động trong doanh nghiệp để xác định phạm vi trách nhiệm đối với từng tài sản đó, thì các nguyên tắc để bảo đảm quyền tự chủ về tài chính trong kinh doanh, bảo toàn vốn, ổn định nguồn thu cho NSNN sẽ khó thực hiện. Mặt khác, nếu vẫn quan niệm tài sản trong DNNN thuộc sở hữu Nhà nước và lợi nhuận làm ra đều phải nộp cho Nhà nước, thì sẽ không tạo ra động lực gắn bó người lao động với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, khi họ đưa lợi nhuận thu được, tức tài sản thuộc sở hữu của tập thể người lao động để tái đầu tư sản xu t kinh doanh trong doanh nghiệp. Hiện nay, chế định về sở hữu tài sản trong DNNN vẫn chưa quy định rõ các căn cứ để xác định chế độ sở hữu khác nhau đối với các nguồn vốn, tài sản trong DNNN và các nguyên tắc, chế độ phân phối lại lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.   Đứng trước cơ chế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt thì sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước có khi làm giảm khả năng cạnh tranh trong phần đông các DNNN. Một thực tế là, DNNN làm ăn thua lỗ, đến cuối năm 2004 chỉ còn 25% DNNN đang hoạt động có hiệu quả, “cơ chế tái bao cấp” trở thành phổ biến, việc khoanh nợ, giãn nợ, xoá nợ đã gây thiệt hại không nhỏ cho ngân sách Nhà nước, song không xác định được trách nhiệm thuộc về hoạt động kinh doanh yếu kém của doanh nghiệp hay thuộc về các cơ quan quản lý Nhà nước. Thực hiện chế độ phân cấp, uỷ quyền, Chính phủ giao cho Bộ Tài chính là người thực hiện quyền và trách nhiệm đại diện chủ sở hữu về vốn và tài sản trong DNNN (theo NĐ 34/CP). Song trên thực tế, UBND cấp tỉnh, các Bộ quản lý ngành cũng có một số quyền của đại diện chủ sở hữu như quyết định bổ sung vốn lưu động, quyết định phương án đầu tư vốn vào các dự án liên doanh, quyền phê duyệt các phương án thế chấp, cầm cố các tài sản có giá trị lớn... Như vậy, rõ ràng có sự chồng chéo trong việc thực hiện quyền của chủ sở hữu là Nhà nước với tư cách là người góp vốn đối với việc quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp. Hiện nay, chúng ta đang có quá nhiều đại diện sở hữu, có quá nhiều cơ quan Nhà nước và thực hiện quyền quản lý Nhà nước, việc chỉ đạo, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như việc tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh khó có thể bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, có hiệu quả, gây khó khăn, lúng túng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Điều đáng chú ý là do có nhiều cơ quan quản lý, đại diện chủ sở hữu nên khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, vi phạm pháp luật thì việc xác định trách nhiệm cũng rất khó khăn. b) Vốn góp liên doanh, liên kết, vốn cổ phần hóa Sau hơn 15 năm (1998-2008) thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu các DNNN cho thấy: CPH đã tạo ra cho DN có nhiều chủ sở hữu, bao gồm Nhà nước, người lao động trong DN, cổ đông ngoài DN; trong đó, người lao động trong DN trở thành người chủ thực sự trong phần góp vốn của mình. Trong báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện cổ phần hóa DNNN tại phiên họp thứ 43 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/9/2006 đã chỉ rõ: Những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001, số lượng DNNN được cổ phần hoá tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việc triển khai còn khá chậm. Tính đến 31/12/2005, cả nước mới cổ phần hoá được 2.935 DNNN. Số doanh nghiệp được cổ phần hoá tăng nhiều, nhưng số vốn mới chiếm 12% tổng số vốn trong các DNNN. Nếu trừ đi phần vốn Nhà nước còn giữ lại gần 50% trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, thì thực chất tỷ lệ trên chỉ còn khoảng 6%. So với mục tiêu của Nghị quyết TW 9 (khoá IX) thì còn chậm, nhất là các doanh nghiệp