Những hạn chế trong lĩnh vực hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Trải qua 1000 năm Bắc thuộc có lẽ dấu ấn lớn nhất mà chính quyền đô hộ để lại cho nước Đại Việt đó là mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo kiểu QCCC, kéo theo đó là sự biến đổi của pháp luật để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử. Pháp luật phong kiến Việt Nam đã có những thành tựu to lớn nổi bật trong đó là lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân và gia đình có những nét độc đáo tiến bộ và có tính chất vượt thời đại còn ảnh hưởng đến ngày nay. Bên cạnh đó còn có những điểm hạn chế do tồn tại xã hội quyết định, quan điểm trọng nam khinh nữ. Vậy trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam có những điểm gì tích cực và hạn chế đó là vấn đề mà em muốn làm sáng tỏ qua bài viết này. I. Những điểm tích cực ở lĩnh vực hôn nhân của pháp luật phong kiến Việt Nam. 1.Xác lập quan hệ hôn nhân. a. Các điều kiện kết hôn b. Cấm kết hôn. 2. Quan hệ hôn nhân. a. Tài sản. b. Quan hệ nhân thân. 3. Chấm dứt hôn nhân. 2. Những điểm tích cực trong lĩnh vực gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam a. Quan hệ tài sản. b. Nhân thân. 2. Quan hệ vợ chồng. III. Những hạn chế trong lĩnh vực hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam. 1. Thiết lập hôn nhân không tự do, đa thê. a. Thiết lập hôn nhân không tự do. b. Duy trì và bảo vệ chế độ đa thê. c. Yêu cầu chặt chẽ về đặc điểm của người vợ kết hôn. 2. Những điểm tích cực trong hôn nhân của QTHL bị HVLL bác bỏ. a.Thiết lập sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng về tài sản. b. Nhân thân. 3. Những hạn chế khác. IV. Những hạn chế trong lĩnh vực gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam. 1. Xây dựng gia đình gia trưởng, người đàn ông có quyền lực rất lớn trong gia đình. 2. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái được xây dựng trên cơ sở phục tùng và phân biệt đối xử giữa các con. KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc11 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 09/03/2013 | Lượt xem: 4878 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Những hạn chế trong lĩnh vực hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trải qua 1000 năm Bắc thuộc có lẽ dấu ấn lớn nhất mà chính quyền đô hộ để lại cho nước Đại Việt đó là mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo kiểu QCCC, kéo theo đó là sự biến đổi của pháp luật để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử. Pháp luật phong kiến Việt Nam đã có những thành tựu to lớn nổi bật trong đó là lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Quan hệ hôn nhân và gia đình có những nét độc đáo tiến bộ và có tính chất vượt thời đại còn ảnh hưởng đến ngày nay. Bên cạnh đó còn có những điểm hạn chế do tồn tại xã hội quyết định, quan điểm trọng nam khinh nữ. Vậy trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam có những điểm gì tích cực và hạn chế đó là vấn đề mà em muốn làm sáng tỏ qua bài viết này. I. Những điểm tích cực ở lĩnh vực hôn nhân của pháp luật phong kiến Việt Nam. Theo quan điểm của nho giáo vai trò của gia đình là rất to lớn, trong đó hôn nhân là một công cụ để củng cố quyền lực gia đình, dòng họ. Với hệ tư tưởng nho giáo xây dựng gia đình phụ quyền vai trò của người đàn ông rất lớn họ là trung tâm của mối quan hệ giữa gia đình và xã hội. Tuy nhiên trong lĩnh vực hôn nhân thì có những điểm tích cực tiến bộ có tính chất vượt