Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU

Mục lục Trang Tóm tắt nội dung chính 2 Lời mở đầu 3 Phần I. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU 4 Phần II. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU 1. Quá trình mở rộng sang phía Đông của EU 5 2. Thách thức sau khi mở rộng EU sang phía Đông 7 Phần III. Ảnh hưởng của chiến lược mở rộng sang phía Đông đối với Nga 8 Kết luận 10 anh mục tài liệu tham khảo 11 Tóm tắt nội dung chính Sau chiến tranh lạnh,Liên minh châu Âu đang ở một bước ngoặt lịch sử. Đông và Tây Âu lại thống nhất lại trong một châu Âu chung như trước chiến tranh thế giớiII.Khi EU vươn tay tới Đông Âu, hố ngăn cách giữa hai phần Đông và Tây của châu Âu, sản phẩm của chiến tranh lạnh, rõ ràng đã được xóa bỏ. Chiến lược mở rộng EU sang phía Đông ra đời, nằm trong chiến lược nhất thể hóa châu Âu của EU. Mở rộng EU lần này không phải là lần mở rộng đầu tiên trong lịch sử châu Âu, nhưng quy mô của lần mở rộng này là lần mở rộng lớn nhất và cũng mang nhiều ý nghĩa chính trị.EU giờ đây đã bao quát gần hết lãnh thổ châu Âu, trở thành một trong các trung tâm hàng đầu thế giới về chính trị, kinh tế, thương mại, tài chính, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, lần mở rộng này cũng đem lại không ít thách thức cho EU khi có sự chênh lệch, khác biệt giữa các thành viên cũ và các nước mới gia nhập. Việc mở rộng sang phía Đông cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nước Nga khi mà giờ đây lãnh thổ của EU đã tiến sát gần đến lãnh thổ nước Nga và bản thân các nước Đông Âu gia nhập EU ngay trong nội bộ của họ đã có sự khác biệt về chính sách thân phương Tây hay thân Nga.

doc11 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 3377 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục Trang Tóm tắt nội dung chính 2 Lời mở đầu 3 Phần I. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU 4 Phần II. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU 1. Quá trình mở rộng sang phía Đông của EU 5 Thách thức sau khi mở rộng EU sang phía Đông 7 Phần III. Ảnh hưởng của chiến lược mở rộng sang phía Đông đối với Nga 8 Kết luận 10 Danh mục tài liệu tham khảo 11 Tóm tắt nội dung chính Sau chiến tranh lạnh, Liên minh châu Âu đang ở một bước ngoặt lịch sử. Đông và Tây Âu lại thống nhất lại trong một châu Âu chung như trước chiến tranh thế giới II. Khi EU vươn tay tới Đông Âu, hố ngăn cách giữa hai phần Đông và Tây của châu Âu, sản phẩm của chiến tranh lạnh, rõ ràng đã được xóa bỏ. Chiến lược mở rộng EU sang phía Đông ra đời, nằm trong chiến lược nhất thể hóa châu Âu của EU. Mở rộng EU lần này không phải là lần mở rộng đầu tiên trong lịch sử châu Âu, nhưng quy mô của lần mở rộng này là lần mở rộng lớn nhất và cũng mang nhiều ý nghĩa chính trị. EU giờ đây đã bao quát gần hết lãnh thổ châu Âu, trở thành một trong các trung tâm hàng đầu thế giới về chính trị, kinh tế, thương mại, tài chính, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, lần mở rộng này cũng đem lại không ít thách thức cho EU khi có sự chênh lệch, khác biệt giữa các thành viên cũ và các nước mới gia nhập. Việc mở rộng sang phía Đông cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nước Nga khi mà giờ đây lãnh thổ của EU đã tiến sát gần đến lãnh thổ nước Nga và bản thân các