Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2005 - Cơ sở lý luận và thực tiễn, phương hướng hoàn thiện

Mục Lục Trang I. Quan niệm về nguyên tắc hai cấp xét xử 1 1. Khái niệm cấp xét xử 1 2. Mối liên hệ giữa nguyên tắc hai cấp xét xử và thủ tục tố tụng 1 3. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong các hệ thống pháp luật và trong pháp luật Việt Nam 1 3.1. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong các hệ thống pháp luật 1 3.2. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong pháp luật Việt Nam 2 4. Các quy định của pháp luật trong thực hiện chế độ hai cấp xét xử 3 4.1. Cấp sơ thẩm (cấp thứ nhất) 3 4.2. Cấp phúc thẩm (cấp thứ hai) 3 4.3. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 4 II. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục tố tụng dân sự 4 1. Thực trạng về thủ tục TTDS khi áp dụng nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử 4 2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục TTDS 7 8 Tài liệu tham khảo

doc10 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 22/02/2013 | Lượt xem: 1894 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2005 - Cơ sở lý luận và thực tiễn, phương hướng hoàn thiện, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I. Quan niệm về nguyên tắc hai cấp xét xử 1. Khái niệm cấp xét xử (1) . Trích tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5/2007, nguyên tắc hai cấp xét xử và việc áp dụng nguyên tắc đó vào việc tổ chức tòa án các cấp. Trong Luật TTDS cũng như tổ chức tư pháp người ta thường đề cập tới cấp xét xử. Tuy nhiên, thế nào là cấp xét xử lại chưa được đề cập đến trong khoa học pháp lý nước ta. Trong khoa học pháp lý Liên xô cũ, người ta quan niệm cấp xét xử như là “giai đoạn xem xét vụ án tại Toà án với thẩm quyền xác định”(1). Quan niệm này cũng được nhận thức tương đối phổ biến trong khoa học pháp lý nước ta. Xuất phát từ đây, người ta cho rằng trong tố tụng tồn tại các cấp xét xử là xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm. Theo quan niệm này thì cấp xét xử đơn thuần là khái niệm tố tụng chung, thể hiện một giai đoạn xét xử nhất định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính v.v.. Nhưng, khái niệm cấp xét xử không phải là khái niệm tố tụng đơn thuần. Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng thể hiện quan điểm của Nhà nước về xét xử các vụ án nhằm bảo đảm tính chính xác, khách quan trong phán quyết của Tòa án, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân. Vì vậy, các quốc gia đều áp dụng nguyên tắc vụ án có thể được tổ chức xét xử nhiều lần và tổ chức hệ thống Tòa án để thực hiện nguyên tắc đó trong thực tế. Cấp xét xử không đơn thuần chỉ là thủ tục tố tụng; nó còn liên quan nhiều đến cách tổ chức tố tụng, tổ chức Tòa án để thực hiện việc xét xử lại vụ án. 2. Mối liên hệ giữa nguyên tắc hai cấp xét xử và thủ tục tố tụng Cấp xét xử là hình thức tổ chức tố tụng. Cấp xét xử và thủ tục xét xử là hai khái niệm khác nhau, nhưng chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Nguyên tắc hai cấp xét xử là quan điểm chung có hướng chỉ đạo trong tổ chức tố tụng; còn thủ tục tố tụng là quy định cần tuân thủ để thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Nguyên tắc hai cấp xét xử được tổ chức thực hiện bằng các quy định cụ thể của thủ tục tố tụng trong pháp luật tố tụng của mỗi quốc gia. Thủ tục tố tụng quy định càng chính xác thì nguyên tắc này càng phát huy hiệu quả của nó trong bảo đảm xét xử đúng đắn, khách quan vụ án và bảo vệ có hiệu quả các quyền tự do dân chủ của công dân, đặc biệt là của những người tham gia tố tụng. 3. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong các hệ thống pháp luật và trong pháp luật Việt Nam 3.1. