Phát triển du lịch sinh thái ở các tỉnh vùng duyên hải cực Nam Trung bộ đến năm 2020

Gắn với những nội dung thực trạng hoạt động, để làm căn cứ hoạch định chiến lược phát triển, các quan điểm phát triển cũng lần lượt được nêu, từ cấp vĩ mô toàn quốc, đến các chương trình hành động quốc gia về phát triển du lịch của các vùng- miền, các quan điểm của các tỉnh, còn có nghiên cứu phân tích các nhân tố có ảnh hưởng mạnh đến việc đề xuất giải pháp. Trong nội dung các giải pháp được chia thành 2 nhóm chính: nhóm giải pháp về sinh thái môi trường và nhân văn, nhóm giải pháp về các yếu tố phát triển. Trong từng nhóm giải pháp được chia thành các giải pháp thành phần có nội dung chi tiết và cụ thể. Để tạo hiệu quả đồng bộ trong thực hiện các giải pháp, một số kiến nghị với các cấp liên quan như với Chính phủ, với các tỉnh, với các doanh nghiệp, và với người dân và cộng đồng cũng được đưa ra.

pdf161 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 08/09/2014 | Lượt xem: 1410 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát triển du lịch sinh thái ở các tỉnh vùng duyên hải cực Nam Trung bộ đến năm 2020, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uyến khích phát triển các loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, yêu cầu các nhà đầu tư dịch vụ du lịch phải cam kết đạt tiêu chuẩn về môi trường, tổ chức thực hiện theo đúng các tiêu chuẩn về môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh, để đảm bảo môi trường du lịch đạt chất lượng. - Tập trung thực hiện chính sách giáo dục nâng cao ý thúc cho cộng đồng và cho cả du khách về DLST bền vững, làm thay đổi nhận thức của cộng động về vai trò quản lý bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở địa phương, góp phần đẩy mạnh phát triển DLST như là một hoạt động có thu để tái đầu tư. - Sử dụng các công cụ kinh tế, hành chính và tuyên truyền để kêu gọi tinh thần trách nhiệm của mọi người, của các tổ chức trong việc bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên DLST bản địa. Dùng biện pháp thu phí trên mỗi sản phẩm hoặc từng mỗi cá nhân tham gia trong hoạt động DLST. Có tác dụng tích cực, trước hết vừa mang tính giáo dục vừa gây quỹ cho việc bảo vệ và tôn tạo các nguồn tài nguyên DLST. Thông qua địa phương, các tổ chức doanh nghiệp du lịch nêu cao trách nhiệm bảo vệ môi trường bằng các biện pháp như tổ chức truyền thông chương trình giáo dục bảo vệ môi trường. Tổ chức tuần hành phát động phong trào làm sạch môi trường, vệ sinh bãi biển, tổ chức các đợt thu gom rác ở các bãi biển, trong các vũng, vịnh (nhất là tại VQG Núi Chúa và KBTTN Takou). Trong các dịp có sự kiện du lịch lớn nên tuyên truyền 139 vận động gắn trách nhiệm của du khách và cộng đồng đối với việc bảo vệ môi trường du lịch. 3.3.1.2 Giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên DLST nhân văn: * Mục tiêu: Thực hiện công tác trùng tu, bảo tồn các tài nguyên nhân văn của vùng hiện có, đây là những nguồn tài nguyên quý giá không có nơi nào có được, tổ chức khai thác trở thành những sản phẩm DLST độc đáo góp phần làm nên thương hiệu DLST nổi tiếng. * Nội dung thực hiện: - Lập kế hoạch tập trung đầu tư bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa. Đối với các tài nguyên nhân văn ở dạng vật thể hoặc phi vật thể cần có kế hoạch cụ thể theo phân kỳ và đồng bộ để xúc tiến việc khôi phục, trùng tu để đưa vào khai thác, đặc biệt đối với các di sản văn hóa Chăm như các di tích, đền tháp, miếu mạo cần nhanh chóng trung tu vì hầu hết đang xuống cấp nghiêm trọng (như cụm tháp Hòa Lai, tháp Pôtằm, tháp Pôrômé, tháp Phú Lạc...). Đối với di tích văn hóa lịch sử của người Việt, người Hoa như các đình làng, chùa Phật giáo cổ được Bộ VHTT-DL xếp hạng di tích, các miếu thờ-chùa chiền của người Hoa đang có tại Phan Rang và Phan Thiết như: chùa Quan Thánh, Chùa Ông,, miếu thờ Bà Thiên Hậu,..cũng cần được kiểm kê bảo tồn và đưa vào khai thác cho hoạt động du lịch. - Các lễ hội Chăm và lễ hội các dân tộc khác như tết Katé, Ramưwan, lễ mừng lúa mới, lễ cầu nước, lễ mừng được mùa, lễ cầu ngư,... cần được chấn chỉnh lại từ nội dung kịch bản đến các thành phần tham gia, đặc biệt phải lấy người dân bản địa, là nơi cộng đồng phát sinh-hình thành lễ hội phải là chủ thể tổ chức mới có điều kiện duy trì và phát triển bền vững. 3.3.2 Nhóm giải pháp phát triển 3.3.2.1 Giải pháp phát triển sản phẩm DLST * Mục tiêu: đánh giá lại chất lượng của sản phẩm DLST hiện có, trên cơ sở đó lập kế hoạch đầu tư phát triển sản phẩm DLST thành hệ thống, dựa trên thế mạnh nổi trội và đặc sắc về tài nguyên DLST ở mỗi địa phương. Trong đó tập trung ưu tiên phát triển các sản phẩm DLST biển – đảo trên các khu vực cù lao Câu, đảo Phú Quý, VQG Núi 140 Chúa. Tăng cường thu hút đầu tư từ các nguồn xã hội cho phát triển DLST nhằm hướng đến nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ. *Nội dung thực hiện: - Phát huy các thế mạnh vốn có của vùng, tạo dựng các liên kết trong phát triển sản phẩm, chú trọng phát triển các sản phẩm DLST mang tính đặc trưng và chất lượng cao. Trên cơ sở đó, hình thành các sản phẩm đặc trưng và phát triển có trọng tâm. Qua đó các sản phẩm DLST nổi trội cần được ưu tiên đầu tư phát triển thành các sản phẩm có thương hiệu vùng, quốc gia được du khách công nhận. Đặc biệt đẩy mạnh phát triển về sản phẩm DLST biển - đảo gắn với du lịch nghỉ dưỡng biển cao cấp ở các điểm DLST lớn như Mũi Né, Vĩnh Hy, Cà Ná-Vĩnh Hảo, Hòa Thắng và Thuận Quý-Tân Thành, Hàm Tân. Phát triển các sản phẩm DLST văn hóa-lịch sử với lễ hội, du lịch làng nghề, du lịch sinh thái nông nghiệp, Các sản phẩm DLST văn hóa như tham quan tìm hiểu văn hóa, lối sống địa phương, du lịch homestay để trải nghiệm với đời sống của cư dân bản địa,… - Trước mắt tập trung đầu tư các tuyến điểm DLST trọng điểm, mang tính đòn bẩy, dựa trên thế mạnh về tài nguyên của vùng như tuyến Ninh Chữ-Vĩnh Hy, Mũi Né – Hòa Thắng, Tiến Thành – Thuận Quý-Tân Thành- Hàm Tân, qua đó lập kế hoạch nâng cao chất lượng và tăng cường khả năng cạnh tranh trong DLST của vùng DHCNTB. - Trên cơ sở các nguồn tài nguyên DLST đã được xác định, xây dựng bản đồ tổng thể về các tuyến điểm DLST ở hai tỉnh, chú trọng tăng cường đầu tư phát triển sản phẩm DLST ở hai VQG, KBTB, phân vùng DLST theo lãnh thổ với ba trục DLST chính: trục1: VQG Phước Bình–VQG Núi Chúa ở Ninh Thuận; trục 2: KBTTN Núi Ông– KBTTN Núi Takóu; trục 3 KBTB Cù lao Câu – Đảo Phú Quý ở Bình Thuận tạo nên một sự đồng bộ và liên