Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần chứng khoán Maybank

Công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước ta do Đảng và Nhà nước lãnh đạo đã đạt được những thành công to lớn, đã chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường và đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, cùng với đó là việc thị trường chứng khoán ra đời đã mở ra những cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh đó thì các doanh nghiệp cũng phải từng bước đổi mới cách thức quản lý hoạt động kinh doanh sao cho phù hợp với hoàn cảnh hiện nay. Vì vậy mà vấn đề đặt ra đối với mọi doanh nghiệp là làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh doanh đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Muốn làm được điều đó, một trong những phương pháp cơ bản và hiệu quả nhất là đánh giá và phân tích được tình hình tài chính công ty thông qua đó người quản lý mới biết rõ những ưu điểm và những hạn chế của công ty mình để từ đó có những phương thức hành động thích hợp.

docx52 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 23/12/2013 | Lượt xem: 1510 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần chứng khoán Maybank, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghiệp. Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa. Khi phân tích, dự báo sự biến động của các yếu tố kinh tế, để đưa ra kết luận đúng, các doanh nghiệp cần dựa vào một số căn cứ quan trọng: các số liệu tổng hợp của kì trước, các diễn biến thực tế của kì nghiên cứu, các dự báo của nhà kinh tế lớn... Kỹ thuật - Công nghệ Đây là nhân tố ảnh hưởng mạnh, trực tiếp đến doanh nghiệp. Các yếu tố công nghệ thường biểu hiện như phương pháp sản xuất mới, kĩ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị sản xuất, các bí quyết, các phát minh, phần mềm ứng dụng...Khi công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có điều kiện ứng dụng các thành tựu của công nghệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn nhằm phát triển kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy vậy, nó cũng mang lại cho doanh nghiệp nguy cơ tụt hậu, giảm năng lực cạnh tranh nếu doanh nghiệp không đổi mới công nghệ kịp thời. Văn hóa - Xã hội Văn hóa – xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động quản trị và kinh doanh của một doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng tới năng lực tài chính của DN. Doanh nghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra. Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một ngành kinh doanh mới nhưng cũng có thể xóa đi một ngành kinh doanh. Chính trị - Pháp luật Chính trị - Pháp luật gồm các yếu tố chính phủ, hệ thống pháp luật, xu hướng chính trị...Các nhân tố này ngày càng ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp. Sự ổn định về chính trị, nhất quán về quan điểm, chính sách lớn luôn là sự hấp dẫn của các nhà đầu tư. Trong xu thế toàn cầu hiện nay, mối liên hệ giữa chính trị và kinh doanh không chỉ diễn ra trên bình diện quốc gia mà còn thể hiện trong các quan hệ quốc tế. Để đưa ra được những quyết định kinh doanh hợp lý, doanh nghiệp cần phải phân tích, dự báo sự thay đổi của môi trường trong từng giai đoạn phát triển. 1.3.2 Nhân tố chủ quan Hình thức pháp lý của doanh nghiệp Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, có các loại hình doanh nghiệp chủ yếu sau: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Mỗi doanh nghiệp khi thành lập sẽ lựa chọn theo một hình thức pháp lý nhất định. Mỗi loại hình doanh nghiệp đó có đặc trưng riêng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanh nghiệp.Vì vậy việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinh doanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Và điều đó đồng nghĩa với việc ảnh hưởng tới năng lực tài chính của doanh nghiệp. Về cơ bản, những sự khác biệt tạo ra bởi loại hình doanh nghiệp là: uy tín doanh nghiệp do thói quen tiêu dùng; khả năng huy động vốn; rủi ro đầu tư; tính phức tạp của thủ tục và các chi phí thành lập doanh nghiệp; tổ chức quản lý doanh nghiệp. Đặc điểm kinh tế - kĩ thuật của ngành kinh doanh Mỗi ngành nghề kinh doanh khác nhau có đặc điểm kinh tế - kĩ thuật riêng có ảnh hưởng không nhỏ đến NLTC của doanh nghiệp. Do những đặc điểm đó chi phối đến tỷ trọng đầu tư cho các loại tài sản trong doanh nghiệp, nhu cầu vốn lưu động…Bên cạnh đó, mỗi ngành nghề kinh doanh lại chịu tác động khác nhau trước những biến động của nền kinh tế vĩ mô. Đối với những doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm có chu kì kinh doanh ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kỳ trong năm không có biến động lớn, DN cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng nên dễ dàng đảm bảo cân đối thu chi, cũng như đảm bảo nhu cầu vốn lưu động. Còn đối với những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm có chu kì kinh doanh dài thì nhu cầu vốn lưu động lớn hơn. Những DN hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển vốn lưu dộng cũng nhanh hơn so với ngành công nghiệp, nông nghiệp… Trình độ tổ chức quản lý Bên cạnh hai yếu tố trên, một yếu tố bên trong DN có ý nghĩa quyết định đến NLTC của doanh nghiệp là trình độ tổ chức quản lý của các nhà quản trị trong doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh nào đều phải lựa chọn cho doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh của mình một cơ cấu tổ chức quản lý riêng. Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp, tổ chức làm ăn thua lỗ, phá sản, phát triển chậm đều là do cơ cấu tổ chức quản lý chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tiễn. Vì vậy vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp , tổ chức là làm sao tìm cho mình một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý. Bởi lẽ khi có một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý thì mới cho phép sử dụng tốt các nguồn lực, giúp cho việc ra các quyết định đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quyết định đó, điều hoà phối hợp các hoạt động nhằm đạt được mục đích chung đề ra. Doanh nghiệp có quy mô càng lớn, càng phức tạp thì hoạt động của của doanh nghiệp cũng phức tạp theo. Do đó các nhà quản lý cần phải đưa ra một mô hình cơ cấu quản lý hợp lý sao cho đảm bảo quản lý được toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp đồng thời phải làm sao để bộ máy quản lý không cồng kềnh và phức tạp về mặt cơ cấu. Còn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì bộ máy quản lý phải chuyên, tinh tế, gọn nhẹ để dễ thay đổi phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả SXKD cũng như tăng cường NLTC cho DN. Để làm được điều đó, trước hết, lãnh đạo phải nhìn nhận được khả năng của từng nhân viên và bố trí họ vào các công việc phù hợp, tạo điều kiện để họ phát huy năng lực bản thân. Qua kinh nghiệm công việc, nhân viên sẽ vững vàng hơn và dần gánh vác bớt trách nhiệm cho lãnh đạo, đảm bảo cho hoạt động nhịp nhàng của bộ máy doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần lập hệ thống kiểm soát kế hoạch một cách hiệu quả, khuyến khích từng phòng ban tự kiểm soát, đồng thời xây dựng bản mô tả công việc rõ ràng để mỗi nhân viên tự chấn chỉnh mình. Doanh nghiệp cũng phải thúc đẩy sự chia sẻ thông tin giữa các cá nhân và các bộ phận trong doanh nghiệp, phải lấy sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban làm một trong những cơ sở để điều chỉnh sơ đồ tổ chức. 1.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực tài chính trong doanh nghiệp Việc nâng cao năng lực tài chính đảm bảo yêu cầu tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu và mục tiêu tăng tưởng của doanh nghiệp Khi năng lực tài chính của DN được nâng cao, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tiếp cận nhiều nguồn vốn hơn do uy tín của doanh nghiệp tăng lên, vì vậy mà DN huy động được đầy đủ, kịp thời lượng vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh với những nguồn vốn có chất lượng cao, chi phí thấp, góp phần giảm chi phí sử dụng vốn bình quân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn từ đó góp phần nâng cao hiệu quả SXKD. An ninh tài chính cũng được đảm bảo. Bên cạnh đó, khi năng lực tài chính của DN được nâng cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đảm bảo được khả năng thanh toán, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo được uy tín đối với nhà cung cấp, khách hàng, từ đó nhận được những ưu đãi từ nhà cung cấp, thị trường tiêu thụ mở rộng lại góp phần tăng hiệu quả kinh doanh. Khi đó, mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp được thực hiện, giá trị của doanh nghiệp ngày càng tăng lên và cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng trưởng. Việc nâng cao năng lực tài chính giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng đối phó với những biến động của nền kinh tế Nền kinh tế luôn luôn biến động. Tính phức tạp của biến động kinh ngày càng tăng lên khi quy mô hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã tăng từ cấp khu vực lên toàn cầu. Những biến động đó có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức không nhỏ với doanh nghiệp. Hiện nay, sự sàng lọc khốc liệt của thị trường, cộng với khó khăn chung của nền kinh tế trong thời kì lạm phát đã khiến các doanh nghiệp ở hầu hết các lĩnh vực đều phải đối mặt với tình trạng đình trệ và có nguy cơ phá sản. Khó khăn chính mà các doanh nghiệp Việt phải đối mặt là tình trạng thiếu vốn, giá nguyên liệu đầu vào tăng, sức tiêu thụ giảm. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của giá cả thị trường khiến cho đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn và đã gây áp lực trực tiếp lên doanh nghiệp. Việc nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp doanh nghiệp đối phó tốt với những khó khăn hiện nay. Việc nâng cao năng lực tài chính giúp doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu hội nhập tài chính quốc tế Nền kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Đặc biệt là từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới – WTO ( Việt Nam gia nhập WTO vào ngày 11 thang 7 năm 2006) đã đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều những cơ hội lớn, hướng tới sự hội nhập và phát triển toàn diện, sánh vai cùng với các cường quốc trên thế giới hiện nay. Nhưng đồng thời với các cơ hội đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp rất nhiều thách thức. Trong không ít những thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải đó chúng ta phải kể đến ở đây đó là sự xâm nhập của các công ty nước ngoài vào nước ta, cùng với sự xâm nhập này kéo theo sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty nước ngoài này nhằm tìm chỗ đứng cho mình tại thị trường Việt Nam. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không có những chiến lược đúng đắn, có tiềm lực tài chính vững mạnh thì với xu thế hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam rất có thể sẽ bị đánh bật ta khỏi thị trường trong nước và nhường chỗ cho các công ty nước ngoài. Vì vậy, viêc nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững trước những yêu cầu của hội nhập. Bên cạnh đó, DN còn có thể tận dụng được những cơ hội mà hội nhập mang lại để phát triển, nâng cao vị thế của mình trong nước cũng như trên trường quốc tế. 2.2.Phân tích tình hình tài chính và thực trạng năng lực tại công ty cổ phần chứng khoán Maybank 2.2.1.Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần chứng khoán Maybank giai đoạn 2010-2012 2.2.1.1.Phân tích cơ cấu tài sản: Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 Chênh lệch 2012/2011 Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ trọng Số tiền Tỉ lệ Tỉ trọng Số tiền Tỉ lệ Tỉ trọng A. TSNH 428121 94.48 485167 94.09 512886 94.72 57046 13.32 -0.39 27719 5.71 0.63 I. Tiền và các khoản tương đương tiền 30973 7.23 17927 3.7 93146 18.16 -13046 -42.12 -3.53 75219 419.58 14.46 1. Tiền 10973 35.43 17927 100 30662 32.92 6954 63.37 64.57 12735 71.04 -67.08 2. Các khoản tương đương tiền 20000 64.57  -  - 62484 67.08 -20000 -100 -64.57 62484 - 67.08 II. Các khoản đầu tư tài chính NH 130521 30.49 6605 1.36 118 0.02 -123916 -94.94 -29.13 -6487 -98.21 -1.34 1. Đầu tư NH 130521 100 6605 100 118 100 -123916 -94.94 0 -6487 -98.21 0 III. Các khoản phải thu NH 264326 61.74 464254 95.69 415212 80.96 199928 75.64 33.95 -49042 -10.56 -14.73 1. Phải thu hoạt động giao dịch chứng khoán 260655 98.61 463732 99.89 422732 101.81 203077 77.91 1.28 -41000 -8.84 1.92 2. Trả trước cho người bán 1339 0.51 544 0.12 1445 0.35 -795 -59.37 -0.39 901 165.63 0.23 3. Phải thu khác 4161 1.57 7511 1.62 3350 80.51 0.05 -7511 -100 -1.62 4. Dự phòng các KPT khó đòi -1919 0.73 -7533 -1.62 -8964 -2.16 -5614 292.55 -2.35 -1431 19 -0.54 IV. TSNH khác 2390 0.56 2978 0.62 4409 0.86 588 24.6 0.06 1431 48.05 0.24 1. Chi phí trả trước NH 789 33.01 636 21.36 1564 35.47 -153 -19.39 -11.65 928 145.91 14.11 2. Thuế và các khoản phải thu nhà nước  -  -  -  - 448 10.16 - - - 448 - 10.16 3. TSNH khác 1600 66.95 2341 78.61 2396 54.34 741 46.31 11.66 55 2.35 -24.27 B. TSDH 25014 5.52 30443 5.91 28592 5.28 5429 21.7 0.39 -1851 -6.08 -0.63 I. TSCĐ 23346 93.33 20718 68.05 17255 60.35 -2628 -11.26 -25.28 -3463 -16.71 -7.7 1. TSCĐ hữu hình 15875 68 13689 66.07 12440 72.09 -2186 -13.77 -1.93 -1249 -9.12 6.02 - Nguyên giá 26352 166 30841 148.86 36134 290.47 4489 17.03 -17.14 5293 17.16 141.61 - Hao mòn lũy kế -10476 -66 -17152 -48.86 -23693 -190.47 -6676 63.73 17.14 -6541 38.14 -141.61 2. TSCĐ vô hình 7470 32 7028 33.92 4814 27.9 -442 -5.92 1.92 -2214 -31.5 -6.02 - Nguyên giá 11279 151 13303 189.28 14282 296.68 2024 17.94 38.28 979 7.36 107.4 - Hao mòn lũy kế -3808 -51 -6275 -89.28 -9467 -196.68 -2467 64.78 -38.28 -3192 50.87 -107.4 II. Các khoản đầu tư TCDH  -  - 4363 14.33 2186 7.64 4363 - 14.33 -2177 -49.9 -6.69 1. Đầu tư chứng khoán dài hạn  -  - 4345 99.59 2186 100 4345 - 99.59 -2159 -49.69 0.41 Chứng khoán sẵn sàng để bán -  - 4345 99.59 2186 100 4345 - 99.59 -2159 -49.69 0.41 3. Các khoản đầu tư TCDH khác  -  - 18 0.41  -  - 18 - 0.41 -18 -100 -0.41 III. TSDH khác 1667 6.66 5362 17.61 9150 32 3695 221.66 10.95 3788 70.65 14.39 1. Chi phí trả trước DH 354 21.23 1158 21.6 2065 22.57 804 227.12 0.37 907 78.32 0.97 2. Tài sản thuế thu nhập hoãn lại 986 59.15 1877 35 2259 24.69 891 90.37 -24.15 382 20.35 -10.31 3. Tiền nộp quỹ hỗ trợ thanh toán 326 19.56 2326 43.38 4826 52.74 2000 613.5 23.82 2500 107.48 9.36 TỔNG 453135 100 515610 100 541479 100 62475 13.79 0 25869 5.02 0 Bảng 2: Phân tích tình hình tài sản qua 3 năm 2010-2012 Qua bảng phân tích trên cho thấy (Bảng 2): -Năm 2011 tổng tài sản công ty đang quản lý và sử dụng là 515.610 triệu đồng,trong đó Tài sản ngắn hạn là 485.167 triệu đồng chiếm 94,09%. Tài sản dài hạn là 30.443 triệu đồng chiếm 5,91%. So với năm 2010, tổng tài sản tăng lên 62.475 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 13,79%. Nguyên nhân chủ yếu là do Tài sản ngắn hạn (tài sản ngắn hạn tăng 57.046 triệu đồng còn tài sản dài hạn tăng 5.429 triệu đồng). -Năm 2012,tổng tài sản công ty đang quản lý và sử dụng là 541.479 triệu đồng,trong đó Tài sản ngắn hạn là 512.886 triệu đồng chiếm 94,72%.Tài sản dài hạn là 28.592 triệu đồng chiếm 5,28%. So với năm 2011 tổng tài sản tăng lên 25.869 triệu đồng với tỷ lệ tăng là 5,02%.Nguyên nhân chủ yếu là do Tài sản ngắn hạn (Tài sản ngắn hạn tăng 27.719 triệu đồng, còn Tài sản dài hạn không tăng). Tài sản ngắn hạn chiếm phần lớn tổng tài sản của công ty. Điều này là khá phù hợp với 1 công ty làm việc ở lĩnh vực chứng khoán. Đây là lĩnh vực liên quan đến thị trường vốn và ít cần đến sự đầu tư về tài sản cố định. Điều đó cho thấy quy mô về vốn của công ty tăng lên, công ty đã đi vào hoạt động một cách bền vững hơn. Đi vào xem xét từng loại tài sản ta thấy: A,Tài sản ngắn hạn: - Tài sản ngắn hạn là tài sản có tính thanh khoản nhanh và được ưu tiên trước trong bảng cân đối kế toán trong phần tài sản.Tài sản ngắn hạn của công ty tăng qua 3 năm là do các yếu tố sau: + Tiền và các khoản tương đương tiền: Khoản mục tiền và các khoản tương tiền qua 3 năm có nhiều biến động. -Năm 2011 khoản mục này giảm 13.046 triệu đồng, tương đương 42,12% so với năm 2010. Nguyên nhân do năm 2010 và năm 2011 thị trường chứng khoán Việt Nam sụt giảm khá nghiêm trọng với khá nhiều tiêu cực sau khủng hoảng năm 2009. -Năm 2012 tiền và các khoản tương đương tiền tăng 75.219 triệu đồng tương đương tỷ lệ tăng là 419,58% so với năm 2011. Nguyên nhân do thị trường chứng khoán dần phục hồi,chính vì vậy mà số tài khoản của đầu tư mở để giao dịch tăng nhanh, khiến cho lượng tiền gửi về giao dịch chứng khoán tăng mạnh.Điều này chứng tỏ công ty đã được các nhà đầu tư tín nhiệm,tình hình tài chính đang trên đà phát triển. Như chúng ta đã biết thị trường chứng khoán là thị trường có sự biến động không ngừng hàm chứa trong nó rất nhiều rủi ro,vì vậy công ty cần phải xem xét cẩn trọng việc quản trị vốn bằng tiền sao cho vừa phù hợp với nhu cầu của mình vừa nâng cao được hiệu quả sử dụng của đồng vốn cũng như đảm bảo khả năng thanh toán của mình. +Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Khoản đầu tư tài chính ngắn hạn giảm mạnh từ 130.521 triệu đồng năm 2010 xuống còn 6 triệu đồng năm 2011 (tương đương giảm 94,94%).Nguyên nhân do thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng sau khủng hoảng năm 2008.Điều này cho thấy sự sụt giảm chung của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ lạm phát. Năm 2012 các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn tăng nhưng không đáng kể, mức tăng triệu đồng tương đương tỷ lệ tăng là % so với năm 2011.Điều này cho thấy thị trường chứng khoán đã có bước tiến triển, công ty đã mở rộng hoạt động kinh doanh của mình về cả quy mô và chất lượng. 2.2.1.3.Phân tích kết quả kinh doanh: Bảng 6: Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2010-2012 (theo chiều ngang) Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch Chênh lệch 2011/2010 2012/2011 Số tiền Số tiền Số tiền + % + % 1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 122481 113257 114047 -9224 -7.53 790 0.7 Doang thu hoạt động môi giới chứng khoán 64369 45578 32175 -18791 -29.19 -13403 -29.41 Doanh thu hoạt động đầu tư chứng khoán,góp vốn 6056 177 13 -5879 -97.08 -164 -92.66 Doanh thu hoạt động tư vấn 843 6864 809 6021 714.23 -6055 -88.21 Doanh thu lưu ký chứng khoán 16 171 189 155 968.75 18 10.53 Doanh thu sử dụng vốn 45 517 584 472 1048.89 67 12.96 Doanh thu khác 51150 59949 80275 8799 17.2 20326 33.91 2. Các khoản giảm trừ doanh thu  -  -  - - - - - 3. Doanh thu thuần về hoạt động kinh doanh 122481 113257 114047 -9224 -7.53 790 0.7 4. Chi phí hoạt động kinh doanh -55629 -50713 -67753 4916 -8.84 -17040 33.6 5. Lợi nhuận gộp của hoạt động kinh doanh 66852 62544 46294 -4308 -6.44 -16250 -25.98 6. Chi phí quản lý doanh nghiệp -29170 -40040 -39478 -10870 37.26 562 -1.4 7. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 37681 22504 6816 -15177 -40.28 -15688 -69.71 8. Thu nhập khác 1019 1090 133 71 6.97 -957 -87.8 9. Chi phí khác -22 -7 -120 15 -68.18 -113 1614.29 10. Thu nhập khác – Số thuần 996 1083 12 87 8.73 -1071 -98.89 11. Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 38678 23587 6829 -15091 -39.02 -16758 -71.05 12. Chi phí thuế TNDN hiện hành -7469 -6397 -1532 1072 -14.35 4865 -76.05 13. Chi phí thuế TNDN hoãn lại 986 694 -266 -292 -29.61 -960 -138.33 14. Lợi nhuận sau thuế TNDN 32195 17885 5030 -14310 -44.45 -12855 -71.88 A,Về doanh thu: Doanh thu thuần năm 2011 giảm so với năm 2010 tuyệt đối 9224 triệu đồng. Năm 2012 tăng 790 triệu so với năm 2011 tương ứng tăng 0,7%. Nhìn chung đây là mức tăng phù hợp với tốc độ lạm phát của nền kinh tế. Trong các khoản mục doanh thu, có sự chuyển biến rõ rệt về cơ cấu thu giữa 3 năm: các khoản mục : Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán cho nhà đầu tư, doanh thu hoạt động đầu tư chứng khoán, góp vốn đều giảm mạnh. Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán của năm 2011 giảm so với năm 2010 là 18.791 triệu đồng. Năm 2012 giảm so với năm 2011 là 13.403 triệu đồng. Doanh thu hoạt động đầu tư chứng khoán của năm 2011 giảm so với năm 2010 là 5.879 triệu đồng. Năm 2012 giảm so với năm 2011 là 164 triệu đồng. Điều này thể hiện sự ảm đạm của thị trường chứng khoán Việt Nam. Công ty cổ phần chứng khoán Maybank cũng không ngoại lệ, khi mà các ngành kinh tế đều không phát triển được do sự lạm phát kéo dài. Ngành chứng khoán và các hoạt động liên quan đến chứng khoán sẽ tụt giảm. Nhu cầu của thị trường hướng đến những tài sản có tính thanh khoản cao như vàng và ngoại tệ. Mặt khác, nhận thấy dấu hiệu này, công ty đã tăng cường đầu tư những khoản mục khác, do đó có sự tăng lên của những khoản mục doanh thu khác. Doanh thu khác của năm 2011 tăng so với năm 2010 là 8.799 triệu đồng. Năm 2012 tăng so với năm 2011 là 20.326 triệu đồng. Đây cũng là bước đi đúng đắn của công ty để duy trì mức doanh thu hợp lý. B, Về lợi nhuận: Tuy rằng có sự tăng cao của doanh thu nhưng lợi nhuận qua 3 năm không tăng. Lợi nhuận sau thuế năm 2011 chỉ đạt 17.885 triệu đồng giảm triệu đồng so với năm 2010. Lợi nhuận sau thuế năm 2012 đạt 5.030 triệu đồng giảm triệu đồng so với năm 2011. Điều này cho thấy sự tụt giảm chung của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ lạm phát. Nguyên nhân: Năm 2011, thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung có xu thế đi xuống. Đặc biệt các hoạt động chứng khoán của những công ty môi giới giảm nghiêm trọng. Vì thế công ty chứng khoán Maybank cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự. Những hoạt động siêu lợi nhuận không còn phát triển được bởi nhu cầu đầu tư vào chứng khoán giảm xuống. Những thị trường đầu tư khác như bất động sản cũng trong tình trạng tương tự. Mặt khác, doanh thu của công ty tăng lên là do lạm phát và chi phí tăng cao. Vì thế doanh thu tuy tăng nhưng lợi nhuận lại giảm. 2.2.2 Thực trạng năng lực tài chính tại công ty cổ phần chứng khoán Maybank: 2.2.2.1 Thực trạng về khả năng thanh toán a. Khả năng thanh toán nhanh Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 Chênh lệch 2012/2011 ± % ± % 1. ∑TSNH 428.121 485.167 512.886 57.046 13,32 27.719 5,71 2. HTK - - - - - - - 3. ∑NNH 232.217 194.311 216.514 -37.906 -16,32 22.203 11,43 4. Khả năng thanh toán nhanh (1-2)/3 1.84 2.5 2.37 0.66 35.87 -0.13 -5.2 Năm 2011, một đồng NNH có 2,5 đồng TSNH sẵn sàng chi trả tăng 0,65 đồng ứng với tỷ lệ tăng 35,13% so với năm 2010; Năm 2012, cũng là mộ t đồng NNH nhưng chỉ có 2,37 đồng TSNH sẵn sàng chi trả, giảm 0,13 đồng, tương ứng giảm 5,2% so với năm 2010. Do NNH năm 2011 giảm đột ngột 37.906 triệu, tương ứng giảm 16,32%; trong khi đó TSNH qua 3 năm vẫn tăng đều. Qua 3 năm hệ số này vẫn lớn hơn 1, điều này cho thấy công ty đảm bảo được khả năng thanh toán của mình và ổn định qua các năm. b. Khả năng thanh toán tổng quát Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 Chênh lệch 2012/2011 ± % ± % 1. ∑Tài sản 453.135 515.610 541.479 62.475 13,79 25.869 5,02 2. ∑Nợ phải trả 232.622 194.802 217.150 -37.820 -16,26 22.348 11,47 3. Khả năng thanh toán tổng quát 1,95 2,65 2,49 0,7 35,90 -0,16 (6,04) Năm 2011, 1 đồng nợ phải trả có 2,65 đồng tài sản sẵn sàng chi trả, tăng 0,7 đồng so với năm 2010 ứng với tỷ lệ tăng 35,9%. Năm 2011, khả năng thanh toán của công ty giảm còn 2,49 tương ứng giảm 6,04% so với năm 2010. Nguyên nhân là do trong năm 2011 công ty đã thanh toán bớt được các khoản nợ, NPT năm 2011 giảm 37.820 triệu tương ứng giảm 16,26% so với 2010. Trong khi đó tài sản của công ty vẫn tăng đều qua 3 năm, năm 2011 tăng 13,79% so với năm 2010; năm 2012 tăng 5,02% so với 2011. Cho thấy khả năng thanh toán của công ty hiện là rất ổn định và an toàn. c. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 Chênh lệch 2012/2011 ± % ± % 1. ∑TSNH 428.121 485.167 512.886 57.046 13,32 27.719 5,71 2. ∑Nợ ngắn hạn 232.217 194.311 216.514 -37.906 -16,32 22.203 11,43 3. Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn 1,85 2,5 2,37 0,65 35,13 -0,13 (5,2) Năm 2011, một đồng NNH có 2,5 đồng TSNH sẵn sàng chi trả tăng 0,65 đồng ứng với tỷ lệ tăng 35,13% so với năm 2010; Năm 2012, cũng là một đồng NNH nhưng chỉ có 2,37 đồng TSNH sẵn sàng chi trả, giảm 0,13 đồng, tương ứng giảm 5,2% so với năm 2011. Do NNH năm 2011 giảm đột ngột 37.906 triệu, tương ứng giảm 16,32%; trong khi đó TSNH qua 3 năm vẫn tăng đều. Qua 3 năm hệ số này vẫn lớn hơn 1, điều này cho thấy công ty đảm bảo được khả năng thanh toán của mình và ổn định qua các năm. d. Khả năng thanh toán tức thời Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 Chênh lệch 2012/2011 ± % ± % 1. Tiền và tương đương tiền 30.973 17.927 93.146 -13.046 -42,12 75.219 419,58 2. ∑Nợ ngắn hạn 232.217 194.311 216.514 -37.906 -16,32 22.203 11,43 3. Khả năng thanh toán tức thời 0,13 0,09 0,43 -0,04 (30,77) 0,34 377,78 Qua bảng phân tích trên ta thấy khả năng thanh toán tức thời của công ty trong 3 năm đều nhỏ hơn 0,5. Năm 2011 là 0,09 giảm 0,04 tương ứng giảm 30,77% so với 2010; năm 2012 trị số này là 0,43 ứng với tỷ lệ tăng 377,78% so với năm 2011. Do năm 2011 có sự biến động đáng chú ý, cả 2 chỉ tiêu NNH và khoản mục tiền và tương đương tiền giảm và tăng lên đột ngột vào năm 2012, cụ thể thì tốc độ tăng của tiền và tương đương tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng của NNH làm cho hệ số này tăng đáng kể vào năm 2012 xấp xỉ với mức chuẩn 0,5. Cho thấy rằng năm 2012 công ty đã có những biện pháp tích cực, đúng phương hướng, khả năng thanh toán tức thời của công ty hiện tại là chấp nhận được so với năm 2011 và năm 2010. e. Khả năng thanh toán của tài sản ngắn hạn Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 Chênh lệch 2012/2011 ± % ± % 1. Tiền và tương