thời đại là do nhà làm luật đã xây dựng trên những phong tục tập quán độc đáo của người Việt Nam phù hợp với thực tế cuộc sống điều đó làm cho nó khác biệt với pháp luật phong kiến Trung Quốc thể hiện rõ nhất qua QTHL. 1.Xác lập quan hệ hôn nhân. a. Các điều kiện kết hôn Cả hai Bộ luật đều quy định rất cụ thể điều kiện kết hôn. - Điều kiện về sức khoẻ thể lực mới được kết hôn, QTHL quy định con trái con gái bị ác tật đều có quyền từ hôn, con trai mà phá tán tài sản gia đình thì con gái được quên quan trả đồ lễ mà không phải cưới (Điều 322). Những trường hợp như vậy không phải là bội hôn không bị phân biệt đối xử như thoái hôn. Việc cho con gái quyền từ hôn là điểm mà pháp luật phong kiến Trung Quốc không hề có. - Tuy hôn nhân là sự ưng thuận của đôi bên gia đình, thể hiện ý chí của đôi bên trai gái, Điều 109 HVLL quy định con trai từ 20 tuổi trở lên và con gái tái giá có quyền tự chủ trong hôn nhân đây là điểm tiến bộ không có trong QTHL và pháp luật phong kiến Trung Quốc. Khi xác lập hôn nhân phải xác lập bằng văn bản làm bằng gọi là hôn thư. Pháp luật nhà Nguyễn quy định rằng sau lễ đính hôn nếu có văn bản (hôn thư) hoặc đã trao nhận lễ kỷ nạp thì hôn nhân có hiệu lực pháp luật. Có thể nói hứa gả con gái bằng văn bản là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Đây là một hiện tượng pháp luật độc đáo chỉ có ở pháp luật phong kiến Việt Nam thời Nguyễn. Ở QTHL còn quy định những trường hợp hôn nhân cẩu thả nhưng nếu nộp phạt thì trở thành giá thú hợp pháp nhằm hạn chế những trường hợp tiêu hủy giá thú. b. Cấm kết hôn. Cả hai bộ luật đều đưa ra các trường hợp cấm kết hôn, cấm các vương hầu quý tộc, quan lại cậy thế bắt ép con gái nhà lành kết hôn với mình tại Điều 338 của QTHL và Điều 103 của HVLL “Cấm quan cướp phụ nữ bộ dân làm thê thiếp”, tại Điều 105 còn quy định cấm cường hào cưỡng đoạt đàn bà con gái làm vợ. Việc quy định cấm các quan, vương hầu quý tộc bắt ép dân thường kết hôn với mình là vì sợ các quan bị chi phối về mặt tình cảm làm sao nhãng bổn phận với triều đình, hoặc ngăn ngừa sự lộng quyền có thể đe doạ đến quyền lực của nhà Vua nhưng nó phần nào đã bảo vệ quyền lợi của người dân, phẩm giá của người phụ nữ. 2. Quan hệ hôn nhân. Việc kết hôn có hiệu lực làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng pháp luật chủ yếu nhìn nhận mối quan hệ này ở 2 góc độ: nhân thân và tài sản. a. Tài sản. Tuy ảnh hưởng của nho giáo pháp luật phong kiến Trung Quốc địa vị pháp lý của người vợ rất thấp kém, họ không có quyền gì trong gia đình và bị ràng buộc bởi thuyết tam tòng, nhưng QTHL đã thiết lập một chế độ tài sản tương đối bình đẳng giữa vợ và chồng đây là điểm tiến bộ nhất so với pháp luật Trung Quốc. Quyền bình đẳng về tài sản thể hiện qua các quyền sở hữu tài sản của vợ và chồng đối với tài sản chung và tài sản riêng. * Nguồn tài sản gồm có: - Tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình nhà chồng (phu điền sản) - Tài sản của vợ được thừa kế từ gia đình nhà vợ (thê điền sản) - Tài sản chung do cả hai vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân (tần tảo điền sản). Tại các Điều 374, 375 của QTHL qui định mọi tài sản trong gia đình đều thuộc tài sản của vợ và chồng. Vợ chồng với tư cách là cha mẹ, giữ quyền làm chủ gia đình cũng như được hưởng các lợi tức từ tài sản trên, con cái không được hưởng lợi tức từ tài sản đó, trừ trường hợp cha mẹ mất. Điều đặc sắc là quyền sở hữu tài sản giữa cha mẹ và con cái độc lập khi con cái có tài sản