Những biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học

VÀI NÉT TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1. Quan điểm lý luận chung Tình trạng học sinh bỏ học thường gặp phải ở hầu hết các nước trên thế giới, nhất là các nước nghèo, chậm phát triển, nơi có trình độ dân trí còn thấp, là một hiện tượng phức tạp với hệ thống các nguyên nhân từ bên trong và bên ngoài nhà trường. Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề học sinh bỏ học, nghiên cứu về quan điểm lý luận chung gồm có: Đặng Thành Hưng (20, 33), Đặng Vũ Hoạt (19, 1), Nguyễn Sinh Huy (21, 7), Trần Kiểm (22, 28) Các tác giả đã đề cập đến bản chất của hiện tượng lưu ban bỏ học; các nhân tố tác động đến lực lượng bỏ học: xã hội, nhà trường, gia đình và bản thân học sinh; đề xuất các giải pháp trên bình diện quá trình giáo dục, quá trình dạy học, bình diện xã hội, bình diện nhân cách cá nhân học sinh. Các tác giả còn đề cập đến nguyên nhân khiến học sinh bỏ học là do chương trình và sách giáo khoa, do giáo viên gây ra. Từ đó các tác giả cho rằng: cần phải sửa tận gốc những sai lầm đó, có nghĩa là phải tạo ra một cấu trúc mục đích, nội dung chương trình, phương pháp mới, hợp lý hơn và phải áp dụng các biện pháp đồng bộ thì mới có thể khắc phục được tình trạng học kém - nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng học sinh bỏ học. 1.1.2. Các nghiên cứu trong tâm lý học, giáo dục học liên quan đến hiện tượng học sinh bỏ học. Tình trạng học sinh bỏ học hàng loạt đã và đang là vấn đề được toàn xã hội quan tâm, vấn đề này đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, như: Võ Thị Minh Chí (9, 31), Trần Kiểm (23, 19), Trần Hữu Trù (39, 19), Các tác giả đã khảo sát các đặc điểm tâm lý của học sinh yếu, kém, lưu ban; tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm ngăn ngừa hiện tượng bỏ học.

doc95 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 19006 | Lượt tải: 94download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Những biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lớp, ảnh hưởng đó sẽ gây ra tình trạng dôi dư giáo viên, khiến không ít giáo viên bị mất việc. Khi học sinh bỏ học tiêu cực sẽ trở thành đội quân “trù bị” của ma tuý và các tệ nạn xã hội, sẽ ảnh hưởng đến an ninh trật tự và gần nhất là ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường giáo dục của nhà trường, gây mất an toàn cho giáo viên và học sinh, gây ra tâm lý bất an cho mọi người. Từ đó, giúp mọi người nhận thức rõ trách nhiệm và quyền lợi trong việc giữ học sinh ở lại nhà trường. Cũng qua nâng cao nhận thức, giúp cán bộ quản lý và giáo viên hiểu rằng tình trạng học sinh bỏ học đã lên đến mức báo động. Nếu như các em không tiếp tục học bổ túc hoặc học nghề thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến tình hình phát triển của huyện nhà. Từ đó, phải tạo được sự đồng thuận trong tập thể để tất cả các thành viên đều nhìn về một mục tiêu là: “Khắc phục tình trạng học sinh bỏ học”. Qua đó, mọi người sẽ tự giác thay đổi phương pháp giảng dạy, rèn luyện để nâng cao kỹ năng sư phạm, trình độ chuyên môn và tích cực với việc vận động học sinh bỏ học trở lại trường, giảm tối đa tỷ lệ học sinh bỏ học. 3.2.1.3. Cách thực hiện biện pháp Để làm tốt việc nâng cao nhận thức cho mọi thành viên trong tập thể sư phạm nhà trường, đòi hỏi hiệu trưởng phải thực hiện tốt những công việc dưới đây: - Tổ chức cho cán bộ giáo viên nghiên cứu học tập Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng; Luật Giáo dục; Chỉ thị của Bộ Chính trị về cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ với 4 nội dung: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích; nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo và việc cho học sinh không đạt chuẩn lên lớp” và cuộc vận động: “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Qua đó, hướng dẫn cho họ viết thu hoạch, có liên hệ cụ thể của mỗi người trong hoàn cảnh cụ thể. - Vào đầu năm học, ngoài việc tổ chức nhắc lại Điều lệ trường THCS, quy chế chuyên môn, các văn bản luật có liên quan trực tiếp đến giáo viên và học sinh, Hiệu trưởng cần tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên quán triệt sâu sắc Nghị quyết của Tỉnh Đảng bộ Trà Vinh; Nghị quyết Huyện Đảng bộ Càng Long nhiệm kỳ 2006 - 2010 và Nghị quyết của chi bộ trường. Đặc biệt là cần phải triển khai rõ ràng, sâu rộng trong tập thể sư phạm nhà trường về các văn bản chỉ đạo khắc phục tình trạng học sinh bỏ học của UBND tỉnh Trà Vinh; UBND huyện Càng Long; Phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Càng Long. Qua đó, đưa ra kế hoạch tổ chức hội thảo về việc phòng chống học sinh bỏ học của học sinh trường, yêu cầu mỗi cán bộ giáo viên phải tìm ít nhất một nguyên nhân và một biện pháp đã áp dụng thành công trong vấn đề học sinh bỏ học. - Mỗi tháng, qua các buổi họp Hội đồng, Hiệu trưởng đề nghị giáo viên chủ nhiệm báo cáo cụ thể từng trường hợp học sinh bỏ học của lớp mình, cần thiết nhất là phải nêu được nguyên nhân các em bỏ học, hoàn cảnh gia đình của các em ra sao, giáo viên chủ nhiệm đã có biện pháp gì để vận động các em trở lại trường, khuyến khích xin ý kiến của giáo viên bộ môn và mọi người dự đoán về tương lai của học sinh bỏ học của mình, kêu gọi mọi người trong tập thể sư phạm nhà trường phải làm hết lương tâm, trách nhiệm của một người thầy đối với học sinh, một người đi trước đối với lớp trẻ đi sau, một người với tâm tư của một bậc phụ huynh đối với tương lai của con em mình. - Để “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, để học sinh có được niềm tin vào tương lai, thì hiệu trưởng phải tổ chức cho cán bộ giáo viên tham gia thường xuyên các lớp học bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, các lớp bồi dưỡng chính trị, các buổi kể chuyện về Bác Hồ, các cuộc nói chuyện về truyền thống cách mạng của địa phương, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương…Bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ, về vốn sống thực tế, các lớp bồi dưỡng nội dung chương trình thay sách, các lớp nâng cao trình độ và các chuyến đi thâm nhập thực tế địa phương. Cụ thể như sau: + Tổ chức thi đua liên tục trong năm, tập trung vào các thời điểm: 20/10; 20/11; 22/12; 3/2; 8/3; 26/3; 30/4; 19/5… nhằm giáo dục lòng yêu nghề, mến trẻ, lẽ sống tốt đẹp của tất cả thầy trò. Điều cần thiết nhất sau mỗi đợt thi đua là phải làm cho cán bộ giáo viên hiểu sâu sắc hơn về nhiệm vụ của giáo viên trường trung học được quy định trong Điều lệ trường THCS, THPT nhiều cấp. Trong đó có vấn đề nổi bật nhất là: … giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh, thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, đoàn kết giúp đỡ đồng