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong các hệ thống pháp luật Trước hết, các nước theo hệ thống tranh tụng như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, mà ngược lại áp dụng nguyên tắc đặc trưng là xét xử chung thẩm. Tức là các bản án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được 1 . Nguồn: thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay, trừ những trường hợp đặc biệt vi phạm về thủ tục tố tụng hoặc những sai lầm về mặt pháp lý thì sẽ được tòa phúc thẩm xem xét lại(1). Tuy nhiên tòa phúc thẩm cũng chỉ xem xét lại về mặt pháp lý và thủ tục chứ không xét lại những nội dung sự kiện đã được bồi thẩm đoàn quyết định tại tòa sơ thẩm. Sở dĩ các nước theo mô hình tranh tụng không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử là vì quan niệm về vai trò, ý nghĩa của bồi thẩm đoàn tham gia tố tụng ở các nước này. Trong những vụ án dân sự phức tạp hoặc tranh chấp có giá trị lớn đều có bồi thẩm đoàn tham gia phiên tòa sơ thẩm. Nếu vụ án dân sự xét xử có bồi thẩm đoàn thì tại phiên tòa, bồi thẩm đoàn chỉ xem xét và quyết định về những vấn đề sự kiện còn những nội dung pháp lý sẽ do thẩm phán quyết định. Trái lại, các nước theo mô hình tố tụng thẩm xét thì nguyên tắc đặc trưng lại là hai cấp xét xử. Cơ sở lý luận cho việc áp dụng nguyên tắc này là: Thứ nhất, với quan niệm rằng thẩm phán mặc dù được đào tạo chuyên môn về luật pháp, có kinh nghiệm xét xử v.v.. Nhưng họ cũng có thể mắc những sai lầm do trình độ, nhận thức hoặc cảm tính cá nhân. Để khắc phục những sai sót có thể xảy ra đó, pháp luật tạo điều kiện cho các đương sự sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm) có cơ hội yêu cầu tòa áp cấp trên xem xét lại một lần nữa (phúc thẩm). Tòa án cấp trên với hội đồng xét xử có số lượng thẩm phán nhiều hơn, có kinh nghiệm hơn sẽ là đảm bảo tốt hơn cho vụ án được giải quyết công bằng, khách quan. Thứ hai, nguyên tắc bản án, quyết định có thể bị xem xét lại còn có tác dụng nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thẩm phán sơ thẩm. Thực vậy, với khả năng các phán quyết của mình có thể sẽ bị phúc thẩm để xem xét lại sẽ làm cho họ cảnh giác hơn, thận trọng hơn. Mặt khác, nếu thẩm phán bị phát hiện có nhiều sai lầm trong nghiệp vụ sẽ là một dấu ấn không tốt cho việc thăng tiến trong tương lai hoặc tái bổ nhiệm. Nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc được xác định trong tố tụng hiện đại. Nguyên tắc này được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước về quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc, Quy chế về Toà án hình sự quốc tế. 3.2. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong pháp luật Việt Nam Trước năm 2004, nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử theo hai cấp được quy định tại Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960 (Điều 9) và Sắc lệnh số 01/SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định về tổ chức tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân (Điều 8), nhưng từ khi Luật tổ chức tòa án năm 1980 ban hành thì không quy định nữa. Đến năm 2002, nguyên tắc này lại được quy định tại Điều 11 LTCTAND. Và khi BLTTDS năm 2004 được ban hành thì hai cấp xét xử mới chính thức được quy định là một trong những nguyên tắc cơ bản (tại Điều 17 BLTTDS). Tuy vậy, những nội dung cơ bản của nguyên tắc này trong BLTTDS 2004 hầu như không có sự thay đổi so với các văn bản pháp luật TTDS trước đây. Nguyên tắc hai cấp xét xử được quy định tại các Điều 17, 245, 247, 252 BLTTDS với nội dung cơ bản là: xác định việc xét xử vụ án dân sự được thực hiện ở 2 cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm; bản án, quyết định sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nếu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì tòa án cấp phúc thẩm phải xét xử lại vụ án. Bản án, quyết định của tòa án cấp phúc thẩm không thể bị kháng cáo, kháng nghị mà có hiệu lực pháp luật ngay. Nội dung (phạm vi) phúc thẩm là chỉ xét lại những nội dung do đương sự kháng cáo và bị giới hạn bởi phạm vi mà bản án sơ thẩm đã giải quyết và những bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật phải được mọi chủ thể tuyệt đối chấp hành. 4. Các quy định của pháp luật trong thực hiện chế độ hai cấp xét xử 4.1. Cấp sơ thẩm (cấp thứ nhất) Cấp sơ thẩm tiến hành trình tự, thủ tục giải quyết vụ án lần thứ nhất. Tất cả các vụ án nếu đưa ra xét xử thì đều phải tiến hành qua cấp sơ thẩm. Đây là cấp xét xử không thể thiếu và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nếu