đương tiền 30.973 17.927 93.146 -13.046 -42,12 75.219 419,58 2. TSNH 428.121 485.167 512.886 57.046 13,32 27.719 5,71 3. Khả năng thanh toán của TSNH 0,07 0,04 0,18 -0,03 (42,86) 0,14 350 Khả năng chuyển đổi thành tiền của tài sản ngắn hạn qua 3 năm đều nhỏ hơn 0,2. Năm 2011 trị số của nó là 0,04 giảm 0,03 ứng với tỷ lệ giảm 42,86% so với năm 2010; đến năm 2012 trị số này tăng lên là 0,18 tăng 0,14 tương ứng với tỷ lệ tăng 350% so với năm 2011. Do năm 2012 công ty tăng lượng dự trữ tiền mặt để đảm bảo khả năng thanh toán trong các giao dịch cần tiền, tăng 75.219 triệu ứng với tỷ lệ tăng 419,58% so với năm 2011; trong khi đó khoản mục TSNH năm 2012 chỉ tăng nhẹ có 5,71% tương ứng 27.719 triệu. Qua đó cho thấy khả năng chuyển đổi thành tiền của TSNH qua 3 năm của công ty còn kém. Tuy trong năm 2012 công ty có nhiều biện pháp cải thiện đáng kể nhưng trong các năm tới công ty cần cố gắng hơn nữa để có mức độ thanh toán phù hợp với hoạt động kinh doanh của mình. Kết luận: Nhìn chung, các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của công ty đều khá tốt, các khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản. Hệ số thanh toán có xu hướng tăng dần, điều này chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty ngày càng được cải thiện. Đây là điều kiện để chủ nợ tin tưởng vào khả năng thanh toán các khoản nợ của công ty, điều này giúp công ty có thể dễ dàng huy động vốn trong tương lai bằng hình thức nợ. 2.2.2.2 Thực trạng về mức độ độc lập tài chính Bảng 9: Tỷ suất đầu tư của công ty giai đoạn 2010-2012 Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 2012/2011 1. Tài sản cố định Triệu đồng 23.346 20.718 17.255 -2.628 -3.463 2. Tài sản dài hạn Triệu đồng 4.363 2.186 4.363 -2.177 3. Tổng nguồn vốn Triệu đồng 453.135 515.610 541.479 62.475 25.869 4. Vốn chủ sở hữu Triệu đồng 220.512 320.808 324.328 100.296 3.520 Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn(4/2) Lần 73,53 148,36 73,53 74,83 Hệ số vốn chủ sở hữu (4/3) Lần 0,49 0,62 0,6 0,13 (0,02) Hệ số tự tài trợ TSCĐ (4/1) Lần 9,44 15,48 18,8 6,04 3,32 (Nguồn: Báo cáo tài chính 2010 – 2012) *Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn Hệ số này tăng dần qua 3 năm. Năm 2011, hệ số này là 73,53lần; năm 2012 là 148,36 lần tăng 74,83 gấp đôi so với 2011. Do VCSH qua 3 năm có xu hướng tăng đều trong khi đó TSDH lại giảm dần. Tuy nhiên hệ số này vẫn lớn hơn 1 rất nhiều, cho thấy rằng doanh nghiệp thừa khả năng để trang trải TSDH. *Hệ số vốn chủ sở hữu Hệ số vốn chủ sở hữu có biến động qua 3 năm. Năm 2011 hệ số này là 0,62 tăng 0,13 so với năm 2010. Năm 2012 hệ số này giảm nhẹ xuống còn 0,6 tương ứng giảm 0,02 so với năm 2011. Tuy nhiên qua 3 năm ta thấy hệ số này vẫn trên mức 50%. Điều này khẳng định doanh nghiệp không chịu sức ép về các khoản nợ vay, duy trì VCSH ở mức tốt. Bảng 10: Các tỷ số về cơ cấu tài chính công ty gian đoạn 2010 – 2012 Chỉ tiêu ĐVT Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 2012/2011 1. Tổng tài sản Triệu đồng 453.135 515.610 541.479 62.475 25.869 2. Vốn chủ sở hữu Triệu đồng 220.512 320.808 324.328 100.296 3.520 3. Tổng nợ Triệu đồng 232.622 194.802 217.150 -37.820 22.348 4. Hệ số nợ % 51,34 37,78 40,1 -13,56 2,32 5. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu % 105,49 60,72 66,95 -44,77 6,23 (Nguồn: Báo cáo tài chính 2010–2012) Qua bảng phân tích trên ta thấy, hệ số nợ biến động theo từng năm. Năm 2011 hệ số này là 37,78% giảm 13,56 so với năm 2010; đến năm 2012 hệ số này là 40,1 tăng nhẹ 2,32 so với năm 2011. Do trong năm 2011 công ty đã thanh toán được nhiều khoản nợ trong khi tổng tài sản lại tăng. Năm 2012 cũng do công tác kinh doanh của công ty làm phát sinh các khoản nợ mới, tổng nợ tăng nhanh hơn tổng tài sản. Cho thấy trong 3 năm năm 2010 thì công sử dụng tài sản tốt nhất. Hệ số vốn chủ sở hữu năm 2011 là 60,72, ý nghĩa là tương ứng 1đồng do các chủ nợ đóng góp thì các chủ sở hữu cung cấp 0,6072 đồng để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, giảm 44,77% so với năm 2010; đến năm 2012 hệ số này tăng lên 66,95 tương ứng tăng 6,23%. Nguyên nhân chủ yếu là do vốn chủ tăng trong khi tổng nợ phải trả giảm, đến năm 2012 hệ số này mới tăng lên là do nợ phải trả tăng. Qua đó thấy rằng trong 3 năm thì năm 2010 là công ty sử dụng nợ tốt nhất, tuy năm 2012 có tăng nhưng còn chậm so với mức độ giảm của năm 2011. Công ty cần có biện pháp sử dụng nợ tốt hơn. 2.2.2.3 Thực trạng về năng lực hoạt động a. Phân tích tình hình công nợ phải thu Bảng 11: Phân tích tình hình công nợ phải thu của công ty giai đoạn 2010-2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2012 Chênh lệch 2012/2011 ± % ± % 1. DTT 122.481 113.257 114.047 -9.224 (7,53) 790 0,7 2. Phải thu ngắn hạn bình quân 137.053 364.290 439.733 227.237 165,8 75.443 20,71 3. Vòng quay các khoản phải thu 0,89 0,31 0,26 -0,58 (65,17) -0,05 (16,13) 4. Kỳ thu tiền bình quân 404,49 1161,29 1384,62 756,8 187,1 223,33 19,231 DTT năm 2011 là 113.257 triệu đồng giảm 9.224 triệu ứng với tỷ lệ giảm 7,53% so với năm 2010; năm 2012 là 114.047 triệu tăng 790 triệu tương ứng tăng 0,7%. Phải thu ngắn hạn bình quân qua 3 năm tăng đều. Cụ thể, năm 2011 là 364.290 triệu tăng 227.237 triệu ứng với tỷ lệ tăng 165,8%; không dừng ở đó trong năm 2012 khoản mục này tiếp tục tăng lên là 439.733 triệu, tăng 75.433 triệu tương ứng tỷ lệ tăng 20,71%. Vòng quay các khoản phải thu giảm dần qua cả 3 năm. Như trên phân tích sự biến động của DTT và khoản mục phải thu. Ta thấy rằng nguyên nhân chính là do các khoản phải thu tăng cao, công ty bán chịu, bị khách hàng chiếm dụng vốn nhiều trong khi đó hoạt động kinh doanh kém doanh thu tăng không đáng kể làm cho vòng quay các khoản phải thu cũng giảm theo. Do vòng quay các khoản phải thu giảm dần qua 3 năm nên kỳ thu tiền bình quân cũng tăng dần. Trong năm 2011, chỉ tiêu này là 1161,29 tăng 756,8 so với năm 2010; tiếp tục tăng vào năm 2012 chỉ tiêu này là 1384,62 tăng 223,33 tương ứng với tỷ lệ tăng là 19,23%. b. So sánh công nợ phải thu với công nợ phải trả Bảng 12: So sánh công nợ phải thu với công nợ phải trả Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch Chênh lệch ± % ± % 1. Phải thu 264.326 464.254 415.212 199.928 75,64 -49.042 (10,56) 2. Phải trả 232.622 194.802 217.150 -37.820 (16,26) 22.348 11,47 3. Tỷ lệ vốn bị chiếm dụng so với vốn đi chiếm dụng 114 238 191 124 108,77 -47 (19,75) Nhìn vào bảng trên ta thấy tỷ lệ vốn bị chiếm dụng so