có qui mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Theo kế hoạch cổ phần hóa DNNN tại báo cáo này, đến năm 2008 sẽ cổ phần hóa toàn bộ 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước. Cùng với việc cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước, Chính phủ đã quyết tâm từ nay đến 2010 cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp, tập trung nhiều nhất vào 2 năm 2007-2008. Sau 2010, cả nước còn khoảng 550 DNNN, trong đó có 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ thiết yết. 2.Thực trạng huy động và sử dụng vốn nợ ở các doanh nghiệp nhà nước hiện nay Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2007, tổng vốn chủ sở hữu của 70 tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 323 nghìn tỷ đồng, nhưng số vốn huy động của các doanh nghiệp này đã lên tới hơn 448 nghìn  tỷ đồng, gấp 1,4 lần vốn chủ sở hữu. Một số tập đoàn, tổng công ty có hệ số vay nợ trên vốn chủ sở hữu quá cao. Có 28/70 tập đoàn, tổng công ty còn đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp, chủ yếu vào lĩnh vực chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm... với giá trị hơn 23.344 tỷ đồng, gấp 8,7 lần vốn chủ sở hữu. Bộ Tài chính nhận định, hiện nay, do Nhà nước chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ hoạt động này nên có nhiều Cty Nhà nước huy động vốn quá lớn, dư nợ phải trả cao gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu, dẫn đến khả năng thanh toán không đảm bảo, ảnh hưởng đến an ninh tài chính. Tính đến 9 tháng đầu năm 2008, trong số 70 tập đoàn, TCty thì có 30 đơn vị có hệ số nợ phải trả trên vốn vượt trên 3 lần, thậm trí nhiều DN vượt trên 20 lần như TCty Xây dựng công trình giao thông 5 gấp 42 lần, TCty Xây dựng công trình giao thông 1 gấp 22,5 lần, TCty Lắp máy VN gấp 21,5 lần, Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ VN gấp 21,8 lần ... Ngoài ra, một số DN huy động vốn từ các Cty tài chính, ngân hàng có vốn góp của tập đoàn, TCty Nhà nước cũng rất rủi ro do được hưởng nhiều ưu đãi như không bắt buộc phải có đủ tài sản đảm bảo cho khoản vay, thủ tục vay vốn đơn giản… dễ dẫn đến đổ vỡ dây chuyền khi mất khả năng thanh toán. Trong khi đó, do hiện nay quy định không hạn chế phạm vi ngành nghề, lĩnh vực và quy mô đầu tư vốn ra ngoài DN nên trong thời gian vừa qua nhiều DNNN đã góp vốn đầu tư hoặc mua cổ phần, vốn góp tại nhiều DN khác, phân tán vào nhiều lĩnh vực kể cả không thuộc lĩnh vực ngành nghề chủ yếu. Đáng chú ý, một số tập đoàn, TCty đã dành một lượng vốn khá lớn đầu tư vào ngân hàng, bảo hiểm hoặc mua bán cổ phiếu trên thị trường. Theo báo cáo của 70 tập đoàn, TCty thì có tới 28 đơn vị hoạt động đầu tư chứng khoán, thành lập Cty chứng khoán, đầu tư vào Cty quản lý quỹ, ngân hàng thương mại, Cty bảo hiểm với giá trị đầu tư là 23.344 tỷ đồng, chiếm 8,7% vốn chủ sở hữu và 20% tổng số vốn đầu tư ra ngoài. Cụ thể, Tập đoàn Dầu khí đầu tư 5.780 tỷ đồng, trong đó ngân hàng 1.100 tỷ đồng, Cty chứng khoán 76,5 tỷ đồng, Cty tài chính 4.005 tỷ đồng, Cty bảo hiểm 570 tỷ đồng, quỹ đầu tư 29 tỷ đồng; Tập đoàn công nghiệp Tàu thuỷ VN đầu tư 1.894 tỷ đồng, trong đó lĩnh vực ngân hàng 344 tỷ đồng, bảo hiểm 1.462 tỷ đồng (Bảo Việt), quỹ đầu tư 88 tỷ đồng... Với tình hình thị trường chứng khoán đi xuống tới 50%, bất động sản đóng băng, kinh doanh ngân hàng ngày càng khó khăn, khả năng trả nợ ngân hàng của các tổng công ty lớn là câu hỏi lớn. Nhiều doanh nghiệp sử dụng vốn vay để đầu tư chéo, mua cổ phiếu của ngân hàng, mua của nhau và của các công ty mới thành lập trong các lĩnh vực nóng. Khi mà cổ phiếu IPO cũng như trên sàn niêm yết đều giảm mạnh, sẽ tạo ra thua lỗ dây chuyền giữa các công ty với nhau. Thua lỗ tài chính chắc chắn nhiều, không biết liệu doanh nghiệp