cấp sơ thẩm xét xử chính xác, nghiêm túc thì bản án sẽ ít bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, từ đó vụ án sẽ không bị kéo dài. Hoặc giả sử, nếu bản án bị kháng cáo hoặc kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm thì cũng không mất nhiều công sức, thời gian và tiền của của Nhà nước cũng như của những người tham gia tố tụng. 4.2. Cấp phúc thẩm (cấp thứ hai) Cấp phúc thẩm tiến hành trình tự, thủ tục giải quyết vụ án lần thứ hai. Không phải tất cả các vụ án đã xét xử sơ thẩm đều phải tiến hành qua cấp phúc thẩm, chỉ những vụ án đã xét xử sơ thẩm mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm thì mới phải tiến hành qua cấp phúc thẩm. Pháp luật quy định có cấp phúc thẩm là xuất phát từ việc tôn trọng và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Mặt khác, xuất phát từ việc các phán quyết của Tòa án trước khi có hiệu lực pháp luật phải được xem xét một cách thận trọng. Khác với cấp sơ thẩm, pháp luật tố tụng quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm rất rõ và cụ thể tại Điều 275 của BLTTDS. Bản án của cấp phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay, là bản án cuối cùng và kết thúc quá trình giải quyết vụ án dân sự. Điều này hoàn toàn đúng và phù hợp với nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử đã được BLTTDS quy định tại Điều 17. 4.3. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Ngoài cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, pháp luật còn quy định một thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm (vì giám đốc thẩm và tái thẩm đều là thủ tục đặc biệt, có nhiều điểm giống nhau nên em xin chỉ phân tích thủ tục giám đốc thẩm). Điều 282 của BLTTDS quy định “giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 có nêu: “từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Việc quy định thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng là nhằm bảo đảm nguyên tắc pháp chế và nguyên tắc công bằng xã hội trong hoạt động xét xử, để cho tất cả các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật tuyệt đối không được trái pháp luật. Trong thẩm quyền của mình, hội đồng giám đốc thẩm có quyền hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại. Lý do để “hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại” được quy định tại Điều 299 của BLTTDS. II. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục tố tụng dân sự 1. Thực trạng về thủ tục TTDS khi áp dụng nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử Thực tiễn áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử ở nước ta hiện nay chưa được thực hiện tốt, các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề này đã và đang bộc lộ những điểm chưa hợp lý dẫn đến vi phạm nguyên tắc hai cấp xét xử, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân và làm kéo dài quá trình tố tụng. Các quy định về xét xử cấp sơ thẩm trong BLTTDS đã làm xuất hiện tình trạng một số người tiến hành tố tụng cho rằng “cứ xét xử, sai đã có cấp phúc thẩm xét xử lại”, từ đó thiếu cương quyết, dứt khoát, ỷ lại và lệ thuộc vào cấp phúc thẩm. Còn những người tham gia tố tụng lại coi “cấp sơ thẩm muốn xét xử thế nào cũng được, nếu đạt được ý nguyện thì thôi, nếu không đạt được ý nguyện thì kháng cáo, cấp phúc thẩm xét xử mới có hiệu lực pháp luật thi hành ngay”. Các quy định về xét xử phúc thẩm khi mà BLTTDS quy định về thẩm quyền thứ ba của hội đồng xét xử phúc thẩm là “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án”. Từ đó, dẫn đến nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử được quy định trong BLTTDS không phải chỉ qua hai phiên tòa. Và cũng không có một điều luật nào quy định trong BLTTDS là vụ án đã bị xét xử ở cấp phúc thẩm tới lần thứ mấy thì hội đồng xét xử phúc thẩm không có quyền “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án”. Có nghĩa là, một vụ án có thể bị đưa ra xét xử bao nhiêu lần ở mỗi cấp cũng được, đồng nghĩa với việc xét xử không có hồi kết thúc. Xét theo một khía cạnh nào đó, việc xét xử đi, xét xử lại là điều kiện tốt để Tòa án tìm kiếm được một quyết định