hoàn trong khai thác. Đồng thời tạo ra một tổ hợp đa dạng các loại hình sản phẩm DLST trong vùng DHCNTB mà nhiều nơi khác không thể có được. - Phát triển mạnh loại hình du lịch MICE. Gắn nội dung du lịch Mice với các loại DLST như khám phá thiên nhiên, thể thao biển, du lịch chữa bệnh-làm đẹp, du lịch bằng du thuyền … Liên kết các doanh nghiệp trong và ngoài vùng về du lịch để tạo nên những chuỗi khách sạn, nhà hàng, resort từ cấp trung bình đến cấp cao. Bên cạnh 141 đó liên kết các hãng dịch vụ vận tải như hàng không, tàu biển, đường bộ để có khả năng đáp ứng nhiều lượng khách đến cùng một lúc. Tăng cường quảng bá, tiếp thị sản phẩm đến các thị trường trọng điểm và tiềm năng như Nga, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đức,…và kể cả thị trường trong nước như TPHCM, Đồng Nai, Tây Nam bộ,.. * Điều kiện thực hiện giải pháp: - Các tỉnh, các địa phương cần soát xét thực trạng về hệ thống các sản phẩm DLST hiện có, cần vận dụng các chính sách, kết hợp tổ chức điều phối từ các cơ quan quản lý cấp tỉnh đến các địa phương, các doanh nghiệp, các cộng đồng tham gia để hình thành rõ nét các sản phẩm DLST phù hợp với thị trường, với lợi thế tài nguyên du lịch để tránh sự trùng lắp, nhàm chán. - Trong đầu tư phát triển sản phẩm DLST cần tập trung theo thứ tự ưu tiên phát triển các loại hình DLST có thế mạnh của vùng DHCNTB như: DLST biển - đảo, DLST tại các VQG, khu BTTN, DLST khám phá các vùng thiên nhiên hoang dã, DLST thăm các vườn cây nông nghiệp, DLST văn hóa lễ hội-làng nghề, DLST văn hóa tâm linh,… - UBND, Sở Văn hóa TT và Du lịch ở hai Tỉnh cần ban hành các tiêu chuẩn doanh nghiệp hoặc dịch vụ thân thiện với môi trường, các sản phẩm “du lịch xanh”, có chính sách quy định về đăng ký niêm yết giá cả dịch vụ và vệ sinh an toàn thực phẩm. - Các doanh nghiệp lữ hành du lịch, các công ty, các đơn vị cung ứng dịch vụ cho du lịch cần đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, để mang lại hiệu quả trong hoạt động. Đặc biệt chú trọng đến sự hợp tác với các doanh nghiệp du lịch từ TPHCM trong các công đoạn đưa đón khách, cung cấp dịch vụ ăn nghỉ,… 3.3.2.2 Giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ DLST: * Mục tiêu: nhằm đảm bảo các điều kiện hạ tầng kỹ thuật để phát triển DLST, tạo lập năng lực cơ bản để đáp ứng yêu cầu phục vụ cho các mục tiêu phát triển về DLST của toàn vùng DHCNTB, cụ thể hóa bằng việc đầu tư phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động DLST, đảm bảo chất lượng, tiện nghi, cao cấp, hiện đại, đồng bộ đáp ứng được nhu cầu của du khách. * Nội dung thực hiện: 142 - Chú trọng xây dựng và thực hiện đồng bộ việc phát triển các ngành liên quan như: giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc ở các địa bàn xa xôi và giàu tài nguyên DLST. Cụ thể ở Ninh Thuận cần ưu tiên chú trọng đến khu vực Ninh Sơn nối với VQG Phước Bình; Ninh Hải-Thuận Nam nối với VQG Núi Chúa và tuyến Phan Rang –Ninh Phước về phía Phước Hà –Nhị Hà. Ở Bình Thuận cần ưu tiên cho tuyến nối Hàm Tân với KBTTN Núi Ông và Đức Linh, Phan Thiết với Đa Mi – Hàm Thuận – Lâm Đồng; Phan Thiết – Đại Ninh – Bảo Lộc, Phan Thiết – đèo Gia Bát- Di Linh. - Đảm bảo xây dựng hoàn chỉnh tuyến quốc lộ 55 du lịch ven biển nối KBTTN Bình Châu-Phước Bữu với KBTTN Núi TaKou với KBT biển cù lao Câu và kéo đến VQG Núi Chúa. Bên cạnh đó từng bước hình thành hệ thống cảng biển Kê Gà, Hòn Rơm, Vĩnh Hảo và Ninh Chữ để tạo điều kiện đón các tour du thuyển cao cấp. - Tập trung cải tạo nâng cấp các cơ sở vật chất hạ tẩng, đặc biệt là các phương tiện giao thông bộ, xe lửa, đường thủy và có tính đến đầu tư cả sân bay, cảng du lịch biển để đón khách DLST ở phân khúc khách có thu nhập cao (Chính phủ đã đồng ý chủ trương cho xây dựng sân bay tại Thiện Nghiệp với hình thức BOT- đang trong giai đoạn khảo sát thiết kế- dự kiến xây dựng năm 2014-2016). - Nâng cấp các cơ sở kỹ thuật như phương tiện thông tin liên lạc viễn thông đạt tiêu chuẩn quốc tế, các hệ thống điện, nước sinh hoạt ở các vùng xa, VQG Phước Bình, KBTTN Núi Ông, đảo Phú Quý để giúp nâng cao chất lượng phục vụ khách DLST. - Khuyến khích đầu tư, nâng cấp các cơ sở lưu trú sinh thái (Ecolodge), nhà nghỉ dã chiến-thiên nhiên ở các vùng là điểm đến DLST (VQG, KBTTN, KBTB, vùng cảnh quan thiên nhiên hoang dã…), các cơ sở dịch vụ mua sắm, ăn uống phục vụ tại các điểm DLST. Đầu tư nâng cấp phát triển hạ tầng xã hội về văn hóa, y tế, giáo dục, đủ điều kiện tiện nghi để có thể tham gia phục vụ khách du lịch. - Phát triển các loại hình cơ sở lưu trú du lịch gần gủi với thiên nhiên, thân thiện với môi trường dọc theo tuyến bờ biển từ Hàm Tân đến Vĩnh Hy để đáp ứng nhu cầu của khách DLST. Tập trung phát triển các loại hình khách sạn trung bình, mini và các nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn du lịch. 143 - Hoàn thiện hệ thống cơ sở, tiện nghi phục vụ hội nghị, hội thảo, thể thao biển, khu giải trí tại những địa bàn là tuyến điểm DLST trọng điểm để thu hút lượng du khách đến với nhiều mục đích (du lịch Mice kết hợp với DLST) 3.3.2.3 Giải pháp về đào tạo phát triển nguồn nhân lực DL-DLST: * Mục tiêu giải pháp: đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có, chuẩn bị một lực lượng lao động có trình độ tri thức cao ngang tầm với nhiệm vụ và phù hợp với nền kinh tế tri thức, làm nòng cốt cho hoạt động phát triển ngành du lịch và DLST của vùng DHCNTB trong các giai đoạn sắp tới. * Nội dung thực hiện: - Xây dựng các chương trình đào tạo nhân lực bao gồm đào tạo mới và đào tạo lại cho nguồn nhân lực hiện có. Coi trọng việc đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý trực tiếp tham gia hoạt động DLST tại các VQG, các khu BTTN, các nhà doanh nghiệp, các đội ngũ nhân việc làm các dịch vụ để có thể phối hợp hoạt động DLST có hiệu quả, đảm bảo đạt tỷ lệ 60-75% lao động được đào tạo chuyên sâu về du lịch. Song song với đào tạo cần nhanh chóng xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn, trình độ tối thiểu về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ, những người lao động khác trong lĩnh vực du lịch. - Nội dung DLST còn là một lĩnh vực hết sức mới đối với hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận nên đội ngũ các nhà quản lý, kinh doanh và lao động trực tiếp còn thiếu cả về lý luận lẫn thực tiễn, do đó cần xây dựng các chương trình đào tạo cụ thể, có hệ thống và phù hợp theo yêu cầu của DLST là hết sức cần thiết. Tiến đến việc thống nhất nội dung giảng dạy