nước Đông Âu gia nhập EU ngay trong nội bộ của họ đã có sự khác biệt về chính sách thân phương Tây hay thân Nga. Lời mở đầu Sau khi Liên Xô giải thể, khối Vacsava giải tán và Đông Âu tan rã, cục diện an ninh châu Âu xuất hiện khả năng chuyển biến lớn. Nga không còn là mối đe doạ đối với Tây Âu, châu Âu ở trong tình trạng tương đối hoà bình.Tuy nhiên, EU gặp không ít khó khăn. Cục diện 2 cực đã chấm dứt, nhưng trật tự thế giới mới chỉ đang hình thành, các thế lực đang dồn sức chuẩn bị lực lượng để giành vị trí tối ưu cho mình trong tương lai. Mặc dù EU sau chiến tranh thế giới thứ hai đã đạt được những thành tựu to lớn, nâng cao vị trí của mình nhưng hầu hết các quá trình xây dựng về kinh tế, chính trị, quân sự còn đang dang dở. Về nhiều mặt, các nước EU vẫn thua kém Nhật Bản và Mỹ. Vì vậy, trong cuộc cạnh tranh quyết liệt trước mắt, các nước EU phải thống nhất lại, đẩy mạnh công cuộc xây dựng cộng đồng, tạo ra sức mạnh bên trong để đối phó với các đối thủ lớn của họ. đồng thời giải quyết những thách thức phức tạp diễn ra ngay trong châu Âu như chủ nghĩa khủng bố quốc tế, xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ tài nguyên ở một số khu vực… Như vậy, chỉ trong một thời gian không dài, EU phải đối phó với một loạt vấn đề mới, những vấn đề nan giải . Trong khi giải quyết những mối quan hệ quốc tế, EU thiếu sự thống nhất về lĩnh vực chính trị và thiếu phương tiện để hoạt động về lĩnh vực an ninh quốc phòng. Trước những biến đổi của thế giới và châu Âu như vậy, các nước thành viên EU phải tìm cách vượt qua cái ngưỡng mà mấy chục năm trước họ chưa làm được, đó là mở rộng liên kết kinh tế sang lĩnh vực chính trị, lĩnh vực an ninh, quốc phòng. Thông qua việc EU mở rộng sang phía Đông, xây dựng một “Đại châu Âu nhất thể hoá” do các nước lớn như Pháp, Đức làm nòng cốt và động lực, EU sẽ từng bước giành quyền chủ đạo các công việc châu Âu từ tay Mỹ. Do khoảng thời gian hạn hẹp và hiểu biết về Liên minh châu Âu còn hạn chế, bài tiểu luận xin tập trung vào quá trình hình thành và phát triển của chiến lược mở rộng sang phía Đông của Liên minh châu Âu và những ảnh hưởng của nó đến nước Nga. Bài tiểu luận được chia làm 3 phần: Phần I. Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU Phần II. EU mở rộng sang phía Đông Phần III. Ảnh hưởng của chiến lược mở rộng sang phía Đông đối với Nga Những biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU Vào đầu thập kỷ 90, tình hình thế giới biến đổi một cách cơ bản hết sức nhanh chóng và sâu sắc. Tình hình đó đã làm thay đổi những điều kiện mà trong đó tiến trình nhất thể hoá châu Âu phát sinh và phát triển. Sự sụp đổ của CNXH Liên Xô và các nước Đông Âu, khối Vacsava giải thể đã làm thay đổi cục diện thế giới, đặc biệt là cục diện địa – chính trị châu Âu. Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới hai cực đối đầu Xô - Mỹ không còn. Liên minh châu Âu có cơ hội thoát khỏi sự khống chế của Mỹ, vươn lên giành ảnh hưởng và quyền chủ đạo các công việc ở châu Âu. Hiệp ước và Liên minh châu Âu, Hiệp ước Masstricht được 12 nước châu Âu ký kết ngày 7/2/1991 đánh dấu một giai đoạn mới trong tiến trình tạo dựng một liên minh ngày càng chặt chẽ giữa các nước châu Âu. Hệ thống an ninh, kinh tế kiểu Xô Viết sụp đổ cũng là lúc các nước Trung-Đông Âu chuyển sang