với vốn đi chiếm dụng của doanh nghiệp trong 3 năm qua đều lớn hơn 100%. Tỷ lệ vốn bị chiếm dụng so với vốn đi chiếm dụng năm 2010 là 114%. Năm 2010 tỷ số này tăng 124% so với năm 2009, năm 2011 tỷ lệ này giảm xuống còn 47% so với năm 2010. Tỷ số này lớn hơn 100% cho thấy vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng nhiều hơn là so với vón doanh nghiệp đi chiếm dụng. Công ty cần có biện pháp kịp thời để thu hồi bớt vốn, tránh tình trạng ứ đọng vốn trong kinh doanh. Đây là một trong những mặt hạn chế của công ty trong những năm qua. Có thể do nền kinh tế đang trì trệ, các nguồn vốn kinh doanh của khách hàng không nhiều, lạm phát cao làm tăng các chi phí tiền. Thê nên muốn tồn tại công ty cần cải thiện công tác kinh doanh, thu hồi bớt công nợ của mình trong thời gian tới để hoạt động kinh doanh có hiệu quả. 2.2.2.4 Thực trạng về khả năng sinh lợi Bảng 13: Các tỷ số về khả năng sinh lợi của công ty giai đoạn 2010 – 2012 Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Chênh lệch 2011/2010 Chênh lệch 2012/2011 ± % ± % 1. LNST 32.195 17.885 5.030 -14.310 (44,45) -12.855 (71,88) 2. ∑TSbq 328.243 484.372 528.544 156.129 47,56 44.172 9,12 3. VCSHbq 207.789 270.660 322.568 -129 (0,06) 51.908 19,18 4. DTT 122.481 113.257 114.047 -9.224 (7,53) 790 0,7 5. EBIT 38.678 23.587 6.829 -15.091 (39,02) -16.758 (71,05) 6. ROA 9,81 3,69 0,95 -6,12 (62,38) -2,74 (74,25) 7. ROAE 11,78 4,87 1,29 -6,91 (58,67) -3,58 (73,51) 8. ROE 15,49 6,61 1,56 -8,88 (57,33) -5,05 (76,4) 9. ROS 26,28 15,79 4,41 -10,49 (39,92) -11,38 (72,07) ( Nguồn: Báo cáo tài chính 2010 – 2012) *Khả năng sinh lợi của tài sản (ROA) Qua bảng trên ta thấy ROA của công ty giảm quá nhanh. Khả năng sinh lợi của tài sản năm 2011 giảm 6,12% so với năm 2010, năm 2012 tỷ suất này tiếp tục giảm 2,74% so với năm 2011. Nguyên nhân là do tổng tài sản tăng nhanh nhưng lợi nhuận lại giảm mạnh. Nếu trong những năm tiếp theo doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí thời kỳ thì khả năng sinh lợi của tài sản sẽ có xu hướng tăng lên vì khi đó bên cạnh lợi nhuận ròng tăng thì doanh thu thuần cũng sẽ thay đổi tích cực do tài sản được đầu tư trong 2 năm 2011, 2012 sẽ phát huy khả năng tạo ra doanh thu của nó. *Khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cũng giảm nhiều trong 3 năm qua. Cụ thể năm 2011 là 6,61 giảm 8,88 tương ứng giảm 57,33% so với năm 2010; năm 2012 hệ số này chỉ còn 1,56 giảm 5,05 tương ứng gairm 76,4%. Thời gian vừa qua vốn chủ sở hữu của công ty tăng rất cao, công ty sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu này đầu tư chủ yếu vào tài sản cố định, nhưng khoản đầu tư này chưa phát huy hiệu quả, thêm vào đó lợi nhuận ròng giảm do chi phí thời kỳ tăng cao. Do đó, suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của công ty giảm. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu rất được các nhà đầu tư quan tâm. Vì vậy công ty cần có những biện pháp tích cực để nhanh chóng phát huy hiệu quả tài sản mới đầu tư đồng thời tiết kiệm chi phí để làm cho tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tăng lên. *Khả năng sinh lợi của doanh thu (ROS) Ta thấy trong năm 2010, cứ 100 đồng doanh thu thì có 26,28 đồng lợi nhuận. Quan sát 2 năm tiếp theo ta thấy doanh thu thuần tăng trong khi đó lợi nhuận sau thuế giảm làm cho tỷ suất sinh lời trên doanh thu giảm, nhất là trong năm 2012 tỷ suất sinh lợi trên doanh thu chỉ còn 4,41%. Kết quả này cho thấy trong 2 năm vừa qua khả năng sinh lời của doanh nghiệp chưa được tốt. *Khả năng sinh lợi kinh tế của tài sản (ROAE) Suất sinh lời kinh tế của tài sản giảm mạnh trong 3 năm qua. ROAE năm 2011 giảm 6,91 tương ứng giảm 58,67% so với 2010, năm 2012 suất sinh lợi này tiếp tục giảm xuống còn 1,29 giảm 3,58 tương ứng với tỷ lệ giảm 73,51% so với năm 2010. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của tài sản nhanh hơn tốc độ tăng của EBIT. Cho thấy khả năng sinh lời của tài sản không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập của doanh nghiệp rất kém, nhất là trong năm 2012. Trong những năm tới công ty cần cải thiện công tác, đưa ra biện pháp sử dụng tài sản hợp lý hơn. Qua 3 năm 2010 – 2012 là thời gian công ty gặp không ít khó khăn do thị trường kinh tế suy thoái ảnh hưởng nên kết quả hoạt động kinh doanh ít nhiều sẽ suy giảm. Thêm vào đó tình hình kinh doanh của các đối tác cũng như các công ty đều rơi vào tình trạng nợ đầm đìa, gây ứ động vốn ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, mà cụ thể là khoản phải thu tăng cao. Điều đó làm ứ đọng vốn và công ty phải vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn giảm và chi phí lãi vay tăng cao làm cho lợi nhuận giảm dẫn đến các chỉ tiêu lợi nhuận không tốt. CHƯƠNG 3- MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN MAYBANK 3.1. Phương hướng phát triển công ty Triển khai hoạt động tại Việt Nam từ năm 2008 và kể từ đó Maybank Kim Eng đã luôn đạt được sự gia tăng về khối lượng giao dịch hàng năm. Hiện nay, Maybank Kim Eng là nhà môi giới lớn thứ 4 tại Việt Nam, là một trong số rất ít các công ty chứng khoán tại Việt Nam có lãi ngay trong năm đầu hoạt động và cả suốt các năm khó khăn sau đó chỉ đúng bằng dịch vụ môi giới chứng khoán. Để tiến tới gần với nhà đầu tư trên cả nước công ty đã liên tục đầu tư để mở rộng sự hiện diện tới các trung tâm kinh tế tài chính của cả nước. Hiện tại Maybank Kim Eng đang có 10 chi nhánh, phòng giao dịch hiện đại với đội ngũ tư vấn giàu kinh nghiệm để tư vấn cho nhà đầu tư trên khắp cả nước, bao gồm: TP. HCM, Hà Nội, Hải Phòng; Đà Nẵng, Biên Hòa (Đồng Nai), Vũng Tàu, Cần Thơ, An Giang. Maybank Kim Eng đang đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu thông qua việc tăng số lượng nhân viên kinh doanh từ 330 hiện tại và phát triển mạng lưới bằng cách mở thêm chi nhánh mới hàng năm, từ 10 chi nhánh hiện nay lên 14 chi nhánh trước năm 2015. Với sự hợp lực của Maybank, Maybank Kim Eng đã có sự cải thiện đáng kể mảng ngân hàng đầu tư, năng lực và khả năng hỗ trợ quản l‎ý tài chính cho khách hàng đang không ngừng được nâng cao. Vì vậy, bên cạnh việc đi đầu trong lĩnh vực môi giới khách hàng cá nhân, Maybank Kim Eng đã đặt mục tiêu gia tăng mạnh mẽ doanh thu từ mảng ngân hàng đầu tư để trở thành công ty môi giới chứng khoán hàng đầu tại Việt Nam vào năm 2015. Dù là công ty còn rất trẻ nhưng tính chuyên nghiệp và chất lượng dịch vụ đã đưa Maybank Kim Eng nhanh chóng vào danh sách những sản