về du lịch, sớm đưa nội dung DLST cho các cấp học du lịch, đào tạo theo hướng chuyên môn hóa, kết hợp lý thuyết với thực hành, để đảm bảo chất lượng đào tạo có thể theo kịp với trình độ của các nước trong khu vực. Riêng về DLST cần xây dựng chương trình đào tạo một cách bài bản hơn, chú trọng bổ sung kiến thức sinh thái bền vững trong du lịch cho hướng dẫn viên. - Tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ thông qua các chuyến công tác, khảo sát, tham gia hội nghị, các hội thảo khoa học của các nước có ngành du lịch phát triển. Khuyến khích các đơn vị, các doanh nghiệp nghiên cứu ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ trong việc quản lý kinh doanh và phát triển DLST. 144 - Bổ sung hoặc mở rộng các cơ sở đào tạo hiện có về nghiệp vụ du lịch ở các trường Cao đẳng Cộng đồng, Cao đẳng nghề Ninh Thuận và Bình Thuận, trường Đại học Phan Thiết, các trường Trung cấp nghề hiện có, phát triển nhiều mô hình đào tạo DL- DLST đa dạng khác. Đặc biệt cần chú ý đến việc đào tạo những người dân tại chỗ có năng lực để họ có thể trở thành những hướng dẫn viên ngay tại điạ phương mình, nhằm đáp ứng như cầu ngày càng cao của ngành du lịch ở hai tỉnh thuộc vùng. * Điều kiện thực hiện: + Đào tạo nguồn nhân lực chung: - Bên cạnh nguồn kinh phí của nhà nước về bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực du lịch, Bình Thuận và Ninh Thuận cũng cần chủ động dành một nguồn kinh phí thích đáng của địa phương để đầu tư cho việc đào tạo nhân lực, nghiên cứu các đề tài khoa học ứng dụng trong lĩnh vực DLST ở tuyến cơ sở… - Thực sự tạo ra một sự thay đổi về chất trong giáo dục đào tạo nguồn nhân lực về du lịch, thông qua việc mạnh dạn tiếp cận các công nghệ hiện đại, các quy trình quản lý tiên tiến về du lịch và DLST để áp dụng vào các chương trình giảng dạy trong chuyên ngành du lịch. - Ban hành các quy chế, chính sách linh hoạt đãi ngộ thích đáng để thu hút các nhà quản lý giỏi, các nhà khoa học và giáo dục có kinh nghiệm và tâm huyết để đưa ra những sáng kiến có giá trị, những công trình nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng thực tiễn cao nhằm tạo ra những đột phá trong phát triển du lịch và DLST của vùng. + Thực hiện giáo dục và trang bị kỹ năng phát triển DLST cộng đồng: - Thực hiện xã hội hóa du lịch và DLST, nâng cao nhận thức của người dân về ý nghĩa của phát triển DLST đối với phát triển bền vững tự nhiên và môi trường, thông qua những chương trình giáo dục truyền thông đại chúng, tổ chức các sự kiện kết hợp quảng bá và tuyên truyền các nội dung DLST cho người dân và du khách. - Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia trùng tu và bảo tồn các di sản văn hóa lịch sử tại địa phương, phát triển các làng nghề, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống như các lễ hội, các trò chơi dân gian. Bên cạnh đó cần khuyến khích, tận dụng các kinh nghiệm thực tiễn và các nguồn tri thức quý báu của cư dân địa phương trong 145 việc đề ra những giải pháp bảo vệ các nguồn tài nguyên DLST, các giải pháp quy hoạch phát triển hoạt động DLST nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và các lợi ích của cộng đồng. - Kết hợp các chương trình phát triển DLST cộng đồng với các chương trình xóa đói giảm nghèo ớ các vùng sâu vùng xa, để gắn trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng trong phát triển DLST. - Liên kết với các tổ chức quốc tế, các viện, các trường đại học, các công ty du lịch lữ hành tổ chức các khóa huấn luyện cho người dân địa phương về kỹ năng thực hành bảo vệ môi trường, kiến thức DLST, về thực hành DLST, diển giải thuyết minh DLST. Đặc biệt chú trọng nội dung chuyển giao kinh nghiệm thực tiễn từ các mô hình đã áp dụng thành công ở trong và ngoài nước về du lịch sinh thái cộng đồng. - Các doanh nghiệp lữ hành du lịch, các hãng cung ứng dịch vụ cần nghiên cứu khảo sát những điều kiện và tiềm năng của địa phương để thảo luận và hỗ trợ xây dựng các làng nghề, các sản phẩm du lịch truyền thống đặc thù của mỗi địa phương nhằm làm phong phú hơn các sản phẩm du lịch hiện có để đáp ứng yêu cầu của du khách. - Nghiên cứu khả năng tham gia và những yêu cầu về đào tạo của người dân địa phương, thông qua các điều kiện hoạt động hiện có như: các nguồn tài nguyên DL, đặc điểm sản xuất nông nghiệp, các làng nghề truyền thống, các cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ tại chỗ có thể khai thác cho hoạt động DLST. Trên cơ sở phát huy các lợi thế về nguồn lực này cùng với sự tham gia trực tiếp của người dân địa phương để lập kế hoạch đào tạo kỹ năng tham gia khai thác dịch vụ phát triển DLST cộng đồng. 3.3.2.4 Giải pháp xúc tiến quảng bá hoạt động DLST: * Mục tiêu: Giới thiệu và cung cấp thông tin cho các thị trường khách DLST trong và ngoài nước để thu hút ngày càng nhiều khách DLST biết đến và tới vùng DHCNTB. Đồng thời đưa hoạt động DLST sớm hội nhập một cách thật sự, sâu rộng và hiệu quả, có tính cạnh tranh cao vào các thị trường DLST các nước trong khu vực và thế giới. * Nội dung thực hiện: - Nghiên cứu triển khai việc xúc tiến quảng bá DLST một cách bài bản, chuyên nghiệp, các kế hoạch và chiến dịch cụ thể cần được xác định thông qua các nghiên cứu 146 thị trường. Nội dung xúc tiến quảng bá tập trung vào các điểm đến DLST, các tour DLST nổi tiếng, các sản phẩm và thương hiệu du lịch theo từng thị trường mục tiêu. - Chiến lược xúc tiến quảng bá phải được thực hiện một cách đồng bộ thông qua sự phối hợp giữa hai tỉnh trên quy mô lớn, liên tục đồng thời đặt trọng tâm vào việc củng cố xây dựng thương hiệu du lịch của vùng, cụ thể như Mũi Né-Phan Thiết, Ninh Chữ - Vĩnh Hy, Vĩnh Hảo-Cù lao Câu, đảo Phú Quý…lấy chiến lược phát triển sản phẩm làm nội dung xây dựng kế hoạch xúc tiến quảng bá cho du lịch. Thông qua hoạt động xúc tiến quảng bá cần tạo dựng hình ảnh nổi bật những giá trị quan trọng nhất của tài nguyên và DLST vùng DHCNTB. - Tổ chức hoạt động xúc tiến quảng bá cần huy động các nguồn lực xã hội, và tổ chức thực hiện theo cách liên kết, phát huy mối hợp tác và liên kết giữa các thành phần như nhà nước, tư nhân, từ các cấp quản lý cấp cao đến các hiệp hội du lịch, các doanh nghiệp, các cộng đồng cư dân sở tại… - Dưới sự chủ trì của ngành VHTT-DL của hai tỉnh, kết hợp với các doanh nghiệp du lịch lữ hành, tăng cường xúc tiến quảng bá trong nước và quốc tế, tổ chức tuyên truyền quảng bá theo một kịch bản thống nhất, khoa học, thường xuyên và có sự bổ trợ lẫn nhau giữa các tỉnh để tạo