kinh tế thị trường, thiết lập các nhà nước dân chủ theo mô hình phương Tây và mong muốn được tham gia các cơ chế EU. Ngay từ cuối những năm 80, đầu 90 vấn đề liên kết chiều sâu và liên kết chiều rộng đã được thảo luận trong EEC. Sau hiệp ước Maastricht, EEC được biết đến với tên gọi Liên hiệp Châu Âu EU- Nó thể hiện một bước tiến mới trong tiến trình liên kết toàn diện của cộng đồng. Những người theo trường phái liên kết chiều sâu muốn xây dựng các mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các nước trong khối trước khi kết nạp trong khi một số khác thì ủng hộ việc kết nạp ngay rồi cùng thúc đẩy việc liên kết chiều sâu. Xu hướng thứ nhất được chính quyền Anh ủng hộ với lý do chính Anh muốn tiến trình liên kết chậm hơn. Còn Đức thì ngược lại, ủng hộ việc kết nạp ngay những nước Trung-Đông Âu vốn là khu vực ảnh hưởng truyền thống của Đức. Bởi lẽ, Đức sẽ phát huy vai trò lớn hơn nếu biên giới của EU kéo dài tới sườn phía đông của Đức. Các nước nhỏ trong EU ủng hộ việc kết nạp thêm thành viên mới vì họ sẽ tránh được sức ép của các nước lớn. Do vậy, vấn đề mở rộng thành viên vẫn để ngỏ cho tất cả các nước. Những lập luận ủng hộ việc các nước Trung-Đông Âu tham gia EU cho rằng, tư cách thành viên EU sẽ là nền tảng cho quá trình chuyển đổi của các nước này như trước đó EU đã làm với các nước Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Mở rộng sẽ là một trong những phương cách chủ yếu để EU tăng cường tự do thương mại, dân chủ, ổn định ở Châu Âu. Bởi lẽ, EU sau chiến tranh lạnh phải đương đầu với các nguy cơ bất ổn khó lường như tình hình kinh tế, chính trị, xã hội rối ren, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo ở Nam Tư, Đông Âu, những dòng người tị nạn vì các nguyên nhân kinh tế, chính trị…Kỷ luật và điều lệ đối với thành viên EU sẽ giúp ngăn chặn tái diễn các cuộc xung đột liên quan đến biên giới lãnh thổ, sắc tộc ở Trung và Đông Âu do lịch sử để lại. Do vậy EU cần phải kéo các nước Trung-Đông Âu vào các mối quan hệ chiến lược với mình. Những nhận thức trên đây cho thấy các nhà lãnh đạo Tây Âu thấy được lợi ích chiến lược, lợi ích chính trị trong việc mở rộng sang phía đông. EU mở rộng sang phía Đông Quá trình mở rộng sang phía Đông của EU Ngay từ 1988 tại cuộc họp của Hội đồng Châu Âu tại Rohode, các nước EU đã thống nhất với nhau rằng EU là một lực hút kinh tế có thể kéo Đông Âu tiến tới một khu vực thịnh vượng chung mới của các dân tộc tự do. Một cách tự nhiên, EU trở thành trung tâm và là người bảo trợ cho làn sóng cải cách ở đây. Điều này đã được chính thức hóa tại Hội nghị cấp cao G7 năm 1989. Ngay sau đó, tháng 12/1989, EU đã phát động chương trình Hành động cho sự phục hồi kinh tế của Ba Lan và Hungari (PHARE). Đến nay PHARE đang tiếp tục được mở rộng cho các nước Đông Âu khác. Qua chương trình này, năm 1990 đã trợ giúp cho Đông Âu 600 triệu USD, năm 1991 là 974 triệu USD và năm 1992 là 1,2 tỷ USD. Tiếp theo, EU đã ký với hầu hết các nước Đông Âu hiệp định hợp tác thương mại. Ngân hàng đầu tư Châu Âu dự trữ hàng tỷ đô la sẵn sàng cung cấp tín dụng cho Đông Âu. Đặc biệt, với việc thành lập Ngân hàng tái thiết và phát triển Châu Âu (EBRD) năm 1990 với nguồn vốn từ các nước EU, Mỹ và Nhật trong đó EU chiếm 51%, với số vốn ban đầu 12 tỷ USD nhằm giúp cho thành phần kinh tế