lấy tiền ở đâu ra để trả vốn vay. Trong khi nền kinh tế gặp không ít khó khăn, lạm phát tăng, lãi suất vay ngân hàng tăng. Doanh nghiệp không có đủ lợi nhuận để vừa trả lãi ngân hàng cho số vốn đi vay, vừa phải bù vào phần vốn đã mất do đầu tư nhiều vào chứng khoán và bất động sản. Chương III . Một số nguyên nhân và giải pháp về huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong các DNNN hiện nay. I. Nguyên nhân làm giảm hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước. Thực tế cho thấy mặc dù hưởng nhiều ưu đãi nhưng hoạt động đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng.Trong nhiều nguyên nhân làm giảm hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển,hoạt động huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước, có một số nguyên nhân chính chủ yếu sau đây. 1. Về quản lý ở tầm vĩ mô: Thứ nhất, công tác quy hoạch đầu tư chưa được chú trọng và còn bất hợp lý. Quá trình xây dựng kế hoạch phát triển ngành vùng còn chưa căn cứ vào thực tế cung cầu thị trường, điều này dẫn đến hoạt động đầu tư chồng chéo, thất thoát nhiều, hiệu quả đầu tư giảm. Thứ hai, cơ chế quản lý vốn trong doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập,chưa thích ứng với cơ chế thị trường.Thể hiện:Một là, vai trò chủ sở hữu về vốn, tài sản của nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước không rõ ràng và còn nhiều chồng chéo, chế độ đại diện chủ sở hữu gián tiếp nhiều khi gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp,làm giảm tính năng động của kinh tế nhà nước.Hai là,nhà nước vừa làm chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, vừa chủ sỏ hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, nên vừa can thiệp quá sâu vào tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa buông lỏng khâu kiểm tra giám sát. Thứ ba, những nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách, luật pháp có liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Một số chính sách hiện tại chưa được sửa đổi phù hợp với tình hình mới, một số thiếu sót hoặc chồng chéo như giữa luật doanh nghiệp nhà nước(2003) và luật DN (2005),luật tiền lương,luật phá sản, luật đấu thầu… Thứ tư,ngoài mục tiêu kinh doanh như các thành phần kinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước còn có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ xã hội. Theo đuổi nhiều mục tiêu nên hiệu quả kinh doanh hiệu quả đầu tư thường thấp. Đây cũng chính là cái cớ để các nhà quản lý biện hộ cho hoạt động kinh doanh kém hiệu quả của mình. 2.Về quản lý vi mô ở doanh nghiệp: Thứ nhất,tình hình tài chính không minh bạch,thiếu lành mạnh là trở ngại lớn nhất cho hoạt động huy động vốn ở doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề này liên quan đến công nợ, số nợ “khoanh”, nợ “treo” không được giải quyết dứt điểm.Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, doanh nghiệp nhà nước có các khoản nợ phải trả và phải thu đều rất lớn và có xung hướng tăng, làm ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận các nguồn vốn, khả năng mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ, do đó còn ảnh hưởng tới cả hiệu quả đầu tư trong tương lai. Thứ hai, công tác chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư theo dự án của nhiều doanh nghiệp nhà nước chưa thực hiện theo đúng thủ tục quy định. Công tác thẩm định, đấu thầu còn tồn tại nhiều bất cập, tiềm ẩn những nguy cơ làm suy giảm hiệu quả hoạt động đầu tư, dẫn đến giảm hiệu quả huy động và sử dụng vốn. Thứ ba,do những yếu kém về trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ và trình độ tay nghề của CBCNV trong doanh nghiệp nhà nước.Trình độ của một bộ phận không ít cán bộ điều hành quản lý doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường, gây