nên thương hiệu về điểm đến mới DLST cuả vùng và tỉnh. - Tổ chức các hội chợ, triển lãm chuyên đề về DLST của vùng DHCNTB hằng năm gắn với các dịp lễ hội tại 2 trung tâm Phan Rang, Phan Thiết và một số trung tâm du lịch khác như: TPHCM, Nha Trang, Cần Thơ, Đà Lạt, Đà Nẵng, Huế, Hà Nội,…để cung cấp thường xuyên và kịp thời đến du khách các thông tin về sản phẩm DLST mới và các chương trình liên kết du lịch mà du khách quan tâm. Đồng thời chuẩn bị các nội dung súc tích, đặc trưng để tham gia các hội chợ du lịch trong nước và quốc tế. - Định kỳ tổ chức các sự kiện du lịch vùng DHCNTB ở tại hai địa phương Ninh Thuận và Bình Thuận với quy mô lễ hội quốc gia, tạo thành các sản phẩm độc đáo cho DLST Bình Thuận và Ninh Thuận mà những nơi khác không có được, đáp ứng nhu cầu của du khách với nội dung chất lượng ngày càng cao.. - Tạo điều kiện để các đoàn FAMTRIP cho các nhà báo, các hãng du lịch lữ hành, các doanh nghiệp liên quan đến khảo sát, làm quen tiếp cận với các tuyến điểm du lịch và 147 DLST của Ninh Thuận và Bình Thuận. Đây là một hình thức quảng bá rất hiệu quả mà các nước thường áp dụng. * Điều kiện để thực hiện: Về mặt chính sách hổ trợ và các biện pháp khoa học kỹ thuật cần thực hiện các nội dung chính như sau: - Nhanh chóng áp dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, phải xem đây là công cụ quảng bá, xúc tiến quảng cáo đến mọi khách hàng nhanh chóng và hữu hiệu nhất. Bên cạnh đó phải thường xuyên theo dõi và cập nhật các diễn biến về tình hình biến động kinh tế và kinh tế du lịch của thế giới để kịp thời điều chỉnh và hoạch định kế hoạch xúc tiến quảng bá cho phù hợp để thu hút ngày càng nhiều du khách. - Ngoài nguồn kinh phí của ngành dùng để chi cho hoạt động quảng bá chung. Ở mỗi Tỉnh cũng cần chủ động dành một phần kinh phí thích đáng đầu tư cho việc xúc tiến và quảng bá về du lịch của địa phương mình, trong đó cần lưu ý về việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin dưới dạng thương mại điện tử (E-Commerce) như là một nội dung quan trọng vào chưong trình hoạt động kinh doanh của các đơn vị trên địa bàn hai tỉnh - Cần có chính sách ưu đãi thu hút, kêu gọi mọi thành phần trong và ngoài nước cùng tham gia vào hoạt động phát triển DLST, có chính sách khuyến khích các cá nhân đơn vị đóng góp để tạo ra những sản phẩm DLST độc đáo, mới lạ, đặc biệt là những sản phẩm thân thiện với môi trường, những sản phẩm DL sạch và xanh,… - Kiến nghị với chính phủ về việc nới rộng thủ tục cấp visa du lịch cho các nước châu Âu, đặc biệt là các nước thuộc Đông Âu, SNG,… để mở rộng nguồn khách. - Trên cơ sở củng cố mở rộng trang WEB du lịch hiện có của hai tỉnh theo hướng giới thiệu những chuyên đề đa dạng và chuyên sâu hơn về DLST, đặc biệt đầu tư mạnh để quảng bá nội dung di sản văn hóa Chăm Pa sâu rộng hơn, chi tiết hơn, kèm theo các chương trình, lịch trình tổ chức các sự kiện văn hóa này ở mỗi địa bàn cụ thể. Đồng thời trên trang WEB của mỗi điạ phương phải thiết kế phần diễn đàn thảo luận tham khảo ý kiến chia sẻ của khách hàng, đây là nguồn thông tin bổ ích giúp cho ngành du 148 lịch các tỉnh có điểu kiện bổ khuyết để hoàn thiện sản phẩm nhằm không ngừng nâng cao chất lượng và tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch của các địa phương. 3.3.2.5 Giải pháp đẩy mạnh phát triển thị trƣờng và xây dựng thƣơng hiệu DLST: * Mục tiêu: phối hợp với công tác quảng bá tiếp thị du lịch, đẩy mạnh phát triển thị trường. Nghiên cứu thị trường khách đến trong và ngoài nước, thu hút khách theo các phân khúc thị trường: mục đích đến, khả năng chi trả, ưu tiên nhắm đến phân khúc khách DLST có mục đích du lịch thuần túy, lưu trú dài ngày và mức chi trả cao, tiến tới xây dựng thương hiệu DLST của vùng DHCNTB thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. * Nội dung thực hiện: Để đạt được mục tiêu cần triển khai theo các nội dung chính như sau: - Đối với thị trường khách DLST quốc tế, chú trọng phát triển thị trường xa có khả năng chi trả cao như Nga, Ucraina, Úc, Nhật Bản, Đức, Mỹ,…và các thị trường gần như Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia,.. cần xác định chiến lược cụ thể cho các loại khách DLST theo từng nhóm nước, trong đó chú trong đến đặc biệt tập trung vào khách nghỉ dưỡng giải trí kết hợp DLST biển - đảo, khám phá. -Đối với thị trường khách DLST nội địa chú trọng đến phân khúc thị trường khách DL nội địa cao cấp đang hình thành khá rõ nét từ các địa bàn TPHCM, miền Đông Nam bộ, và Hà Nội. Ngoài ra để phát huy lợi thế về du lịch biển sẳn có, cần đẩy mạnh phát triển đối tượng khách DLST nội địa theo loại hình nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần kết hợp với DLST khám phá thiên nhiên và thể thao biển. - Mở rộng hợp tác với các nước Asean: thuận lợi lớn là đã ký kết với hầu hết các nước thuộc khối Asean về các hiệp định hợp tác trên lĩnh vực du lịch, do đó tạo điều kiện để xúc tiến các chương trình liên kết du lịch và DLST trong việc đưa đón khách thông qua việc nối tuyến, thiết kế tuyến mới về DLST giữa các nước Asean. Trong đó vùng DHCNTB với thế mạnh về du lịch biển - đảo, Đồi cát bán hoang mạc, du lịch tới các vùng thiên nhiên hoang dã, các VQG, KBTTN, sẽ góp phần làm nổi bật tính hấp dẫn của các tour DLST đến Việt nam nói chung và vùng DHCNTB nói riêng. 149 - Đối với thị trường nội địa: cần có chính sách khuyến khích tạo mọi thuận lợi để người dân tham gia vào hoạt động DLST như trợ giá cho các tuyến xe bus, các chuyến tàu thuyền đến các VQG, KBTTN, KBT biển, giảm các loại phí hoặc có những chính sách cho vay lãi suất thấp hoặc cho vay trả chậm nhưng không tính lãi trong một thời hạn nhất định để khuyến khích người dân tiêu dùng trong du lịch,… 3.3.2.6 Giải pháp về đầu tƣ và cơ chế chính sách phát triển DLST * Mục tiêu: tạo một hành lang thông thoáng về chính sách để thu hút các nguồn vốn từ xã hội để thực hiện chương trình đầu tư cở sở hạ tầng dịch vụ để phát triển DLST * Nội dung thực hiện: + Tạo môi trƣờng thông thoáng hấp dẫn các nhà đầu tƣ: - Trước tiên cần đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản du lịch bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, ưu tiên tập trung hỗ trợ đầu tư tại các địa bàn có tiềm năng phát triển thành các khu DLST lớn, các VQG, KBTTN để tạo môi trường thuận lợi thu hút các nhà đầu tư tiếp tục vươn tới khai thác các vùng sâu, vùng xa giàu tiềm năng DLST như VQG Phước Bình, VQG Núi Chúa, KBTTN Núi Ông, KBT biển đảo Phú Quý. - Ngoài các