riêng, Bộ luật đã thừa nhận quyền sở hữu tài sản riêng giữa các thành viên trong gia đình làm cho họ có tính độc lập và linh hoạt hơn trong các mối quan hệ giữa các thành viên. Qua đây ta thấy được sự khác biệt rất lớn với gia đình truyền thống Trung Quốc, về quy mô gia đình rất đông gồm nhiều thế hệ gọi là đại gia đình. Mặt khác quan hệ tài sản rất khó tách rời quyền sở hữu giữa các thành viên trong gia đình mỗi người đều có quyền làm chủ tài sản của gia đình. Vì vậy rất khó xác định đâu là tài sản riêng của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình. Tóm lại sự qui định rõ ràng thành phần khối lượng tài sản giữa vợ chồng là điểm tiến bộ và độc đáo của pháp luật thời Lê mà nó còn được tiếp thu đến ngày nay. * Quyền sở hữu với tài sản riêng. Trong Bộ luật thừa nhận vợ chồng đều có quyền sở hữu với tài sản riêng. Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản có trước khi kết hôn, được thừa kế từ gia đình mỗi người. Đối với tài sản này vợ chồng đều có quyền sở hữu riêng, mặc dù tài sản này được quản lý chung bởi vợ chồng và các lợi tức từ tài sản đó mang lại là tài sản chung, nhưng tài sản này chỉ tạm thời gộp lại để vợ chồng quản lý trong thời gian hôn nhân. Như vậy có thể hiểu tài sản riêng của vợ và chồng thì cả hai đều có quyền chiếm hữu, sử dụng trong thời gian hôn nhân nhưng không có quyền định đoạt đối với tài sản riêng của người khác. Do đó khi họ ly hôn thì tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó và họ có quyền mang theo trừ trường hợp ly hôn do vợ gian dâm. Việc thừa nhận vợ có quyền sở hữu tài sản riêng đó là điểm đặc sắc của pháp luật phong kiến nhà Lê và tạo cho người vợ có vị thế ngang bằng nhất định với người chồng. * Quyền sở hữu với tài sản chung. Là tài sản chung vợ chồng làm ra trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại các Điều 374, 375của QTHL qua đó ta thấy tính chất bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung, sự bình đẳng này thể hiện ở hai khía cạnh: + Trong trường hợp cần chia tài sản chung thì tài sản của vợ chồng làm ra đều được chia đôi, mỗi người một nửa. Phần tài sản của mỗi bên vợ chồng được nhận làm của riêng thì thuộc sở hữu riêng của người ấy. Việc chia đôi tài sản chung chứng tỏ sự đóng góp của vợ và khối tài sản chung đó là ngang bằng với chồng. Đồng thời pháp luật thừa nhận sự ngang bằng về vị trí của người vợ trong hoạt động kinh tế của gia đình do đó họ có quyền làm chủ tài sản của gia đình. + Quyền định đoạt tài sản. Vợ cũng có quyền tài sản với tài sản chung, pháp luật, phong tục đòi hỏi sự đồng ý của hai vợ chồng trong việc chuyển nhượng tài sản chung cho người khác. Các văn cổ tự lập dưới thời Lê về việc định đoạt tài sản như là bán, tặng, cho, cầm cố phải lập di chúc đều do cả hai vợ chồng thực hiện và cùng ký vào văn tự đó được quy định tại các Điều 374, 375, 376. Với tư cách là người chủ gia đình người chồng có quyền quyết định tài sản gia đình nhưng phải phù hợp với lợi ích của gia đình nếu làm tổn hại đến thì người vợ có quyền phản đối. b. Quan hệ nhân thân. Mặc dù thiên về bảo vệ quyền lợi của người chồng với tư cách là người gia trưởng song pháp luật phong kiến Việt Nam quy định rõ ràng những ràng buộc nhất định của chồng với vợ. * Nghĩa vụ đồng cư. Cả 2 bộ luật đều quy định vợ chồng phải có nghĩa vụ đồng cư nhưng QTHL thể hiện sự tiến bộ là đã quan tâm đến quyền lợi của người vợ hơn. Điều 308 QTHL “Nếu người chồng lơ là, không làm tròn bổn phận với người vợ trong thời gian 