tư nhân ở các nước Đông Âu. Chỉ riêng năm 1992, EBRD đã thông qua các dự án trị giá 1,3 tỷ USD trợ giúp các nước này. Người ta coi đây là một "kế hoạch Marshall mới" cho Đông Âu ở thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Điều đó cũng nói lên quan tâm của EU khuyến khích các nước Đông Âu phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế tư nhân mà họ cho là đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường tự do. Hiện nay ủy ban Châu Âu giữ quyền điều phối nhóm 24 nước (các nước EU, các nước EFTA, Mỹ, Nhật, Canađa, Australia, New Zealand) trong việc hỗ trợ những cải cách ở Đông Âu. Vai trò đi đầu của EU trong chương trình này không chỉ giúp cho EU thêm sức mạnh trong chính sách đối ngoại của mình mà còn có vai trò ngày càng lớn trong tương lai của Đông Âu ở cả phương diện chính trị cũng như kinh tế. Bằng việc ký Hiệp định Châu Âu (Europe Agreements) năm 1990 với các nước Ba Lan, Hungari, Séc, Slovakia, Rumani, Bungari, (có hiệu lực với Ba Lan và Hungari từ năm 1994), các nước sẽ thực hiện tự do hóa thương mại trong hàng hóa công nghiệp kể cả những sản phẩm nhậy cảm như hàng dệt và sắt thép. Đây là bước quá độ để các nước này tham gia đầy đủ vào EU. Với ý nghĩa chiến lược trong việc thu hút các nước Đông Âu tham gia vào quỹ đạo của mình, EU phải chịu gánh nặng về tài chính cho tiến trình này cũng như phải có những chính sách ưu tiên cho các nước nói trên. Bằng việc mở cửa thị trường cho hàng xuất khẩu của Đông Âu, EU đã góp phần làm sống động hoạt động kinh tế của khu vực này. Có tới gần 80% hàng xuất của Trung-Đông Âu là sang thị trường EU, trong khi chỉ xuất được 5% sang Mỹ. Theo các nghiên cứu của ủy ban Châu Âu, chỉ riêng việc mở rộng cải cách nông nghiệp và phát triển hạ tầng cơ sở của 10 nước Trung-Đông Âu thì EU đã phải chi thêm 38 tỷ ECU (tương đương 5 tỷ USD) trong ngân sách mỗi năm của mình. Ngoài ra những trợ giúp về kỹ thuật, pháp lý, mạng lưới thông tin toàn Châu Âu, kể cả việc nâng cấp các khoa, các trường đại học những điều kiện cần thiết cho việc Đông Âu hòa nhập vào EU là những khoản chi rất lớn. Qua đó cho thấy EU rất quan tâm đến việc làm cho các đối tác mới tương đồng về kinh tế khi tham gia EU hơn là những lợi ích kinh tế mà các đối tác này có thể mang lại. Nói như vậy không có nghĩa là EU không có những lợi ích kinh tế nào trong tiến trình mở rộng về phía đông. Chính khi xuất khẩu hàng sang EU thì các nước Đông Âu cũng phải chấp nhận và tuân theo những quy định của EU. Một mặt làm cho các nước này nâng dần tới chuẩn mực chung của EU. Mặt khác, khi Đông Âu chấp nhận những luật lệ và các mô hình pháp lý đó, về cơ bản sẽ làm lợi cho các công ty của EU trong việc xâm nhập vào thị trường của các nước Trung-Đông Âu với một lợi thế mà các đối tác khác không có được. Mở rộng EU sang phía Đông mang ý nghĩa chính trị nhiều hơn đối với EU. Mặc dù các nước Đông Âu cố gắng điều chỉnh cải cách và đạt được những tiến bộ; nhưng xét về mặt kinh tế cũng như về thể chế luật pháp họ đều chưa sẵn sàng có thể tham gia EU. Việc mở rộng sớm hay muộn phụ thuộc vào khả năng EU tiếp nhận các thành viên mới trong khi vẫn đảm bảo tính cố kết và duy trì tiến trình liên kết. Cải cách thể chế EU là đặc biệt cần thiết. Vì những vòng mở rộng này không như lần trước với ba nước EFTA (Thụy