chính sách ưu đãi đầu tư được ghi theo luật định (Nghị định 108/2006/NĐ- CP). Các tỉnh cần có chính sách ưu đãi linh hoạt hơn như miễn tiền thuê đất, miễn hoặc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian ban đầu, giảm thuế đối với việc khai thác tài nguyên ở địa phương để phục vụ xây dựng khu du lịch như: khai thác vật liệu xây dựng, khai thác rừng, khai thác nước, mặt nước, kinh doanh khai thác các làng nghề, các sự kiện văn hóa thể thao,… - Thực hiện chính sách khuyến khích miễn thuế nhập khẩu thiết bị, vật tư, phương tiện máy móc, xe dùng để đầu tư trang bị cho các khu DLST mới, đẩy mạnh chính sách ưu đãi xuất khẩu tại chỗ, tạo thuận lợi trong việc thanh toán, chuyển lợi nhuận bằng ngoại tệ trong hoạt động du lịch đối với các doanh nghiệp có vốn trong và ngoài nước. + Tập trung huy động các nguồn vốn xã hội vào đầu tƣ phát triển DLST: 150 - Khuyến khích, kêu gọi các thành phần kinh tế, mọi người dân tham gia đầu tư, đóng góp vào các chương trình, dự án DLST ở địa phương xem như là phần đóng góp trách nhiệm đối với cộng đồng. - Tăng cường các nguồn vốn ngân sách, vốn vay, tranh thủ các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế khác vào việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển tài nguyên DLST cụ thể như: bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước, không khí, và để duy trì và phát triển các dạng tài nguyên thiên nhiên quý hiếm hiện có (động và thực vật quý hiếm, HST đặc trưng, đa dạng sinh học,..) - Cần có chính sách thích hợp để giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm và vai trò của người dân tại địa phương và khách du lịch trong việc bảo tồn và phát triển các tài ngưyên DLST cả về thiên nhiên lẫn nhân văn. Bên cạnh đó cần có biện pháp thu phí với mức hợp lý đối với các cá nhân hoặc đơn vị kinh doanh lữ hành du lịch nhằm gây quỹ bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử văn hóa trong vùng. 3.3.2.7 Giải pháp về mở rộng hội nhập quốc tế một cách toàn diện: * Mục tiêu: hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu rộng sẽ giúp khai thác các mối quan hệ kinh tế, giúp mang lại nhiều lợi ích như: tranh thủ được công nghệ tiên tiến về kỹ thuật và quản lý dịch vụ du lịch, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư trong lĩnh vực du lịch từ đó tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước khác. * Nội dung thực hiện: - Củng cố và mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế hiện có như tập đoàn du lịch Thái Lan, Kazakstan, Hàn Quốc, Indonesia, Malaysia, Singapore, Nga,…Liên kết hình thành các khu du lịch và DLST với các nước láng giềng trên trục hành lang Đông Tây, hoặc xuyên Á như: Thái Lan, Lào, Campuchia,..ký kết các hợp đồng đầu tư, hợp tác về chuyển giao công nghệ, đào tạo để thúc đẩy phát triển ngành DLST phát triển.. - Các hiệp hội du lịch, các đơn vị quản lý và cả các doanh nghiệp lữ hành lớn cần tăng cường gia nhập thành viên với các tổ chức DLST và thiên nhiên quốc tế và các nước như TIES, các tiểu ban của UNWTO, WWF, Ecotours Aus,… để có điều kiện tiếp cận học tập kinh nghiệm từ các mô hình quản lý và ứng dụng tiên tiến của các nước trên thế giới về DLST. 151 - Ký kết các hợp đồng liên kết hợp tác đưa đón khách giữa các công ty, tập đoàn du lịch của các nước, liên kết, hỗ trợ các chương trình xúc tiến quảng bá du lịch với các công ty du lịch quốc tế. - Thông qua các mối quan hệ hợp tác du lịch quốc tế trên tầm vĩ mô cũng như vi mô, cần tăng cường việc cập nhật thông tin, điều tra, xử lý những thông tin về tình hình du lịch, DLST trên thế giới cũng như cập nhật kịp thời đầy đủ từ các thị trường khách đến, các nhu cầu mở rộng hợp tác về DLST đối với các nước trên thế giới. * Yêu cầu thực hiện: - Việc hội nhập cần được tăng cường và chủ động thực hiện trong việc lựa chọn các đối tác, các tổ chức thích hợp và thời điểm ký kết. - Lập kế hoạch đào tạo bổ sung nguồn nhân lực, đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ người làm quản lý và kinh doanh hiểu biết sâu về luật pháp quốc tế, ngoại ngữ và nghiệp vụ chuyên môn về du lịch, nắm bắt nhanh những chuyển biến trên thị trường quốc tế để có hành động ứng xử linh hoạt, kịp thời và đề ra các kế hoạch khai thác theo các hiệp định hợp tác đã ký với đối tác nước ngoài. 3.3.2.8 Giải pháp tăng cƣờng tổ chức quản lý về các hoạt động DLST: *Mục tiêu: giúp tăng cường năng lực quản lý nhà nước cấp tỉnh, cấp vùng về du lịch, tổ chức phát triển và quản lý các hoạt động về DLST một cách đồng bộ, đạt hiệu quả cao và theo định hướng quy hoạch chung của vùng và của cả nước. *Nội dung thực hiện: + Quy hoạch phát triển DLST: - Lập quy hoạch đầu tư phát triển DLST hướng đến mục tiêu hàng đầu nhằm khai thác tối ưu nguồn lực về tài nguyên DLST: các giá trị tài nguyên du lịch rừng-biển, cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học, các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể đặc biệt là văn hóa truyền thống cho phát triển DLST. - Trên cơ sở các nội dung định hướng quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2020 và tầm nhì đến 2030 của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận cần tiến hành lập kế hoạch thực hiện chi tiết về các khu vực DLST trọng điểm, đầu tư theo một phân kỳ hợp lý và cụ thể. Đối với nội dung mở rộng DLST văn hóa cần ưu tiên xét chọn các dự án đầu tư 152 cơ sở hạ tầng, nâng cấp phục hồi, trùng tu các di tích lịch sử, các di sản văn hóa cho các vùng văn hóa Chăm, các vùng dân tộc Ragley, K’Ho và các tài nguyên nhân văn có giá trị khác. - Cần xét ưu tiên lựa chọn các dự án DLST đã được quy hoạch hoàn chỉnh hoặc cơ bản, ở Ninh Thuận: dự án phát triển DLST VQG Núi Chúa - Vĩnh Hy, ở Bình Thuận: dự án phát triển DLST KBTTN Núi Ông-Thác Bà; dự án phát triển DLST KBTTN Takou; dự án phát triển DLST khu bảo tồn biển cù lao Câu. Bốn dự án trên được xem là mấu chốt làm điểm nhấn cho phát triển DLST của vùng trong các năm sắp tới. - Trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch, cần phải tổ chức phân công, xác định trách nhiệm hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thẩm định các dự án khả thi, trong đó cần nêu rõ tiến độ thực hiện, cơ chế quản lý và chính sách hỗ trợ đầu tư. Sau khi thẩm định cần công bố rộng rãi các nội dung quy hoạch phát triển du lịch đã được phê duyệt, tạo điều kiện xã hội hóa du lịch ngay từ giai đoạn quy hoạch. - Trong quản lý xây dựng, để hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường khu vực cần xây dựng và ban hành hệ thống các tiêu chuẩn về mật độ, chiều cao xây dựng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường dành cho các dự án đầu tư trong quá trình cấp phép cũng như quá trình xây dựng và hoạt động của dự án. Đặc biệt chú trọng đến các dự án khu vực ven biển Ninh Chữ-Vĩnh Hy, khu vực Mũi Né- Hòa Thắng và ở các vùng sinh thái nhạy cảm khác. +Tăng cƣờng đổi mới để hoàn thiện bộ máy quản lý du lịch: - Xây dựng và tăng năng lực hoạt động của các bộ phận quản lý du lịch thuộc sở VHTT và DL ở hai tỉnh cho ngang tầm với yêu cầu hoạt động (có thể hình thành bộ phận quản lý phát triển DLST). Riêng các Hiệp hội du lịch hai tỉnh cần nâng cao năng lực quản lý bao gồm tăng cường nhân sự, tổ chức bộ máy, tạo nguồn tài chính, xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động thống nhất cụ thể và mang tính độc lập để cơ quan này thực sự là nơi tập hợp và đại diện lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở địa phương. Trong tương lai có thể thành lập Liên hiệp hội Du lịch chung cho hai tỉnh để tạo sự liên kết chặt chẽ hơn trong tổ chức quản lý điều hành về du lịch. 153 - Đối với Ban quản lý các khu du lịch biển, các bộ phận khai thác du lịch ở các VQG, KBTTN cần tăng cường thêm nhân lực, tạo nguồn thu, có cơ chế phân công và phân cấp quản lý địa bàn cụ thể tránh sự hoạt động chồng chéo kém hiệu quả. + Hiện đại hóa hệ thống thông tin phục vụ cho việc quản lý về du lịch: - Khuyến khích đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch nhanh chóng qua mạng, trao đổi thư từ, xử lý thông tin và tăng cường nguồn tri thức. Chấn chỉnh và tổ chức áp dụng mô hình chính phủ điện tử trong quản lý du lịch. Hoàn thiện và xây dựng nhiều Website, các thư viện điện tử, sớm thành lập các trung tâm thông tin du lịch-DLST ở hai Tỉnh để cung cấp những thông tin cần thiết và kịp thời về du lịch-DLST thuộc vùng DHCNTB cho du khách và cho ngay cả người dân tại các địa phương. - Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ hiện đại và các phương pháp quản lý tiên tiến trong việc bảo quản các di tích và quản lý hệ thống thông tin - dữ liệu. + Hoàn thiện môi trƣờng pháp lý trong quản lý du lịch: - Rà soát bổ sung lại hệ thống văn bản hướng dẫn quản lý, đầu tư trong lĩnh vực DLST, tiến hành phân loại và cấp chứng chỉ DLST, chứng nhận đạt tiêu chuẩn xanh sạch, chất lượng phục vụ,… cho các đơn vị kinh doanh DLST trong và ngoài tỉnh. Bổ sung các quy định còn thiếu, nhất là các quy chế về khuyến khích hỗ trợ phát triển DLST phù hợp với đặc điểm tình hình của hai tỉnh. - Tổ chức phổ biến, giáo dục, đồng thời cung cấp thông tin pháp luật cần thiết liên quan đến các hoạt động kinh doanh du lịch-DLST. Đặc biệt là các quy định về quyền, lợi ích, nghĩa vụ của các doanh nghiệp, thủ tục pháp lý khi có tranh chấp xãy ra. * Điều kiện thực hiện: Cần hòan thiện và củng cố tổ chức để tạo ra một bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả từ đơn vị cấp tỉnh đến các ban quản lý du lịch cơ sở. Gắn với việc kiện toàn bộ máy nhân sự, các công nghệ, thiết bị tiên tiến cũng được khuyến khích trang bị áp dụng, góp phần làm cho các nguồn thông tin đến kịp thời mọi người mà không bị giới hạn về không gian và thời gian. 154 Tóm lại, việc phân chia theo nhóm giải pháp mô trường sinh thái, kinh tế và xã hội như trên chỉ mang tính tương đối. Để đạt được mục tiêu toàn diện và xuyên suốt về phát triển DLST, ba nhóm giải pháp trên cần phải được tiến hành đồng bộ, vì giữa chúng có mối quan hệ hỗ tương do đó không thể coi nhẹ bất kỳ một nhóm giải pháp nào. Tuy nhiên tùy theo tình hình thực tiễn của mỗi địa phương, mỗi đơn vị doanh nghiệp để vận dụng và đề ra các giải pháp tương ứng thích hợp. Một số giải pháp thực hiện trong giai đọan này có thể làm cơ sở cho sự phát triển của các giai đọan kế tiếp, và chung quy đều hướng đến việc phát huy tối ưu tiềm năng và thế mạnh về DLST của hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận, biến vùng DHCNTB trở thành một điểm đến về DLST có thương hiệu và thật sự hấp dẫn du khách bốn phương. Để các nguồn lực nêu trên thật sự trở thành một kết quả vật chất hiện thực như mục tiêu đã đề ra, đòi hỏi phải có một kế hoạch quản lý khai thác một cách đồng bộ và hiệu quả. Thông qua các giải pháp thực hiện sát đúng, khoa học và hợp lý cho từng địa phương và theo từng giai đoạn. Tác giả đã đề xuất kế hoạch hành động chia theo hai giai đoạn cụ thể về nhiệm vụ phát triển góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển DLST trên địa bàn vùng DHCNTB đến năm 2020 như sau: 3.4 Kế hoạch hành động về nhiệm vụ phát triển DLST từ 2012-2020 3.4.1 Khung kế hoạch phát triển ngắn hạn giai đoạn 2012-2015: Đây là giai đoạn bản lề cho quá trình phát triển, tạo nên sự khởi động mạnh mẽ để thực hiện chương trình phát triển DLST vùng DHCNTB đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Giai đoạn này với yêu cầu quan trọng là phải thiết lập những nền tảng căn bản, củng cố cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ, các cơ sở vật chất cần thiết khác để làm khung cho giai đoạn sau. Mặc dù cở sở vật chất và các hoạt động về DLST chỉ mới bước đầu nhưng dựa trên các điều kiện vật chất của du lịch chung hiện có, các địa phương với sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với các ngành, các doanh nghiệp, các tổ chức liên quan để tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ phát triển DLST của vùng. 3.4.1.1 Hoàn thiện các cơ chế chính sách và nâng cao năng lực quản lý: 155 Mục tiêu: Tạo khung về pháp lý và những chính sách khuyến khích đầu tư và mở rộng hoạt động phát triển DLST nhằm huy động các nguồn lực xã hội phục vụ cho sự phát triển DLST vừa theo chiều rộng lẫn chiều sâu cho các giai đoạn kế tiếp. Những nội dung kế hoạch chủ yếu gồm: - Các tỉnh cần rà soát, điều chỉnh, bổ sung và hoàn chỉnh những nội dung quy định theo các văn bản của chính phủ, của Bộ VHTT-DL, Bộ NNPTNT, Bộ Tài nguyên và MT để ban hành các văn bản thực hiện nhằm thúc đẩy phát triển DLST. - Hoàn thiện cơ chế chính sách nhất là các chính sách về khuyến khích đầu tư, chính sách kiểm tra bảo vệ môi trường DL-DLST, để tạo nền tảng bền vững cho phát triển DLST. - Phối hợp với các ngành Trung ương hoàn thiện và ban hành các quy chuẩn, các hệ thống phân loại tiêu chuẩn về DLST. - Hai tỉnh cần nghiên cứu thành lập Liên hiệp Hội Du lịch của vùng DHCNTB, trong đó có Ban DLST, mỗi tỉnh có tiểu ban chuyên trách để chỉ đạo điều hành hoạt