thực sự đúng đắn cho việc giải quyết vụ án, không làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Nhưng với cách thức mà pháp luật quy định, thì không biết Tòa án phải cần tới bao nhiêu lần xét xử để đạt được mục đích? Đồng thời, cũng làm cho nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử và ý nghĩa cơ bản của nó bị phá vỡ. Nguyên nhân của việc này lại không phải bắt nguồn từ thực tế là dân sự vốn dĩ đã quá phức tạp, mà lại có nguồn gốc sâu xa ngay từ trong những quy định và không quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Những quy định về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm hiện hành đã tiềm ẩn nguy cơ cho một vụ án có thể bị xét xử nhiều lần bởi thẩm quyền “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án”. Như chúng ta đã biết, lý do để “hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án” được quy định tại Điều 277 của BLTTDS là: Thứ nhất, do “việc chứng minh và thu thập chứng cứ của cấp sơ thẩm không đúng theo quy định hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được”. Về quy định này, vấn đề đặt ra là tại sao cấp phúc thẩm lại không thu thập, bổ sung thêm những nội dung còn thiếu trước khi mở phiên tòa, trong khi việc này không phải là cấp phúc thẩm không làm được. Thứ hai, do “thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng theo quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng” mặc dù biết rằng, nếu cấp sơ thẩm khi bị buộc phải xét xử lại sẽ khắc phục được các vi phạm, sẽ bảo đảm được đầy đủ về mặt thủ tục, thì kết quả xét xử vẫn không thay đổi. Vì vậy, đây là một quy định cứng nhắc. Trước đây tại Công văn số 196/NCPL ngày 24/02/1965 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về một số vấn đề thủ tục tố tụng đã có nêu: nếu những thiếu sót đó (về thủ tục tố tụng) không nghiêm trọng thì Tòa án phúc thẩm lưu ý Tòa án cấp dưới để rút kinh nghiệm, tránh sai sót về sau, nhưng tinh thần đó đến nay không được tiếp thu. Vì vậy, bản án cấp sơ thẩm có những sai sót về thủ tục tố tụng phải chịu một hậu quả giống như bản án có sai lầm về nội dung: bị hủy bỏ và phải xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Em cho rằng, điều này là không hợp lý. 1. Vũ Văn Nhiêm, Về chế độ hai cấp xét xử, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7 (2003), tr. 37. Giám đốc thẩm, tái thẩm là một thủ tục đặc biệt của pháp luật tố tụng nhằm bảo đảm cho các bản án, quyết định của Tòa án không có sai phạm. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 299 BLTTDS nếu “hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại” thì cũng dẫn vụ án vào tình trạng xét xử đi, xét xử lại. Điều này làm mất đi tính đặc biệt của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Do vậy, việc sớm hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng về thủ tục giám đốc thẩm là đòi hỏi cấp thiết, một mặt nhằm bảo đảm một quy trình chặt chẽ cho việc giám đốc thẩm, mặt khác giúp nâng cao uy tín của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật thống nhất; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Hơn thế nữa, ở nước ta không có sự phân biệt giữa vấn đề sự kiện và pháp lý. Vì vậy mà không chỉ tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm được xem xét đến toàn bộ nội dung vụ án mà kể cả trong thủ tục giám đốc thẩm, thủ tục đặc biệt xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, tòa án cũng xem xét lại cả các căn cứ về sự kiện cũng như về pháp lý. Đó là các quy định Khoản 1 Điều 283 BLTTDS; Khoản 1, 2 Điều 299 BLTTDS. Ở nước ta thẩm quyền phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm được trao cho nhiều đơn vị xét xử. Ngoài tòa án cấp huyện chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm thì tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử cả bốn thủ tục là sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm; TANDTC có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Hậu quả là không có sự khác biệt rõ rệt giữa tính chất của phúc thẩm và giám đốc thẩm, nên giám đốc thẩm bị biến dạng thành cấp xét xử thứ ba(1), nên vụ án phải xét xử đi, xét xử lại qua nhiều