Điển, áo, Phần Lan), là những nước có trình độ phát triển kinh tế cao, gần gũi về văn hóa, chính trị với Tây Âu. Còn các nước Đông Âu, có lịch sử rất khác nhau trong quan hệ với các nước phương Tây. Liệu sẽ có bao nhiêu nước và khi nào sẽ được kết nạp ? Nguyễn Thị Bình, “Về việc mở rộng sang phía Đông”, website: Hiệp định châu Âu tại Copenhagen 1993 đã đưa ra “lời mời để ngỏ”cho tất cả các quốc gia châu Âu đảm bảo được những tiêu chuẩn sau: Thể chế ổn định để đảm bảo dân chủ, nguyên tăc luật pháp, nhân quyền và tôn trọng, bảo vệ người thiểu số. Có nền kinh tế thị trường vận hành tốt cũng như khả năng chịu được sức ép cạnh tranh và các sức mạnh thị trường trong liên minh. Khả năng chấp nhận những nghĩa vụ thành viên, bao gồm cả việc gắn với các mục tiêu liên minh kinh tế, tiền tệ và chính trị. Carlo Filipini-Bùi Huy Khoát-Stephan Hell, “Mở rộng EU và các tác động đối với Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.81 Từ sự tính toán về vai trò địa - chiến lược và EU sẽ mở rộng sang phía Đông để thống nhất toàn bộ châu Âu, tháng 12 năm 2001, hội nghị cấp cao EU đã thông qua “Hiệp ước Nixơ” nhằm gạt bỏ tất cả trở ngại để mở rộng tổ chức này sang phía Đông. Hội nghị cấp cao EU tháng 12/2001 đã tuyên bố 10 quốc gia là : Manta, Slovakia, Séc, Estonia, Látvia, Lítva, Hungari, Ba Lan, Slovenia đã đạt được những tiêu chuẩn cơ bản và đến năm 2004, các nước này sẽ trở thành thành viên chính thức của tổ chức này. Ngày 13/12/2002 được coi là dấu chấm hết sau 4 năm đàm phán về vấn đề kết nạp hội viên mới. Lễ kết nạp đã được tổ chức vào ngày 1/5/2004, EU với 15 nước đã trở thành “EU 25”. Ngày 01/01/2007, EU kết nạp thêm Bungaria va Rumania trở thành “EU 27”. Mở rộng EU sang phía Đông là tính toán chiến lược tổng hợp sau chiến tranh lạnh , có ý nghĩa trước mắt và lâu dài. Trước mắt, có ý nghĩa chính trị to lớn, lợi dụng “khối Liên Xô” tan rã và suy thoái để lấp khoảng trống chính trị tại khu vực Trung Đông, thúc đẩy các quốc gia khu vực này đi vào quỹ đạo chính trị - kinh tế của EU, ngăn chặn khả năng đảo ngược về chính trị, trở lại thân Nga về ngoại giao, làm cho châu Âu rơi vào tình trạng tiếp tục bị phân liệt. Còn về lâu dài, EU muốn thực hiện châu Âu nhất thể hoá toàn diện, một “Đại châu Âu” của người châu Âu thực sự, nhằm đảm bảo cho châu Âu hoà bình vĩnh viễn và phát triển phồn vinh, phát huy vai trò độc lập và ảnh hưởng tương xứng của nó trên trường quốc tế. TS. Hồ Châu, “Chiến lược châu Âu của Nga trong bối cảnh EU mở rộng sang phía Đông”, Nghiên cứu châu Âu, số 5(53)/2003 Thách thức sau khi mở rộng EU sang phía Đông Khi EU vươn tay tới Đông Âu, hố ngăn cách giữa hai phần Đông và Tây của Âu châu, sản phẩm của chiến tranh lạnh, rõ ràng đã được xóa bỏ. Tuy nhiên, ngay cả khi đã trở thành người "cùng hội cùng thuyền", giữa họ vẫn tồn tại những khác biệt mà một lễ gia nhập long trọng không thể gạt bỏ ngay được. 27 quốc gia và với dân số gần 490 triệu người, EU-27 sẽ là một thị trường to lớn với sức cạnh tranh đáng nể. Nhiều người dự đoán nền kinh tế EU sau khi mở rộng sẽ đi theo hướng: từ Tây sang Đông. Các công ty Tây Âu sẽ chuyển sang Ba Lan, Hungary, Czech và các quốc gia mới khác để tìm kiếm nguồn lao động rẻ và thị trường mới. Làn sóng đầu tư và việc làm sẽ tăng lên và như vậy sẽ thúc đẩy nền kinh tế