Nhập khẩu nguyên liệu cho Doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu - Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết

Mục lục Lời nói đầu Chương I Tổng quan về nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu thời gian qua 3 I. Một số nét về hoạt động nhập khẩu 3 1 Khái niệm và vai trò của hoạt động nhập khẩu. 3 2 Vai trò của việc hoàn thiện hoạt động nhập khẩu. 4 3 Các công cụ quản lý hoạt động nhập khẩu 5 4 Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiện nay 6 II. Tổng quan về nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu thời gian qua 6 Chương II Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu. 11 I. Quá trình nhập nguyên liệu 11 II Thuế và thủ tục hải quan 12 1. Hoàn thiện về chính sách thuế nhập khẩu 12 2. Thủ tục hải quan 12 3. Cơ cấu thị trường nhập khẩu 20 4. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu 23 Kết luận.

doc26 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/05/2013 | Lượt xem: 1915 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nhập khẩu nguyên liệu cho Doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu - Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời nói đầu Nhìn lại hơn 10 năm đổi mới, bộ mặt nước ta đã có nhiều thay đổi đáng kể đó là đời sống nhân dân dã được cải thiện, các doanh nghiệp trong nước đã thích nghi được với nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế cũng thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng trong công nghiệp và dịch vụ. Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục sự nghiệp đổi mới phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Chính sách mở cửa của Nhà Nước đã góp phần đẩy mạnh trao đổi hàng hoá, khuyến khích xuất khẩu, nâng cao hiệu quả nhập khẩu. Nhà nước đồng thời mở rộng sự quan hệ hợp tác kinh tế với tất cả các nước khác trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vấn đề nổi lên là tình trạng cơ sở hạ tầng yếu kém, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa thực sự thúc đẩy được nội lực cũng như ngoại lực cho sự phát triển của đất nước. Thương mại quốc tế có vai trò hết sức quan trọng đưa nền kinh tế tăng trưởng phát triển. Đặc biệt đối với một nước đang phát triển như nước ta thì việc nhập khẩu là không thể thiếu được. Hàng hoá nhập khẩu nói chung,nhập khẩu nguyên liệu cho doanh nghiệp công nghiệp nói riêng là nguồn bổ sung và thay thế những mặt mất cân đối của nền kinh tế, bảo đảm một sự phát triển kinh tế ổn định đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập với nền kinh tế thế giới chuyển dịch cơ cấu kinh tế . Nguồn nguyên liệu nhập khẩu có ý nghĩa rất to lớn.Không chỉ có ý nghĩa đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp mà còn có ý nghĩa trong việc tiếp thu công nghệ hiện đại thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng như vậy nên việc hoàn thiện nhập khẩu nguyên liệu cho doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng xuất khâu là điều hêt sức cần thiết vì nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước. Qua quá trình tìm hiểu em nhận thức được ý nghĩa to lớn của hoạt động nhập khẩu nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Mai Xuân Được, em đã chọn đề tài "Nhập khẩu nguyên liệu cho doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu – những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết " Đề án gồm 2 chương : Chương I : Tổng quan về nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu thời gian qua. Chương II: Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết nhập khẩu nguyên liệu của DNCN sản xuất hàng xuất khẩu. Chương I Tổng quan về nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu thời gian qua. Trước khi đi sâu vào tìm hiểu, đánh giá tình hình nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu của nước ta thời gian qua em trình bày một số nét khái quát về nhập khẩu nói chung. I. Một số nét về hoạt động nhập khẩu. 1. Khái niệm và vai trò của hoạt động nhập khẩu . Xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Đó không phải là những hành vi riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong phạm vi một nền thương mại có tổ chức cả các bên trong và bên ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu trong nước, ổn định và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân. Do đó, xuất nhập khẩu nói chung và nhập khẩu nói riêng là hoạt động kinh tế đem lại những hiệu quả đột biến rất cao nhưng có thể gây thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nước tham gia xuất nhập khẩu không dễ dàng khống chế được. Trong điều kiện kinh tế hiện nay, không có một quốc gia nào trên thế giới phủ nhận vai trò của nhập khẩu đối với nền kinh tế của quốc gia mình. Dưới đây, em xin đề cập tới vai trò của hoạt động nhập khẩu, đó là: Thứ nhất, nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo một sự phát triển cân đối ổn định, khai thác tối đa tiềm năng của nền kinh tế vào vòng quay kinh tế. Thứ 2, Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, cho phép tiêu dùng một lượng hàng hoá nhiều hơn khả năng sản xuất trong nước. Thứ 3, nhập khẩu đảm bảo đầu vào cho sản xuất, tạo việc làm ổn định cho người lao động góp phần cải thiện và