nghiệp. + Trong phiên họp Hội đồng hàng năm, gợi ý cho cán bộ giáo viên tìm những khẩu hiệu, những câu nói của các bậc vĩ nhân về lĩnh vực giáo dục. Đặc biệt là về vai trò của những người làm công việc “Trồng người”, về tầm quan trọng của việc học, bố trí và trang trí những câu này ở nơi trang trọng và thích hợp để mỗi khi nhìn thấy mọi người sẽ ý thức được hành vi của mình. Đối với cán bộ quản lý có thể suy nghĩ nhiều hơn về câu nói của Lênin: Khoan dung hơn, trung thực hơn, lễ độ hơn, quan tâm hơn đến các đồng chí, tính khí ít thất thường hơn. Đối với giáo viên thì cần nghiền ngẫm lại nhiệm vụ của giáo viên và tinh thần cuộc vận động: “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”. Đối với học sinh, mỗi khi bước vào trường các em sẽ cảm thấy vai trò cực kỳ quan trọng của bản thân qua lời dạy ấm áp của Bác: Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em. Tác động về mặt hình thức lâu dài sẽ tạo thành chiều sâu trong tình cảm của mỗi người, họ sẽ chọn cho mình một cách sống gương mẫu và có trách nhiệm hơn. + Đầu năm học, ngoài các lớp bồi dưỡng chuyên môn do phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức, còn tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ giáo viên tại trường với nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, những nội dung đổi mới, những quy định mới về đánh giá, xếp loại học sinh… + Khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên có kế hoạch tự học + Chọn cán bộ giáo viên có đủ khả năng và điều kiện để đưa đi học các lớp nâng cao, nhằm tạo được đội ngũ cốt cán kế thừa. Tạo mọi thuận lợi cho cán bộ giáo viên chưa đạt chuẩn tham gia các lớp chuẩn hoá do Sở Giáo dục - Đào tạo hoặc phòng Giáo dục - Đào tạo tổ chức. + Phân công giáo viên có kinh nghiệm, đặc biệt là có kỹ năng sư phạm chủ nhiệm các khối lớp có học sinh bỏ học nhiều (theo thống kê là học sinh ở khối lớp 8 là bỏ học nhiều nhất). - Đầu năm, cho giáo viên chủ nhiệm và cả giáo viên bộ môn đăng ký duy trì sĩ số học sinh ở các lớp mình dạy và chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm sẽ chịu trách nhiệm với tỷ lệ học sinh bỏ học ở lớp chủ nhiệm, giáo viên bộ môn sẽ chịu trách nhiệm với tỷ lệ trung bình của tất cả học sinh bỏ học ở các lớp họ tham gia giảng dạy trong năm. Hiệu trưởng là người duyệt và giao chỉ tiêu cụ thể, danh hiệu thi đua của giáo viên cuối năm sẽ phụ thuộc một phần lớn vào tỷ lệ học sinh bỏ học. Tổ chức tuyên dương, khen thưởng đối với những thành viên có những đóng góp tích cực trong việc ngăn ngừa học sinh bỏ học, vận động học sinh trở lại lớp, nâng kém có hiệu quả, khiển trách các thành viên thiếu trách nhiệm đối với vấn đề này. - Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra - đánh giá và điều chỉnh tất cả các hoạt động trong nhà trường để kịp thời nắm được kết quả của việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Đó là hoạt động giảng dạy và giáo dục của giáo viên, hoạt động của công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên… Để tạo được sức mạnh tổng hợp từ các lực lượng giáo dục trong nhà trường để tác động giảm dần học sinh yếu kém, học sinh hư thì đòi hỏi các cán bộ quản lý phải là những người luôn đi tiên phong, luôn gương mẫu, luôn tự rèn luyện, tự học tập, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ quản lý, đạo đức tác phong… Điều đó sẽ tạo cho mọi người sự “Tâm phục - khẩu phục”, sẽ giúp cho người hiệu trưởng thành công trong quá trình tác động nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên trong nhà trường về tác hại do học sinh bỏ học gây ra. 3.2.2. Phát huy vai trò của giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và các đoàn thể trong nhà trường đối với tình trạng học sinh bỏ học Vai trò của gíáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và các đoàn thể trong nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện và ngăn ngừa học sinh bỏ học, cũng như trong việc vận động các em bỏ học trở lại lớp. 3.2.2.1. Mục đích của biện pháp Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm cho giáo viên bộ môn, nghệ thuật chủ nhiệm lớp cho giáo viên chủ nhiệm. Nâng cao lương tâm, trách nhiệm nhà giáo với lòng yêu nghề, mến trẻ, yêu nước, yêu chế độ… Tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và các đoàn thể trong nhà trường, nhằm tạo được sức mạnh tổng hợp trong việc ngăn ngừa và phòng chống tình trạng học sinh bỏ học. 3.2.2.2. Nội dung biện pháp Có rất nhiều nguyên nhân phức tạp dẫn đến việc học sinh chán học, bỏ học. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa, chủ yếu vẫn là cách thức, phương pháp giảng dạy, giáo dục của thầy cô trong nhà trường. Nếu như giáo viên bộ môn có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm và đạo đức tốt sẽ là tấm gương sáng cho học sinh, sẽ tạo được cho học sinh một niềm tin trong sáng vào tương lai, sẽ kích thích niềm say mê học tập cho các em. Nếu giáo viên chủ nhiệm có nhiều kinh nghiệm, gần gũi với học sinh, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh và cảm thông sâu sắc về những vấn đề tâm, sinh lý của học sinh, biết cách lắng nghe các em, biết cách gợi mở những uẩn khúc ở các em, sẽ tạo cho học sinh cảm giác được che chở, cảm giác an toàn và luôn muốn được học ở lớp, ở trường. Nếu giáo viên bộ môn kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm để kịp thời phát hiện những học sinh tiền bỏ học, và kết hợp với các đoàn thể trong nhà trường trong việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ, vui chơi giải trí lành mạnh, nhằm tạo cơ hội cho học sinh phát huy được những điểm mạnh của mình, giúp các em tự tin hoà nhập vào tập thể. Từ đó, có biện pháp giáo dục học sinh hư, cách thức nâng dần học sinh yếu kém, nhằm giảm dần tỷ lệ học sinh bỏ học. 3.2.2.3. Cách thực hiện biện pháp Để phát huy được khối đoàn kết nêu trên, hiệu trưởng cần làm tốt những công việc sau: - Hiệu trưởng xem xét, điều chỉnh tất cả các hoạt động trong nhà trường để có thể khắc phục được tình trạng học sinh bỏ học có hiệu quả như: hoạt động của tổ chủ nhiệm, hoạt động giảng dạy và giáo dục của giáo viên bộ môn và hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí minh; Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh… - Ngoài việc lập kế hoạch phòng chống tình trạng học sinh bỏ học từ đầu năm, có kiểm tra, đánh giá từng học kỳ, từng tháng, từng tuần, với sự nhất trí tham gia của toàn thể các thành viên trong Hội đồng sư phạm. Hiệu trưởng phải chú trọng đặc biệt đến việc mở lớp tập huấn cho giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các bộ phận đoàn thể trong nhà trường về những tình huống sư phạm có thể xảy ra trong quá trình giảng dạy, giáo dục cũng như trong quá trình quản lý học