lần, nhiều cấp.. Mặt khác, ở nước ta thẩm quyền phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm được trao cho nhiều đơn vị xét xử. Đơn vị xét xử được hiểu có thể là một cấp tòa án cũng có thể là một bộ phận chuyên môn của tòa án nhưng có thẩm quyền xét xử độc lập. Bởi vì hệ thống tòa án nhân dân nước ta được tổ chức thành ba cấp gồm có TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh và TANDTC nên khi kết hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử đã biến mỗi cấp tòa án nước ta trở thành “đa năng”. Ngoài tòa án cấp huyện chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm thì tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử cả bốn thủ tục là sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm; TANDTC có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Đặc biệt hơn, trong mỗi cấp tòa án lại có nhiều đơn vị xét xử và các đơn vị xét xử này có quyền xét lại những bản án, quyết định của đơn vị xét xử khác mặc dù chúng đều thuộc một cấp tòa án. Chẳng hạn Hội đồng thẩm phán TANDTC có thẩm quyền xét lại những bản án, quyết định phúc thẩm của các tòa phúc thẩm hay các quyết định của các tòa chuyên trách. Tình trạng này đã biến mỗi cấp tòa án thành “đa cấp” xét xử. Chính sự “đa năng” và “đa cấp” của hệ thống tòa án nước ta đã làm biến dạng nguyên tắc hai cấp xét xử thành ba cấp. 2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục TTDS Theo pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, một vụ án được xét xử qua cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, bên cạnh đó còn có thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm. Như vậy, theo nguyên tắc, một vụ 1. Nguồn: 2. Xem: Tưởng Duy Lượng, Bình luận một số án dân sự và hôn nhân gia đình, NXB Chính trị quốc gia 2001, tr. 59-68 án nếu phải xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì nhiều nhất cũng chỉ cần đến ba phiên tòa. Nhưng thực tế lại khác. Có những vụ án phải xét xử tới 9 - 10 phiên tòa, thậm chí tới 13 phiên tòa (ví dụ như: Vụ án tranh chấp nhà và đất ở giữa bị đơn là ông Trương Gia Hải và nguyên đơn là bà Trương Thị Bản, trú tại 27 phố Lê Lợi, quận Hà Đông (Hà Nội) với những chứng cứ rõ ràng nhưng qua 14 năm (1995-2009) với 13 phiên tòa vẫn chưa kết thúc (1); vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa bà Trần Thị Bình và bà Hoàng Thị Thanh ở Pleiku, Gia Lai đã trải qua 12 lần xét xử, kéo dài 18 năm, trong đó có 4 phiên tòa sơ thẩm, 4 phiên tòa phúc thẩm và 4 phiên tòa giám đốc thẩm(2)), nhưng vẫn chưa kết thúc được và cũng có thể không biết bao giờ mới kết thúc. Thực tế này phát sinh từ nhiều nguyên do, trong đó có việc chính trong các quy định của pháp luật đã tiềm ẩn những nguy cơ làm cho một vụ án có thể bị kéo dài và phải xét xử làm nhiều lần. Vì thế, em xin đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục TTDS đảm bảo cho nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử được thực thi đúng đắn: Theo phân tích trên: - Cần sửa đổi Khoản 3, Điều 275 của BLTTDS quy định về thẩm quyền của hội đồng xét xử phúc thẩm là “hủy bản án sơ thẩm và ra bản án mới”. Đây không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của hội đồng xét xử phúc thẩm; - Cần sửa đổi thành khoản 2, Điều 277 của BLTTDS: “Khi có dấu hiệu vi phạm thủ tục tố tụng nhưng xét thấy không ảnh hưởng đến nội dung vụ án thì hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm; Nếu có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng ảnh hưởng tới nội dung vụ án thì hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, ra bản án mới”. - Toà phúc thẩm không thể giải quyết những yêu cầu mới vì nếu như vậy sẽ vừa xét xử sơ thẩm vừa xét xử phúc thẩm ngay nên sẽ vi phạm nguyên tắc hai cấp xét xử. Tuy nhiên việc đề xuất các chứng cứ mới trước tòa phúc thẩm để biện giải cho các yêu cầu của mình là quyền của đương sự và nó hoàn toàn khác với các yêu cầu mới; - Nhằm bảo đảm cho tính nhanh chóng của tố tụng cũng như tránh tình trạng lạm dụng quyền yêu cầu xét lại của đương sự để kéo dài vụ án, pháp luật cần quy định chỉ cho phép đương sự kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị một lần mà thôi; - Mặt khác, chúng ta phải phân biệt vấn đề sự kiện và pháp lý trong TTDS. Do mô hình tố tụng dân sự nước ta được thiết kế theo mô hình thẩm xét, nên chúng ta có thể quy định cho cấp phúc thẩm có thể xem xét lại cả mặt sự kiện và pháp lý của vụ án. Tuy nhiên, đối với căn cứ kháng nghị phúc thẩm của viện kiểm sát nên giới hạn lại trong phạm vi những vấn đề về pháp lý hoặc vi phạm thủ tục tố tụng bởi vì sự tham gia của viện kiểm sát trong tố tụng dân sự là nhằm bảo vệ lợi ích công, trật tự pháp luật chứ không phải bảo vệ lợi ích cá nhân các đương sự; - Sửa đổi một số quy định về tính chất, phạm vi của giám đốc thẩm theo hướng chỉ xem xét, quyết định những vấn đề về pháp lý và thủ tục tố tụng chứ không thể xem xét lại mặt sự kiện của vụ án. Để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử thì phải quán triệt nguyên tắc những vấn đề về sự kiện của vụ án chỉ có thể xem xét tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm – tức là chỉ được giải quyết tối đa qua hai cấp xét xử. Cụ thể, một là, cần quy định lại tính chất của giám đốc thẩm là chỉ xem xét những vấn đề thuộc về mặt pháp lý hoặc thủ tục tố tụng của vụ án; hai là, bãi bỏ những quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm hay cơ sở thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định để xét xử lại vụ án được quy định tại khoản 1 Điều 283; khoản 1, 2 Điều 299 BLTTDS. Thay vào đó việc quy định căn cứ kháng nghị và thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm chỉ dựa trên những vấn đề pháp lý hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; ba là, quy định kết luận của bản án, quyết định không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án nên được sửa đổi là phần quyết định của bản án, quyết định không phù hợp với những nhận định của tòa án, tức là bản án, quyết định được tuyên bố thiếu cơ sở nên sẽ là căn cứ cho việc xét lại án theo thủ tục giám đốc thẩm; - Quy định lại thẩm quyền của từng cấp xét xử theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 8 khóa VII của Đảng (tháng 01/1995 ): “Cần nghiên cứu tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện theo hướng xét xử sơ thẩm được thực hiện chủ yếu ở Tòa án cấp này. Tòa án nhân dân cấp tỉnh chủ yếu xét xử phúc thẩm. Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu xét xử giám đốc thẩm”; - Hoàn chỉnh pháp luật TTDS, pháp luật tố tụng cần quy định hạn chế số lần Tòa án cấp phúc thẩm, hội đồng giám đốc thẩm được quyền hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới để giao Tòa án cấp dưới xét xử lại. Tài liệu tham khảo Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội – 2005; Bộ luật tố tụng dân sự 2004 và các văn bản hướng dẫn hti hành, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2008; TS. Lê Thu Hà, Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, Nxb. Tư pháp, Hà Nội – 2006; Trường Đại học Luật Hà Nội, Luận án Thạc sĩ luật học. Lê Thu Hà, Các cấp xét xử trong tố tụng dân sự của Việt Nam, Hà Nội – 1997; Mục Lục Trang I. Quan niệm về nguyên tắc hai cấp xét xử 1 1. Khái niệm cấp xét xử 1 2. Mối liên hệ giữa nguyên tắc hai cấp xét xử và thủ tục tố tụng 1 3. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong các hệ thống pháp luật và trong pháp luật Việt Nam 1 3.1. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong các hệ thống pháp luật 1 3.2. Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong pháp luật Việt Nam 2 4. Các quy định của pháp luật trong thực hiện chế độ hai cấp xét xử 3 4.1. Cấp sơ thẩm (cấp thứ nhất) 3 4.2. Cấp phúc thẩm (cấp thứ hai) 3 4.3. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 4 II. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục tố tụng dân sự 4 1. Thực trạng về thủ tục TTDS khi áp dụng nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử 4 2. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thủ tục TTDS 7 Tài liệu tham khảo

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử trong Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam 2005 - cơ sở lý luận và thực tiễn, phương hướng hoàn thiện.doc
Luận văn liên quan