động DLST trên góc độ quản lý và phối hợp hành động một cách có hiệu quả. - Hình thành tổ chức liên kết hoạt động phát triển DLST với các tỉnh lân cận, các vùng DL-DLST trong điểm của quốc gia. - Tăng cường sắp xếp lại các bộ phận Xúc tiến du lịch ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, tổ chức liên kết chương trình, nội dung quảng bá giới thiệu DLST chung của vùng DHCNTB. - Khuyến khích, hỗ trợ cho các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp du lịch lữ hành và dịch vụ đẩy mạnh nghiên cứu các hình thức như thương mại điện tử, công nghệ trong quản lý DL-DLST. - Từng bước hình thành và áp dụng các tiêu chuẩn, nhãn du lịch sinh thái xanh nội địa (VN Eco Green), nhãn hiệu sinh thái toàn cầu (Global 21),… 3.4.1.2 Xây dựng và thực hiện quy hoạch-kế hoạch phát triển toàn diện về DLST của Tỉnh và vùng: 156 Mục tiêu: Thiết lập các quy hoạch, kế hoạch phát triển tổng thể của vùng, của từng tỉnh và cho từng trung tâm DLST lớn có khả năng giữ vai trò động lực phát triển của vùng. Những nội dung kế hoạch chủ yếu gồm: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển về DLST của toàn vùng trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch phát triển DLST của từng tỉnh, từng trung tâm DLST đến năm 2020, trong đó cần chú trọng đến kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Đẩy mạnh công tác đào tạo và nâng cao chất lượng cho cán bộ nhân viên làm công tác DL, DLST. - Quy hoạch các khu du lịch là VQG, các khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó ưu tiên hàng đầu là quy hoạch các trung tâm động lực là VQG Núi Chúa, KBT biển Cù Lao Câu, KBTTN Núi Ông, KBTTN Núi Tà Kou và KBT biển đảo Phú Quý. - Quy hoạch phát triển và lập kế hoạch khai thác các điểm DLST Champa xuyên suốt từ Ninh Thuận đến Bình Thuận để phát triển thành một thương hiệu và sản phẩm DLST văn hóa đặc thù. - Rà soát, sắp xếp lại hệ thống các cơ sở đào tạo về du lịch hiện có ở hai tỉnh như: trường Cao đẳng Cộng đồng Ninh Thuận và Bình Thuận, các trường cao đẳng và trung cấp nghề công lập và tư thục, kết hợp với Đại Học Phan Thiết trong việc chuẩn hóa chương trình đào tạo về du lịch, tăng cường nội dung DLST trong giáo trình đào tạo. - Xây dựng kế hoạch chi tiết và có trọng điểm về xúc tiến quảng bá DLST cho giai đoạn 2015 theo từng thị trường riêng biệt. 3.4.1.3 Triển khai các chƣơng trình ƣu tiên trƣớc mắt cho phát triển DLST: Mục tiêu: Để chuẩn bị cơ sở vật chất, các hạ tầng kỹ thuật cần thiết cho việc đầu tư phát triển DLST cho các giai đoạn kế tiếp. Những nội dung kế hoạch chương trình chủ yếu gồm: - Chương trinh đầu tư đầu tư nâng cấp 3 trục giao thông chính đến các vùng DLST trọng điểm như: trục đường QL 27B nối Tân Sơn với VQG Phước Bình; 157 đường TL 702 nối Ninh Chữ-Vĩnh Hy-VQG Núi Chúa-Cam Ranh, QL 55 nối Hàm Tân-Sông Phan – KBTTN Núi Ông- Đami- Lâm Đồng. - Chương trình đầu tư xây dựng sân bay, cảng biển du lịch để đón khách du lịch: sân bay Thiện Nghiệp, cảng du lịch Cà-Ná, cảng du lịch Hòn Rơm, cảng du lịch đảo Phú Quý. - Các chương trình đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng như điện, nước sinh hoạt, hệ thống mạng lưới xe bus, đặc biệt đối với các đảo xa như Phú Quý cần đầu tư các phương tiện tàu thuyền như tàu cao tốc, trung tốc để đưa du khách đến các vùng DLST. 3.4.2 Khung kế hoạch phát triển giai đoạn 2016-2020: Mục tiêu: Giai đoạn này tập trung các nguồn lực để hoàn thiện các nội dung kế hoạch cốt lõi về phát triển DLST của vùng đã vạch ra, thông qua các chương trình mục tiêu cho từng lĩnh vực được tổ chức theo không gian DLST đã quy hoạch. Từ đó tạo điều kiện choDLST của vùng DHCNTB phát triển một cách bài bản, đồng bộ, đảm bảo có chất lượng và bền vững. Những nội dung kế hoạch chủ yếu : Tổ chức tổng kết đánh giá kế hoạch hành động phát triển DLST giai đoạn 2012-2015, trên cơ sở đó điều chỉnh bổ sung và tiếp tục triển khai kê hoạch hành động cho giai đoạn kế tiếp 2016-2020 bao gồm các nội dung: - Tiếp tục hoàn thiện các chương trình đầu tư hạ tầng giao thông để bảo đảm đến 2020 các trục đường vào các khu, điểm DLST lớn được hoàn chỉnh, các cảng biển du lịch và sân bay du lịch được định hình. - Lập kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hậu cần dịch vụ tại chỗ cho các điểm, trung tâm DLST lớn như nhà nghỉ sinh thái ECOLODGE, khu vườn thú Safari, nhà hàng, nơi mua sắm-giải trí tại các địa điểm như Cù lao Câu, Đảo Phú Quý, VQG Núi Chúa, VQG Phước Bình, KBTTN Núi Ông, KBTTN Takou. - Hình thành được hệ thống tuyến, điểm DLST đặc trưng của vùng làm nên thương hiệu DLST nổi bật, trong đó chú trọng đến DLST biển đảo gắn liền với các điểm: Núi Chúa-Vĩnh Hy; Cà Nà-Cù Lao Câu-Vĩnh Hảo, Phú Quý, Thác Bà- Núi Ông,… 158 - Lập thêm Nhà Bảo tàng theo chủ đề “ Môi trường sinh thái tự nhiên-những cơ hội và thách thức” tại Ninh Chữ nhằm giới thiệu cho du khách về mô hình nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, các mỏ dầu đang khai thác ngoài khơi Bình Thuận (những đe dọa) và mô hình các nhà máy phong điện ở Tuy Phong, Phú Quý, Núi Chúa (cơ hội) gắn với các mô hình triển lãm là nhưng nội dung giáo dục về môi trường và DLST. - Thiết lập mở rộng kế hoạch xúc tiến quảng bá DLST, gắn với kế hoạch marketing chi tiết cho từng phân khúc thị trường cụ thể đến năm 2020. - Tạo sự kết nối, liên kết hình thành các sản phẩm DLST đặc trưng đối với các tỉnh lân cận như: Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Lâm Đồng, Khánh Hòa… - Tiếp tục triển khai chương trình thực hiện các quy chuẩn quốc gia và quốc tế về DLST như: nhãn Xanh sinh thái, Global 21, Tiêu chuẩn lá Xanh,… - Triển khai thực hiện đồng bộ các quy hoạch phát triển các trung tâm DLST lớn mang tính động lực, các tuyến điểm của tỉnh, của vùng. Trong đó có sự kết hợp giữa 2 nội dung chính là DLST biển đảo – VQG và DLST văn hóa Chăm pa. - Lập kế hoạch mạng lưới tham gia của các cộng đồng địa phương vào hoạt động phát triển DLST trong mỗi tỉnh, mỗi vùng theo các điều kiện hiện có, mở rộng các hoạt động về ca múa nhạc kịch của người dân theo chuyên đề văn hóa Chăm pa và các văn hóa dân gian khác nhằm tạo thêm nhiều sản phẩm DLST kết hợp độc đáo. 3.5 Một số kiến nghị: 3.5.1 Đối với chính phủ: cần sớm ban hành các chính sách, cơ chế quản lý, các hệ thống tiêu chuẩn riêng cho hoạt động DLST, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ công tác đào tạo và quảng bá DLST, khuyến khích các thành phần tham gia phát triển DLST. Ngoài ra trước mắt cần