Pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam

Chất thải là một trong 10 vấn đề lớn về môi trường của nhân loại, nó có thể trở thành một thảm họa và cản trở lớn đối với sự phát triển bền vững ở các nước đang phát triển [16]. Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam cũng đang phải đối mặt từng ngày, từng giờ với thách thức lớn lao của nhân loại do CTNH mang lại. Việc giải quyết các vấn đề nhức nhối từ rác thải còn trở nên khó khăn hơn khi chúng ta đang chuyển mình từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Để hàn gắn vết thương chiến tranh, để đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, chúng ta phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đất nước. Nỗ lực đó đã được đền đáp thông qua sự tăng trưởng về kinh tế và đời sống của người dân được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta cũng phải đương đầu với nhiều vấn nạn từ CTNH. Là sản phẩm tất yếu của quá trình sản xuất và tiêu dùng xã hội nên việc giảm thiểu và loại bỏ CTNH là một vấn đề rất phức tạp. Hiện nay, CTNH đã và đang trở thành một trong những trở ngại lớn trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Vì vậy, cần phải đưa vấn đề quản lý CTNH trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Luật Bảo vệ môi trường (2005) cùng những văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra một khung pháp lý cho các chủ thể có liên quan đến quá trình quản lý CTNH. Tuy nhiên, khi đưa vào triển khai trên thực tế thì khung pháp luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế. Do đó, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực pháp luật của hệ thống pháp luật quản lý CTNH là một mục tiêu quan trọng mà chúng ta phải hướng tới. Bởi, một khung pháp luật đồng bộ và hoàn thiện về CTNH sẽ là điều kiện tiên quyết giúp chúng ta thực hiện được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, đó là: Phát tiển kinh tế đất nước đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai.

doc70 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 6689 | Lượt tải: 44download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hay không, cần nhìn vào kết quả của quá trình thực thi chúng trên thực tế. Do đó, để triển khai thực hiện hiệu quả công tác quản lý CTNH, cần nhìn nhận đúng kết quả áp dụng những quy định pháp luật về lĩnh vực này trong thời gian vừa qua, những thành tựu đạt được và những vấn đề còn tồn tại để từ đó đúc rút được kinh nghiệm và đưa ra được những giải pháp xây dựng pháp luật theo hướng hoàn thiện hơn. CHƯƠNG III THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CTNH Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật quản lý CTNH ở Việt Nam 3.1.1. Những kết quả đã đạt được Trong khoảng gần 10 năm thực hiện quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định 155/1999/QĐ–TTg đến nay chúng ta đã đạt được khá nhiều kết quả khả quan trong công tác quản lý CTNH. Đặc biệt, từ thời điểm Luật Bảo vệ môi trường (2005) và Thông tư số 12/2006/TT–BTNMT hướng dẫn điều kiện hành nghề, thủ tục lập hồ sơ, đăng ký cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH có hiệu lực thì hoạt động này ngày càng được chú trọng thực hiện. Cùng với sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, công tác quản lý CTNH ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu sau: Thứ nhất, xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về quản lý CTNH. Tính đến thời điểm hiện tại, chúng ta đã có một số lượng văn bản pháp lý không nhỏ quy định về vấn đề này như: Luật Bảo vệ môi trường (2005): Quyết định số 23/2006/QĐ-TTg về việc ban hành danh mục CTNH; Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn điều kiện hành nghề, thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH… Không chỉ dừng lại ở đó, thời gian qua đã có khá nhiều văn bản pháp luật của các Bộ (ngoài BTNMT) quy định về những vấn đề liên quan đến quản lý CTNH được ban hành như: Ngày 22/10/1999, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ký Quyết định số 29/1999/QĐ–BXD về việc ban hành quy chế bảo vệ môi trường ngành xây dựng; Ngày 30/11/2007, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 43/QĐ–BYT về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế… Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tham gia vào một số Công ước quốc tế về quản lý CTNH như: Công ước Marpol (Việt Nam ký ngày 29/08/91); Công ước Basel (Việt Nam phê chuẩn ngày 13/05/1995); Đặc biệt, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 47/2007/QĐ–TTg về việc phê duyệt kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu giai đoạn 2007 – 2010. Thứ hai, Thực hiện tốt việc phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc kiểm tra, đôn đốc và giám sát việc thực hiện pháp luật quản lý CTNH ở các cơ sở; tiến hành thanh tra, phát hiện và xử lý kịp thời nhiều hành vi vi phạm lĩnh vực này, trước khi hành vi đó để lại hậu quả cho môi trường và sức khỏe con người. Thứ ba, tranh thủ được nhiều nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho công tác quản lý CTNH. Do hoạt động quản lý CTNH cần rất nhiều vốn nên chúng ta không thể không cần có sự hỗ trợ vốn từ nước ngoài. Trong thời gian vừa qua, nước ta đã thu được nguồn vốn đầu tư đáng kể từ nước ngoài. Chẳng hạn như: Nhật Bản đã quyết định viện trợ hơn 18 triệu USD cung cấp nước sạch cho 3 tỉnh Tây Nguyên; Ngày 24/04/2007 vừa qua, Chính phủ Thụy Điển đã cam kết viện trợ 6,4 triệu USD cho các chương trình hoạt động của ủy hội sông Mê Kông (MRC) trong 3 năm, tính từ năm 2007…[30]. Thứ tư, tổ chức được các cuộc hội thảo về quản lý CTNH để đúc rút kinh nghiệm cho các địa phương, doanh nghiệp liên quan đến vấn đề này. Chẳng hạn: Cuộc hội thảo khoa học quản lý và xử lý chất thải rắn nguy hại ngày 09/06/2004 diễn ra tại Hà Nội. Đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về CTNH cho quần chúng để họ hiểu một cách đúng đắn và đầy đủ nhất về tác hại của CTNH, qua đó sẽ có ý thức hơn trong việc quản lý CTNH. Thứ năm, cơ sở vật chất cho công tác quản lý CTNH ngày càng được chú trọng đầu tư. Tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước đã bắt tay vào xây dựng các nhà máy xử lý CTNH hoặc tổ chức phân loại chất thải ngay tại nguồn. Ví dụ như: Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định mở rộng việc thí điểm phân loại rác từ nguồn ra 5 quận, huyện bao gồm: Quận 1, 4 ,5, 10, Củ Chi, thay vì chỉ thí điểm tại Quận 6 như năm 2007; Công ty cổ phần Long Hậu đã đầu tư 30 tỷ đồng xây dựng nhà máy xử lý nước thải phục vụ cho khu công nghiệp Long Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An với công suất 