nâng cao mức sống nhân dân. Thứ 4, nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thứ 5, nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng cửa, chế độ tự cung, tự cấp. Thứ 6, nhập khẩu tác động trực tiếp vào sản xuất và kinh doanh Thương mại Quốc tế làm cho khối lượng và giá trị hàng nhập khẩu ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế. Nhập khẩu giúp cho sản xuất được liên tục và ổn định Thứ 7, nhập khẩu có vai trò thúc đẩy sản xuất góp phần nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng Việt Nam ra nước ngoài, đặc biệt là nước nhập khẩu. Thứ 8, nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh giữa hàng sản xuất trong nước và hàng ngoại nhập, tức là tạo ra động lực bắt buộc các nhà sản xuất trong nước phải không ngừng vươn lên và hoàn thiện sản phẩm của mình để có chất lượng tốt, giá rẻ, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển. 2. Vai trò của việc hoàn thiện hoạt động nhập khẩu. Trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiện nay việc hoàn thiện nhập khẩu có vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước theo hướng mở rộng sản xuất ra nước ngoài. Vai trò của hoàn thiện nhập khẩu là: Hoàn thiện hoạt động nhập khẩu sẽ nâng cao hiệu quả nhập khẩu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu . Hoàn thiện hoạt động nhập khẩu sẽ làm cho quá trình nhập khẩu hàng hoá được nhanh chóng hơn vì thế nó kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng hàng hoá cho sản xuất và cho người tiêu dùng trong nước. Hoàn thiện hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được nhập hàng hoá dễ dàng vào trong nước tránh được những vấn đề phức tạp trong quá trình nhập khẩu hàng hoá từ thị trường nước ngoài vào. Hoàn thiện hoạt động nhập khẩu kéo theo các chính sách, qui trình xuất khẩu cũng phải được hoàn thiện, điều đó góp phần hoàn chỉnh một chính sách Thương mại Quốc tế tạo điều kiện cho sự phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới. Hoàn thiện hoạt động nhập khẩu sẽ hạn chế được những rủi ro cho các doanh nghiệp trong quá trình tham gia hoạt động nhập khẩu hàng hoá. 3. Các công cụ quản lý hoạt động nhập khẩu . Mỗi một quốc gia có đặc trưng riêng trong quản lý hoạt động nhập khẩu của mình. Một số nước tập trung vào công cụ thuế, những nước khác lại quản lý nhập khẩu qua giấy phép, hạn ngạch, ngoại tệ, phi thuế quan... nhằm mục đích là nhập khẩu phải đảm bảo phát triển kinh tế và ổn định đời sống nhân dân, các nhà kinh doanh phải hiểu được những chính sách quản lý nhập khẩu của Nhà nước. ở Việt Nam, những chính sách quản lý nhập khẩu quan trọng nhất là: Thứ nhất là thuế nhập khẩu. Thứ 2 : Hạn ngạch nhập khẩu Thứ 3: Giấy phép nhập khẩu. Thứ 4 : Quản lý ngoại tệ. 4. Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiện nay. Hoạt động nhập khẩu chỉ được tiến hành ở các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp. Trong thực tế, do các tác động của điều kiện kinh doanh cũng như sự năng động sáng tạo của người làm kinh doanh đã taọ ra nhiều hình thức nhập khẩu đa dạng khác nhau. Dưới đây là một vài hình thức thông dụng đang được áp dụng trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiện nay là: - Nhập khẩu trực tiếp - Nhập khẩu uỷ thác. - Nhập khẩu liên doanh. - Nhập khẩu tái xuất. - Nhập khẩu gia công hàng xuất khẩu. II. Tổng quan về nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu thời gian qua. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu nói chung bình quân giai đoạn 1991 - 2000 là 17,5%, giai đoạn 2001 - 2006 là 19%. Nếu năm 1995 kim ngạch là 8,155 tỉ USD, năm 2000 và 2004 con số đó tương ứng là 15,637 và 31,969 tỉ USD, thỡ năm 2005 và 2006 đó đạt tới con số 36,978 và 44,410 tỉ USD. Nhỡn chung tăng trưởng nhập khẩu của nước ta không ổn định qua các thời kỳ. Bởi vỡ nú cũn phụ thuộc vào tỡnh hỡnh kinh tế thế giới và khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài của nước ta. Giai đoạn 1993 - 1996 tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đạt con số kỷ lục, có năm đạt tới 54,4% (năm 1993), sau đó giảm sút do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á, phục hồi ở mức cao năm 2000 (33,2%), từ năm 2001 đến nay tương đổi ổn định ở mức trên 20%. Giai đoạn 2001-2006, nước ta đẩy mạnh hội nhập và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong ngắn hạn xuất khẩu chưa thể tăng kịp so với nhập khẩu. Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là trong quý I năm 2007, tốc độ tăng của nhập khẩu cao gần gấp đôi tốc độ tăng của xuất khẩu (33,6% so với 17,9%) và nhập siờu mới chỉ trong một quý đó lên đến 1.315 triệu USD. Tỷ trọng nhập nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu tương đối ổn định kể từ năm 1996 trở lại đây.Trong giai đoạn 2000 – 2006 thì nhập khẩu nguyên vật liệu chiếm tỷ lệ 63,2% - 76,5%, chiếm tỷ lệ cao nhất tổng giá trị nhập khẩu. Ta có bảng nhập khẩu phân theo nhóm ngành như sau : Năm Nhúm hàng 1990 1995 2000 2003 2004 2005 2006 A. Tư liệu sản xuất 85,1 84,8 93,8 93,6 93,1 89,6 91,3 Mỏy múc và thiết bị 27,3 25,7 30,6 32,4 30,4 14,3 14,8 Nguyờn, nhiờn, vật liệu 57,8 59,1 63,2 61,2 62,7 75,3 76,5 B. Vật phẩm tiờu dựng 14,9 15,2 6,2 6,4 6,9 10,4 8,7 Thực phẩm 2,5 3,5 1,9 2,3 