sinh, nhằm nâng dần kỹ năng sư phạm cho tập thể giáo viên, cán bộ, công nhân viên của trường, nhằm tạo được không khí chân thành mềm dẻo, tế nhị và tôn trọng các em học sinh trong quá trình giao tiếp, góp phần giảm tỷ lệ học sinh bỏ học vì bất mãn thái độ thiếu tính năng sư phạm của thầy cô. - Hiệu trưởng phải có kế hoạch cụ thể trong việc đưa giáo viên đi học các lớp bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Bởi vì, nâng cao năng lực chuyên môn cho giáo viên là nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ lên lớp. Đặc biệt là với việc tăng cường phối hợp các phương pháp phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh, chú trọng dạy học sinh phương pháp tìm tòi, khám phá tri thức… sẽ giúp học sinh tăng hứng thú trong học tập, chăm học và kết quả là giảm được tỷ lệ học sinh yếu. - Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm quan tâm đến đối tượng học sinh yếu, kém, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, lập danh sách các đối tượng học sinh này và báo cáo thường xuyên lên hiệu trưởng ở các kỳ họp hội đồng, họp tổ chủ nhiệm, họp chuyên môn để theo dõi sự tiến bộ của các em để kịp thời giúp đỡ các em khi gặp khó khăn được tiếp tục học được. - Tạo điều kiện thật thoáng cho học sinh yếu, kém và có hoàn cảnh khó khăn được tiếp tục học. Đối với học sinh yếu, kém phải thi lại thì giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn kết hợp chặt chẽ với nhau trong việc vận động và tổ chức ôn tập cho các em vào những tuần nghỉ cuối học kỳ, những ngày nghỉ nhằm giúp các em theo kịp chương trình. Nếu các em phải thi lại thì tạo điều kiện cho các em thi nhiều đợt, để các em có cơ hội nắm lại kiến thức bị hỏng và có đủ điều kiện để lên lớp. Đối với học sinh con những gia đình quá khó khăn phải bỏ học, thì phải thật bình tĩnh trong việc vận động các em trở lại lớp. Nếu khó khăn về kinh tế thì giáo viên chủ nhiệm phải tham mưu với Hội Khuyến học trong việc giúp đỡ các em có thể trở lại học. Nếu khó khăn về phương tiện đi lại thì cũng xin hỗ trợ cho các em phương tiện thích hợp để đến trường. Trường hợp các em nghỉ học do trong gia đình bất hoà thì giáo viên chủ nhiệm kiên trì chờ đợi cho gia đình tạm ổn định để vận động các em trở lại lớp, và sử dụng những tuần nghỉ học trong năm để cùng giáo viên bộ môn “lấp lại” lỗ hổng kiến thức cho các em. Việc phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn sẽ góp phần đáng kể trong việc phát hiện và ngăn ngừa học sinh bỏ học. Chính vì thế, hiệu trưởng phải tổ chức chỉ đạo thật tốt việc phối hợp này. Thông qua giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm có thể biết được tình hình học tập cũng như nề nếp của học sinh lớp chủ nhiệm để kịp thời điều chỉnh, uốn nắn. Giáo viên chủ nhiệm cung cấp thông tin cho giáo viên bộ môn về điều kiện của từng học sinh, hoàn cảnh gia đình, tính tình, năng lực… để giáo viên bộ môn cũng cảm thông với các em như giáo viên chủ nhiệm, góp phần động viên, khuyến khích, giúp đỡ các em thật kịp thời. Để tạo được sức mạnh tổng hợp trong việc phòng chống tình trạng học sinh bỏ học, Hiệu trưởng phải chỉ đạo phối hợp với các đoàn thể trong nhà trường, hoạt động đồng bộ, kết hợp chặt chẽ. Phối hợp với Công đoàn trường bằng ký kết trách nhiệm giữa nhà trường với công đoàn, ký kết trách nhiệm trong việc vận động, tuyên truyền cho công đoàn viên về tác hại của tình trạng bỏ học. Giao cho công đoàn chủ trì vận động giáo viên làm cam kết trách nhiệm trong việc duy trì sĩ số. Chỉ đạo Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ CHí Minh tổ chức các hoạt động ngoại khoá, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh, để có thể giữ được học sinh yếu, kém ở lại trường và giảm dần tỷ lệ học sinh hư. Cũng qua tổ chức Đoàn - Đội tổ chức cho học sinh vận động bạn bè đã bỏ học trở lại lớp. Gây quỹ giúp đỡ bạn cùng lớp, cùng trường có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thông qua các hoạt động gây quỹ giúp đỡ bạn cùng lớp, cùng trường qua các phong trào: bỏ ống heo đất, nhịn một bữa ăn sáng trong tháng, thu nộp giấy vụn, tặng bạn áo xuân… Những phong trào này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và vô cùng quý báu, vừa giúp đỡ được bạn lúc khó khăn, vừa giáo dục được học sinh tính tiết kiệm, tinh thần đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau 3.2.3. Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Đây là một biện pháp rất mới, hoàn thành biện pháp này đồng nghĩa với việc người hiệu trưởng hoàn thành một công việc trọng tâm của ngành: đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới quản lý tài chính và triển khai phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. 3.2.3.1. Mục đích của biện pháp Mục đích của biện pháp này là tạo nên một môi trường giáo dục (cả về vật chất lẫn tinh thần) an toàn, bình đẳng, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, góp phần đảm bảo cho quyền được đi học và học hết cấp của học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục trên cơ sở tập trung mọi nỗ lực của nhà trường vì người học, với các mối quan tâm thể hiện thái độ thân thiện và tinh thần dân chủ. Trong môi trường trường học thân thiện, trẻ em sẽ cảm nhận được sự thoải mái khi việc học của mình vừa gắn bó với kiến thức trong sách vở, vừa thông qua sự thâm nhập, trải nghiệm của chính bản thân trong các hoạt động ngoại khoá, trong các trò chơi dân gian, các hoạt động tập thể “vui mà học”, mỗi ngày trẻ em đến trường là một ngày vui. Trường học thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực của học sinh. Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh học tập hứng thú, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt của người thầy, gắn chặt giữa việc học và hành, biết thư giãn khoa học, rèn luyện kỹ năng. Trong đó, những yếu tố hết sức quan trọng là khả năng tự tìm hiểu, khám phá, sáng tạo… 3.2.3.2. Nội dung biện pháp Trong cuộc vận động xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, vai trò của người hiệu trưởng là con chim đầu đàn trong đội ngũ nhà giáo, tấm gương đạo đức về tự học và sáng tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng, đòi hỏi người hiệu trưởng vừa là một nhà sư phạm tài ba, vừa là một nhà hoạt động xã hội mềm dẻo để gắn được nhà trường vào đời sống cộng đồng, huy động sức mạnh của cộng đồng cho mục tiêu phát triển nhà trường, hiệu trưởng cũng phải có tư duy kinh tế góp phần phát triển kinh tế, vì nhà trường là nơi tạo ra “nhân cách - nhân lực” cho xã hội. Mỗi học sinh trải qua quá trình giáo dục của nhà trường, là sản phẩm của nhà trường tạo ra sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ quá trình tái sản xuất sức lao động kỹ thuật cho xã hội và tạo nên quan hệ sản xuất mới. Hiệu trưởng phải quán triệt được tinh thần và nội dung của cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” như sau: Trường học thân thiện, trước hết phải là nơi tiếp nhận tất cả trẻ em trong độ tuổi quy định, nhất là ở bậc tiểu học, THCS, là các cấp phổ cập đến trường. Nhà trường phải tạo điều kiện để thực hiện bình đẳng về quyền học tập cho thanh thiếu niên. Trường học thân thiện phải là trường có chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả giáo dục không ngừng được nâng cao. Các thầy, cô giáo phải thân thiện trong dạy học, thân thiện trong đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh. Đánh giá công bằng và khách quan với lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo. Các thầy, cô giáo trong quá trình dạy học phải thân thiện với mọi năng lực thực tế của mọi đối tượng học sinh, để các em tự tin bước vào đời. Trường học thân thiện phải là trường học có cơ sở vật chất đảm bảo các quyền tự nhiên thiết yếu của con người: đủ nước sạch, ánh sáng, phòng y tế, nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập… Trường học thân thiện phải là trường tạo lập sự bình đẳng giới, xây dựng thái độ và giáo dục hành vi ứng xử, tôn trọng bình đẳng nam nữ. Trường học thân thiện phải chú trọng giáo dục kỹ năng, giáo dục cho học sinh biết rèn luyện thân thể, biết tự bảo vệ sức khoẻ, biết sống khoẻ mạnh, an toàn. Trường học thân thiện phải là nơi huy động có hiệu quả sự tham gia của học sinh, thầy cô giáo, phụ huynh học sinh, của chính quyền, các tổ chức đoàn thể, các đơn vị kinh tế và nhân dân địa phương cùng đồng lòng, đồng sức xây dựng nhà trường. Xây dựng thành công trường học thân thiện, học sinh tích cực đồng nghĩa với việc xây dựng được một “toa thuốc” trị được tất cả những chứng bệnh tiêu cực từ học sinh. Trong đó có bệnh chán học, bỏ học. 3.2.3.3. Cách thực hiện biện pháp Để xây dựng thành công trường THCS thân thiện, học sinh tích cực, để mỗi ngày đến trường đối với học sinh là một ngày vui thì hiệu trưởng cần phải làm tốt những công việc sau: - Xây dựng trường lớp xanh - sạch - đẹp - an toàn, đảm bảo trường an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát ngày càng đẹp hơn, lớp học đủ ánh sáng, đủ bàn ghế, hợp lứa tuổi học sinh… Tổ chức cho học sinh trồng cây vào dịp đầu xuân ở khu vực sân chơi, bãi tập, ở những khu vực công cộng và tham gia chăm sóc, bảo vệ cây trồng. Có đủ nhà vệ sinh và được đặt ở vị trí phù hợp với cảnh quan trường học, được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, chú ý phải có nhà vệ sinh riêng cho giáo viên, cho học sinh, cho nam và cho nữ. Khuyến khích học sinh tham gia bảo vệ cảnh quang môi trường, giữ vệ sinh các công trình công cộng, nhà trường, lớp học và cá nhân. Tất cả các công việc trên góp phần giúp cho học sinh có tinh thần trách nhiệm hơn, có ý thức bảo vệ môi trường xung quanh, gần gũi với thiên nhiên hơn, sống đẹp hơn. Từ đó, tạo cho các em một tình cảm trong sáng, một niềm tin mãnh liệt vào tương lai, góp phần hạn chế tối đa học sinh chán học, chán trường và cuối cùng dẫn đến bỏ học. - Tổ chức dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở địa phương, giúp các em tự tin trong học tập, khuyến khích giáo viên vận dụng phương pháp dạy học tích cực, phát huy vai trò chủ động, tích cực của học sinh, rèn kỹ năng tư duy sáng tạo, năng lực tự học, gắn học với hành, đánh giá đúng năng lực của học sinh, gắn nội dung giáo dục với thực tiễn ở địa phương. Cần coi trọng các hoạt động của nhà trường, nhằm động viên trẻ em trong độ tuổi đi học, để thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS, có biện pháp giúp đỡ học sinh học lực yếu kém, học sinh hạnh kiểm yếu, học sinh có hoàn cảnh khó khăn và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Động viên, khuyến khích học sinh đề xuất sáng kiến, suy nghĩ sáng tạo, nỗ lực tự giác, chăm chỉ học tập, cải tiến phương pháp học tập… - Trong nhiệm vụ xây dựng trường học thân thiện, dạy học thân thiện. Hiệu trưởng là người thống nhất mục tiêu hành động của thầy và mục tiêu hành động của trò, và chỉ khi nào người hiệu trưởng hoà quyện được hai mục tiêu này thì sản phẩm của nhà trường về “Nhân cách – nhân lực” góp phần tích cực trong việc giảm tỷ lệ học sinh yếu, kém dần dần xoá tình trạng học sinh bỏ học. - Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, rèn luyện cho học sinh kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, có thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm. Hiệu trưởng nhà trường nên chú ý tổ chức dạy học và các sinh hoạt tập thể của nhà trường, sao cho học sinh có cơ hội giao lưu, hợp tác, thể hiện các suy nghĩ của mình. Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục tập thể, ngoại khoá và hoạt động xã hội là những cơ hội rất tốt để thực hiện mục tiêu này. - Rèn luyện sức khoẻ và ý thức bảo vệ sức khoẻ, kỹ năng phòng chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn khác. Hiệu trưởng cần phối hợp với cơ quan bảo vệ, chăm sóc trẻ em, cơ quan y tế ở địa phương thông qua giáo viên bộ môn và các buổi ngoại khoá. Giáo dục và cung cấp cho các em các kỹ năng kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, về sức khoẻ thể chất, về giới tính, tình yêu, hôn nhân và gia đình phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi. Kiến thức về an toàn giao thông, phòng chống tai nạn thương tích về điện, đuối nước v.v… - Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hoá, chung sống thân thiện, phòng ngừa bạo lực và tệ nạn xã hội. Đây là việc tổng hợp bắt đầu từ việc giáo dục cho thế hệ trẻ biết cách ứng xử văn hoá trong gia đình, biết phòng ngừa bạo lực, ngăn chặn các tệ nạn của đời sống đang xâm nhập vào gia đình và nhà trường. Hiệu trưởng cần quan tâm chỉ đạo việc đưa vào nội quy của nhà trường về những hành vi mà giáo viên và học sinh không được làm. Xây dựng văn hoá học đường, giúp mọi người được sống, làm việc và học tập trong môi trường sư phạm tốt. Mọi thành viên trong nhà trường biết cách ứng xử văn hoá, biết cách sống đẹp, biết cách phòng ngừa tệ nạn xã hội. - Khi học sinh biết cách sống thích hợp trong mọi hoàn cảnh, biết cách đứng vững trong mọi khó khăn, biết cách sống có trách nhiệm, có niềm tin và có lý tưởng thì sẽ không còn học sinh bỏ học vì sự tác động về các tệ nạn xã hội, vì sự bất hạnh trong gia đình, vì cô đơn bởi không người chia sẻ, vì những chuyển đổi của tâm sinh lý. - Tổ chức hoạt động vui chơi lành mạnh, tổ chức các hoạt động văn nghệ thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động tự giác của học sinh. Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi học sinh. Bất cứ các hoạt động tập thể nào mang ý nghĩa giao lưu, vui chơi trong nhà trường đều phải mang tính lành mạnh, gắn với mục tiêu giáo dục của nhà trường, tuyệt đối không để giao lưu vui chơi với các nhân tố có có hại cho sự phát triển của học sinh, hoặc về sức khoẻ, hoặc về nhận thức, hoặc về tâm hồn và làm quá tải cho kế hoạch giáo dục chung. Tổ chức giới thiệu cho giáo viên, học sinh những làn điệu dân ca địa phương, những trò chơi dân gian. Tổ chức thực hiện trong nhà trường thông qua tổ chức Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên. Tổ chức hoạt động thể thao của lớp, của trường gắn với kế hoạch năm học theo các chủ đề sinh hoạt ngoại khoá, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có tác dụng tới hoạt động nội khoá và với sự tham gia tích cực của học sinh. - Tổ chức cho học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá, cách mạng ở địa phương, góp phần làm cho di tích ngày một sạch đẹp hơn, hấp dẫn hơn, truyền thông giới thiệu các công trình di tích của địa phương với bạn bè. Mỗi trường nên có kế hoạch và tổ chức giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc và tinh thần cách mạng một cách hiệu quả cho tất cả học sinh. Phối hợp với chính quyền đoàn thể và nhân dân địa phương phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá và cách mạng cho cuộc sống cộng đồng ở địa phương. Cụ thể: đăng ký để được cơ quan có thẩm quyền phân công chăm sóc di tích lịch sử, văn hoá cách mạng, chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, mẹ Việt Nam Anh hùng. Có kế hoạch cụ thể cho học sinh chăm sóc các di tích được giao. Tổ chức cho học sinh tham quan, tìm hiểu các di tích, các làng nghề và có kế hoạch tuyên truyền, giới thiệu với bạn bè về địa phương mình. - Có chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện hiệu quả thiết thực công tác giáo dục văn hoá dân tộc và tinh thần cách mạng cho học sinh, thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, những buổi nghe các vị khách mời nói chuyện về các chủ đề liên quan đến các chủ điểm trong kế hoạch năm học. Kết hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, nhân dân ở địa phương duy trì và phát huy giá trị các di tích ở địa phương. 3.2.4. Tăng cường kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của học sinh Học sinh vừa là khách thể của quá trình dạy học, vừa là chủ thể của quá trình lĩnh hội kiến thức. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường thì hiệu trưởng phải tăng cường quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. 3.2.4.1. Mục đích của biện pháp Tăng cường các hình thức và phương pháp đánh giá, tạo cơ hội cho học sinh phát huy được thế mạnh của bản thân. Xây dựng được công cụ đánh giá thích hợp, nhằm đánh giá một cách toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại học sinh, giúp học sinh sửa chữa kịp thời. Qua đó, lấy thông tin phản hồi từ học sinh để kịp thời điều chỉnh quá trình kiểm tra - đánh giá sao cho vừa sức với học sinh và đảm bảo sự công bằng. Đồng thời, khuyến khích học sinh chịu trách nhiệm đối với việc học tập của mình. Qua việc kiểm tra - đánh giá công bằng, tạo động lực cho học sinh phấn đấu vươn lên, giảm tối đa tỷ lệ học sinh bỏ học do bất mãn việc đánh giá không công bằng của giáo viên, và tỷ lệ học sinh chán học vì những lần thi, kiểm tra nặng nề, căng thẳng… 3.2.4.2. Nội dung biện pháp Để việc kiểm tra đánh giá kết qủa học tập của học sinh đạt hiệu quả tốt, Trước hết, cần xây dựng và thực hiện quy chế kiểm tra, cho điểm, xếp loại, đánh giá học sinh theo các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục – Đào tạo. Tuy nhiên, để phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường, người hiệu trưởng cần phải linh hoạt trong việc xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, sao cho vừa đánh giá được kết quả của cả quá trình học tập một cách chính xác, vừa đảm bảo được tính công bằng. 3.2.4.3. Cách thực hiện biện pháp Muốn đạt được nội dung nêu trên, người hiệu trưởng cần chú ý những việc làm sau: - Xây dựng quy chế kiểm tra và cho giáo viên học tập vào đầu năm học., số cột kiểm tra tối thiểu theo quy định phải nằm ở trang đầu mỗi sổ điểm cá nhân của giáo viên. - Xây dựng ngân hàng đề và lịch kiểm tra đồng loạt theo từng khối lớp đối với đề kiểm tra từ 15 phút trở lên. - Chỉ đạo giáo viên khi ra đề kiểm tra phải đảm bảo được tính toàn diện, nhằm kiểm tra được toàn diện các mặt kiến thức, kỹ năng và tư duy của học sinh, đảm bảo đề kiểm tra phải mang tính phổ thông, đại trà và có sự phân hoá trong học sinh, để việc kiểm tra học sinh được diễn ra bình thường, có chất lượng và đánh giá đúng trình độ của học sinh. Làm như vậy, sẽ phản ánh đúng trình độ và đánh giá công bằng, khách quan chất lượng học sinh, phân loại được đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. - Hiệu trưởng chỉ đạo và khuyến khích giáo viên ra nhiều dạng đề khác nhau như: đề trắc nghiệm khách quan, trắc nghiệm tự luận hoặc kết hợp cả hai dạng đề trên. Về hình thức kiểm tra: phải đảm bảo cho học sinh thể hiện được sự suy nghĩ độc lập, biết cách giải quyết vấn đề. Về hệ thống câu hỏi kiểm tra: cần phải rõ ràng, có thể là câu kết hợp, câu có nhiều lựa chọn, câu đúng – sai, câu điền khuyết… Mục đích của việc kiểm tra là nhằm thu thập đánh giá thông tin ngược một cách chính xác. Từ đó, chỉ đạo kịp thời hoạt động dạy học, và đặc biệt là qua kiểm tra sẽ phân loại chính xác từng đối tượng học sinh để hiệu trưởng có kế hoạch bồi dưỡng cho các em một cách kịp thời, nhằm giảm tối đa tỷ lệ học sinh yếu, kém có thể dẫn đến lưu ban, bỏ học. - Chỉ đạo giáo viên quan tâm sâu sắc đến khâu chấm trả bài và đánh giá chất lượng học sinh. Trong kiểm tra hàng ngày, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tự kiểm tra, đánh giá bài của mình và kiểm tra, đánh giá bài của bạn, nhằm giúp cho học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá để điều chỉnh cách học, và qua đó phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập của học sinh. Song, việc nhận xét và cho ý kiến của giáo viên sau khi kiểm tra là rất quan trọng và cần thiết. Khi trả bài cho học sinh, giáo viên cần dành một khoảng thời gian để phát bài cho từng học sinh, kèm theo những lời nhận xét vắn tắt, nhưng thể hiện rõ sự quan tâm đến học sinh, khen khi các em có sự tiến bộ, khuyến khích khi các em chưa đạt được kết quả cao, động viên và đưa ra cách khắc phục đối với các em bị điểm xấu. Việc làm đầy sự quan tâm này, sẽ góp phần làm thay đổi nhận thức học tập của học sinh, sẽ giúp cho các em phấn đấu vươn lên trong học tập, góp phần nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường. - Phân công giáo viên coi và chấm bài kiểm tra chéo trong các kỳ kiểm tra đồng loạt và kiểm tra học kỳ một cách chặt chẽ, nhằm hạn chế sự gian lận trong kiểm tra và phản ánh đúng chất lượng giảng dạy và học tập. 3.2.5. Quản lý việc nâng kém bám sát từng đối tượng học sinh yếu, kém. Chất lượng hoạt động dạy học sẽ được nâng lên và tỷ lệ học sinh yếu, kém dẫn đến chán học, bỏ học sẽ giảm khi tỷ lệ học sinh yếu, kém giảm. Chính vì thế, việc quản lý nâng kém bám sát từng đối tượng học sinh là rất cần thiết. 