suy giảm, thất thoát trong sử dụng vốn đầu tư. II. Một số giải pháp nhằm nầng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của DNNN. 1. Về mặt vĩ mô . Thứ nhất : Hoàn thiện cơ chế quản lí hoạt động đầu tư DNNN Trước hết, nhà nước cần tăng cường quyền tự chủ cho các DNNN, để các DNNN tự chịu trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn DN tự huy động, tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ, khoản thua lỗ. Nhà nước chỉ hỗ trợ về tài chính cho những trường hợp thua lỗ vì nguyên nhân khách quan. Đối với những trường hợp nhất thiết phải bảo hộ thì phải có thời hạn rõ ràng và điều kiện, nhằm nâng cao hiệu quả thực sự cho các DN. Tiếp tục đẩy mạnh quá trình đổi mơí, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của khu vực DNNN, trọng tâm là cổ phần hoá mạnh hơn nữa, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá và mở rộng diện các DNNN cổ phần hoá, kể cả một số tổng công ty và các DN lớn trong các ngành mà Nhà nước không nắm giữ 100℅ vốn. Cần khẩn trương xoá bỏ tình trạng đặc quyền kinh doanh của DNNN phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhà nước có cơ chế kiểm soát, điều tiết hoạt động đối với các doanh nghiệp có thị phần lớn, có thể khống chế thị trường, trước hết là thị trường các hàng hoá, dịch vụ thiết yếu đối với an sinh xã hội. Thứ hai : Xây dựng chiến lược, chủ trương đầu tư hợp lí, phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của đất nước. Chiến lược là cơ sở quan trọng để lập các quy hoạch và kế hoạch, đặc biệt là các quy hoạch và kế hoạch đầu tư của DNNN. Chiến lược đúng, chủ trương đầu tư đúng là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của ngành và DN. Ngược lại, chủ trương đầu tư sai sẽ không có hiệu quả đầu tư hoặc hiệu quả đầu tư rất thấp kém. Trong thời gian tới, nhà nước phải hạn chế đầu tư vào những lĩnh vực đã bão hoà như sắt thép, xi măng, mía đường và sớm sửa đổi quy chế đấu thầu theo hướng tăng thêm quyền quyết định và trách nhiệm đầu tư cho DN. Khuyến khích các DN tự huy động nguồn vốn để đầu tư. Nhà nước chỉ đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực có nhu cầu vốn đầu tư lớn. Đồng thời, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ về vốn ( ưu đãi lãi suất vốn vay, miễn thuế thu nhập để tái đầu tư) cho các DN đầu tư đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ . Thứ ba : Hoàn thiện cơ chế điều hành thị trường. Tạo lập và phát triển đồng bộ các thị trường, hoàn thiện mở rộng thị trường chứng khoán để sớm trở thành một kênh huy động vốn có hiệu quả cao cho các DNNN, phát triển thị trường cho thuê tài chính. Bên cạnh đó, nhà nước cần lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, đẩy mạnh chống gian lận thương mại, đồng thời có biện pháp xử lí nghiêm minh theo quy định của pháp luật đối với các cá nhân và tổ chức có hành vi đầu cơ, găm hàng, nâng giá, thu lời bất chính. Tuyên truyền phổ biến pháp luật về sở hữu công nghiệp cho DN. Hướng dẫn, cải tiến thủ tục tạo điều kiện thuận lợi cho các DN đăng kí thương hiệu hàng hoá, dịch vụ của mình. Đồng thời nhà nước cần có biện pháp bảo vệ thương hiêuh hàng hoá cho các DN, tăng cường công tác nghiên cứu thị trường, giá cả, dự báo, hỗ trợ cho các DN mở rộng thị trường để tìm đầu ra cho sản phẩm. Trên cơ sở Luật cạnh tranh, phải đảm bảo cho các DN cạnh tranh bình đẳng trên một sân chơi. Theo hướng đó, Nhà nước cần sớm có cơ chế kiểm soát hành vi của các hành vi của các DNNN độc quyền, hành vi cấu kết, lũng đoạn, chi phối đến giá cả thị trường, đặc biệt là những vật tư chiến lược, những đầu vào chủ yếu của các DN khác. Nhà nước cần phải nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông cũng như chất lượng dịch vụ của các thể chế nhà nước như