toàn khối. Tuy nhiên lâu nay người ta vẫn tin rằng 380 triệu người dân phương Tây sẽ ở vị trí đầu tàu và 100 triệu người Đông Âu sẽ là những hành khách may mắn được lên tàu. Chính từ suy nghĩ này mà một mối lo chung xuất hiện, EU có thể biến thành đoàn tàu hai tốc độ. Có sự chênh lệch lớn về trình độ phát triển giữa các thành viên cũ và mới. Thu nhập bình quân giữa nhóm nước mới gia nhập EU và các thành viên mới là đáng kể. So với những người hàng xóm phương Tây, các chàng tân binh EU thực chất là nghèo hơn. Ba Lan, nước lớn nhất gia nhập EU với số dân 38 triệu người và GDP chiếm 50% của toàn bộ các nước mới. Nhưng GDP của họ cũng chỉ chiếm 2% tổng GDP của toàn bộ EU. Nước giầu thứ hai là Czech có GDP đầu người là 8.900 USD, chưa bằng 1/3 mức của nước láng giềng Đức Quang Thuận(Theo I.H.T), “Châu Âu tái thống nhất - Đồng sàng dị mộng?”, Website: . Như vậy, EU sẽ phải giành nhiều nỗ lực về tài chính để vực dậy nền kinh tế ở các nước này thông qua các chương trình thúc đẩy hội nhập để giảm dần khoảng cách về mức sống giữa hai nhóm nước này. Bên cạnh đó còn có bất đồng giữa các thành viên cũ và mới xung quanh cuộc chiến tranh Iraq và quan hệ với Mỹ. Mặc dù Tây Âu là đồng minh chiến lược truyền thống của Mỹ nhưng cuộc chiến tranh Iraq đã cho thấy hình như các quốc gia một thời đứng ở phía bên kia tấm màn sắt mới là những đồng minh nhiệt thành nhất của Mỹ. Nhưng nhiều người cũng lạc quan cho rằng những bất đồng này sẽ được xóa bỏ khi Đông và Tây Âu thực sự trở thành một. "Địa lý sẽ chiến thắng lịch sử. Cuối cùng người Đông Âu sẽ phải ngả về Brussels vì hàng ngày họ sẽ cần tới Brussels". Ảnh hưởng của chiến lược mở rộng sang phía Đông đối với Nga Có lẽ hơn ai hết, Nga là nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ chiến lược “Đông tiến” của EU. Chiến lược sẽ thúc đẩy bước phát triển và ổn định về kinh tế, chính trị và an ninh của Nga. EU là một liên minh kinh tế - chính trị, không đe doạ đối với Nga. Mở rộng sang phía Đông, trước hết EU mở rộng thị trường châu Âu, từ đó khai thác con đường và phạm vi hợp tác kinh tế song phương, mang lại cho Nga nhiều cơ hội phát triển. EU là bạn hàng lớn nhất của Nga, xuất khẩu sang thị trường EU trong lĩnh vực năng lượng là động lực vực dậy nền kinh tế Nga. Sự khởi động đồng Euro đã giúp các xí nghiệp của Nga tiến vào thị trường EU thuận tiện hơn, nó còn giúp cải thiện cơ cấu ngoại tệ, giảm bớt nguy cơ suy thoái tiền tệ… Việc EU mở rộng sang phía Đông còn giúp Nga rút ngắn thời gian gia nhập WTO. Quan hệ thương mại song phương tăng cường, sự cọ xát kinh tế sẽ tăng lên, sự khác biệt về luật pháp, quy tắc thương mại, tiêu chuẩn hàng hoá… dần dần được rút ngắn. Ví dụ: “Trong lúc Nga giảm giá năng lượng trong nước thì lại tăng giá khi xuất khẩu làm cho Eu phản ứng. Ngược lại, Nga phê phán EU không coi Nga như một quốc gia kinh tế thị trường mà có thái độ phân biệt đối xử. Điều này càng thúc giục Nga nhanh chóng gia nhập WTO vào cuối năm 2003. EU tỏ thái độ quyết tâm giúp đỡ để đưa Nga vào quỹ đạo của kinh tế châu Âu và thế giới”. EU mở rộng sang phía Đông sẽ đẩy nhanh sự hoà hợp cả về chế độ chính trị lẫn nền văn hoá Nga, khiến nước này gần gũi hơn với tiêu chuẩn châu Âu, xoá bỏ hố ngăn cách suốt gần một thế kỷ qua giữa hai bên cả về chế độ chính trị lẫn quan niệm văn