phẩm được yêu thích nhất năm 2009, 2010 do người tiêu dùng Việt Nam bình chọn với sự tổ chức của Thời Báo Kinh Tế Việt Nam và 2 năm liên tiếp đoạt giải thưởng “Thương hiệu chứng khoán uy tín” do Hiệp Hội Kinh Doanh Chứng Khoán cùng một số tổ chức tài chính thực hiện. Maybank Kim Eng cũng vinh dự được nhận giải thưởng uy tín Rồng Vàng vinh danh các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Tháng 7/2012 Maybank Kim Eng đã đón nhận Giải thưởng “Công ty Môi giới Khách hàng cá nhân Tốt nhất Việt Nam” (Best Retail Broker) do Alpha Đông Nam Á (Alpha Southeast Asia), tạp chí chuyên về đầu tư mang tính tổ chức đầu tiên và duy nhất trên thị trường vốn và ngân hàng ở Đông Nam Á bình chọn. Thành công của Maybank Kim Eng là kết quả của quá trình nỗ lực không ngừng nghỉ theo đuổi mô hình kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp: Cam kết cung cấp dịch vụ tài chính chất lượng cao cho nhà đầu tư Chỉ tập trung vào môi giới khách hàng Kiên quyết tách bạch tiền giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư thông qua việc giao cho ngân hàng quản lý Không phát triển tự doanh Đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đặc biệt là về công nghệ hiện đại bậc nhất 3.2. Một số biện pháp nâng cao năng lực tài chính công ty Điều chỉnh cơ cấu vốn và nguồn vốn. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp trên thị trường. Doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh doanh và nắm bắt cơ hội đầu tư thì không thể thiếu vốn kinh doanh. Do vậy việc chủ động xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn kinh doanh là một việc cần thiết và không thể thiếu được trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. * Cơ cấu vốn. Qua ba năm, cơ cấu vốn của công ty có sự dịch chuyển theo hướng; TSLĐ và đầu tư ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn dần qua các năm (đến năm 2012 chiếm tới 94,72% trong tổng tài sản), trong khi TSCĐ và đầu tư dài hạn lại giảm dần qua các năm. Mặc dù nếu so sánh với các công ty trong cùng ngành thì dễ thấy điều này là hợp lý, nhưng nếu xét về lâu dài thì điều này chưa được hợp lý. Chính vì vậy để đảm bảo phát triển bền vững và tăng khả năng cạnh tranh trong tương lai công ty cần tăng đầu tư hơn nữa vào TSCĐ, cụ thể là: - Xây dựng và phát triển hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch và đại lý nhận lệnh. Hiện tại CTCK Maybank ngoài hội sở ở Thành Phố Hồ Chí Minh mới chỉ có chi nhánh tại Hải Phòng. Trong khi đó khách hàng của công ty ngày càng nhiều, thuộc các thành phần khác nhau và ở khắp nơi trên đất nước, không chỉ là khách hàng trong nước mà cũn cú cả nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đỳ, cỏc CTCK cũng đang ra sức mở rộng quy mô hoạt động. Trước tình hình đó CTCK Maybank cần có chiến lược cụ thể mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động. Việc khai trương chi nhánh mới không chỉ đáp ứng tối đa nhu cầu giao dịch chứng khoán của đông đảo khách hàng mà còn làm tăng uy tín và thương hiệu của công ty. Tuy nhiên, việc xây dựng và mở rộng chi nhánh, phòng giao dịch đồng nghĩa với việc công ty phải chịu những chi phí rất lớn, từ chi phí thuê, mua địa điểm, tiền lương nhân viên, chi phí hoạt động … mạng lưới càng rộng thì chi phí càng lớn. Do vậy, công ty phải tính toán để việc mở rộng mạng lưới thực sự đem lại lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển của công ty. - Nâng cấp hệ thống tin học: Hệ thống tin học có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của TTCK. Công ty đã xây dựng được phần mềm giao dịch riêng nhưng phần mềm này vẫn còn rất nhiều lỗi và rất hay xảy ra những trục trặc. Mạng nội bộ chưa được thiết lập một cách có hệ thống. Số lượng đường truyền cũn quỏ ớt chưa đáp ứng đủ nhu cầu của công ty. Website của công ty chưa được hiện đại hóa, do đó các tiện ích phục vụ khách hàng chưa tốt và chưa quảng bá được rộng rãi hình ảnh của công ty. Đứng trước thực tế đó, trong thời gian tới công ty cần thực hiện các biện pháp hiện đại hóa hệ thống tin học nhằm đáp ứng được nhu cầu quản lý, đem lại cho khách hàng công cụ giao dịch hiện đại và giảm thiểu thời gian cho nhân viên trong các tác nghiệp hàng ngày, đồng thời công ty còn có thể giảm được chi phí hoạt động và chi phí quản lý doanh. * Nguồn vốn. Trong tổng nguồn vốn của công ty thì nợ phải trả chiếm tỷ trọng lớn nhưng lại giảm dần qua các năm, trong khi tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu nhỏ hơn nhưng lại tăng dần qua ba năm. Điều này chứng tỏ khả năng tự chủ về tài chính của công ty ngày càng được cải thiện. Tuy vậy tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn qua các năm vẫn còn cao cho thấy mức độ độc lập tài chính của công ty là chưa cao. Do vậy, để khắc phục tình trạng trờn thỡ công ty cần phải chú trọng các vấn đề sau: - Cần phải xác định một cơ cấu vốn hợp lý. Việc tính toán lùa chọn cơ cấu nguồn vốn giữa sử dụng nợ hay sử dụng vốn cổ phần là rất quan trọng, thực tế trong những năm qua công ty đã sử dụng đồn bẩy tài chính rất tốt, sử dụng vốn vay rất hiệu quả để gia tăng lợi nhuận cho công ty. Tuy nhiên tăng khoản vay đồng nghĩa với việc tăng thêm chi phí tài chính. Như chúng ta đã biết thị trường chứng khoán là thị trường có sự biến động không ngừng hàm chứa trong nó rất nhiều rủi ro, vì vậy công ty cần phải xem xét cẩn trọng việc quản trị vốn đảm bảo khả năng phát triển bền vững trong tương lai. Trong đó việc tiếp tục nâng cao vốn chủ sở hữu vốn là rất quan trọng. Trong những năm tới công ty cần tăng vốn chủ sở hữu bằng các biện pháp như: phát hành thêm cổ phiếu ra công chúng, từ các quỹ của công ty, huy động vốn từ công nhân viờn… Tuy vậy công ty cần phải tính toán kỹ thời điểm cũng như lượng cổ phiếu phát hành thêm để đảm bảo thu hót đủ lượng vốn cần thiết, cũng như đảm bảo quyền lợi của các cổ đông. Do đã là công ty đại chúng (niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Nội), nên công ty cần phải tính toán phương án chi trả cổ tức thật hiệu quả : vừa mang lại lợi Ých cho các cổ đông, đồng thời cũng phải dữ lại phần thu nhập đảm bảo nhu cầu vốn để tái đầu tư cho tương lai. Cần nâng cao một số chỉ tiêu tài chính. * Hệ số thanh toán. Qua ba năm ta thấy hệ số thanh toán nhanh có xu hướng tăng nhanh, điều này chứng tỏ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty ngày càng được cải thiện. Nguyên nhân làm cho các hệ số thanh toán tăng lên nhanh là do độ tăng của khoản tiền gửi của người đầu