5000m3/ngày. Tại nhiều địa phương đã bắt đầu chú ý đến việc quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến Huyện. Điển hình là Hải Dương với hầu hết các bệnh viện tuyến huyện đều có hệ thống xử lý nước thải y tế. Trong tháng 01/2008, Hải Dương sẽ nghiệm thu và đưa vào sử dụng hệ thống nước thải của 05 bệnh viện tuyến Huyện bao gồm: Chí Linh, Kinh Môn, Thanh Hà, Bình Giang và thành phố Hải Dương. Đây là kết quả của dự án “Áp dụng kỹ thuật tiến bộ xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại bệnh viện tuyến Huyện trong Tỉnh”. Qua đó, Hải Dương nâng tổng số lên 10 bệnh viện tuyến huyện đều có hệ thống xử lý nước thải. Nguồn nước thải của bệnh viện đã được thu gom và xử lý bằng công nghệ sinh học. Chất bẩn trong nước thải được các vi khuẩn yếm khí hoạt động phân hủy và được lọc qua lớp vật liệu lọc tạo thành nước trong. Nước thải trước khi đổ ra ngoài môi trường vào hệ thống tiêu thoát chung của bệnh viện đều được khử bằng Cloramin B [30] Thứ sáu, Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý CTNH cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý CTNH tại các bộ, ngành, địa phương cũng như tại các cơ sở có chức năng thu gom, vận chuyển, tồn trữ, xử lý, tiêu hủy CTNH được chú trọng thực hiện. Chúng ta đã tổ chức hướng dẫn việc cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải và giấy phép quản lý CTNH theo thẩm quyền; thực hiện tốt cơ chế “một cửa” để đẩy nhanh tiến trình quản lý CTNH, tiết kiệm được khá nhiều chi phí và thời gian cho các chủ thể có liên quan. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình triển khai thực hiện quản lý CTNH đã phát sinh ra khá nhiều vấn đề bất cập cần phải khắc phục kịp thời. 3.1.2. Những vấn đề còn tồn tại Quá trình triển khai áp dụng quy định pháp luật về quản lý CTNH trên thực tế đã bộc lộ không ít hạn chế mà chúng ta không thể không nhìn nhận. Thứ nhất, hệ thống pháp luật quản lý CTNH tuy đã có một số lượng không nhỏ nhưng chưa đáp ứng được hết nhu cầu thực tiễn do chưa thực sự hoàn thiện và thiếu đồng bộ. Hệ thống pháp luật quản lý CTNH hiện nay còn rất nhiều vướng mắc. Nội dung của Quy chế chưa điều chỉnh hết được tất cả các loại CTNH (chỉ tập trung vào CTNH ở dạng hóa chất)… Hơn nữa, Quy chế này được ban hành từ khá lâu, nhưng có rất ít văn bản hướng dẫn thi hành. Trong khi xã hội thay đổi từng ngày, từng giờ kéo theo nhu cầu thực tế về quản lý CTNH cũng biến đổi theo nhưng quy chế vẫn giữ nguyên hiệu lực nên tính khả thi của nó không cao. Chỉ đến khi BTNMT ban hành Thông tư số 12/2006/TT–BTNMT thì vấn đề quản lý CTNH mới được cải thiện phần nào. Hiện nay cả 2 văn bản pháp luật trên đều có hiệu lực đồng thời trong khi giữa chúng có rất nhiều nội dung mâu thuẫn nhau như quy định về thẩm quyền, thời hạn cấp phép… Trên thực tế, những quy định tại Thông tư 12 phù hợp với tình hình thực tế và mang tính khả thi hơn, nhưng quy chế quản lý CTNH lại có hiệu lực cao hơn nên các chủ thể liên quan gặp không ít khó khăn trong quá trình áp dụng. Tuy nhiên, dù mới được ban hành vào ngày 26/12/2006 nhưng Thông tư 12 đã bộc lộ một số tồn tại trong quá trình triển khai trên thực tế. Ví dụ quy định về một số điều kiện hành nghề vận chuyển, xử lý và tiêu hủy CTNH; điều kiện đối với phương tiện, thiết bị vận chuyển, xử lý, tiêu hủy CTNH… Thứ hai, năng lực của bộ phận quản lý CTNH còn yếu và sự phân công, phân nhiệm của các ngành trong lĩnh vực này chưa rõ ràng, không nhất quán, chưa quy về một mối. Ở Trung ương chưa có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng giữa các bộ, ngành. Ở thành phố và thị xã thì mỗi nơi có một hệ thống quản lý khác nhau, cấp huyện thì hầu như không có hệ thống quản lý vệ sinh hoặc chất thải. Dù Thông tư 12 đã dành hẳn một phần để quy định về quản lý Nhà nước đối với CTNH, nhưng trên thực tế, tình trạng chồng chéo về thẩm quyền đã khiến vai trò của các cấp, các ngành chưa được ghi nhận nhiều. Ngoài ra, công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho cán bộ quản lý CTNH chưa triệt để nên những chủ thể này chưa phát huy được vai trò của mình. Thứ ba, các chế tài xử phạt vi phạm trong quản lý CTNH còn quá nhẹ. So với những chế tài trong Nghị định số 121/2004/NĐ–CP về xử phạt vi phạm hành chính trong bảo vệ môi trường thì những quy định trong Nghị định 81/2006/NĐ–CP về vấn đề này có phần nghiêm khắc hơn. Cụ thể, mức tiền phạt trong từng khung có tăng lên so với quy định cũ, tuy nhiên mức tiền phạt cao nhất cũng chỉ dừng lại ở mức cũ là 70 triệu đồng. Mức phạt này quá nhẹ so với chi phí mà các chủ thể phải bỏ ra để xử lý CTNH cũng như so với những hậu quả do hành vi đó gây ra. Do đó, tính răn đe của những quy định này không cao, tình trạng vi phạm pháp luật vẫn tiếp tục gia tăng. Ví dụ: các chế tài hành chính áp dụng trong vụ mua bán trái phép chất thải y tế của bệnh viện Việt Đức trong thời gian vừa qua. Hành vi này đã diễn ra từ khá lâu và hậu quả để lại vô cùng nghiêm trọng. Dựa trên quy định của pháp luật, thanh tra BTNMT xử phạt hành chính 20 triệu đồng; Cục Cảnh sát môi trường tiếp tục xác minh những dấu hiệu vi phạm pháp luật, nếu đủ cơ sở thì sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự [30]. Đây là mức phạt dành cho hành vi quản lý CTNH, còn hành vi kinh doanh CTNH trong trường hợp này không hề bị xử lý, do không có chế tài pháp luật đối với hành vi này. Đây chính là một lỗ hổng của pháp luật, cần được khắc phục kịp thời. Số tiền trên quá nhỏ so với khoản lợi nhuận mà những người vi phạm đã thu được, và nó càng không thuyết phục khi so sánh với hậu quả đối với môi trường và sức khỏe con người do hành vi đó gây ra. Ngoài ra, những chế tài hình sự về vi phạm pháp luật môi trường dù đã được Bộ Luật Hình sự quy định tại chương XVII với những tội danh: tội gây ô nhiễm không khí, tội gây ô nhiễm nguồn nước, tội gây ô nhiễm đất… nhưng những chế tài trong từng khung chưa thực sự nghiêm khắc. Hậu quả của những hành vi vi phạm pháp luật môi trường để lại là rất nghiêm trọng, nó là nguyên nhân khiến môi trường bị tàn phá và có thể cướp đi tính mạng con người một cách từ từ, nhưng hình phạt cho những tội danh này quá nhẹ so với những chế tài hình sự áp dụng cho tội phạm có hành vi cố ý hoặc vô ý giết người. Đây chính là kẽ hở của pháp luật khiến tội phạm môi trường ngày càng gia tăng. Thứ tư, tình trạng thiếu vốn đầu tư cho hệ thống quản lý CTNH vẫn đang là bài toán khó giải quyết. Phần lớn chi phí cho hoạt động quản lý CTNH có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay ngân sách Nhà nước chi cho việc quản lý CTNH còn khá hạn chế, trong khi cơ sở vật chất (phương tiện, thiết bị…) cho quản lý CTNH