hoá. Sau chiến tranh lạnh, Nga đã cải cách một cách cấp tiến và triệt để theo mô hình và tiêu chuẩn của các nước châu Âu, khẳng định mục tiêu chiến lược là “quay về với châu Âu”. Việc mở rộng EU sang phía Đông là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu này của Nga. Trong tiến trình mở rộng sang phía Đông, những tiêu chuẩn về chế độ và văn hoá của EU như đa nguyên hoá kinh tế - chính trị, dân chủ, tự do, nhân quyền, pháp chế, kinh tế thị trường… là những tiêu chuẩn chính đòi hỏi để các nước Trung – Đông Âu được kết nạp vào EU. Uỷ ban châu Âu nêu ra “Cương lĩnh dân chủ và nhân quyền” là để thúc đẩy dân chủ, bảo vệ nhân quyền, tăng cường xã hội công dân, coi đây là mục tiêu ưu tiên hợp tác với Nga. Điều này rõ ràng sẽ có ảnh hưởng lớn đến chiến lược “Quay về châu Âu của Nga, buộc nước này phải cải cách nhanh chóng và sâu sắc, nếu muốn gia nhập vào châu Âu. Xét dưới góc độ địa – chính trị, EU mở rộng sang phía Đông làm cho biên giới hai bên gần nhau, thậm chí kề sát nhau, thành viên của EU đến năm 2007 là 27 và còn tăng lên nữa và đường biên giới chung cũng tiếp tục tăng. Nước Nga có chung biên giới với các thành viên của EU là : Estonia, Látvia, Ba Lan…, chưa kể các nước cách biển như Đức, Thuỵ Điển, Đan Mạch….Sau khi mở rộng về phía Đông, quan hệ chặt chẽ giữa Nga với các nước Trung - Đông Âu sẽ biến nước Nga trở thành một bộ phận của châu Âu. Hàng loạt thói quen và quy tắc ứng xử giữa Nga với các nước Trung – Đông Âu trước kia giờ đây không thể không thay đổi. EU mở rộng sang phía Đông không chỉ cải thiện quan hệ Nga – châu Âu mà còn có tác động đến quan hệ Nga - Mỹ. Đối với Nga, cải thiện quan hệ với Mỹ là mục tiêu hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình. Sau sự kiện 11/9, Nga đã có những nhượng bộ quan trọng để đổi lấy những đột phá trong quan hệ với Mỹ, nhưng vẫn chưa được Mỹ ghi nhận. Ngược lại, Mỹ luôn tỏ thái độ coi thường, ngạo mạn đối với Nga trong các vấn đề quan trọng như rút khỏi hiệp ước đạn đạo, mở rộng NATO sang phía Đông, vấn đề Tresnia, quan hệ Nga - Irắcv.v… Do đó, trước mắt, quan hệ Nga - Mỹ đã làm cho nhiều người lo ngại. Đứng trước tình hình đó, EU muốn làm môi giới để cải thiện quan hệ Nga - Mỹ với việc xây dựng cơ chế “NATO 20 nước” được thúc đẩy bởi EU. Ngoài ra, EU mở rộng sang phía Đông còn giúp làm giảm mâu thuẫn dân tộc giữa các quốc gia Trung – Đông Âu, ổn định tình hình châu Âu, đặc biệt là tình hình biên giới, đưa lại lợi ích về ổn định an ninh – chính trị của Nga. Trên lĩnh vực bảo vệ môi trường, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia… Nga cũng đều có lợi ích nhất định. Tuy nhiên, việc mở rộng sang phía Đông của EU không tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực đối với Nga. Trước hết, điều này đã gây nên những phản ứng về tâm lý công chúng Nga. Một mặt, các nước Trung – Đông Âu gia nhập EU đã kích động hi vọng muốn gia nhập EU của nhiều người Nga. Từ sau chiến tranh lạnh, Nga luôn luôn muốn gia nhập vào “Đại gia đình văn minh châu Âu”. EU muốn tạo điều kiện để Nga thực hiện ý muốn này. Mặt khác, tâm lý tự tôn dân tộc của người Nga cũng bị tổn thương. Liên Xô giải thể, nước Nga suy thoái, thế giới phương Tây coi thường Nga, chạm đến lòng tự trọng của người Nga, ngả vào lòng EU khiến nhiều người Nga tỏ ra hối