2,4 - - Hàng y tế 1,5 0,9 2,2 1,6 1,9 1,4 1,2 Hàng tiờu dựng khỏc 10,9 10,8 2,1 2,5 2,6 8,9 7,5 Tổng số 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 Nguồn: Tổng cục Thống kờ và tớnh toỏn của nhúm nghiờn cứu Trị giá nhập khẩu tăng và xu hướng tăng tỷ trọng tư liệu sản xuất là kết quả tất yếu của tăng cường xuất khẩu. Tuy nhiên, tốc độ tăng cao của nhóm nguyên nhiên vật liệu cũng cho thấy sự phụ thuộc của hàng xuất khẩu vào nguyên liệu nhập khẩu cũn khỏ lớn. Chẳng hạn, nguyờn liệu nhập khẩu trong ngành may mặc chiếm đến 70%, da giày: 80%, ngành gỗ 50%, ngành nhựa: 85%, ngành điện tử: 90%. Điều đó nói lên tính chất gia công cũn cao, giỏ trị gia tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu cũn thấp. Tỷ trọng nhập khẩu cỏc mặt hàng chủ yếu cũng cú những thay đổi. Nếu so sánh số liệu 10 mặt hàng chủ yếu nhập khẩu bỡnh quõn giai đoạn 2001-2006 với giai đoạn 1996-2000 có thể thấy mức tiêu thụ các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu tăng khá. Xăng dầu, nguyên phụ liệu may mặc, da giầy, phân bón và sắt thép vẫn là những mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất. Bên cạnh đó, nhập khẩu các mặt hàng phân bón, xe máy có xu hướng chững lại, trong khi đó nhu cầu nhập khẩu ô tô những năm gần đây tăng khá nhanh. So với các nước đang phát triển trong khu vực tỷ lệ nhập khẩu máy móc - thiết bị của họ thường chiếm 30% - 40% tổng kim ngạch nhập khẩu thỡ tỷ trọng nhập khẩu mỏy múc ở Việt Nam như vừa qua vẫn cũn thấp. Điều này cho thấy việc Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp nước ta vào hàng rất thấp về đổi mới công nghệ và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là điều dễ hiểu. Nguyên, nhiên, vật liệu nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao, đồng thời tỷ trọng nhập khẩu máy móc thiết bị khá nhỏ bé và hầu như không được cải thiện trong khoảng thời gian dài (1996-2006) cho thấy xuất khẩu nước ta quá phụ thuộc vào nguyên liệu nước ngoài và công nghệ chậm được thay đổi và mở rộng. Điều này cho thấy sự phát triển yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ cũng như sản xuất thay thế nhập khẩu, sự yếu kém về khả năng cạnh tranh của nền kinh tế xét theo năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)(1). Do đó nếu không đổi mới công nghệ, việc nhập khẩu các sản phẩm trung gian sẽ không cải thiện được giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu. Điều này sẽ hạn chế việc cải thiện cán cân thương mại trong dài hạn. Nhập khẩu đó cú sự thay đổi đáng kể theo thành phần kinh tế từ năm 1995 đến nay. Trước năm 1995, nhập khẩu chủ yếu phục vụ cho các ngành kinh tế trong nuớc. Kể từ năm 1995, nhập khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh với tốc độ bỡnh quõn 34,7%/năm và đến nay đạt khoảng 35%. Một điều đáng lưu ý là khu vực FDI, nhập khẩu chỉ bằng 50% khu vực vốn đầu tư trong nước nhưng chiếm tới 55% giá trị xuất khẩu. Và từ năm 1995 đến nay khu vực này toàn xuất siêu với mức độ ngày càng tăng. Năm 2006 xuất siêu tới 5,55 tỉ USD, trong khi đó khu vực trong nước nhập siêu tới 10,3 tỉ USD. Điều này cho thấy, chủ trương thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu đó phỏt huy hiệu quả, đồng thời thể hiện khả năng cạnh tranh xuất khẩu của nó hơn hẳn so với khu vực trong nước do có lợi thế về công nghệ, định hướng mặt hàng và thị trường. Bảng: Cơ cấu nhập khẩu phân theo thành phần kinh tế, 1995-2006 Năm 1995 2000 2003 2004 2005 2006 Tổng kim ngạch (tr. USD) 8.155 15.636 25.226 31.969 36.978 44.410 Tốc độ tăng trưởng (%) 34,4 33,2 27,8 26,7 15,7 20,1 DN 100% vốn trong nước (tr. USD) 6.687 11.284 16.412 20.554 23.400 28.050 - Tỷ trọng 80,2 72,2 65,1 65,2 63 63,2 - Tăng trưởng (%) 27,9 34,9 25,8 25,2 13,8 19,9 Cân đối XNK (tr. USD) -2.711 -3.612 -6.397 -8.812 -9.511 -11.310 DN có vốn ĐTNN (tr. USD) 1.468 4.352 8.815 10.962 13.600 16.360 - Tỷ trọng 18,0 27,8 34,9 34,8 37 36,8 - Tăng trưởng (%) 144,3 28,7 31,5 24,4 24,1 20,3 Cân đối XNK (tr. USD) 5,0 1.813 1.346 3.299 4.953 6.505 Nguồn: Tổng cục Thống kờ và tớnh toỏn của nhúm nghiờn cứu Tỷ trọng nguyên liệu, phụ liệu nhập khẩu phục vụ cho xuất khẩu cao thể hiện giá trị gia tăng thấp của nhiều mặt hàng xuất khẩu như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử. Nhập khẩu chưa kích thích xuất khẩu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao giá trị gia tăng. Hạn chế này cũng sẽ gây khó khăn cho việc cải thiện cán cân thương mại. Với tỷ trọng nhập khẩu cao từ các thị trường châu Á (nhập siêu chủ yếu với các thị trường này), những nước có trỡnh độ công nghệ trung bỡnh và xuất siờu đối với các thị trường có công nghệ nguồn, cho thấy Việt Nam đang đi theo lý thuyết “đàn sếu bay” một cỏch tuần tự, nhưng tốc độ lại chậm hơn nhiều so với các nước công nghiệp mới (NICs). Điều này sẽ gây khó khăn cho việc phát triển theo kiểu rút ngắn, đi tắt đón đầu, xác định vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong bối cảnh đó, nguy cơ tụt hậu sẽ rất lớn, vỡ nguồn tài nguyờn đang có xu hướng cạn kiệt. Nếu phát triển xuất khẩu theo hướng sử dụng ngày càng nhiều tài nguyên như hiện nay thỡ việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng hơn nữa là điều khó khăn, lợi thế trong hội nhập