ngân hàng, bảo hiểm... vì tất cả những dịch vụ này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh, chi phí sản xuất cũng như hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Thứ tư : Tổ chức bộ máy quản lý,giám sát sử dụng vốn đầu tư: Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan quản lý vốn đầu tư ở mỗi ngành và địa phương. Hiện nay, ở mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi doanh nghiệp đều thực hiện việc đầu tư cho rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng cũng như ở Trung ương, ở các ngành và địa phương hầu như chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm theo dõi tổng hợp về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cuả tất cả các lĩnh vực, ngành nghề. Trong thời gian tới, cần phân công cho một cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi tổng hợp tình hình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, định kỳ có sự đánh giá về vấn đề này và có báo cáo cho các cấp uỷ và chính quyền kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, đồng thời thông qua các phương tiện thông tin Đại chúng, kịp thời công bố cho cán bộ, nhân dân biết để cùng tham gia vào quá trình quản lý. Đối với các ban quản lý chương trình, công trình: Bên cạnh các cơ quan quản lý tổng hợp, cũng cần tiếp tục đổi mói phương thức hoạt động của các đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư như ban quản lý các chương tình, công trình sao cho mỗi khoản mục đầu tư đều có người Đại diện chủ sở hữu và người quản lý cụ thể với quyện hạn. 2.Về mặt vi mô . Tập trung đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư các công trình trọng điểm. Thứ nhất: Tập trung nguồn lực để đầu tư các công trình trọng điểm. Các chủ đầu tư tập trung chỉ đạo bố trí đầy đủ các nguồn lực( con người, nguồn vốn) để triển khai đầu tư các công trình trọng điểm như việc xây dựng các nhà máy xi măng, các công trình thủy điện, các dự án đóng tàu, ôtô, các dự án xây dựng khu tái định cư khi di dời các nhà máy, khu dân cư…Đối với những công trình nằm tron kế hoạch bố trí nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, Bộ tài chính chỉ đạo cung ứng đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tập trung nguồn vốn từ quá trình sắp xếp lại công ty nhà nước để đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào những lĩnh vực, ngành nghề, doanh nghiệp có hiệu quả cao để đảm bảo an tòan và phát triển vốn; nâng cao trách nhiệm của người đầu tư vốn và người sử dụng vốn nhà nước. Thứ hai: Đổi mới phương thức quản lý đầu tư kinh doanh vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Việc chuyển đổi phương thức quản lý từ cơ chế hành chính sang cơ chế đầu tư vốn thông qua việc thành lập Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn của Nhà nước vào giai đoạn là cấp thiết nhằm đạt được các mục tiêu sau: (1) Thực hiện quản lý thống nhất các nguồn vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn Nhà nước. (2) Phân định rõ quản lý Nhà nước và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (3) Chuyển từ cơ chế cấp vốn trực tiếp cho doanh nghiệp sang hình thức đầu tư vốn vào doanh nghiệp, tiến tới xoá bỏ việc cấp vốn trực tiếp từ NSNN đối với DNNN không cần nắm giữ 100% vốn. (4) Đẩy nhanh quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN và thúc đẩy thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển. ♦ Về mô hình tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước tại doanh nghiệp có thể định hướng như sau: Thứ nhất, về mô hình tổ chức: Tổng công ty được tổ chức theo mô hình DNNN có Hội đồng quản trị, được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động theo quy định của Luật DNNN. Thứ hai, về nguyên tắc đầu tư: Tổng công ty tập trung đầu tư phát