tiếc. Nhiều người lo lắng, EU mở rộng sang phía Đông sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của nước Nga, vì “nhiều nước lớn ở phương Tây thường tỏ thái độ không tôn trọng lợi ích hợp pháp của Nga”. Dù nhiều lần Nga tỏ ý muốn gia nhập EU, nhưng đều không được tổ chức này hưởng ứng. Chủ tịch uỷ ban châu Âu, R.Prôđi đã nêu rõ “trong tương lai gần, không tồn tại vấn đề Nga gia nhập EU”. Ông giải thích rằng, nếu Nga trở thành thành viên của EU thì số đại biểu của hộ trong Nghị viện châu Âu thì sẽ bằng tổng số đại biểu của Anh, Pháp, Ý và quyền lực trong các cơ cấu khác cũng bị chia sẻ. Điều này sẽ làm mất cân bằng và thay đổi tính chất của EU. TS. Hồ Châu, “Chiến lược châu Âu của Nga trong bối cảnh EU mở rộng sang phía Đông”, Nghiên cứu châu Âu, số 5(53)/2003 Kết luận Bước mở rộng sang phía Đông không phải là lần mở rộng đầu tiên trong lịch sử EU. Trên thực tế, lịch sử của EU là lịch sử của nhiều lần mở rộng.Với những lần mở rộng đó, lần đầu tiên đã hình thành một tình hình khi các nước nhỏ ở châu Âu vốn trong hàng thế kỷ là khách thể của các mối quan hệ quốc tế, đã trở thành các chủ thể đầy đủ các quyền lợi mà tiếng nói của họ có uy lực thực tế khi thông qua các quyết định. Có lẽ sức hấp dẫn của EU và thắng lợi của ý tưởng châu Âu là ở chỗ đó. Điều này cũng làm cho EU trở nên hấp dẫn với nhiều nước SNG. Tuy nhiên, lần mở rộng sang phía Đông này rõ ràng là lần mở rộng lớn nhất và có thể có tác động sâu rộng nhất đối với Liên minh. Toàn bộ hơn 450 triệu người sẽ cùng có những thể chế chung và (đối với phần lớn trong họ) đồng tiền chung. Liên minh châu Âu mở rộng sang phía Đông hiện nay có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc thực hiện ý tưởng thống nhất châu Âu, với một liên minh gồm 27 nước, sẽ làm tăng thêm vị trí và ảnh hưởng của EU trên toàn thế giới, đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức đòi hỏi EU phải giải quyết. Tuy vậy, sự mở rộng EU thông qua việc kết nạp các thành viên từ khối Đông Âu cũ không chỉ có ý nghĩa là tăng đơn thuần số lượng thành viên mà còn làm thay đổi căn bản sự phân chia lực lượng trong nội bộ EU. Trong tương lai, EU có thể bị chia rẽ về định hướng chính sách đối ngoại với Nga, bởi các nước thành viên cũ dường như đang tạo ra nhiều cơ hội để tăng cường các mối quan hệ song phương với Nga. Đối với các quốc gia châu Á và đặc biệt với Việt Nam, có thể nói rằng EU được mở rộng sẽ có vai trò hàng đầu trên thế giới với tác động tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế, phát triển kinh tế và tạo dựng an ninh quốc tế. Danh mục tài liệu tham khảo TS. Hồ Châu, “Chiến lược châu Âu của Nga trong bối cảnh EU mở rộng sang phía Đông”, Nghiên cứu châu Âu, số 5(53)/2003. Nguyễn Thị Bình, “Về việc mở rộng sang phía Đông”, website: Carlo Filipini-Bùi Huy Khoát-Stephan Hell, “Mở rộng EU và các tác động đối với Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004. Nguyễn Xuân Phách[Chủ biên], “Chính sách đối ngoại của một số nước sau chiến tranh lạnh”, Hà Nội, 1999. Quang Thuận(Theo I.H.T), “Châu Âu tái thống nhất - Đồng sàng dị mộng?”, Website:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững biến đổi của châu Âu sau chiến tranh lạnh và tác động của nó đến sự hình thành chiến lược mở rộng sang phía Đông của EU.doc
Luận văn liên quan