sẽ giảm đáng kể. Chương II Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu. I.Quy trình nhập khẩu nguyên liệu. Nguyên liệu cũng là một loại hàng hoá, do đó để thực hiện nhập nguyên liệu có hiệu quả, cần tuân thủ các yêu cầu và quy định về hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá. Xem xét một cách tổng quát, quy trình nhập nguyên liệu gồm các bước sau : Xác định được nhu cầu nguyên liệu cần nhập khẩu đáp ứng nhu cầu của DNCN để sản xuất hàng xuất khẩu trong từng thời kỳ. Tìm nguồn nguyên liệu từ thị trường nước ngoài có thể đáp ứng về số lượng, chất lượng, giá cả, thời gian,… Thương lượng và đặt hàng với người bán để ký kết hợp đồng mua nguyên liệu. Các điều khoản ký kết phải tuân thủ các yêu cầu của hợp đồng kinh tế ( chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả, bảo hiểm, vận chuyển, thanh toán,…) Tiếp nhận nguyên liệu và xử lý các sai lệch so với hợp đồng đã ký kết. Việc nhập khẩu nguyên liệu có thể do chính DNCN có nhu cầu sử dụng thực hiện hoặc do doanh nghiệp ngoại thương thực hiện. Trong trường hợp DNCN cần mua với số lượng ít và chưa hiểu biết thị trường nước ngoài, doanh nghiệp có thể mua lại của doanh nghiệp nhập khẩu hoặc uỷ thác nhập khẩu cho doanh nghiệp ngoại thương. II. Thuế và thủ tục hải quan. Hoàn thiện về chính sách thuế nhập khẩu : Nhà nước cần phải đổi mới và hoàn thiện chính sách thuế để đưa ra một hệ thống thuế đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng đồng thời phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Đặc biệt chính sách thuế phải đảm bảo được lợi ích của các doanh nghiệp tham gia nhập khẩu hàng hoá và nên ưu tiên cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu để phục vụ nhu cầu sản xuất trong nước 2. Thủ tục hải quan. Quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hoá nhập khẩu theo loại hình nhập nguyên liệu, vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu. (Ban hành kèm theo Quyết định số 1699/QĐ-TCHQ  ngày  25/09/2007) Quy trỡnh thủ tục này ỏp dụng cho cỏc loại hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu thuộc loại hỡnh nhập nguyờn vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu (sau đây viết tắt là loại hỡnh NSXXK) theo quy định của pháp luật và thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo QĐ số 52/2007/QĐ-BTC ngày 22/6/2007. Chính sách thuế, các thủ tục về thuế đối với loại hỡnh này đó được hướng dẫn tại các văn bản pháp luật về thuế có liên quan. Khi làm thủ tục hải quan điện tử đối với loại hỡnh NSXXK, cụng chức hải quan phải kết hợp quy trỡnh này với quy trỡnh thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán và quy định của pháp luật. 2.1. Thủ tục đăng ký, sửa đổi, bổ sung các danh mục nguyên liệu, vật tư nhập khẩu; danh mục sản phẩm xuất khẩu. 2.1.1 Bước 1 Trên cơ sở thông tin khai báo danh mục nguyên vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu của người khai hải quan; hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan sẽ tự động kiểm tra các tiêu chí do người khai hải quan khai báo, nội dung kiểm tra gồm: a. Kiểm tra sự trựng lắp về cựng một tờn nguyờn vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu nhưng khai báo với nhiều mó nguyờn vật liệu, sản phẩm khỏc nhau. b. Kiểm tra sự trựng lắp về mó nguyờn vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu khai bỏo lần này cú trựng lắp với mó nguyờn vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu đó khai bỏo trước đó. c. Kiểm tra đơn vị tính thông dụng phù hợp với việc xây dựng định mức theo danh sách thống kê những mặt hàng và đơn vị tính thông dụng. d. Kiểm tra mó HS cú phự hợp với mó HS trong hệ thống. Sau khi kiểm tra, hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan sẽ tiếp nhận đăng ký và cấp số tham chiếu cho danh mục hoặc từ chối tiếp nhận danh mục kốm theo lý do từ chối tiếp nhận danh mục cho người khai hải quan. 2.1.2. Bước 2 Trường hợp hệ thống yêu cầu, công chức tiếp nhận danh mục trực tiếp kiểm tra thụng tin trờn hệ thống gồm: a. Tờn gọi nguyờn vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu - Người khai hải quan phải khai tên nguyên vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu theo tiếng Việt, hoặc kèm theo tiếng Anh (nếu có); - Khai tờn nguyờn vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu phải rừ ràng, cụ thể, khụng được gộp 02 mặt hàng khác nhau vào làm một. Trường hợp khai tên gộp chung phải đảm bảo nguyên tắc là một mặt hàng duy nhất theo biểu thuế xuất nhập khẩu hiện hành và bảo đảm việc tính thuế nhập khẩu được độc lập giữa các nguyên vật liệu với nhau, đồng thời lượng nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất ra sản phẩm là như nhau. b. Mó HS: là mó số hàng hoỏ theo Biểu thuế xuất nhập khẩu hiện hành. c. Mó nguyờn vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu: do người khai hải quan tự xác định theo hướng dẫn của Chi cục Hải quan điện tử làm thủ tục nhập khẩu nguyên vật liệu, xuất khẩu sản phẩm và thống nhất trong hồ sơ hải quan từ khi nhập khẩu nguyên vật liệu, xuất khẩu sản phẩm đến khi thanh khoản. Mỗi một mó nguyờn vật liệu, mó sản phẩm tương ứng với một tên nguyên vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu. Không chấp nhận trường