3.2.5.1. Mục đích của biện pháp Nâng dần trình độ học sinh yếu, kém, giúp các em biết cách tự học và có ý thức vươn lên trong học tập, từng bước giảm tỷ lệ học sinh yếu, kém, học sinh chán học, bỏ học. 3.2.5.2. Nội dung của biện pháp Hiệu quả của quá trình quản lý hoạt động dạy học phụ thuộc không nhỏ vào các biện pháp chỉ đạo hoạt động, bồi dưỡng cho những đối tượng học sinh yếu, kém. Chính vì thế, việc thiết lập nội dung và hình thức phụ đạo cho từng đối tượng học sinh yếu, kém theo từng môn học là vô cùng cần thiết. nếu số học sinh yếu kém giảm, kéo theo số học sinh thi lại, lưu ban giảm và cuối cùng là số học sinh bỏ học do học lực yếu kém, do lưu ban giảm. 3.2.5.3. Cách thực hiện biện pháp - Tổ chức bàn phương hướng, mục tiêu phụ đạo học sinh yếu kém, nội dung và hình thức phụ đạo trao đổi kinh nghiệm, phụ đạo trong các buổi sinh hoạt chuyên môn. - Tổ chức chỉ đạo chặt chẽ, khoa học việc phân loại học sinh trên cơ sở kết quả cuối năm học trước và kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học mới. Dựa trên kết quả đó, xây dựng nội dung bồi dưỡng phù hợp với trình độ của từng đối tượng học sinh yếu, kém. - Tổ chức cho các em học vào tiết thứ 4 - thứ 5 trong ngày, mỗi tuần học từ 2 đến 3 tiết. Giáo viên dạy nâng kém phải kiểm tra các em thường xuyên, có phê duyệt nơi sổ đầu bài, để hiệu trưởng và giáo viên chủ nhiệm kịp thời nắm được tình hình nhằm uốn nắn các em, tạo điều kiện giúp các em từng bước nâng dần kiến thức. - Chỉ đạo giáo viên phụ đạo học sinh yếu, kém Phải nâng được 80% học sinh lên trung bình trong tổng số học sinh được nâng kém ở mỗi học kỳ, và đây là một trong những chỉ tiêu phải đạt được trong tiêu chuẩn thi đua thông qua từ đầu năm. - Phân công giáo viên có kinh nghiệm, chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, giàu lòng yêu nghề, mến trẻ phụ trách việc dạy nâng kém. - Chỉ đạo giáo viên dạy nâng kém phải đi từ trình độ của học sinh kém nhất, nâng dần lên để các em cảm thấy việc tiếp thu kiến thức thật dễ và cảm thấy hứng thú trong quá trình học. - Chỉ đạo giáo viên dạy nâng kém phải tuyệt đối nhẹ nhàng với các em, thường xuyên khen khi các em tiến bộ, động viên khi các em gặp rắc rối, từng bước giúp các em lấy lại lòng tin, từng bước có được niềm tin vào tương lai của mình. - Hiệu trưởng duyệt sổ đầu bài mỗi tuần để kịp thời chỉ đạo việc nâng kém. Tổ chức kiểm tra, đánh giá việc học tập của học sinh yếu, kém để thấy được sự tiến bộ của các em. - Chú ý tuyên dương các em trước lớp, trước trường khi các em có sự tiến bộ, thường xuyên báo cáo kết quả cho phụ huynh nắm. 3.2.6. Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục 3.2.6.1. Mục đích của biện pháp Tổng hợp được sức mạnh bên trong và bên ngoài nhà trường trong việc phòng chống tình trạng học sinh THCS bỏ học, xây dựng được phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp, phối hợp tổ chức quản lý chặt chẽ học sinh lúc ở trường cũng như ở nhà và ra ngoài xã hội, để kịp thời phát hiện những học sinh có nguy cơ bỏ học; Cộng đồng trách nhiệm, khai thác tiềm năng, hỗ trợ về vật chất, tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. 3.2.6.2. Nội dung biện pháp Tăng cường xã hội hoá giáo dục gồm những nội dung sau: - Tham mưu cho các cấp Uỷ Đảng ký các văn bản cụ thể, giao trách nhiệm cho các ban ngành đoàn thể trong huyện, xã, thị trấn cùng thực hiện khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. - Xây dựng mối liên hệ thường xuyên, chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình, trực tiếp và gián tiếp thông qua một số hình thức hoạt động cụ thể. - Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và xã hội thông qua các tổ chức chính quyền, ban ngành đoàn thể, nhằm thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp quản lý giáo dục liên tục, đồng bộ nhằm phòng chống tình trạng học sinh bỏ học một cách có hiệu quả. 3.2.6.3. Cách thực hiện biện pháp Để làm tốt những nội dung trên, Hiệu trưởng cần: - Tham mưu để các cấp Uỷ Đảng có các văn bản chỉ đạo cụ thể, các ban ngành đưa công tác vận động học sinh bỏ học vào chương trình hành động, vào kế hoạch của ban ngành mình như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, các cơ quan dân vận… từng thời điểm có nhận xét, đánh giá, tìm hiểu nguyên nhân hạn chế để có biện pháp khắc phục. - Trong văn bản xác định phương hướng, chủ trương chương trình hành động, phân công trách nhiệm cụ thể cho các ban ngành đoàn thể thực hiện công tác phòng chống tình trạng học sinh bỏ học . Đặc biệt, phải tham mưu để tổ chức được các hội thảo phòng chống tình trạng học sinh bỏ học vào đầu mỗi học kỳ, với sự tham gia của tất cả các ban ngành, nhằm tổng hợp được sức mạnh của tập thể trong công tác đầy khó khăn này. - Trong công tác tham mưu, Hiệu trưởng cần phải hết sức kiên trì, nhẫn nại, vận dụng nghệ thuật thuyết phục, đối thoại nhiều lần. Bởi vì, tình trạng học sinh bỏ học chưa được xem là vấn đề nóng và có sự chỉ đạo chặt chẽ như công tác PC GD THCS. Hơn nữa, vẫn còn nhiều nơi chưa có nhận thức đúng mức về mối nguy cơ do tình trạng bỏ học gây ra. - Để tham mưu có hiệu quả tốt, Hiệu trưởng cần tạo lập được uy tín, niềm tin đối với cộng đồng. Đặc biệt là với đối tượng cần tham mưu như: cấp Uỷ Đảng, chính quyền… bằng việc khẳng định uy tín, chất lượng của nhà trường. - Bên cạnh đó, hiệu trưởng cần phải xây dựng được mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường và gia đình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua các hình thức: + Họp định kỳ CMHS các lớp. + Ký kết các nội dung thoả ước trách nhiệm, phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc quản lý nề nếp học tập của học sinh ở trường cũng như ở nhà. Có sơ kết đánh giá, rút kinh nghiệm và bổ sung những điều cần thiết nảy sinh trong quá trình cam kết thực hiện thoả ước. + Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm lớp chuẩn bị chu đáo nội dung họp cha mẹ học sinh, thảo luận thống nhất nội dung, biện pháp giáo dục học sinh cụ thể, phân công trách nhiệm của nhà trường và gia đình, tạo sự đồng thuận và môi trường giáo dục thống nhất, tạo điều kiện tốt nhất để học sinh được học và học được tốt. Kịp thời chia sẻ những khó khăn với học sinh, giúp các em gỡ bỏ vướng mắc, chuyên tâm học hành. Xác định nhiệm vụ của ban đại diện cha mẹ học sinh lớp trong việc