đòi hỏi lượng vốn rất lớn. Trên phạm vi toàn quốc đến nay vẫn chưa có một cơ sở xử lý tập trung đối với các chất thải công nghiệp nguy hại. Ngay cả những trung tâm kinh tế lớn của cả nước như vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hịện nay cũng còn thiếu rất nhiều cơ sở vật chất trang bị cho hoạt động quản lý CTNH. Ngày 25/03/2008, tại thành phố Vũng Tàu đã diễn ra Hội nghị giao ban các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hội nghị đã thừa nhận hiện tại vẫn chưa có khu công nghiệp, khu chế xuất nào có hệ thống xử lý nước thải, chất thải hoàn chỉnh. Ngay cả những nhà máy, xí nghiệp trong khu công nghiệp khu chế xuất có hệ thống xử lý CTNH nhưng vì mục đích lợi nhuận nên rất ít hoạt động, hoặc chỉ hoạt động khi có đoàn thanh tra đến [30]. Ngoài những khó khăn về vốn đầu tư cho công nghệ, thiết bị hiện đại, các chủ thể có liên quan đến CTNH còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng để xây dựng cơ sở quản lý CTNH. Dường như đây là tình trạng chung của cả nước nên công tác quản lý CTNH trên phạm vi toàn quốc trong thời gian vừa qua có kết quả khá khiêm tốn. Không chỉ xảy ra ở những trung tâm công nghiệp, hiện nay ở các bệnh viện lớn trên cả nước cũng đang ở tình trạng trên. Điển hình là thành phố Hồ chí Minh hiện còn hơn 40 bệnh viện chưa có hệ thống xử lý nước đạt chuẩn và 35 cở sở khác thậm chí chưa có cả hệ thống xử lý. Ví dụ: Bệnh viện Ung Bướu chỉ có một hệ thống xử lý nước thải duy nhất xây trên diện tích gần 20m2 bao gồm một bồn chứa dung dịch Clo và vài thứ khác; hoặc tại bệnh viện An Bình có khu xử lý nước thải khá rộng nhưng hệ thống không hoạt động hơn 10 năm nay. Giống như thành phố Hồ Chí Minh, các bệnh viện lớn ở thủ đô Hà Nội cũng không nằm ngoài tình trạng đó. Bệnh viện Phụ sản Trung ương được coi là nơi có cơ sở hạ tầng bề thế, nhưng nơi đây vẫn chưa có hệ thống xử lý nước, từ nhiều năm nay nước thải được xả trực tiếp vào hệ thống cống ngầm rồi tập kết ra sông Tô Lịch; Bệnh viện Việt Đức, Xanh Pon hàng ngày thải ra một khối lượng nước thải nguy hại rất lớn nhưng hiện vẫn chưa có hệ thống xử lý nước đạt chuẩn. Một số bệnh viện khác tuy có khu xử lý nước nhưng không được bảo dưỡng dẫn dến hỏng hóc hoặc chỉ vận hành hệ thống trong giai đoạn còn bảo hành. Theo ý kiến của thạc sỹ Từ Hải Bằng - Phó khoa Vệ sinh và Sức khỏe môi trường thuộc Viện Y học Lao động và Vệ sinh Môi trường, trong hơn 1000 bệnh viện ở Việt Nam chỉ có 1/3 có hệ thống xử lý nước thải (chủ yếu ở Trung ương và tuyến tỉnh), trong đó chỉ có một số đạt tiêu chuẩn [31]. Việc vận chuyển rác thải y tế nguy hại hầu hết được khoán trắng cho các Công ty môi trường đô thị, dẫn đến tình trạng bệnh viện bỏ ngỏ việc quản lý hoạt động vận chuyển đó. Hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý rác giữa một số bệnh viện và Công ty môi trường đô thị chưa rõ ràng về trách nhiệm, không kiểm soát được rác thải ở khu vực thu gom tập trung trước và sau khi đưa lên xe vận chuyển đến nơi tiêu hủy. Sở dĩ có tình trạng trên vì hầu hết các bệnh viện (chiếm 98.5%) mang tính dịch vụ công, kinh phí đầu tư để xây dựng hệ thống xử lý CTNH phụ thuộc ngân sách Nhà nước nên các bệnh viện chưa thực sự chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho đơn vị mình. Nếu không giải quyết được vấn đề kinh phí thì tình trạng trên vẫn chưa biết đến khi nào mới được khắc phục. Thứ năm, nhận thức của đa số người dân về mức độ nguy hiểm của CTNH còn rất thấp, phần lớn vì lợi ích trước mắt mà không chú ý đến hậu quả để lại cho môi trường. Hành vi xả thải bừa bãi, để lẫn lộn CTNH với chất thải thông thường đã trở thành một thói quen cố hữu của người dân từ xưa đến nay. CTNH trong chất thải sinh hoạt hàng ngày của người dân chiếm một khối lượng khá lớn. Vì vậy, nếu người dân vẫn tiếp tục duy trì những thói quen trên thì quá trình xử lý CTNH sẽ gặp rất nhiều khó khăn do tốn kém chi phí và thời gian để phân loại CTNH ra khỏi chất thải thông thường. Ý thức đối với việc quản lý CTNH hạn chế cộng với động cơ tìm kiếm lợi nhuận nên đã có nhiều chủ thể bất chấp rào cản pháp luật, tiến hành những hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhằm đạt được lợi ích trước mắt. Vừa qua, Cục Cảnh sát môi trường đã phát hiện ra gần 200 tấn CTNH của công ty Thiên Quan ở khu công nghiệp Phố Nối B (Hưng Yên). Công ty này đã nhập khẩu 100% các vỏ nhựa có nguồn gốc từ nước ngoài thuộc danh mục CTNH đều không được làm sạch trước khi đưa vào nước ta; hoặc việc Cục Cảnh sát môi trường (C36-Bộ công an) phát hiện và bắt quả tang nhân viên bệnh viện Việt Đức bán chất thải y tế nguy hại cho tư nhân bên ngoài tiêu thụ. Theo xác minh của cơ quan điều tra, bệnh viện Việt Đức giao khoa chống nhiễm làm đầu mối thu gom, xử lý rác thải. Bệnh viện cũng ký hợp đồng với xí nghiệp xử lý chất thải công nghiệp - y tế để thu gom, vận chuyển và xử lý. Tuy nhiên, một số nhân viên của bệnh viện khi được giao nhiệm vụ đã vì lợi ích trước mắt, tự ý bán rác ra ngoài. Số rác này khi chuyển ra ngoài sẽ chuyển tiếp đến cơ sở nhỏ lẻ để tái chế hoặc tận dụng sản xuất đồ dùng sinh hoạt. Người tiêu dùng khi sử dụng những sản phẩm này sẽ rất nguy hiểm do nhựa từ chất thải y tế chỉ được nấu qua ở nhiệt độ 3000C, trong khi muốn tiệt trùng vi khuẩn gây bệnh phải cần 1000-15000C. Như vậy, chỉ vì lợi ích trước mắt mà rất nhiều cá nhân, tổ chức đã tiến hành những hành vi vi phạm pháp luật quản lý CTNH nói riêng và pháp luật bảo vệ môi trường nói chung, khiến môi trường và sức khỏe con người ngày càng bị đe dọa. Thứ sáu, công cụ kinh tế chưa được áp dụng triệt để. Đã có nhiều quy định về thuế, phí, lệ phí áp dụng cho các hành vi vi phạm pháp luật môi trường dựa trên nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” và phụ thuộc vào khối lượng và mức độ độc hại của chất thải. Việc đưa ra các chi phí môi trường vào hạch toán kinh doanh sẽ bắt buộc các nhà sản xuất luôn luôn đẩy mạnh cách tiếp cận “sản xuất sạch hơn”, tức là phải luôn tìm cách sử dụng tiết kiệm và tối ưu các đầu vào của hoạt động sản xuất, kinh doanh; tối ưu hóa quy trình công nghệ và quản lý để có thể làm ra nhiều sản phẩm nhất và ít chất thải nhất, hoặc có thể tái sử dụng một cách tối đa các chất thải bắt buộc tạo ra do hoạt động sản xuất của mình [24, tr.57]. Theo đó, nếu thực hiện triệt để công cụ kinh tế vào hoạt động quản lý CTNH sẽ giảm thiểu được các tác động tiêu cực đến môi trường. Tuy nhiên, với mức thu thuế, phí, lệ phí thấp như hiện nay thì hiệu quả của những công cụ này chưa cao do chưa đánh nhiều vào quyền lợi của các chủ thể có liên quan. Như vậy, đánh giá quá trình thực thi pháp luật quản lý CTNH