tư về giao dịch chứng khoán và khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn tăng mạnh. Tuy vậy, với hệ số thanh toán bắng tiền cao như vậy vì vậy công ty cần phải có kế hoạch sử dụng và quản trị vốn bằng tiền sao cho vừa phù hợp với nhu cầu của mình vừa nâng cao được hiệu quả sử dụng của đồng vốn cũng như đẩm bảo khả năng thanh toán của mình. * Hệ số về cơ cấu vốn. Qua ba năm, việc hệ số nợ của công ty có xu hướng giảm dần, trong khi hệ số VCSH lại có xu hướng tăng dần, điều này chứng tỏ khả năng tự chủ về tài chính của công ty ngày càng được cải thiện. Tuy vậy tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn qua các năm vẫn còn cao cho thấy mức độ độc lập tài chính của công ty là chưa cao. Như chúng ta đã biết thị trường chứng khoán là thị trường có sự biến động không ngừng hàm chứa trong nó rất nhiều rủi ro, chính vì vậy việc hệ số nợ của công ty cao sẽ có thể dẫn đến rủi ro về mặt tài chính nếu công ty không sử dụng tốt nguồn vốn đi vay. Chính vì vậy trong thời gian tới công ty cần phải có biện pháp tiếp tục tăng hệ số VCSH, đồng thời phải giảm hệ số nợ xuống hơn nữa. * Hệ số khả năng sinh lời. Nhìn chung qua ba năm hệ số lợi nhuận tổng tài sản (ROA) của công ty là thấp, đây là chỉ tiêu phản ánh một đồng vốn bình quân được sử dụng trong kỳ tạo được mấy đồng lợi nhuận sau thuế. Việc ROA thấp như vậy phản ánh tình hình quản lý tài chính của công ty vẫn chưa khai thác hết được tiềm năng của mỡnh.Hệ số lợi nhuận sau thuế vốn chủ sở hữu (ROE) của công ty có xu hướng giảm qua ba năm, mặc dù điều này là do lợi nhuận sau thuế qua các năm cũng tăng mạnh, nhưng tốc độ tăng vẫn chậm hơn tốc độ tăng của VCSH. Nhưng việc hệ số ROE giảm dần qua ba năm có thể làm giảm lòng tin của nhà đầu tư vào sự phát triển vững chắc của công ty trong tương lai. Điều này có thể khiến công ty gặp khó khăn trong việc huy động vốn cho hoạt động kinh doanh và đầu tư trong tương lai. Hệ số lợi nhuận sau thuế vốn chủ sở hữu (ROE) của công ty có xu hướng giảm qua ba năm, mặc dù điều này là do lợi nhuận sau thuế qua các năm cũng tăng mạnh, nhưng tốc độ tăng vẫn chậm hơn tốc độ tăng của VCSH. Nhưng việc hệ số ROE giảm dần qua ba năm có thể làm giảm lòng tin của nhà đầu tư vào sự phát triển vững chắc của công ty trong tương lai. Điều này có thể khiến công ty gặp khó khăn trong việc huy động vốn cho hoạt động kinh doanh và đầu tư trong tương lai. Chính vì vậy, trong những năm tới công ty cần phải sử dụng một số biện pháp tài chính cần thiết để cải thiện các hệ số phản ánh khả năng sinh lời (ROE và ROA), điều này đặc biệt quan trọng đối với một công ty công chúng như công ty cổ phần chứng khoán Maybank (vỡ đang niêm yết cổ phiếu của mỡnh trờn thị trường chứng khoán Hải Phòng). Đồng thời công ty cần phải quản lý chặt chẽ các khoản chi phí, vì doanh thu của công ty chủ yếu là do hoạt động tự doanh chứng khoán đem lại mà hoạt động này lại phụ thuộc lớn vào sự ổn định của thị trường nên khi thị trường đi xuống thì rất có thể công ty sẽ gặp khó khăn. Để đảm bảo cho sự phát triển và hoạt động có hiệu quả của công ty thì trong những năm tới công ty cần có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng trên, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung, vốn lưu động nói riêng. KẾT LUẬN Công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước ta do Đảng và Nhà nước lãnh đạo đã đạt được những thành công to lớn, đã chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường và đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, cùng với đó là việc thị trường chứng khoán ra đời đã mở ra những cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Trong bối cảnh đó thì các doanh nghiệp cũng phải từng bước đổi mới cách thức quản lý hoạt động kinh doanh sao cho phù hợp với hoàn cảnh hiện nay. Vì vậy mà vấn đề đặt ra đối với mọi doanh nghiệp là làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh doanh đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường. Muốn làm được điều đó, một trong những phương pháp cơ bản và hiệu quả nhất là đánh giá và phân tích được tình hình tài chính công ty thông qua đó người quản lý mới biết rõ những ưu điểm và những hạn chế của công ty mình để từ đó có những phương thức hành động thích hợp. Dựa trên những kiến thức đã học ở nhà trường kết hợp với tình hình thực tế về hoạt động tài chính tại công ty cổ phần chứng khoán Maybank em đã nêu ra trong báo cáo những thành công và hạn chế của công ty, trên cơ sở đó em đưa ra một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Do trình độ kiến thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn hơn nữa vấn đề phân tích tình hình tài chính là phức tạp và nhạy cảm nên những giải pháp mà em đưa ra chưa hẳn đã thích hợp và tối ưu nhưng cũng có thể giúp cho các nhà quản lý tài chính của công ty tìm ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Hi vọng rằng những giải pháp mà em đưa ra sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Dựa trên những kiến thức đã học ở nhà trường kết hợp với tình hình thực tế về hoạt động tài chính tại công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn em đã nêu ra trong báo cáo những thành công và hạn chế của công ty, trên cơ sở đó em đưa ra một số giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Do trình độ kiến thức còn hạn chế, thời gian nghiên cứu có hạn hơn nữa vấn đề phân tích tình hình tài chính là phức tạp và nhạy cảm nên những giải pháp mà em đưa ra chưa hẳn đã thích hợp và tối ưu nhưng cũng có thể giúp cho các nhà quản lý tài chính của công ty tìm ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Hi vọng rằng những giải pháp mà em đưa ra sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty. Trong quá trình thực tập tập và viết luận văn, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh, chị trong phòng tài chính kế toán của công ty cổ phần chứng khoán Maybank và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo ThS. Phạm Thị Thu Hương đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo này. DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình tài chính doanh nghiệp PGS.TS Phan Thị Cúc - Nhà xuất bản tài chính. 2. Tài chính doanh nghiệp . TS. Bùi Hữu Phước . Nhà xuất bản Lao động xã hội. 3. Tài liệu do Công ty cổ phần chứng khoán Maybank cung cấp.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxphan_tich_tinh_hinh_tai_chinh_va_mot_so_bien_phap_nham_nang_cao_nang__.docx
Luận văn liên quan