tổ chức giáo dục học sinh ở cộng đồng ý thức học tập, kết hợp trao đổi thông tin, kịp thời phát hiện học sinh hư, học sinh có nguy cơ tiền bỏ học, giúp nhà trường và gia đình có học sinh không ngoan, chưa có ý thức học tập kịp thời giáo dục các em, vận động để các em có thể trở lại trường, cũng như giúp gia đình nâng cao nhận thức trách nhiệm giáo dục con em về tầm quan trọng của tri thức. + Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm lớp thường xuyên thăm gia đình học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, phải hiểu rõ hoàn cảnh tâm tư, tình cảm của học sinh, phải kịp thời giúp đỡ khi các em gặp khó khăn. + Xây dựng mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên giữa nhà trường và gia đình một cách gián tiếp, thông qua sổ liên lạc báo cáo kết quả học tập của học sinh theo tháng, học kỳ, năm học và ý kiến phản hồi của cha mẹ học sinh đối với nhà trường. Hoặc có thể liên lạc qua trao đổi thư từ, điện thoại với cha mẹ học sinh. Hoặc có thể phối hợp với gia đình thông qua ban đại diện hội cha mẹ học sinh trong việc bàn bạc, thống nhất thực hiện mục tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường, giúp nhà trường giải quyết những khó khăn trong quá trình tổ chức giáo dục học sinh. Phối hợp cùng cha mẹ học sinh và nhà trường trong việc cảm hoá học sinh chưa ngoan, vận động học sinh trở lại trường, vận động các gia đình có hoàn cảnh khó khăn tạo điều kiện cho con em được đi học. Thực hiện huy động tiềm năng các cơ quan, đơn vị, các mạnh thường quân tăng cường hỗ trợ điều kiện, cơ sở vật chất, tinh thần cho hoạt động giáo dục. Thực hiện khuyến học, khuyến dạy cùng nhà trường giám sát và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh trong và ngoài nhà trường. - Để việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và xã hội thông qua các tổ chức chính quyền, các ban ngành đoàn thể nhằm thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp quản lý giáo dục liên tục, đồng bộ các nội dung nhằm phòng chống tình trạng học sinh bỏ học một cách hiệu quả. Hiệu trưởng cần thực hiện tốt các biện pháp sau: + Nhà trường và xã hội phối hợp xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh ở cộng đồng dân cư. Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh trong địa phương, mỗi ban ngành đoàn thể đều có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ. Liên kết chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình và xã hội trong việc ngăn ngừa và khắc phục tình trạng bỏ học. Để xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh cho trẻ, toàn xã hội cần quan tâm hưởng ứng cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá, tạo dựng gia đình êm ấm, thuận hoà, ông bà, cha mẹ gương mẫu, con cháu thảo hiền. + Nhà trường chủ động soạn thảo, ký kết kế hoạch liên tịch, phối hợp với chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng như: Công an; Đoàn thanh niên; Hội Phụ nữ; Trung tâm văn hoá – thông tin - thể thao cùng tham gia quản lý, tuyên truyền, giáo dục kiểm soát, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, phòng chống ma tuý, bảo vệ môi trường, ngăn ngừa các trường hợp có nguy cơ bỏ học… Đồng thời, tăng cường cơ sở vật chất, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao dân trí và đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hoá, tinh thần lành mạnh cho cộng đồng dân cư. Tạo nhiều sân chơi lành mạnh cho trẻ, tổ chức tuyên dương, khen thưởng những gia đình có con hiếu học, khen thưởng những học sinh vượt khó học tốt, ưu tiên cho phụ huynh có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn từ các chương trình, dự án của Nhà nước để cho con cái ăn học đến nơi, đến chốn. + Nhà trường và xã hội phối hợp tạo ra quá trình giáo dục thống nhất và liên tục. Thống nhất mục tiêu, nội dung, phương pháp tác động giáo dục phù hợp và đồng bộ với các lực lượng xã hội đối với học sinh. Muốn đạt hiệu quả tốt, Hiệu trưởng cần tạo điều kiện để mỗi người dân trong cộng đồng hiểu rõ, thấy rõ sự chênh lệch về mỗi lĩnh vực giữa những người có kiến thức và những người thất học, bỏ học. Tạo điều kiện để mỗi người dân trong cộng đồng có cơ hội nắm được thông tin về giáo dục trong địa bàn, để người dân tham gia ý kiến về sự nghiệp giáo dục, về tổ chức hoạt động của nhà trường. Từ đó, sự phối hợp phòng chống học sinh bỏ học sẽ đạt hiệu quả tốt hơn. + Đối với những địa bàn trường có nhiều đồng bào dân tộc Khmer, hoặc có nhiều học sinh theo đạo Công giáo, hiệu trưởng cần phải chủ động kết hợp với các “Sư Cả” ở chùa Khmer, các “Cha Sở” ở các họ đạo vùng Công giáo để được hỗ trợ và giúp đỡ các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn, có nguy cơ bỏ học. Hay trong việc vận động các em bỏ học trở lại trường. Muốn khắc phục tận gốc tình trạng học sinh bỏ học, hiệu trưởng cần phải thực hiện các biện pháp toàn diện, vừa mang tính chất hành chính, vừa mang tính chất thuyết phục. Lực lượng mà Hiệu trưởng tác động chủ yếu là đội ngũ giáo viên trong nhà trường; các lực lượng ngoài nhà trường chủ yếu là hỗ trợ những trường hợp mà nhà trường gặp khó khăn. 3.3. KHẢO SÁT Ý KIẾN VỀ SỰ CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA HIỆU TRƯỞNG, NHẰM KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH THCS BỎ HỌC, Ở HUYỆN CÀNG LONG. Để nhận biết được sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng, nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học, chúng tôi đã xin ý kiến của Trưởng, Phó phòng, Chuyên viên phòng Giáo dục - Đào tạo; Cán bộ quản lý và giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện Càng Long. Đánh giá sự cần thiết có 03 mức độ: rất cần thiết; cần thiết; không cần thiết. Đánh giá tính khả thi có 03 mức độ: rất khả thi; khả thi; không khả thi. Chúng tôi đã cấp phát 70 phiếu xin ý kiến của các Trưởng, Phó phòng, Chuyên viên phòng Giáo dục - Đào tạo; Hiệu trưởng - Phó hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn của 13 trường THCS trong huyện Càng Long, nhưng thu lại chỉ được 50 phiếu có trả lời đầy đủ các câu hỏi. Kết quả tổng hợp được trong các phiếu, được chúng tôi thể hiện ở phần 3.1 và 3.2 dưới đây 3.3.1. Khảo sát sự cần thiết của các biện pháp TT TÊN CÁC BIỆN PHÁP Mức độ cần thiết (%) Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết 1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL và GV về những tác hại do tình trạng học sinh bỏ học gây ra 41 82% 09 18% 00 00% 2 Phát huy vai trò của GV, đặc biệt là GVCN và các đoàn thể trong nhà trường đối với tình trạng học sinh bỏ học 47 94% 03 06% 00 00% 3 Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực 50 100% 00 00% 00 00% 4 Tăng cường kiểm tra - đánh giá kết qủa học tập của học sinh 26 52% 13 26% 11 22% 