hợp một tên nguyên vật liệu, sản phẩm được đăng ký khai bỏo với nhiều mó nguyờn vật liệu, sản phẩm khỏc nhau. d. Đơn vị tính: theo danh mục đơn vị thống kê Việt Nam. Trường hợp người khai hải quan đăng ký một loại nguyờn vật liệu, sản phẩm cú đơn vị tính không phải là đơn chiếc như: bộ, tá, hộp ... thỡ phải quy đổi ra đơn vị tính đơn chiếc tương ứng, xác định rừ lượng nguyên vật liệu sử dụng trong một sản phẩm là như nhau và có thể định lượng được. 2.1.3. Bước 3 a. Kết thúc công việc kiểm tra tại bước 2, nếu phù hợp, công chức tiếp nhận danh mục xác nhận các thông tin trên hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan và cấp số tham chiếu cho cỏc bảng danh mục nguyờn vật liệu nhập khẩu, sản phẩm xuất khẩu. b. Trường hợp hồ sơ chưa phù hợp với các quy định, công chức tiếp nhận danh mục nhập máy các thông tin không chấp nhận cho từng nội dung và phản hồi trên hệ thống cho người khai hải quan biết để bổ sung, sửa đổi hoặc giải trỡnh. c. Thời điểm, thủ tục sửa đổi, bổ sung danh mục nguyên liệu, vật tư nhập khẩu. d. Công chức tiếp nhận danh mục trực tiếp kiểm tra nội dung thông tin sửa đổi trên hệ thống, căn cứ kết quả kiểm tra để quyết định việc đăng ký sửa đổi danh mục của người khai hải quan. e. Trường hợp phát hiện sai sót trong khai báo danh mục ngoài thời điểm quy định về thí điểm thủ tục hải quan điện tử ban hành theo Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC, công chức được giao nhiệm vụ báo cáo Đội trưởng thuộc Chi cục Hải quan điện tử xem xét phê duyệt sửa dổi nhưng không được phép sửa đổi mó nguyờn liệu, vật tư, sản phẩm và đơn vị tính nguyên liệu, vật tư, sản phẩm. f. Trường hợp sau khi cập nhật kết quả phân luồng trên cơ sở các thông tin đó sửa đổi bổ sung có kết quả phân luồng ở mức thấp hơn kết quả phân luồng trước đó thỡ bỏo cỏo Chi cục trưởng chuyển luồng ở mức bằng hoặc cao hơn mức phân luồng ban đầu. 2.2. Thủ tục hải quan nhập khẩu nguyờn liệu 2.2.1. Hệ thống tự động kiểm tra sự phù hợp giữa mó nguyờn vật liệu và đơn vị tính khai báo trên tờ khai với mó nguyờn vật liệu và đơn vị tính trên bảng đăng ký danh mục nguyờn vật liệu trước khi tiếp nhận tờ khai. 2.2.2. Khi hệ thống yêu cầu kiểm tra hồ sơ hải quan điện tử, công chức đăng ký tờ khai hải quan phải kiểm tra thờm về tờn gọi và mó nguyờn vật liệu khai bỏo trờn tờ khai phải phự hợp với tờn gọi và mó nguyờn vật liệu đó đăng ký trên bảng đăng ký danh mục nguyờn vật liệu. 2.2.3. Trường hợp hệ thống thông qua bộ tiêu chí quản lý rủi ro yờu cầu lấy mẫu, cụng chức kiểm tra thực tế hàng hóa thực hiện lấy mẫu theo điều 44 quy định về thí điểm thủ tục hải quan điện tử ban hành kèm theo Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC. Việc lấy mẫu đối với hàng chuyển cửa khẩu thuộc diện miễn kiểm tra thực tế hàng hóa do công chức Chi cục hải quan cửa khẩu thực hiện. 2.3. Thủ tục thanh khoản, khụng thu thuế (hoàn thuế) 2.3.1. Bước 1 Trên cơ sở thông tin khai báo thanh khoản và giải trỡnh xử lý nguyờn vật liệu nhập khẩu của người khai hải quan, hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan sẽ tự động kiểm tra, các nội dung kiểm tra gồm: a. Kiểm tra danh sách tờ khai nhập khẩu, danh sách tờ khai xuất khẩu đưa vào thanh khoản có đảm bảo nguyên tắc thanh khoản "đầy đủ, liên tục" (Tờ khai nhập khẩu trước, tờ khai xuất khẩu trước phải được thanh khoản trước). Trường hợp không đưa tờ khai vào đầy đủ, liên tục, kiểm tra đối chiếu với bảng kê giải trỡnh nguyờn liệu, vật tư nhập khẩu chưa sử dụng thanh khoản. b. Kiểm tra những tờ khai nhập khẩu đó thanh lý hết về số lượng mà vẫn đưa vào thanh khoản lần này. c. Kiểm tra những tờ khai xuất khẩu đưa vào thanh lý lần này cú thuộc danh sỏch những tờ khai đó đưa vào thanh lý lần trước. d. Kiểm tra trong bảng kờ tờ khai nhập khẩu nếu cú tờ khai nhập khẩu theo loại hỡnh mua bỏn thỡ phải cú bảng kờ nguyờn vật liệu nhập khẩu theo loại hỡnh mua bỏn, nhưng đưa vào sản xuất và xuất khẩu theo loại hỡnh NSXXK. e. Kiểm tra trong bảng kờ tờ khai xuất khẩu nếu cú tờ khai xuất khẩu theo loại hỡnh gia cụng, thỡ phải cú bảng kờ nguyờn vật liệu nhập khẩu theo loại hỡnh NSXXK, nhưng đưa vào sản xuất và xuất khẩu theo loại hỡnh gia cụng. f. Kiểm tra những tờ khai nhập khẩu đó nộp thuế để đưa vào phần hoàn thuế. g. Kiểm tra bảng kê chứng từ thanh toán về các chứng từ thanh toán đưa vào thanh lý gồm: - Đối chiếu từng chứng từ thanh toán về số hiệu, ngày chứng từ với tờ khai xuất khẩu, ngày tờ khai xuất khẩu để xác định sự phù hợp về mặt thời gian.    - Đối chiếu về trị giá thanh toán của từng chứng từ thanh toán với trị giá xuất khẩu của các tờ khai mà người khai hải quan khai báo trong bảng kờ chứng từ thanh toỏn. h. Kiểm tra các trường hợp người khai hải quan đó khai bỏo nộp thuế vào ngõn sỏch, tiờu huỷ, biếu tặng trước đó, nhưng khi thanh khoản người khai hải quan chưa đưa vào các bảng kê tương ứng. i. Sau khi kiểm tra, hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan sẽ tự động thanh khoản và phản hồi “Thông báo chấp nhận kết quả thanh khoản” cho người khai hải quan hoặc “Thông báo từ chối kết quả thanh khoản” kèm theo lý do từ chối kết quả thanh khoản cho người khai hải quan. 2.3.2    Bước 2 Trường hợp hệ thống yêu cầu kiểm tra hồ sơ, công chức thanh khoản trực tiếp kiểm tra thông tin trên hệ thống gồm các thông tin sau: a. Kiểm tra các nội dung nêu tại bước 1, mục này. Trường hợp kiểm tra các nội dung phù hợp, công chức thanh khoản phản hồi trên hệ thống “Thông báo chấp nhận kết quả thanh khoản” cho người khai hải quan biết. b. Trường hợp kiểm tra kết quả thanh khoản cũn tồn một lượng nguyên liệu  nhỏ trên các tờ khai nhập khẩu (lượng nguyên liệu này không ảnh hưởng đến kết quả thanh khoản), cán bộ thanh khoản có báo cáo tất toán số nguyên liệu trên trỡnh Lónh đạo Chi cục phê duyệt. c. Trường hợp kiểm tra kết quả thanh khoản có cân đối âm và các sai sót, cán bộ thanh khoản báo cáo Chi cục trưởng Chi cục Hải quan điện tử đề nghị người khai hải quan có giải trỡnh. Trờn cơ sở ý kiến phờ duyệt của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan điện tử, cán bộ thanh khoản nhập máy các yêu cầu đề nghị giải trỡnh và phản hồi trờn hệ thống cho người khai hải quan biết để thực hiện. - Sau khi tiếp nhận giải trỡnh từ người khai hải quan, công chức thanh khoản hồ sơ có nhiệm vụ kiểm tra giải trỡnh: + Trường hợp kết quả giải trỡnh phự hợp, cụng chức thanh khoản cú bỏo cỏo Chi cục trưởng Chi cục Hải quan điện tử chấp nhận giải trỡnh và thụng qua hệ thống, gửi Thụng bỏo chấp nhận kết quả thanh khoản cho người khai hải quan. + Trường hợp kết quả giải trỡnh phỏt hiện sai phạm của người khai hải quan tại khâu thanh khoản thỡ lập biờn bản vi phạm và đề xuất xử lý theo quy định, báo cáo Chi cục trưởng Chi cục hải quan điện tử để hủy kết quả thanh khoản. Thông qua hệ thống, gửi thông báo huỷ thanh khoản tới người khai hải quan. d. Đối với các hồ sơ thanh khoản hoàn chỉnh, sau khi thanh khoản toàn bộ dữ liệu điện tử và hồ sơ thanh khoản được chuyển sang công chức bộ phận quản lý thuế để kiểm tra làm thủ tục hoàn thuế, không thu thuế, và các nghĩa vụ về thuế khác theo qui định hiện hành. Sau khi hoàn thiện cơ sở pháp lý thụng qua việc ban hành cỏc văn bản, Tổng cục Hải quan đó hoàn thiện phần mềm về tổ chức triển khai mở rộng thủ tục Hải quan điện tử về loại hỡnh xuất khẩu/nhập khẩu tại hai Cục Hải quan thớ điểm là Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh và Cục Hải quan Hải Phũng. Hiện tại, hệ thống thông quan điện tử hoạt động tương đối ổn định tại hai Chi cục Hải quan điện tử thí điểm. Trong thời gian triển khai thủ tục Hải quan điện tử, cán bộ, công chức trong toàn ngành đó nhận thức được thủ tục Hải quan điện tử là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh Việt Nam trở thành thành viên của WTO, nhằm đảm bảo sự phù hợp, tương thích với xu thế phát triển chung và hoà nhập với Hải quan thế giới và khu vực. Trong quỏ trỡnh thực hiện thớ điểm thủ tục Hải quan điện tử, về thông quan điện tử giai đoạn 1 (01/01/2007 đến 1/10/2007) đó cú 214 doanh nghiệp tham gia thực hiện Hải quan điện tử với 26.087 tờ khai xuất nhập khẩu. Tổng số thuế đạt trên 2.272 tỷ VNĐ; Tổng kim ngạch XNK đạt trên 2,4 tỷ USD. Giai đoạn 2 (1/10/2007 đến 31/12/2007) đó cú 287 doanh nghiệp tham gia thực hiện Hải quan điện tử với 10.048 tờ khai xuất nhập khẩu điện tử thuộc loại hỡnh kinh doanh và nhập nguyờn liệu để sản xuất hàng xuất khẩu được tiếp nhận và xử lý với tổng kim ngạch XNK trờn 1 tỷ USD và số tiền thuế đạt trên 989 tỷ VNĐ. Việc trển khai thí điểm trong thời gian qua cho thấy doanh nghiệp đó chủ động khai báo điện tử, giảm tiếp xúc giữa doanh nghiệp với cơ quan Hải quan, giảm phiền hà, tiêu cực. Bên cạnh đó đó nõng cao ý thức tuõn thủ phỏp luật của doanh nghiệp. Trong quỏ trỡnh triển khai, ngành Hải quan đó tiến hành nõng cấp hệ thống ứng dụng và triển khai tại Chi cục Hải quan điện tử TP Hồ Chí Minh, TP Hải Phũng nhằm đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ đối với loại hỡnh xuất nhập khẩu theo hợp đồng mua bán và nhập nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu. Cựng với việc triển khai mở rộng thủ tục Hải quan điện tử giai đoạn 2, ngành Hải quan cũng đẩy mạnh việc triển khai Hải quan từ xa tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố lớn như Hải Phũng, TP Hồ Chớ Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bỡnh Dương, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu…chủ yếu đối với hàng kinh doanh, hàng gia cụng, hàng nhập sản xuất xuất khẩu. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó đạt được, việc thực hiện thủ tục Hải quan điện tử trong thời gian qua cũng không thể tránh những khỏi khó khăn và vướng mắc, cụ thể như: công tác chuẩn bị các điều kiện đảm bảo thực hiện thủ tục Hải quan điện tử chưa được tính toán kỹ lưỡng, khoa học; một phần chưa tiên lượng hết được khối lượng công việc triển khai, năng lực chuyên môn của cơ quan được ký kết xây dựng phần mềm cũng hạn chế về thời gian đó ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ xây dựng phần mềm; việc trang bị bổ sung máy móc thiết bị cho các Chi cục thực hiện thí điểm thủ tục Hải quan điện tử đũi hỏi phải tiến hành theo trỡnh tự mua sắm, đấu thầu nên phần nào ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện; bên cạnh đó, thủ tục Hải quan điện tử cũn liờn quan đến tốc độ đường truyền, C-VAN… mà trong thời gian ngắn khó có thể thực hiện tốt. Nhỡn chung quỏ trỡnh thớ điểm thủ tục Hải quan