5 tháng nếu có con là 1 năm thì được quyền ly hôn”. Qua đây ta thấy Luật đòi hỏi người chồng, con cái đặc biệt là vợ cả, họ có quyền được quan tâm cả về vật chất lẫn tinh thần. Điều 309 quy định “vì quá say xưa nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì bị xử tội biếm”, lại một lần nữa người vợ cả được pháp luật bảo vệ và buộc người chồng phải thực hiện những lợi ích chính đáng của người vợ cả, đây cũng là những điểm độc đáo chỉ có ở pháp luật thời Lê. * Nghĩa vụ chung thuỷ. Pháp luật không chỉ đòi hỏi sự chung thủy ở người vợ mà còn đòi hỏi ở cả người chồng, Điều 401 QTHL quy định “gian dâm với vợ của người khác thì bị xử tội lưu đày hay tội chết, với vợ lẽ của người khác thì giảm đi một bậc với người quý tộc thì xử khác, kẻ phạm tội đều phải nộp tiền tạm” ngoài ra còn được quy định tại Điều 254 của HVLL, qua đây ta thấy sự trừng phạt đối với người chồng khi không chung thuỷ vừa có tác dụng bảo vệ quyền lợi của gia đình mà còn bảo vệ quyền lợi của người vợ. * Một số nghĩa vụ khác. Trong mối quan hệ vợ chồng thì dù chồng giữ quyền gia trưởng song người chồng không có quyền được đánh, đối xử tàn bạo với vợ. Hành vi đánh vợ bị xử lý theo pháp luật, sự trừng phạt của pháp luật đối với người chồng khi có hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ là một đòi hỏi tất yếu bởi phụ nữ cũng là con người và là một người rất gần gũi với chồng. Theo Thạc sĩ Nguyễn Phương Lan thì chế độ đa thê ở QTHL còn có những điểm tích cực, trật tự thê thiếp không thể đảo lộn giữa vợ cả và vợ lẽ, nàng hầu. Tuy nhiên nếu vi phạm thì người chồng chỉ bị xử phạt khi người vợ thưa kiện. Qua đây ta thấy cách xử sự của người vợ cả quyết định đến sự xác lập hôn nhân nhiều vợ của người chồng. 3. Chấm dứt hôn nhân. Thông thường quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng chấm dứt do 3 nguyên cớ là vi phạm điều kiện thủ tục kết hôn, do một người chết và do ly hôn. Trong đó ly hôn có quy định đã bảo vệ đến lợi ích của người phụ nữ. a. Những trường hợp chồng không được ly hôn. Cả hai bộ luật đều qui định trường hợp tam bất cứ tức là vợ phạm vào thất xuất nhưng cũng không được ly hôn đó là: + Khi vợ đã để tang nhà chồng 3 năm. + Khi vợ chồng lấy nhau nghèo sau giàu. + Khi vợ chồng lấy nhau thì vợ còn bà con thân thích, khi bỏ nhau thì không còn ai để trở về nhà nữa. Qua đây ta thấy tính nhân đạo, bác ái của người Việt Nam đối với người phụ nữ xuất phát từ phong tục tập quán tốt đẹp của người Việt Nam mà quyền lợi ích cơ bản của người phụ nữ được bảo vệ. Đặc biệt pháp luật nhà Lê đã đồng nhất các trường hợp thất xuất cổ điển với trường hợp tuyệt nghĩa đã làm cho những trường hợp buộc phải bỏ vợ thu hẹp lại, đây cũng là một sự sáng tạo của nhà làm luật. b. Chấm dứt hôn nhân do ly hôn. * Vợ có quyền yêu cầu ly hôn. Bên cạnh việc chồng có quyền rẫy vợ thì việc quy định cho phép vợ có quyền ly hôn trong QTHL đã thể hiện tính độc lập vị thế ngang bằng của người vợ trước người chồng về mặt pháp lý. Các trường hợp vợ có quyền yêu cầu ly hôn bao gồm: - Nếu chồng không thực hiện nghĩa vụ đồng cư. - Con rể mắng nhiếc cha mẹ vợ bị coi là bất hiếu và vợ có quyền ly hôn. Quyền yêu cầu ly hôn của vợ là điểm tiến bộ độc đáo của pháp luật phong kiến Việt Nam so với pháp luật Trung Quốc. * Ly hôn thuận tình. Điều 284 HVLL quy định “Nếu vợ chồng không cùng ăn ý vui vẻ mà cả hai muốn ly dị, tình thì không hiệp ân thì đã lìa thì không thể hoà giải được. Chiếu theo điều không nên bỏ nghĩa tuyệt cho phép họ ly dị không bị coi là phạm tội”. Cả hai vợ chồng đều không vi phạm những điều mà pháp luật buộc phải ly dị nhưng họ cảm thấy không thể sống được với nhau thì có quyền yêu cầu ly hôn, có quyền thể hiện ý chí của mình trong việc chấm dứt hôn nhân. Đây cũng là một bước tiến mới trong pháp luật phong kiến Việt Nam, đã nâng quyền của người phụ nữ lên một bậc. c. Thủ tục ly hôn. HVLL quy định ly hôn không được tuỳ tiện mà phải trình lên quan cả hai bên đều phải làm giấy tờ “Tự ước hoặc văn thư” làm bằng. Đây là cơ sở pháp lý cho việc chấm dứt hôn nhân mà ngày nay vẫn còn được kế thừa. d. Hậu quả sau ly hôn. Pháp luật bảo vệ quyền của người vợ sau ly hôn tại các Điều 308 QTHL “Nếu đã bỏ vợ mà ngăn cản người khác lấy vợ cũ thì phạm tội biếm”. Khi quan hệ hôn nhân chấm dứt thì người chồng cũ không có quyền quyết định đối với người vợ trong tất cả mọi việc. Về tài sản sau ly hôn: Có thể nói đây là điểm độc đáo của pháp luật nhà Lê so với pháp luật phong kiến Việt Nam và cả Trung Quốc. Khi ly dị người vợ có quyền đối với tài sản riêng của mình kể cả những gì mà trước đây người chồng tặng. Tài sản chung của vợ chồng làm ra t rong thời kỳ hôn nhân được chia đều cả hai trừ trường hợp vợ có lỗi do gian dâm hoặc tự ý bỏ nhà chồng đi thì mất quyền sở hữu tài sản đó. 2. Những điểm tích cực trong lĩnh vực gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam a. Quan hệ tài sản. Trong xã hội phong kiến do ảnh hưởng của nho giáo chữ hiếu chỉ đặt sau chữ trung vì vậy mà quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ phục tùng, mệnh lệnh. Nhưng ở QTHL quan hệ tài sản giữa cha mẹ và con cái thể hiện sự tiến bộ ở hai khía cạnh: - Công nhận quyền sở hữu tài sản riêng của con cái, cho phép ra ở riêng. Gia đình phong kiến Trung Quốc là gia đình lớn gồm nhiều thế hệ, mọi tài sản trong gia đình thuộc sở hữu của tất cả mọi người, vì vậy giữa cha mẹ và con cái không có tài sản riêng. Trái lại gia đình phong kiến Việt Nam thường là gia đình nhỏ và thừa nhận con cái có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con cái bao gồm tài sản tự mình làm ra và tài sản thừa kế. Đặc biệt con cái có quyền tách ra khỏi ông bà, cha mẹ mà không bị coi là phạm tội bất hiếu. Ở nhà Lê con cái từ đủ 15 tuổi có quyền được cấp ruộng đất công để nuôi sống bản thân có quyền có gia đình riêng (Điều 347). - Không cho phép cha mẹ bán tài sản riêng của con cái. Đối với tài sản riêng của con thì cha mẹ không có quyền định đoạt đặc biệt là tài sản thừa kế, mọi hành vi xâm hại đến quyền sở hữu đều bị pháp luật trừng trị tại các Điều 377, 379. Qua đây ta thấy quyền định đoạt tự chủ của con cái về tài sản của con mình là điều mà pháp luật phong kiến Trung Quốc không bao giờ có. - Tài sản thừa kế và hương hoả. + Tài sản thừa kế: Con cái là hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật, điểm nổi bật của QTHL đã thừa nhận cả con trai và con gái đều có quyền hưởng thừa kế và được hưởng kỷ phần như nhau theo quy định của pháp luật. Qua đây ta thấy pháp luật đã quan tâm đến lợi ích người con gái trong gia đình đây là qui định có tính chất vượt thời đại mà pháp luật dân sự Việt Nam còn áp dụng đến ngày nay. + Hương hoả: là phần di sản của người chết để lại được lưu giữ lại cho con cháu để sử dụng hoa lợi, lợi tức dùng vào việc thờ cúng. Di sản hương hoả là bắt buộc theo pháp luật, một phần 20 điền sản được dùng làm hương hoả. Nhưng điều đáng nói ở đây là nếu không có con trai thì con gái có thể hưởng di sản hương hoả. Hương