5 Quản lý việc nâng kém bám sát từng đối tượng học sinh yếu, kém 39 78% 03 06% 08 16% 6 Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục 41 82% 07 14% 02 04% 3.3.2. Khảo sát tính khả thi của các biện pháp: TT TÊN CÁC BIỆN PHÁP Mức độ khả thi (%) Rất khả thi Khả thi Không khả thi 1 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL và GV về những tác hại do tình trạng học sinh bỏ học gây ra 39 78% 09 18% 02 04% 2 Phát huy vai trò của GV, đặc biệt là GVCN và các đoàn thể trong nhà trường đối với tình trạng học sinh bỏ học 42 84% 07 14% 01 02% 3 Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực 43 86% 04 08% 03 06% 4 Tăng cường kiểm tra - đánh giá kết qủa học tập của học sinh 25 50% 17 34% 08 16% 5 Quản lý việc nâng kém bám sát từng đối tượng học sinh yếu, kém 39 78% 07 14% 04 08% 6 Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục 43 86% 04 08% 03 06% Theo số liệu từ 02 bảng trên, chúng tôi thấy: các cán bộ quản lý Phòng Giáo dục - Đào tạo và cán bộ quản lý ở các trường THCS trên địa bàn huyện Càng Long đã cho ý kiến về mức độ cần thiết và khả thi của chúng tôi đưa ra phần lớn là rất cao, chỉ một phần nhỏ cho là không cần thiết và không khả thi Với kết quả trên, chúng tôi tin rằng các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm khắc phục tình trạng học sinh THCS bỏ học ở huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mà chúng tôi đề xuất dựa trên cơ sở lý luận, thực trạng học sinh THCS bỏ học và thực trạng công tác quản lý của hiệu trưởng nhằm khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở các trường THCS là rất cần thiết và khả thi. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN Trong những năm gần đấy, công tác giáo dục và đào tạo ở huyện Càng Long có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, chất lượng nguồn lao động, đưa nền kinh tế - xã hội huyện nhà không ngừng phát triển. Tuy nhiên, công tác giáo dục và đào tạo ở huyện Càng Long vẫn còn mặt hạn chế. Vấn đề đáng quan tâm nhất là tình trạng học sinh bỏ học đang ở mức báo động. Cụ thể: + Năm học 2006 - 2007 tỷ lệ học sinh THCS bỏ học là 4,45 %. + Năm học 2007 - 2008 tỷ lệ học sinh THCS bỏ học là 3,54 %. + Năm học 2008 - 2009 tỷ lệ học sinh THCS bỏ học là 3,71 %. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học: xã hội; nhà trường; gia đình và bản thân học sinh. Kinh tế - xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Việc giải quyết các vấn đề của giáo dục, của nhà trường không thể thoát ly khỏi cộng đồng xã hội. Các nguyên nhân nổi trội dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học là do các em học kém dẫn đến chán nản rồi bỏ học; do gia đình khó khăn nên cho con nghỉ học đi làm kiếm tiền phụ giúp gia đình; gia đình thiếu quan tâm đến việc học của con cái; ảnh hưởng của bạn bè xấu; do cơ sở vật chất của trường còn nghèo nàn chưa thu hút được học sinh; do một số giáo viên còn cứng nhắc trong giáo dục và giảng dạy. Nhà trường THCS, với vai trò là trung tâm, nòng cốt, phối hợp chặt chẽ với cộng đồng cơ sở, đưa nhà trường hoà vào đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội ở địa phương thì nguyên nhân cốt lõi khiến học sinh bỏ học sẽ sớm được khắc phục. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng học sinh bỏ học và BP quản lý của HT các trường THCS trên địa bàn huyện Càng Long, đồng thời căn cứ vào những định hướng cho việc đề xuất các biện pháp QL nhằm khắc phục tình trạng HS bỏ học, chúng tôi đề xuất một số biện pháp QL của HT về vấn đề này như sau: - Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBQL và GV về những tác hại do tình trạng học sinh bỏ học gây ra. - Phát huy vai trò của giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm và các đoàn thể trong nhà trường. - Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. - Tăng cường quản lý kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh. - Quản lý việc nâng kém bám sát từng đối tượng học sinh yếu, kém. - Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục. Các biện pháp này đã được chúng tôi khảo nghiệm về mặt nhận thức của một số chuyên gia để biết được mức độ cần thiết và khả thi của từng biện pháp. Mặt khác, chúng tôi dựa trên những kinh nghiệm phòng chống tình trạng học sinh THCS bỏ học của cán bộ quản lý và giáo viên có kinh nghiệm, đã đưa ra qua các lần hội thảo về tình trạng học sinh bỏ học. Qua đó, có thể khẳng định thêm sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp đã nêu trên. 2. KIẾN NGHỊ 2.1. Đối với Phòng Giáo dục và đào tạo: - Tổ chức bồi dưỡng nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên qua những lần hội thảo phòng chống tình trạng học sinh THCS bỏ học. - Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên đồng bộ cho các trường. - Mở các lớp bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn cho giáo viên thường xuyên. - Có chế độ khen thưởng kịp thời cho cá nhân và đơn vị làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh, bằng vật chất cũng như tinh thần. 2.2. Đối với các trường THCS - Phối kết hợp chặt chẽ với địa phương, với các lực lượng xã hội khác, với Hội cha mẹ học sinh trong việc vận động học sinh bỏ học trở lại trường, giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn. - Tổ chức thường xuyên các cuộc hội thảo về vấn đề học sinh bỏ học, để nâng cao nhận thức cho tập thể cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên trong nhà trường. - Tổ chức cho giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ một cách thường xuyên. - Tổ chức nhiều hoạt động để không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, hạn chế lưu ban, cải tiến sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn, tạo ra các phong trào thi đua học tập để thu hút học sinh. 2.3. Đối với cha mẹ học sinh - Cần quan tâm hơn nữa đến việc học tập của con em, tạo mối liên hệ thông tin hai chiều với nhà trường để cùng phối hợp giáo dục các em. - Tạo điều kiện và hỗ trợ các hoạt động của nhà trường. 2.4. Đối với xã hội - Có trách nhiệm trong việc xây dựng một môi trường học tập và vui chơi lành mạnh cho học sinh. - Tạo ra phong trào xã hội hoá giáo dục, hướng dư luận vào việc lên án và ngăn chặn các hành vi vi phạm đạo đức, pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến thế hệ trẻ. - Đối với các cấp chính quyền: có sự chỉ đạo cụ thể cho các ban ngành đoàn thể, đưa việc tuyên truyền vận động học sinh bỏ học trở lại trường. Giao trách nhiệm cụ thể cho từng chi bộ ở từng khóm - ấp, xã - thị trấn về việc giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn ở địa phương được đi học, về việc vận động học sinh trở lại trường.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học.doc
Luận văn liên quan