điện tử đó đạt được mục tiêu ban đầu đề ra, từng bước cải cách hoạt động nghiệp vụ Hải quan theo hướng phù hợp với Hải quan hiện đại, được dư luận xó hội, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp quan tâm, bước đầu tạo động lực cho triển khai thủ tục Hải quan điện tử. 3. Cơ cấu thị trường nhập khẩu. Đến hết năm 2006, thị trường nhập khẩu của Việt Nam đó được mở rộng tới 170 nước và vùng lónh thổ. Chõu Á là thị trường có kim ngạch nhập khẩu cao nhất, đạt trên 35,84 tỉ USD, tăng 42,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 80,7% kim ngạch nhập khẩu của các thị trường. Trong đó, khu vực Đông - Nam Á đạt kim ngạch 10,85 tỉ USD, tăng 39,7% so với cùng kỳ năm 2005. Châu Âu là thị trường có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ hai với gần 5,44 tỉ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 12,2% kim ngạch nhập khẩu của các thị trường. Trong đó, các nước EU ( gồm 25 nước thành viên) đạt kim ngạch 3,72 tỉ USD so với cùng kỳ năm trước. Châu Mỹ là thị trường có kim ngạch nhập khẩu đứng thứ 3, đạt gần 1,9 tỉ USD, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 4,2% kim ngạch nhập khẩu của các thị trường. Châu Đại Dương đạt kim ngạch 778 triệu USD, tăng 31,9% so với cùng kỳ năm trước, chỉ chiếm 1,8% kim ngạch nhập khẩu của các thị trường. Châu Phi - Tây Nam Á là thị trường có kim ngạch nhập khẩu thấp nhất trong các thị trường nhập khẩu của Việt Nam chỉ mới đạt 322 triệu USD, chiếm 0,7% kim ngạch nhập khẩu của các thị trường, nhưng lại là thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tăng 77,7% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, khu vực châu Á (chủ yếu là ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Công, Đài Loan) là thị trường nhập khẩu lớn nhất của nước ta trong thời gian qua do có những lợi thế về vị trí địa lý, giá cả. Đồng thời, đây cũng là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ lệ cao. Khu vực này cung cấp chủ yếu nguyên liệu, phụ liệu, mỏy múc phụ tựng và hàng tiờu dựng. Quy mô và tốc độ tăng của từng khu vực thị trường có thể thấy qua bảng sau: Bảng 3: Tỷ trọng một số thị trường nhập khẩu chủ yếu, giai đoạn 1996 - 2006 (%) Năm Thị trường 1996 - 2000 2001 2004 2005 2006 Chõu Á 74,2 79,7 74,2 80,7 80,7 Chõu Âu 17,2 13,5 16,4 12,3 12,3 Chõu Phi 0,5 0,2 0,85 0,7 0,7 Chõu Mỹ 4,3 4,1 6,9 4,3 4,3 Châu Đại Dương 3,8 2,5 1,65 1,8 1,8 Nguồn: Tổng cục Thống kê và Bộ Thương mại Bảng : Cân đối xuất nhập khẩu của Việt Nam Đơn vị: triệu USD Năm Thị trường 2005 2006 Kim ngạch nhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu Chờnh lệch xuất khẩu,nhập khẩu Kim ngạch nhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu Chờnh lệch xuất khẩu,nhập khẩu Chõu Á 29.844 18.857 -10.987 35.843 20.840 -15.003 Chõu Âu 4.528 5.834 1.306 5.438 7.650 2.212 Chõu Phi 268 886 618 322 1.915 1.593 Chõu Mỹ 1.569 6.866 5.297 1.885 9.200 7.315 Nguồn: Bộ Thương mại và tính toán của nhóm nghiên cứu Như vậy, cơ cấu thị trường nhập khẩu bắt đầu có sự chuyển đổi: ngoài các thị trường truyền thống vẫn cũn thấp cả về quy mô và tốc độ, nhưng đó bắt đầu có sự gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng từ những thị trường có trỡnh độ công nghệ cao như EU, Mỹ, Nhật Bản, Ca-na-đa… Có thể thấy rằng, cơ cấu thị trường nhập khẩu của nước ta từ năm 1996 đến nay không có thay đổi lớn và dự báo sẽ ít có sự thay đổi trong những năm tới. Vỡ vậy, để hạn chế nhập siêu cần có những biện pháp tích cực, trước hết là đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường này đồng thời phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để hạn chế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào. 4. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu. Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa thì tất cả các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng, để có thể hoàn thiện tốt hoạt động nhập khẩu, nhà nước nên có nhiều chính sách và quy định thúc đẩy và phát huy được hết năng lực cho các DNCN trong các lợi thế của mình. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại và lưu thông tiền giâý hiện nay. Vấn đề tỉ giá hối đoái và cơ chế quản lý điều chỉnh tỉ giá hối đoái cả trên tầm vi mô và vĩ mô trở thành một vấn đề lớn trong chính sách kinh tế tiền tệ của bất kỳ quốc gia nào. Tỉ giá là một nhân tố tác động mạnh mẽ đến hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp. Nếu tỉ giá không ổn định sẽ làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm giảm hiệu quả nhập khẩu của doanh nghiệp. Vì vậy nhà nước cần phải điều chỉnh để giữ cho tỉ giá hối đoái ở mức phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước và làm giảm những biến động của tỉ giá có thể làm ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của các DNCN. mở rộng và đa dạng hoá thị trường nhập khẩu, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào một số thị trường. Hết sức chú trọng các thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản là những thị trường có công nghệ cao, công nghệ nguồn. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật. Mở rộng hợp tác khu vực để hài hũa húa tiờu chuẩn. Tăng cường kiểm tra tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu nhằm hạn chế và tiến tới loại bỏ việc nhập khẩu công nghệ cũ, lạc hậu. - Tạo thuận lợi cho việc hỡnh thành và sự hoạt động của các trung tâm  cung ứng nguyên - phụ liệu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. - Cải cách thủ tục và hiện đại hoá hải quan, rút ngắn thời gian tiến hành các thủ tục thông quan hàng hoá xuất - nhập khẩu. - Đổi mới chính sách tín dụng theo cơ chế thị trường; hoàn thiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển sản xuất hàng xuất khẩu và tín dụng xuất khẩu phù hợp quan điểm, mục tiêu của Đề án và các nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên; mở rộng các hỡnh thức tớn dụng, bảo đảm các điều kiện tiếp cận vốn và các hỡnh thức bảo lónh thuận lợi hơn tại các ngân hàng thương mại; từng bước thực hiện cho vay đối với nhà nhập khẩu có kim ngạch ổn định và thị phần lớn, trước hết đối với hàng nông sản. Tổ chức thực hiện tốt cơ chế hoàn thuế đối với các nhà nhập khẩu nguyên liệu cung cấp cho cỏc nhà sản xuất hàng xuất khẩu.  - Cải cách, hoàn thiện các định chế tài chính theo hướng tập trung cho các yếu tố đầu vào của sản xuất hàng xuất khẩu và xúc tiến thương mại, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu; tiếp tục cải thiện các sắc thuế, phí và lệ phí; đẩy mạnh kinh doanh bảo hiểm tài sản hàng hoá trong sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp. - Điều hành tỷ giá sát tỷ giá thực tế, phù hợp sức mua của đồng Việt Nam, đồng thời có chính sách gắn đồng Việt Nam với một số ngoại tệ chuyển đổi có lợi để tránh rủi ro cho xuất khẩu. - Đa dạng hoá và mở rộng các hỡnh thức xỳc tiến thương mại. - Đổi mới chất lượng việc xây dựng và thực hiện chương trỡnh xỳc tiến thương mại quốc gia hàng năm; phối hợp các hoạt động xúc tiến để tổ chức các chương trỡnh lớn liờn ngành về xỳc tiến thương mại, đầu tư, du lịch – văn hoá, nhằm quảng bá hỡnh ảnh quốc gia, kể cả việc thụng qua cỏc kờnh truyền thụng quốc tế. - Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại cấp cao để thúc đẩy hợp tác, đầu tư và buôn bán, đặc biệt là đối với việc thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư trong các lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. - Tổ chức lại hệ thống các tổ chức xúc tiến thương mại và cơ chế cung cấp, dự báo thông tin thị trường, tư vấn đầu tư, thương mại, tư vấn pháp luật, môi trường kinh doanh ở trong, ngoài nước cho cộng đồng doanh nghiệp. Đào tạo phát triển nguồn lao động cho một số ngành sản xuất hàng xuất khẩu. - Xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức thực hiện các chương trỡnh đào tạo nghề, giải quyết vấn đề thiếu hụt và nâng cao chất lượng lao động trong các ngành sản xuất hàng xuất khẩu đang gặp khó khăn về nguồn lao động; đẩy mạnh xó hội hoỏ cỏc dịch vụ dạy nghề và đào tạo lao động; cân đối nguồn ngân sách hỗ trợ đào tạo nghề cho một số danh mục nghề phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu theo các địa chỉ cụ thể. - Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, luật pháp trong lĩnh vực lao động và việc làm nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp và nâng cao mức thu nhập, điều kiện sống của người lao động; khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp tự đào tạo và trao đổi nguồn nhân lực, lao động. Kết luận Thực hiện đường lối đa phương hoá đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế của Nhà nước thì nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập cùng thế giới hiện nay. Đây là hoạt động phức tạp, mang lại hiệu quả trong kinh doanh nhưng đồng thời cũng chứa nhiều rủi ro dễ gây thiệt hại. Vì vậy để đạt được hiệu quả cao trong nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu, hạn chế những rủi ro trong quá trình nhập khẩu nguyên liệu, đồng thời để hoàn thành các mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước ta là thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp thì việc hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên liệu là yêu cầu tất yếu mà Nhà nước và doanh nghiệp cần phải làm. . Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Mai Xuân Được đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành đề án này. Em xin chân thành cảm ơn ! Mục lục Lời nói đầu Chương I Tổng quan về nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu thời gian qua 3 I. Một số nét về hoạt động nhập khẩu 3 1 Khái niệm và vai trò của hoạt động nhập khẩu. 3 2 Vai trò của việc hoàn thiện hoạt động nhập khẩu. 4 3 Các công cụ quản lý hoạt động nhập khẩu 5 4 Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hiện nay 6 II. Tổng quan về nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu thời gian qua 6 Chương II Những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu. 11 I. Quá trình nhập nguyên liệu 11 II Thuế và thủ tục hải quan 12 1. Hoàn thiện về chính sách thuế nhập khẩu 12 2. Thủ tục hải quan 12 3. Cơ cấu thị trường nhập khẩu 20 4. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả nhập khẩu nguyên liệu cho DNCN sản xuất hàng xuất khẩu 23 Kết luận.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhập khẩu nguyên liệu cho Doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu - những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết.DOC