hoả là tài sản dùng vào việc thờ cúng tổ tiên, dòng họ mà lại trao quyền đó cho người con gái mà khi đi lấy chồng lại là người của nhà chồng, với việc quy định này thì quyền của người con gái được nâng thêm một bậc. Có thể nói đây là điểm đặc sắc nhất trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong pháp luật phong kiến Việt Nam. b. Nhân thân. Cha mẹ phải chịu trách nhiệm về hành vi của con, luật không chỉ quy định đòi hỏi nghĩa vụ của con cái với cha mẹ mà còn đòi hỏi cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng giáo dục con cái khi chúng chưa tách ra sống độc lập. Khi con cái làm điều sai trái cha mẹ phải chịu trách nhiệm hình sự và dân sự về hành vi của con tại Điều 457 của QTHL. Mối quan hệ nhân thân khác: Pháp luật thừa nhận sự tồn tại của con nuôi trong gia đình. Việc nhận con nuôi phát sinh quyền và nghĩa vụ cụ thể giữa con nuôi và cha mẹ nuôi. Điều đặc sắc là việc nhận con nuôi phải có văn bản làm bằng và phải được quan chứng thực. Đây là nét độc đáo của HVLL so với QTHL. Ngoài ra Luật Gia Long còn quy định con rể có quyền được ở rể, đây là điểm hoàn toàn mới so với pháp luật thời Lê, ba điều kiện được ở rể là: Nghĩa tế; Triêu tế dưỡng lão; Chàng rể ở lại làm việc trả nợ nhà vợ để trừ vào phí tổn cưới xin (Điều 76, 94). 2. Quan hệ vợ chồng. Ở quan hệ vợ chồng thì đã được trình bày ở phần trên nhưng ở đây chúng ta sẽ nghiên cứu mối quan hệ giữa người sống và người chết. Để bảo đảm cuộc sống cho vợ goá và chồng goá pháp luật cho phép vợ được hưởng một phần điền sản của nhau để nuôi sống một đời mặc dù họ không phải là diện thừa kế của nhau theo pháp luật. Ngoài ra còn đề cao vai trò của người mẹ khi người cha mất, ngươì mẹ sẽ nắm quyền gia trưởng, quản lý tài sản trong gia đình và chỉ đạo các con lao động sản xuất để kinh tế phát triển bình thường khi người chồng mất. III. Những hạn chế trong lĩnh vực hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam. Bên cạnh những điểm tích cực có tính chất vượt thời đại của lĩnh vực hôn nhân gia đình đặc biệt là trong QTHL thì vẫn còn những hạn chế do tồn tại xã hội quy định. 1. Thiết lập hôn nhân không tự do, đa thê. a. Thiết lập hôn nhân không tự do. Theo quan điểm của nho giáo thì hôn nhân chính là sự liên minh giữa hai dòng họ, liên quan đến sự thịnh suy của gia đình. Vì vậy nó thường được dựa trên cơ sở môn đăng hộ đối và thể hiện ý chí của cha mẹ đối với việc hôn nhân của con cái. Sự đồng ý của cha mẹ được thể hiện ở việc ở đồ sính lễ như là vàng, lụa... đặc biệt trong HVLL có sự hứa gả đồng ý con gái bằng văn bản. b. Duy trì và bảo vệ chế độ đa thê. Mục đích của đa thê đó là có nhiều con, cháu để nối dõi tông đường và ảnh hưởng đến sự trường tồn thịnh vượng của gia đình. Nên pháp luật cũng thừa nhận chế độ đa thê này trong luật. Tuy có sự đa thê nhưng có sự phân tầng địa vị giữa vợ cả và vợ lẽ, nàng hầu là rất rõ rệt nhằm duy trì trật tự kỷ cương trong gia đình. Ví dụ: Điều 309 QTHL quy định “Cấm lấy nàng hầu lên làm vợ thì sẽ bị xử phạt”. c. Yêu cầu chặt chẽ về đặc điểm của người vợ kết hôn. Do người vợ ảnh hưởng đến sự thịnh suy danh dự của gia đình do đó đòi hỏi người vợ phải có tư cách tốt, phải có đủ công – dung – ngôn - hạnh, chính vì vậy mà không phải bất cứ ai cũng đủ tiêu chuẩn để lấy làm vợ. Việc đặt ra những tiêu chuẩn của người vợ mà không đòi hỏi bất kỳ tiêu chuẩn nào thể hiện sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong việc kết hôn. Luật quy định cấm đàn bà hát xướng, người phạm tội đang chạy trốn được lấy chồng dù là vợ lẽ hay vợ cả, điều này còn quy định chặt chẽ đối với quan chức và họ hàng nhà quan. 2. Những điểm tích cực trong hôn nhân của QTHL bị HVLL bác bỏ. a.Thiết lập sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng về tài sản. Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là bất bình đẳng, luật không quy định về quyền có tài sản riêng của vợ cũng như quyền có tài sản chung. Ngoài ra người vợ không có quyền được hưởng thừa kế tài sản của chồng khi chồng chết. Người vợ được đặt bên cạnh chồng với tư cách là cha mẹ với quy định như trên thì vai trò của người phụ nữ đã thấp kém nay lại càng thấp kém hơn. b. Nhân thân. HVLL quy định nếu chồng đi 3 năm không về thì cho phép họ có quyền báo quan và yêu cầu ly dị. Còn QTHL thì quy định nếu chồng bỏ đi 5 tháng hoặc có con thì 1 năm thì vợ có quyền yêu cầu ly hôn. Việc quy định nghĩa vụ đồng cư của người chồng ít chặt chẽ hơn so với QTHL là điểm hạn chế trong quan hệ vợ chồng. 3. Những hạn chế khác. Trong QTHL vợ có quyền bình đẳng về tài sản với chồng, nhưng chỉ là đối với vợ cả (chính thất). Còn đối với vợ lẽ thì pháp luật không có quy định gì, qua đây ta có thể hiểu rằng giữa chồng và vợ lẽ không hề tồn tại tài sản chung. Vợ lẽ chỉ được chồng chu cấp bảo đảm cuộc sống nhưng không có quyền đối với tài sản của gia đình nhà chồng và tài sản do chồng làm ra. Vợ lẽ chỉ có quyền có tài sản riêng do thừa kế, của hồi môn khi đi lấy chồng. IV. Những hạn chế trong lĩnh vực gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam. 1. Xây dựng gia đình gia trưởng, người đàn ông có quyền lực rất lớn trong gia đình. Hạn chế lớn nhất trong lĩnh vực gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam là thiết lập gia đình gia trưởng phụ quyền. Đặc biệt là HVLL thì lại càng đề cao vai trò của người gia trưởng người con trai trong gia đình. Cả hai bộ luật đều quy định bảo vệ quyền của người gia trưởng nhưng đến triều Nguyễn quyền gia trưởng trong gia đình được phát triển thêm một bước mới. Gia trưởng là người đại diện cho gia đình, có quyền và nghĩa vụ với gia đình. Gia trưởng có thể là ông, cha, trưởng nam ta gọi chung là gia trưởng họ là người trụ cột trong gia đình. Quyền của người gia trưởng là rất lớn, có quyền về nhân thân, tài sản, quyết định hôn nhân của con cái, quyền rẫy vợ. Mọi hành vi xâm hại quyền của người gia trưởng bị xử phạt nặng hơn người bình thường quy định tại Điều 82, 83, 94, 109, 253, 254, 269, 283, 288. Tuy nhiên Luật cũng chỉ rõ trách nhiệm của người gia trưởng đối với gia đình tại các Điều 43, 29, 156, 358, 269. So với QTHL thì HVLL các chủ thể bị hạn chế quyền là phụ nữ con gái và ty ấu. Ngoài ra còn bảo vệ quyền gia trưởng của người chồng trong quan hệ vợ chồng đề ra những nghĩa vụ các nghĩa vụ của người vợ như: người vợ phải tuyệt đối chung thủy với chồng mặc dù chồng có quyền đa thê. Hành vi ngoại tình của chồng bị xử nặng hơn người vợ; người vợ phải tuân thủ phục tùng chồng theo sự điều khiển của người chồng. Sự phục tùng chồng không cho phép người vợ được ghen tuông bậy bạ, cậy thế lấn át chồng, không cho phép vợ tố cáo chồng, đánh chồng, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với chồng, gánh chịu những hậu quả mà chồng gây ra. Mặt khác luật đòi hỏi người vợ không được tự ý rời bỏ gia đình nhà chồng, thời gian chịu tang của vợ dài hơn là vợ chết. Chồng chết thì vợ phải chịu tang tới 3 năm và qui định rất chặt chẽ về tác phong quần áo, còn vợ chết chồng chỉ chịu tang 1 năm, có con thì 6 tháng. Đưa ra các trường hợp phải buộc phải bỏ vợ, ở cả hai bộ luật đều đưa ra 7 trường hợp buộc phải bỏ vợ (thất xuất): vô tử - ghen tuông – ác tật – dâm đãng – không kính cha mẹ - lắm lời - trộm cắp. Ngoài ra còn quy định tình trạng tuyệt nghĩa bắt buộc phải bỏ chồng như là mưu sát chồng – thông gian – đánh chửi cha mẹ chồng, chồng thành thương tật (HVLL). Thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa vợ cả với vợ lẽ vì thừa nhận chồng có quyền đa thê. Do vậy mà để duy trì kỷ cương trật tự gia đình phải có sự phân biệt đối xử trên. Người vợ lẽ phải ở chỗ người vợ cả và chồng cho phép, khi có mâu thuẫn giữa vợ cả và vợ lẽ thì vợ lẽ phải đi nơi khác. Địa vị của người vợ lẽ không bao giờ thay đổi được dù người chồng có quyền có nhiều vợ lẽ nhưng chỉ có một vợ cả duy nhất. Đặc biệt quan hệ giữa vợ cả và vợ lẽ thì vợ cả có quyền như người chồng đối với vợ lẽ. Ngoài ra với các thành viên khác ở gia đình thì vợ lẽ quy định rất khắt khe hơn vợ cả. Như vậy người vợ đã có địa vị thấp kém thì người vợ lẽ lại càng thấp kém hơn. 2. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái được xây dựng trên cơ sở phục tùng và phân biệt đối xử giữa các con. Nguyên tắc nho giáo việc đòi hỏi con cháu phải nghe lời dạy bảo ông bà, cha mẹ và họ được coi là bề trên vì vậy bề dưới phải có nghĩa vụ vâng lời. Nhiều trường hợp pháp luật cho phép con cháu được trả thù cho ông bà, cha mẹ, che dấu tội. Nếu không theo các điều trên thì sẽ phạm vào tội bất hiếu, ngoài ra còn phải có nghĩa vụ để tang, cha mẹ có quyền trừng phạt con cái khi có lỗi. Có sự phân biệt rất lớn giữa con nuôi con vợ cả, vợ lẽ và nàng hầu đặc biệt là con ngoài giá thú. Vì vai trò của người vợ cả và vợ lẽ khác nhau nên chỉ có con trai của người vợ cả mới được chọn là đích tử là người thừa kế hương hoả. Trong trường hợp vợ cả không có con thì mới chọn con trai của vợ lẽ. Trong việc phân chia tài sản theo pháp luật thì tài sản của con vợ lẽ và vợ cả có lượng vợ cả là khác nhau. Qua đây ta thấy con của vợ cả và vợ lẽ có địa vị khác nhau trong gia đình phong kiến. Ngoài ra HVLL còn tước bỏ quyền hưởng tài sản thừa kế tài sản hương hoả của con cái ở trong QTHL. Những quy định của HVLL đã thực sự làm cho người con trai có địa vị độc tôn trong gia đình. Sở dĩ có điều đó là vì nhà Nguyễn đã mở mang lãnh thổ xuống phía Nam, vì vậy mà không thể áp đặt luật của Bắc Kỳ cho các vùng khác. KẾT LUẬN Trong quan hệ hôn nhân và gia đình của pháp luật phong kiến Việt Nam thì chủ yếu thể hiện qua QTHL và HVLL. Trong đó những điểm đặc sắc tiến bộ chủ yếu được thể hiện ở QTHL nổi bật nhất là thiết lập sự bình đẳng tài sản giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng. Còn những hạn chế chủ yếu tồn tại ở HVLL, trong đó vai trò của người con trai được nâng lên một bước, điều đó đồng nghĩa với việc hạn chế quyền của người con gái. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam - Trường ĐH Luật Hà Nội. 2. Cuốn Quốc triều hình luật 3. Hoàng việt luật lệ 4. Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời kỳ Pháp thuộc của NXB Chính trị Quốc gia 5. Luật và xã hội phong kiến Việt Nam thế kỷ thứ XVII, XVIII 6. Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam – Bùi Xuân Đức. 7. Quốc triều hình luật lịch sử hình thành nội dung và giá trị - TS Lê Thị Sơn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNhững hạn chế trong lĩnh vực hôn nhân trong pháp luật phong kiến Việt Nam.doc
Luận văn liên quan