sớm xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển DLST cho cả nước cho từng vùng, miền với sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh làm căn cứ cho các địa phương tổ chức khai thác một cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên DLST hiện có. 159 3.5.2 Đối với các tỉnh: căn cứ và các chính sách chung của nhà nước, ban hành các quy định trong việc khai thác DLST gắn liền với việc bảo vệ môi trường-cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn các di sản văn hóa. Đối với những vùng ven biển nơi có nhiều dự án về khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng đang triển khai cần quản lý giám sát nghiêm ngặt việc xả thải, chiều cao xây dựng công trình, thay đổi cảnh quan, san lấp đồi cát,… 3.5.3 Đối với các doanh nghiệp lữ hành du lịch, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch cần phối hợp với cộng đồng địa phương, với chính quyền, với Ban quản lý các khu du lịch ven biển, các khu BTTN, VQG, tổ chức khai thác hợp lý hiệu quả các nguồn tài nguyên DLST thiên nhiên và nhân văn. Để tạo ra nhiều sản phẩm DLST có chất lượng phục vụ nhu cầu của du khách, gắn với việc khai thác cần có sự phối hợp đào tạo huấn luyện các nghiệp vụ du lịch cho người lao động theo mục tiêu phát triển bền vững. 3.4.4 Đối với ngƣời dân và cộng đồng sở tại: mạnh dạn tham gia vào các hoạt động DLST để chia sẻ lợi ích với các doanh nghiệp. Khi tham gia vào hoạt động chung ngoài việc giúp cải thiện cuộc sống, tạo công ăn việc làm, còn thúc đẩy cộng đồng phát triển góp phần bảo vệ và khôi phục các nguồn tài nguyên DLST tại nơi cư trú của mình. PHẦN KẾT LUẬN DLST hiện là xu hướng phát triển tích cực của nhiều quốc gia có ngành du lịch đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, trong đó có VIệt Nam. Mặc dù chỉ mới thực sự tham gia trong 1-2 thập kỷ gần đây, nhưng DLST Việt Nam đã có những đóng góp đáng ghi nhận cho hoạt động DLST khu vực Đông Nam Á và thế giới. Trong xu thế hội nhập và phát triển, vùng DHCNTB vốn là một vùng duyên hải giàu tài nguyên về DLST, gồm cả tự nhiên và nhân văn đã kịp thời vận động tham gia theo sự phân công chung về hoạt động của cả nước, nhờ vậy hoạt động DLST của vùng DHCNTB đã có một số nét khởi sắc và đang dần trở thành một điểm DLST được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến và chọn lựa, hoạt động DLST đang đóng góp vào nguồn thu cho các địa phương. Tuy nhiên, khách quan nhìn nhận lại thì hoạt động của DLST của vùng với quy mô còn quá nhỏ bé chưa tương xứng với tiềm năng DLST và thương hiệu du lịch hiện có 160 của mình. Bên cạnh đó việc tổ chức quản lý, khai thác hoạt động DLST hướng đến phát triển đang còn nhiều bất cập. Tồn tại trước hết phải kể đến việc thiếu một hệ thống lý luận về DLST, thiếu về những kinh nghiệm, những mô hình thực tiễn trong việc triển khai thực hiện, thiếu những chiến lược phát triển trung hạn, dài hạn cùng với việc tạo lập những sản phẩm DLST đặc thù gắn với những giải pháp xuyên suốt và đồng bộ để thực hiện những mục tiêu phát triển đã đề ra. Đối với các cơ quan quản lý du lịch địa phương, các Hiệp hội du lịch các tỉnh, các doanh nghiệp DLST lữ hành, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch rất cần một định hướng chiến lược phát triển gắn với những mục tiêu cụ thể cho một vùng lãnh thổ nhất định nào đó. Xuất phát từ những yêu cầu bức xúc nêu trên việc nghiên cứu để định ra những nội dung phát triển về DLST ở vùng DHCNTB là việc hết sức cần thiết, nếu đề tài: “Phát triển DLST ở các tỉnh vùng DHCNTB đến năm 2020” được nghiên cứu thực hiện sẽ là tài liệu hữu ích giúp cho các cơ quan quản lý du lịch, các công ty DLST lữ hành tham khảo và vận dụng. Trên cơ sở các nguồn tài liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập và xử lý, theo các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích, phương pháp mô hình hồi quy dự báo định lượng được xác lập và sử dụng giúp cho việc phân tích đánh giá thực trạng, lượng hóa các mục tiêu được khách quan và sâu sát hơn. Ngoài ra, để tham khảo và học tập những bài học kinh nghiệm thực tiễn có giá trị của các nước Asean đã và đang áp dụng thành công những chính sách quản lý về DLST ở các vùng miền cụ thể, đề tài đã nghiên cứu những nội dung cụ thể như về phát triển DLST văn hóa-làng nghề, DLST văn hóa cộng đồng-homestay, bài học về khai thác biển đảo gắn với việc bảo tồn tại các khu BTTN biển,…Kết quả được đúc rút qua những kinh nghiệm cốt lõi về điều kiện môi trường KT-XH tương đồng với vùng DHCNTB. Trong phần phân tích đánh giá hiện trạng hoạt động DLST của vùng DHCNTB đã được vẽ lại toàn cảnh theo 2 mảng không gian chính: DLST Ninh Thuận và Bình Thuận, trong đó nêu bật các đặc trưng về tài nguyên DLST, quy mô hoạt động của các loại hình DLST đang được khai thác để đáp ứng nhu cầu của du khách, những thành công và hạn chế trong hoạt động,…Đúc kết từ các phân tích tổng hợp nêu trên, phân 161 tích SWOT về DLST của vùng được thiết lập nhằm tạo cơ sở cho việc hoạch định các giải pháp phát triển và đề xuất những kiến nghị cần thiết. Do DLST là một nội dung rất sâu rộng và phức tạp, nên luận án chỉ đi sâu phân tích một số nội dung cốt lõi,và trong thời gian từ 1995 đến nay, nội dung chú trọng nhiều hơn đến phân tích đặc điểm nguồn “cung” của địa bàn DLST, riêng yếu tố “cầu” được nghiên cứu trên góc độ mức độ cảm nhận, và tổng hợp từ thực tiễn hoạt động trong phạm vi giới hạn ở vùng DHCNTB, cụ thể là tại hai điểm đến mang tính chất động lực về DLST của toàn vùng là: Mũi Né-PhanThiết, Ninh Chữ-Vĩnh Hy. Gắn với những nội dung thực trạng hoạt động, để làm căn cứ hoạch định chiến lược phát triển, các quan điểm phát triển cũng lần lượt được nêu, từ cấp vĩ mô toàn quốc, đến các chương trình hành động quốc gia về phát triển du lịch của các vùng- miền, các quan điểm của các tỉnh, còn có nghiên cứu phân tích các nhân tố có ảnh hưởng mạnh đến việc đề xuất giải pháp. Trong nội dung các giải pháp được chia thành 2 nhóm chính: nhóm giải pháp về sinh thái môi trường và nhân văn, nhóm giải pháp về các yếu tố phát triển. Trong từng nhóm giải pháp được chia thành các giải pháp thành phần có nội dung chi tiết và cụ thể. Để tạo hiệu quả đồng bộ trong thực hiện các giải pháp, một số kiến nghị với các cấp liên quan như với Chính phủ, với các tỉnh, với các doanh nghiệp, và với người dân và cộng đồng cũng được đưa ra.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluanantiensi_dinhkiem_4437.pdf
Luận văn liên quan