trên thực tế, có thể nhận định rằng bên cạnh những thành quả đã đạt được thì những vấn đề phát sinh xung quanh quá trình đó cũng không hề nhỏ, thậm chí còn đáng phải quan tâm nhiều hơn. Đó là những bất cập trong việc xây dựng hệ thống văn bản pháp quy, cũng như sự thiếu thốn về vốn, kinh nghiệm quản lý và sự hạn chế trong nhận thức cộng đồng về pháp luật quản lý CTNH. Chúng ta nhìn nhận khuyết điểm này để từ đây có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm trong quá trình quản lý, nhằm đạt được hiệu quả tốt hơn, hạn chế những vấn đề gây vướng mắc cho mọi chủ thể. Trách nhiệm bảo vệ môi trường không phải của riêng cá nhân, tổ chức nào, cũng không phải là trách nhiệm hoàn toàn thuộc về các cơ quan quản lý Nhà nước. Đây là trách nhiệm chung của cộng đồng. Để đạt được nhiều thành tựu trong quá trình bảo vệ môi trường nói chung và quản lý CTNH nói riêng rất cần đến sự nỗ lực của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội và quan trọng hơn nữa là vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường. 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý CTNH ở Việt Nam 3.2.1. Cơ sở đề xuất giải pháp Thứ nhất, hoạt động quản lý CTNH nếu được thực hiện đồng bộ và hiệu quả sẽ là chìa khóa để tháo gỡ thách thức do môi trường đang đặt ra với nhân loại. Do đó cần phải có những quy định pháp luật hoàn thiện để kiểm soát quá trình quản lý CTNH nói riêng và qua đó thực hiện được mục tiêu bảo vệ môi trường. Thứ hai, khi những tác hại do CTNH gây ra đối với sức khỏe con người được kiểm soát và loại bỏ, con người sẽ không phải đứng trước nguy cơ bị đe dọa sức khỏe và tính mạng từng ngày, từng giờ bởi những căn bệnh hiểm nghèo từ CTNH. Thứ ba, phát triển bền vững là phạm trù được hình thành do nhu cầu của bảo vệ môi trường [25, tr. 15]. Khái niệm “phát triển bền vững” đã được nêu rõ tại tuyên bố Riodejaneiro: “Để thực hiện được sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó”. Nhà nước ta đã có quan điểm thống nhất về khái niệm này tại Khoản 4 Điều 1 Luật Bảo vệ môi trường 2005: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Như vậy, nếu giải quyết được vấn đề quản lý CTNH thì chúng ta sẽ không phải lo ngại rằng quá trình phát triển kinh tế sẽ làm tổn hại lớn đến môi trường. Nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, đời sống con người dần được nâng cao và môi trường được bảo vệ… chính là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới. Thứ tư, khi nhìn vào hệ thống pháp luật hiện hành quy định về quản lý CTNH và quá trình triển khai chúng trên thực tiễn, ta thấy hệ thống pháp luật này đã có rất nhiều tiến bộ so với trước đây. Song, vẫn không tránh khỏi những bất cập khi đưa vào áp dụng. Do đó, cần tìm ra những giải pháp tích cực để hệ thống pháp luật này hoàn thiện và phù hợp với nhu cầu thực tiễn hơn. 3.2.2. Một số giải pháp cụ thể * Đảm bảo tính đồng bộ giữa các văn bản pháp luật hiện hành Cùng với Luật Bảo vệ môi trường (2005), hiện nay Việt Nam đang có hai văn bản pháp luật điều chỉnh khá cụ thể và chi tiết hoạt động quản lý CTNH. Đó là Quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg và Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT. Song, giữa hai văn bản này còn tồn tại khá nhiều điểm bất đồng. Vì vậy, để bảo vệ môi trường nhưng không làm cản trở nhịp độ phát triển kinh tế, chúng ta cần phải có một số sửa đổi nhất định. Một là, cần thống nhất về thời hạn cấp phép của 2 văn bản trên. Điều 8 quy chế quy định trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ xin đăng ký quản lý CTNH, cấp phép thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy CTNH, cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường phải tổ chức thẩm định hồ sơ và cấp sổ đăng ký hoặc giấy phép. Trường hợp từ chối phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trong khi Thông tư số 12 quy định thời hạn này hoàn toàn khác: đối với trường hợp cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải thì trong thời hạn 07 ngày từ ngày nhận được hồ sơ, Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét và thông báo để chủ nguồn thải sửa đổi, bổ sung nếu chưa đủ và trong 12 ngày tiếp theo, Sở Tài nguyên và Môi trường phải cấp sổ nếu hồ sơ đầy đủ và hợp lệ; hoặc ở trường hợp cấp phép hành nghề quản lý CTNH cho chủ vận chuyển thì thời gian tương ứng là 12 ngày và 20 ngày. Hai là, những quy định về thẩm quyền cấp phép trong Quy chế cũng không rõ ràng. Ví dụ, tại Khoản 3 Điều 21 của quy chế quy định Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) có trách nhiệm cấp sổ đăng ký quản lý CTNH hoặc giấy phép môi trường theo thẩm quyền được giao cho các chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy CTNH. Trong khi đó ở Khoản 3 Điều 27 cũng trong quy chế này quy định thẩm quyền của UBND tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương), chỉ đạo sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường nay là Sở Tài nguyên và Môi trường) trong việc thực hiện các nhiệm vụ tương tự như của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường. Có thể thấy, ngay trong quy chế đã không có sự rạch ròi về thẩm quyền của từng cơ quan. Điều này gây khá nhiều khó khăn trong việc phân định thẩm quyền của hai cơ quan nói trên. Do đó, cần có quy định cụ thể về những trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ Khoa học – công nghệ và Môi trường và trường hợp thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh. Hơn nữa, tại Khoản 2 Điều 25 quy chế quy định: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm cấp các loại giấy phép môi trường liên quan đến quy chế quản lý CTNH cho các chủ nguồn thải, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy CTNH thuộc lĩnh vực bí mật an ninh quốc phòng. Trong khi Thông tư 12 lại không quy định thẩm quyền này cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Một điểm bất đồng nữa giữa hai văn bản trên phải kể đến đó là quy định tại mục 3.3 phần I của Thông tư quy định về thẩm quyền của UBND cấp tỉnh trong việc cấp, gia hạn, điều chỉnh và thu hồi giấy phép quản lý CTNH đối với chủ vận chuyển và chủ xử lý, tiêu hủy CTNH trên địa bàn hoạt động trong tỉnh. Nhưng Quy chế lại không hề quy định về thẩm quyền trên cho UBND cấp tỉnh. Tóm lại, Thông tư 12 ra đời muộn hơn rất nhiều so với quy chế quản lý CTNH. Do đó, nó có nhiều quy định phù hợp với tình hình thực tế và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể trong quá trình áp dụng. Tuy nhiên, cả hai văn bản trên đều có hiệu lực đồng thời, trong khi quy chế được ban hành kèm theo Quyết định 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ lại