triển những ngành, lĩnh vực then chốt mang tính chiến lược có vai trò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Chú trọng đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có hiệu quả cao, có khả năng sinh lời vốn. Tập trung đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Tổng công ty. Thứ ba, về hình thức đầu tư: Tổng công ty thực hiện đầu tư trực tiếp hoặc góp vốn với các tổ chức, cá nhân để thành lập các doanh nghiệp mới; đầu tư vốn vào các doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi sở hữu do Nhà nước bàn giao cho Tổng công ty quản lý; đầu tư gián tiếp cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán. Thứ tư, về phương thức đầu tư: Tổng công ty thực hiện đầu tư thông qua các phươngthức: (1) Duy trì tỷ lệ vốn sở hữu của Tổng công ty tại các doanh nghiệp; (2) Bán toàn bộhoặc một phần cổ phần của mình đối với các công ty, các ngành không còn có ý nghĩa chiến lược hoặc đánh giá thấy không còn phù hợp để đầu tư; (3) Bán cổ phiếu của mình hoặc giải thể các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ để hạn chế đến mức thấp nhất sự thiệt hại do đầu tư kém hiệu quả. Chắc chắn rằng, với việc ra đời của Tổng công ty đầu tư vốn và Nhà nước, việc quản lý phần vốn của Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp trong thời gian tới sẽ có các bước chuyển biến tích cực, đóng góp chung vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN trong tiến trình đổi với và hội nhập. Đẩy mạnh tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Thứ ba: Cần thực hiện một số biện pháp cấp thiết khác Chú trọng nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; trên cơ sở đánh giá thị trường và lợi thế cạnh tranh, xác định rõ cơ cấu sản phẩm, dịch vụ, thị trường, phương thức kinh doanh, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, giảm giá thành, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ, xây dựng thương hiệu. Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước; đề cao văn hoá trong kinh doanh, xây dựng truyền thống và uy tín của doanh nghiệp; phải trung thực và minh bạch tài chính trong quá trình kinh doanh; thực hiện tốt quản trị nội bộ, chú trọng đào tạo và chính sách đãi ngộ đối với người lao động để phát triển ổn định và bền vững. Có kế hoạch và giải pháp cụ thể thực hành tiết kiệm và giảm các chi phí về nguyên liêu, vật liệu, năng lượng trong sản xuất; điều chỉnh, bổ sung các định mức lao động, bảo đảm tăng năng suất lao động và tiết kiệm chi phí lao động; tổ chức lại sản xuất nhằm giảm chi phí trong từng khâu; đổi mới tổ chức quản lý, nhất là quản lý năng suất và chất lượng. Đẩy mạnh liên doanh, liên kết để giải quyết đầu vào, đầu ra; nghiên cứu chuyển giao công nghệ và đào tạo; góp phần tạo vốn, tạo mạng lưới kinh doanh, trao đổi thông tin, sử dụng các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh có hiệu quả. Thực hiện tốt việc tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng giữa doanh nghiệp với nông dân, nhằm gắn kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm ổn định nguồn nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh. TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình kinh tế đầu tư_NXB Trường đại học Kinh Tế Quốc Dân/ 2007 Giáo trình tài chính doanh nghiệp_NXB Thống kê/2005 Website Bộ công thương M.O.I/ Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước Website Vietbao.vn/ Sau cổ phần hoá DNNN khó vay vốn Website Bộ kế hoạch và đầu tư_ mpi.gov.vn Website Tổng cục thống kê_ gso.gov.vn Website vietnamnet.vn Website mov.com.vn Website doanhnghiep24H.com Website vietinbank.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp Thực trạng và giải pháp huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay.doc
Luận văn liên quan