có hiệu lực cao hơn. Như vậy, văn bản pháp luật đã được ban hành từ lâu có nhiều điểm không còn phù hợp với tình hình mới lại có hiệu lực điều chỉnh cao hơn so với văn bản pháp luật khác cũng điều chỉnh vấn đề tương tự nhưng có nội dung rõ ràng và đáp ứng được nhu cầu của các chủ thể có nghĩa vụ hơn. Điều này gây không ít khó khăn cho các cơ quan Nhà nước về bảo vệ môi trường và các chủ thể liên quan trực tiếp đến CTNH khi áp dụng những văn bản này trên thực tế. Việc ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết việc thực hiện quy định pháp luật là việc hết sức cần thiết. Tuy nhiên, phải đảm bảo sự thống nhất giữa văn bản hướng dẫn thi hành với văn bản pháp luật ra đời trước đó, nhất là khi chúng có hiệu lực đồng thời. Theo đó, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần ban hành Quyết định bãi bỏ hiệu lực của Quy chế quản lý CTNH. Ngoài ra, cần tiến hành rà soát lại nội dung của Thông tư 12 để loại bỏ những quy định không phù hợp với thực tế, đưa ra những quy định rõ ràng và thống nhất hơn, đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn quản lý CTNH. * Cụ thể hóa và sửa đổi một số quy định pháp luật cụ thể Để quá trình quản lý CTNH đạt hiệu quả cao, chúng ta cần sửa đổi một số quy định pháp luật cụ thể để chúng thuận lợi hơn cho quá trình áp dụng vào thực tế. Hiện nay, những quy định về quản lý CTNH tại mục 2 chương VIII của Luật Bảo vệ môi trường 2005 có hiệu lực pháp lý cao nhất. Tuy nhiên, để văn bản này phát huy được hiệu quả tối đa trong công tác quản lý CTNH, cần có những thay đổi theo hướng sau: Thứ nhất, cần quy định rõ tiêu chuẩn môi trường (nay là quy chuẩn kỹ thuật về môi trường) đối với CTNH sau khi được xử lý bằng phương pháp, công nghệ, thiết bị phù hợp với đặc tính hóa học, lý học và sinh học trong Khoản 1 Điều 73 và tiêu chuẩn môi trường đối với cơ sở xử lý CTNH tại Điểm e Khoản 1 Điều 74. Nếu chỉ dừng lại ở quy định trên, sẽ rất khó để xác định trường hợp nào đạt tiêu chuẩn môi trường và trường hợp nào chưa đạt. Cần phải có văn bản hướng dẫn quy định con số cụ thể về tiêu chuẩn môi trường. Điều đó sẽ giúp cơ quan quản lý Nhà nước về quản lý CTNH dễ dàng thực hiện việc kiểm tra điều kiện của các tổ chức, cá nhân tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý chất thải này. Việc quy định cụ thể về tiêu chuẩn môi trường còn giúp các cá nhân, tổ chức tham gia quản lý CTNH có một chuẩn mực để hướng đến trong quá trình xây dựng cơ sở xử lý cũng như trong việc áp dụng các phương pháp khác nhau để xử lý chúng. Thứ hai, cần có những quy định cụ thể về “khoảng cách an toàn” về môi trường của cơ sở xử lý CTNH (Điểm d Khoản 1 Điều 74) và của khu chôn lấp CTNH (Điểm a Khoản 1 Điều 75) đối với khu dân cư, khu bảo tồn thiên nhiên, nguồn nước mặt, nước dưới đất. “Khoảng cách an toàn” cần được quy định bằng những con số cụ thể, nếu không quy định rõ ràng về vấn đề này thì sẽ rất khó xác định trường hợp nào vi phạm, trường hợp nào không vi phạm. Thứ ba, cần phải sửa đổi một số quy định của Thông tư 12. Ví dụ, nên thay quy định về điều kiện hành nghề vận chuyển CTNH ở mục 1.2 phần II của Thông tư bằng quy định: Chủ thể đăng ký hành nghề vận chuyển phải có Bản cam kết bảo vệ môi trường đã được xác nhận hoặc Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt [29], hoặc nên có những tiêu chí cụ thể đối với phương tiện, thiết bị vận chuyển, xử lý và tiêu hủy CTNH… Thứ tư, các chế tài xử phạt hành chính và hình sự trong bảo vệ môi trường nói chung và quản lý CTNH nói riêng còn quá nhẹ. Mức phạt hành chính cao nhất mới chỉ dừng lại ở 70 triệu đồng không hề tương xứng với hậu quả của những hành vi vi phạm để lại cho môi trường và sức khỏe con người, cũng như không tương xứng với chi phí mà chủ thể vi phạm phải bỏ ra để xử lý CTNH. Bên cạnh đó, các chế tài hình sự cũng chưa thực sự thuyết phục bởi mức phạt trong từng khung chưa thể hiện rõ tính răn đe với chủ thể vi phạm. Do đó, cần phải xiết chặt hơn nữa vai trò của pháp luật thông qua việc nâng các chế tài xử phạt hành chính và chế tài hình sự lên mức cao hơn, đủ để các chủ thể vi phạm nhận thấy rằng họ đã phải trả giá cho chính hành vi vi phạm pháp luật của mình. Thứ năm, kinh doanh CTNH đang trở thành hiện tượng phổ biến trong các cơ sở phát sinh CTNH. Hành vi này đã và đang là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và làm tổn hại sức khỏe con người. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một quy định nào về chế tài đối với hành vi này. Đây chính là lỗ hổng của pháp luật quản lý CTNH. Do đó, cần phải có quy định pháp luật cụ thể về chế tài xử phạt đối với hành vi kinh doanh CTNH nói trên. Thứ sáu, cần chú trọng hơn đến các quy định pháp luật về thẩm quyền quản lý Nhà nước về CTNH. Theo đó, vai trò của Nhà nước sẽ được phát huy nhiều hơn, tránh tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn về thẩm quyền giữa các cơ quan. * Xác định rõ trình tự ưu tiên trong hoạt động quản lý CTNH Hiện nay trên thế giới đang tồn tại song song hai phương thức tiếp cận trong công tác quản lý CTNH, đó là phương thức: “Phòng ngừa” và “cuối đường ống”. Kinh nghiệm quốc tế đã cho thấy rằng, cách tiếp cận theo kiểu “cuối đường ống” nghĩa là thu gom, xử lý chất thải thải ra ở cuối quá trình sản xuất và tiêu dùng đã trở nên lạc hậu và không còn thích hợp bởi những lý do: không chủ động, ít hiệu quả và năng lực thu gom, xử lý chất thải không thể theo kịp với đà gia tăng chất thải ngày càng nhiều trong quá trình phát triển của sản xuất, tiêu dùng trong xã hội [18]. Với ưu điểm quản lý được chất thải trong suốt quá trình từ khi phát sinh đến lúc được chôn lấp, coi CTNH là một thành tố trong quản lý kinh tế thì phương pháp tiếp cận theo kiểu “phòng ngừa” đang được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng. Thực tế đã cho thấy việc giảm thiểu CTNH ngay từ nguồn thải là một phương pháp hiệu quả trong việc ngăn ngừa CTNH phát tán ra môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Đối với những chất thải không thể ngăn chặn từ nguồn thải thì chúng có thể được tái chế, tái sử dụng ở một mức độ nhất định. Việc tái chế, tái sử dụng sẽ giúp hạn chế sự thất thoát nguyên vật liệu trong sản xuất và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Tiếp theo những công đoạn trên, CTNH sẽ được xử lý bằng công nghệ tiên tiến và cuối cùng là đưa đi tiêu hủy. Ở Việt Nam, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao là sự gia tăng mạnh các CTNH. Do đó, cần quan tâm đến sự gia tăng này và đề ra các chính sách ngăn chặn, xử lý kịp thời. Bên cạnh việc áp dụng biện pháp xử lý chất thải theo kiểu “cuối đường ống”, cần quan tâm hơn đến cách tiếp cận tổng hợp trong việc quản lý CTNH, sử dụng triệt để phương pháp “phòng ngừa” ngay tại nguồn phát sinh. Cách tiếp cận này cũng bao gồm cả việc hướng đến một nền kinh tế thân môi trường dựa trên cơ sở công nghệ sạch và thói quen tiêu dùng “xanh”. * Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của cộng đồng trong việc thực hiện pháp luật quản lý CTNH. Không chỉ trong bảo vệ môi trường, hầu hết các lĩnh vực khác của đời sống xã hội đều rất cần vai trò to lớn của quần chúng nhân dân. Quan điểm: “Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn dân” của Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định chân lý đó. Mọi đường lối, quan điểm của Đảng đều nhằm mục đích bảo vệ và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để thực hiện các mục tiêu bảo vệ môi trường đã đề ra dưới các dạng khác nhau như: luật, văn bản dưới luật (Nghị định, Quyết định, Thông tư…). Tuy nhiên, những văn bản pháp luật này chỉ phát huy được hiệu quả khi nó được đông đảo quần chúng hiểu và thực hiện đầy đủ. Một vấn đề thực tế đang diễn ra mà chúng ta không thể không thừa nhận đó là nhận thức của đại đa số quần chúng về pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật quản lý CTNH nói riêng rất mơ hồ và không đầy đủ. Một mặt vì đa số người dân vẫn còn tư tưởng bảo vệ môi trường là trách nhiệm của Nhà nước chứ không phải trách nhiệm của mình. Mặt khác, những hành vi vi phạm pháp luật quản lý CTNH thường tác động một cách từ từ và không để lại hậu quả ngay nên họ không lường trước điều đó. Từ chỗ không hiểu hoặc hiểu không đúng đã dẫn đến việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy tắc xử sự mà pháp luật đề ra. Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng vi phạm pháp luật quản lý CTNH ngày càng gia tăng. Do đó, phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nội dung của pháp luật quản lý CTNH nhằm mục đích nâng cao nhận thức của người dân về tác hại của loại chất thải này đối với môi trường và đời sống cộng đồng, đặc biệt đối với người dân sống xung quanh vùng quy hoạch các công trình xử lý chất thải. Để đạt được điều đó, cần sử dụng triệt để các phương tiện thông tin đại chúng như: báo chí, truyền hình, băng rôn, khẩu hiệu… để đưa các thông tin về CTNH vào đời sống của quần chúng. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc tổ chức các cuộc hội thảo với đề tài CTNH, hoặc mở các khóa học đào tạo cơ bản về kiến thức phòng ngừa, xử lý CTNH trong phạm vi từng đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. * Đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý CTNH Xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường nói chung và quản lý CTNH nói riêng được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu để thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta trong thời gian vừa qua. Luật Bảo vệ môi trường (2005) lần đầu tiên đã cụ thể hóa một số chủ trương liên quan đến hoạt động xã hội hóa bảo vệ môi trường như: quy định về lấy ý kiến của nhân dân đối với báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đầu tư (Điều 20); quy định việc thông báo nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án cho cộng đồng dân cư biết để kiểm tra, giám sát việc thực hiện (Điều 23)… Xét riêng về lĩnh vực quản lý CTNH, để chuẩn bị cơ sở vật chất cho hoạt động này phải cần đến một lượng vốn rất lớn. Trong khi đó, nguồn vốn đầu tư vào quản lý CTNH hiện nay chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước. Điều này sẽ khiến nguồn tài chính quốc gia không thể trang trải hết cho những hoạt động kinh tế - xã hội khác của đất nước [14, tr. 22]. Có một số giải pháp về cơ chế vốn như: huy động vốn từ ngân sách địa phương đến Trung ương; từ nguồn đóng góp của các chủ thải có khối lượng CTNH sản sinh ra lớn; vốn đầu tư từ nguồn tài trợ nước ngoài thông qua các dự án; hoặc kết hợp tất cả các nguồn trên [18]. Do đó, cần đa dạng hóa, huy động các nguồn vốn đầu tư từ mọi cá nhân từ tổ chức trong nước và ngoài nước để giảm bớt phần nào gánh nặng của Nhà nước. Xuất phát từ những đòi hỏi trên, trong những năm qua, BTNMT đã tiến hành ký kết các Nghị quyết liên tịch về phối hợp hành động bảo vệ môi trường (bao gồm cả hoạt động quản lý CTNH) với các tổ chức, đoàn thể như: Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam… nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, các tổ chức đoàn thể để tăng cường xã hội hóa quản lý CTNH [14, tr. 23]. Dù chúng ta đã tích cực đẩy mạnh các phong trào, hoạt động để công tác quản lý CTNH trở thành trách nhiệm của mọi người, mọi nhà. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa thực sự thuyết phục. Xã hội hóa công tác quản lý CTNH không phải phong trào mang tính nhất thời, nó đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Vì vậy, cần tạo điều kiện đối xử công bằng, bình đẳng với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong việc tham gia quản lý CTNH. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước về CTNH để hoạt động xã hội hóa quản lý CTNH thực sự phát huy được hiệu quả, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn xã hội từ nhận thức sang hành động, thay đổi thói quen hàng ngày có hại cho môi trường bằng những hành vi thân thiện với môi trường hơn. Ngoài ra, thực hiện tốt công tác xã hội hóa quản lý CTNH còn tạo ra sự năng động trong quản lý CTNH, đề cao tính chủ động và tự lực của cộng đồng trong lĩnh vực trên. Cũng từ hoạt động này, cộng đồng sẽ phát hiện những vấn đề chưa hợp lý của pháp luật và phản ánh với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hệ thống pháp luật quản lý CTNH được hoàn chỉnh hơn. * Phát huy tối đa tính ưu việt của các công cụ kinh tế trong quản lý CTNH Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nói chung và quản lý CTNH nói riêng được áp dụng dựa trên các nguyên lý quản lý của nền kinh tế thị trường và được phổ biến rộng rãi trong những năm qua ở nhiều nước trên thế giới. Công cụ kinh tế có khả năng hỗ trợ đắc lực cho công cụ pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm, giảm bớt sức ép nặng nề cho các cơ quan cưỡng chế thi hành pháp luật [24, tr. 57]. Nhiều chuyên gia môi trường đã khẳng định: “mục đích của thương mại là lợi nhuận. Vì vậy, để đạt được mục đích này, họ tìm cách khai thác và sản xuất tối đa và không hề nghĩ đến điều là trong sản phẩm của họ ẩn chứa những chi phí về xã hội và môi trường” [15, tr. 79]. Công cụ kinh tế tạo ra các cơ chế kinh tế bắt buộc các nhà sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải tìm mọi cách để tiết kiệm tài nguyên, tăng cường sử dụng các loại nguyên – nhiên – vật liệu thân thiện với môi trường hơn, giảm thiểu chất thải tại nguồn, tái sử dụng một cách tối đa các loại chất thải được phát sinh. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý CTNH. Ngoài việc sử dụng thuế, phí, lệ phí, cần tăng cường áp dụng các công cụ kinh tế khác như: Lệ phí hành chính: Là phí phải trả cho các cơ quan Nhà nước vì những dịch vụ như: đăng ký hóa chất hoặc việc thực hiện và cưỡng chế thi hành các quy định về quản lý CTNH; Các khoản trợ cấp: Bao gồm các khoản tiền trợ cấp, các khoản vay lãi suất thấp, giảm mức thuế để khuyến khích những người gây ô nhiễm thay đổi hành vi hoặc giảm bớt chi phí trong việc giảm ô nhiễm; ưu tiên và khuyến khích đầu tư xây dựng hạ tầng, kỹ thuật cho thành phố và các khu công nghiệp, đặc biệt là hệ thống cấp thoát nước, xử lý CTNH; giảm thuế đối với các nhà máy lắp đặt thêm hoặc cải tiến thiết bị xử lý chất thải gây ô nhiễm môi trường; ưu tiên đầu tư cho các cơ quan đánh giá tác động môi trường cũng như ưu tiên cho công tác kiểm tra, kiểm soát môi trường để kịp thời cung cấp đầy đủ thông tin chính xác về môi trường cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền…); Giấy phép chuyển nhượng/bán lượng xả thải chất ô nhiễm: Trong hệ thống giấy phép có thể bán được, cơ quan có thẩm quyền quyết định một mức mục tiêu đối với chất lượng môi trường là mức xả thải cho phép hoặc tiêu chuẩn chất lượng môi trường xung quanh. Mức chất lượng môi trường này sau đó được thể hiện thành tổng lượng xả thải cho phép, sau đó được phân bổ quyền xả thải cho các cơ sở sản xuất dưới hình thức các giấy phép. Mỗi giấy phép cho phép chủ sở hữu được xả thải một lượng ô nhiễm nhất định. Giấy phép xả thải có thể được chuyển giao từ nguồn này sang nguồn khác. Hiện nay, Việt Nam chưa sử dụng công cụ này trên thực tế. Xét tính ưu việt của công cụ kinh tế này, trong tương lai chúng ta cần đưa công cụ trên áp dụng vào thực tiễn quản lý CTNH. * Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý CTNH Làn sóng toàn cầu hóa đã đặt ra cho các quốc gia yêu cầu cấp thiết là phải hợp tác, phối hợp cùng bảo vệ môi trường. Bất cứ một tác động lớn nào lên môi trường đều có nguy cơ gây ra các tác động vượt khỏi biên giới của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ và mong muốn khắc phục hay ngăn chặn tác hại của nó chỉ có thể dựa trên nỗ lực của các quốc gia trên toàn thế giới [25, tr. 456]. Quản lý CTNH là một lĩnh vực vô cùng phức tạp và khó giải quyết, ngay cả các nước công nghiệp phát triển cũng không dám coi nhẹ vấn đề này. Do đó, chúng ta cần tăng cường học hỏi kinh nghiệm quản lý CTNH mọi lúc, mọi nơi. Không chỉ dừng lại việc học hỏi kinh nghiệm trong phạm vi hẹp giữa các tỉnh thành trong cả nước, cần mở rộng phạm vi học hỏi ra toàn thế giới. “Toàn cầu hóa” đang trở thành vấn đề nóng bỏng ở mọi quốc gia, lãnh thổ. Bên cạnh những hạn chế do toàn cầu hóa mang lại, chúng ta không thể phủ nhận những lợi ích to lớn do xu thế này mang lại. Đặc biệt, trong hoàn cảnh Việt Nam vừa thiếu về tài chính, vừa yếu về kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý trong quản lý CTNH thì việc tham gia vào quá trình hợp tác quốc tế càng trở nên ý nghĩa. Các hoạt động đầu tư tài chính, trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ… giữa nước ta với các quốc gia trên thế giới sẽ giúp Việt Nam khắc phục được những yếu điểm trong lĩnh vực quản lý chất thải này. Hơn nữa, tích cực tham gia hợp tác quốc tế về quản lý CTNH tức là chúng ta đã khẳng định được ý thức của quốc gia mình đối với trách nhiệm chung của toàn nhân loại. Qua đó, cái nhìn của các quốc gia khác về Việt Nam cũng trở nên thân thiện hơn. Hiện nay, chúng ta đã tham gia vào một số Điều ước quốc tế về lĩnh vực quản lý CTNH như: Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn, Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển các chất nguy hại xuyên biên giới và việc loại bỏ chúng, Công ước Marpol về ngăn ngừa ô nhiễm gây ra bởi tàu thuyền, Công ước Stockhom về các chất gây ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy… Tháng 5/2001, các đại biểu từ 127 quốc gia trên thế giới đã chính thức chấp thuận Hiệp ước toàn cầu cấm “12 chất bẩn” (Dirty Dozen). Hiệp ước này sẽ có hiệu lực nếu có chữ ký của đại diện 50 quốc gia. Đến ngày 23/05/2001 đã có 90 quốc gia ký vào hiệp ước này [13]. Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, khi tham gia vào các Công ước quốc tế, Việt Nam có nghĩa vụ phải tuân thủ mọi cam kết đã thỏa thuận hoặc chấp nhận thông qua những hành động cụ thể như: Kiểm soát nghiêm ngặt quá trình vận chuyển và tiêu hủy CTNH giữa các quốc gia, giảm thiểu đi đến loại bỏ các chất gây ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy… Trong thời kỳ chưa gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, việc phê chuẩn các Công ước quốc tế sẽ là cơ sở quan trọng để Việt Nam có thể hội nhập vào kinh tế thế giới, đặc biệt trong việc hội nhập pháp luật môi trường Việt Nam với pháp luật quốc tế. Ngày nay, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của WTO, việc tham gia và tuân thủ các Công ước quốc tế về lĩnh vực này càng trở nên quan trọng hơn. Do đó, cần đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện các cam kết quốc tế đã tham gia và tích cực tham gia việc phê chuẩn những Công ước quốc tế mới quy định về vấn đề này. Ngoài việc đẩy mạnh thực hiện những giải pháp cơ bản trên, cũng cần chú trọng đến một số giải pháp khác như: ban hành hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật về môi trường (quy chuẩn kỹ thuật đối với thiết bị, phương tiện xử lý CTNH), tăng cường hệ thống thanh tra môi trường… Đặc biệt, trong lĩnh vực đầu tư, chúng ta phải buộc các nhà đầu tư phải có thiết kế dự án cụ thể, khả thi, đầu tư vào khâu bảo vệ môi trường thông qua báo cáo đánh giá tác động môi trường thì mới cấp phép cho họ triển khai xây dựng nhà máy. Cần phải có sự quản lý chặt chẽ ngay từ đầu đối với các dự án đầu tư trên, bởi nếu không được kiểm soát thì đây sẽ là một trong những nguồn sản sinh ra CTNH đáng kể ra môi trường. KẾT LUẬN Chất thải là một trong 10 vấn đề lớn về môi trường của nhân loại, nó có thể trở thành một thảm họa và cản trở lớn đối với sự phát triển bền vững ở các nước đang phát triển [16]. Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam cũng đang phải đối mặt từng ngày, từng giờ với thách thức lớn lao của nhân loại do CTNH mang lại. Việc giải quyết các vấn đề nhức nhối từ rác thải còn trở nên khó khăn hơn khi chúng ta đang chuyển mình từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Để hàn gắn vết thương chiến tranh, để đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, chúng ta phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đất nước. Nỗ lực đó đã được đền đáp thông qua sự tăng trưởng về kinh tế và đời sống của người dân được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta cũng phải đương đầu với nhiều vấn nạn từ CTNH. Là sản phẩm tất yếu của quá trình sản xuất và tiêu dùng xã hội nên việc giảm thiểu và loại bỏ CTNH là một vấn đề rất phức tạp. Hiện nay, CTNH đã và đang trở thành một trong những trở ngại lớn trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Vì vậy, cần phải đưa vấn đề quản lý CTNH trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Luật Bảo vệ môi trường (2005) cùng những văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra một khung pháp lý cho các chủ thể có liên quan đến quá trình quản lý CTNH. Tuy nhiên, khi đưa vào triển khai trên thực tế thì khung pháp luật này đã bộc lộ nhiều hạn chế. Do đó, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực pháp luật của hệ thống pháp luật quản lý CTNH là một mục tiêu quan trọng mà chúng ta phải hướng tới. Bởi, một khung pháp luật đồng bộ và hoàn thiện về CTNH sẽ là điều kiện tiên quyết giúp chúng ta thực hiện được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, đó là: Phát tiển kinh tế đất nước đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO * Văn bản pháp luật Bộ Luật Dân sự (2005). Bộ Luật Hình sự (1999). Luật Bảo vệ môi trường (2005). Luật Bảo vệ môi trường (1993). Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn. Quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999. Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 về việc ban hành danh mục CTNH. Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007. Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH. Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển các chất nguy hại xuyên biên giới và việc loại bỏ chúng. * Tài liệu chuyên môn Báo An ninh thế giới số 231 ngày 06/06/2001, Hiệp ước toàn cấu cấm 12 hóa chất độc hại cho môi trường. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Tạp chí tài nguyên và môi trường, chuyên đề bảo vệ môi trường. Bộ Thương mại – Viện nghiên cứu thương mại – Trung tâm tư vấn và đào tạo kinh tế thương mại (1998), Thương mại – Môi trường và Phát triển bền vững, NXB CT, Hà Nội. Dự báo thế kỷ XXI (1998), NXB Thống kê Hà Nội, Hà Nội. Hội bảo vệ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam (2004), Việt Nam môi trường và cuộc sống, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Kinh tế chất thải trong phát triển bền vững, Dự án kinh tế chất thải, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lê Huy Bá (chủ biên) (2006), Độc học môi trường, tập 2 phần chuyên đề, NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Lê Kim Nguyệt (2002), Một cơ chế phù hợp cho quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (11/2002). Nguyễn Đức Khiển (2003), Quản lý CTNH, NXB Xây dựng, Hà Nội. Nguyễn Văn Động (2002), Những vấn đề cơ bản của môn học chung lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Hà Nội. Nguyễn Văn Phương (2006), Một số vấn đề về khái niệm chất thải, Tạp chí Luật học số 10/2006. Trịnh Thị Thanh – Nguyễn Khắc Kinh (2005), Quản lý CTNH, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Môi trường, NXB Công an nhân dân, Hà Nội. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội. Tuyết Nhung (2007), Trung Quốc: Quy định chống rác thải điện tử, (15/04/2007). Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ, Kinh tế chất thải đô thị ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Vũ Thị Duyên Thủy (2008), Bàn về điều kiện hành nghề vận chuyển CTNH dưới góc độ pháp luật môi trường, Tạp chí Luật học số 04/2008. Trang web: Trang web: 32. Trang web: DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BTNMT: Bộ Tài nguyên và Môi trường. CTNH: Chất thải nguy hại. UBND: Ủy ban nhân dân. Quy chế: Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999. Thông tư 12: Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ban hành ngày 26/12/2006 hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................1 PHẦN NỘI DUNG ……………………………………………………….........3 CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM………………………..3 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM……………………………………………………......3 1.1.1. Khái niệm chất thải nguy hại…………………………………………..….3 1.1.2. Khái niệm quản lý chất thải nguy hại……………………………………..5 1.1.3. Khái niệm pháp luật quản lý chất thải nguy hại…………………...……...7 1.2. HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM………………………..9 1.3. ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI NGUY HẠI ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG………………………………………………….................14 1.3.1. Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với môi trường ………………….14 1.3.2. Ảnh hưởng của chất thải nguy hại đối với sức khỏe con người ………...16 1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI………………………………………………………………...17 CHƯƠNG II: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM……………………………….…………………..21 2.1. TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI……………………………………………….……………………...21 2.1.1. Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý chất thải nguy hại…….……21 2.1.2. Cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải và giấy phép quản lý chất thải nguy hại………………………………………………………23 2.1.3. Quy hoạch quản lý chất thải nguy hại …………………………………..29 2.1.4. Hệ thống cơ quan quản lý Nhà Nước về chất thải nguy hại ………….…29 2.2. TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI ……………………………………………..31 2.2.1. Trách nhiệm của chủ nguồn thải chất thải nguy hại …………………….31 2.2.2. Trách nhiệm của chủ vận chuyển chất thải nguy hại ……………………34 2.2.3. Trách nhiệm của chủ xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại ………………..36 2.3. XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI ……………………......................................37 CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐÌNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ………………………………………………...……...41 3.1. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM …………………………………………...……….….41 3.1.1. Những kết quả đã đạt được ……………………………………………...41 3.1.2. Những vấn đề tồn tại …………………………………………………....44 3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM ……………………………………………………….50 3.2.1. Cơ sở đề xuất giải pháp …………………………………………………50 3.2.2. Một số giải pháp cụ thể …………………………………………………51 PHẦN KẾT LUẬN …………………………………………………...………63 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam.doc