Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam

Thị trường TPDN là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời trong hệ thống tài chính quốc gia. Việc hình thành và phát triển thị trường TPDN ở nước ta là một yêu cầu bức xúc của nền kinh tế, cũng như xuất phát từ chính nhu cầu về vốn đầu tư phát triển của các DN, nhất là trong giai đoạn cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, đặc biệt là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổchức thương mại thế giới (WTO). Mặt khác, sự phát triển của thị trường TPDN cũng có tác động đến sự phát triển của thị trường chứng khoán, khi thị trường TPDN hoạt động hiệu quả sẽ góp phần cung ứng cho thị trường chứng khoán một lượng hàng hóa có chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của các nhà đầu tư, từ đó tạo động lực góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển. Ngược lại, kể từ khi thị trường chứng khoán đi vào hoạt động cũng đã tạo ra nền tảng và nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường TPDN, góp phần cải thiện và nâng cao khả năng huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế nói chung và các DN nói riêng.

pdf117 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 08/01/2014 | Lượt xem: 2129 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ác nhau của các loại trái phiếu sẽ hình thành nên lãi suất huy động vốn trên thị trường. Như vậy, lãi suất TPCP sẽ là lãi suất nền cho việc xác định lãi suất phát hành TPDN. 3.2.2.4 Khuyến khích phát triển các tổ chức định mức tín nhiệm chuyên nghiệp. Ngày nay, hầu hết TTCK trên thế giới đều tồn tại ít nhất một tổ chức ĐMTN, một phần là do xu thế của thời đại, nhưng phần lớn là do vai trò quan trọng của tổ chức ĐMTN trên thị trường tài chính. Hiện nay Việt Nam đã có TTCK, song hoạt động của các tổ chức ĐMTN vẫn còn rất hạn chế và chưa chuyên nghiệp. Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa tài chính thì việc khuyến khích phát triển các tổ chức ĐMTN chuyên nghiệp tại Việt Nam hiện nay là vấn đề hết sức cấp thiết. Do ý nghĩa quan trọng của tổ chức ĐMTN đối với sự phát triển của TTCK nói chung và thị trường TPDN nói riêng, để khuyến khích phát triển các tổ chức ĐMTN chuyên nghiệp, cần thực hiện các biện pháp sau: - Ngoài việc tạo hành lang pháp lý, các điều kiện khác cũng có vai trò quyết định đối với sự ra đời của tổ chức ĐMTN chuyên nghiệp như quy mô thị trường phải đạt kích cỡ đủ lớn với sự đa dạng các hàng hóa trên thị trường, phải có một số lượng nhà đầu tư nhất định để tạo ra nhu cầu định mức tín nhiệm… Tổ chức ĐMTN muốn được các chủ thể tham gia thị trường thừa nhận và tồn tại thì bản thân nó phải là một tổ chức hoạt động độc lập, không thiên vị, có năng lực về kỹ thuật và có khả năng tiếp cận được với những 81 thông tin đáng tin cậy của tổ chức được định mức. Với chức năng chủ yếu là xếp hạng tín nhiệm và cung cấp những thông tin về các công cụ nợ, làm cơ sở cho nhà đầu tư đánh giá mức độ rủi ro và khả năng sinh lợi trong đầu tư chứng khoán để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý, trong thời gian đầu có thể nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức ĐMTN là công ty cổ phần. Để thực sự phát huy tính độc lập của tổ chức ĐMTN được tổ chức theo mô hình cổ phần, cơ cấu sở hữu của tổ chức này phải do nhiều chủ thể nắm giữ. Tuy nhiên, Việt Nam nên thực hiện cơ cấu nắm giữ cổ phần theo hướng không một chủ thể nào nắm giữ đa số và không một chủ thể nào nắm quyền chi phối đối với việc hình thành và hoạt động của tổ chức ĐMTN. Tổ chức ĐMTN theo mô hình công ty cổ phần hoàn toàn không giới hạn số lượng cổ đông, cổ đông có thể vừa là pháp nhân vừa là thể nhân. Tuy nhiên, cần thu hút sự tham gia của những cổ đông có uy tín trên thị trường tài chính trong và ngoài nước như Bộ Tài chính, NHNN, UBCKNN, các tổ chức ĐMTN xuyên quốc gia. Sự tham gia của các cổ đông quan trọng này với tư cách thành viên hội đồng quản trị sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong giai đoạn thành lập tổ chức ban đầu và hỗ trợ kinh nghiệm cho công tác quản lý tổ chức ĐMTN. - Hợp tác quốc tế trong việc thành lập tổ chức ĐMTN tại Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, hợp tác quốc tế trong việc thành lập tổ chức ĐMTN chuyên nghiệp là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển ngành ĐMTN trong nước. Việc hỗ trợ về mặt kỹ thuật, tài chính, đào tạo sẽ hình thành nên những đảm bảo uy tín đối với nhà đầu tư. Trong thời gian đầu, do quy mô nhỏ nên khó có thể liên kết với những công ty lớn, vì vậy Việt Nam cũng nên tính đến khả năng có thể liên kết với các tổ chức ĐMTN khu vực Đông Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Cơ cấu sở hữu vốn của Việt Nam nên do Bộ Tài chính nắm giữ nhằm tạo uy tín khi tìm đối tác liên doanh và phải nắm giữ nguồn vốn chủ yếu ở trong liên doanh, phần còn lại sẽ do đối tác liên doanh nước ngoài nắm giữ. Việc liên doanh với các đối tác có năng lực sẽ là cơ hội để chúng ta tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao kiến thức cũng như tranh thủ sự tài trợ về mặt kỹ thuật, cách thức quản lý và tài chính từ phía đối tác. Thiết nghĩ, việc hình thành tổ chức ĐMTN dưới hình thức liên doanh sẽ tạo thuận lợi trong việc mở rộng quy mô hoạt động dưới mọi loại hình dịch vụ, đảm bảo chất lượng xếp hạng tín nhiệm trong thị trường nội địa, từng bước thâm nhập vào thị trường quốc tế, 82 đảm bảo hoạt động của tổ chức ĐMTN phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng dần uy tín của tổ chức ĐMTN Việt Nam. 3.2.2.5 Đa dạng hóa các loại trái phiếu doanh nghiệp. Trái phiếu DN phát hành trong thời gian qua còn tương đối đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của nhà đầu tư. Việc đa dạng hóa các hình thức trái phiếu có ý nghĩa rất quan trọng, do nó có khả năng khai thác tối đa mọi nguồn vốn trong xã hội, mở ra nhiều hình thức trái phiếu cho các nhà đầu tư lựa chọn để phù hợp với từng điều kiện nhất định và làm phong phú về hàng hóa cho TTCK. Để tăng tính hấp hấp dẫn của trái phiếu, DN có thể lựa chọn phát hành trái phiếu dưới các hình thức như: trái phiếu đa thời hạn (là trái phiếu có nhiều ngày đáo hạn khác nhau tính từ ngày phát hành đến thời hạn lưu hành cuối cùng của trái phiếu), trái phiếu chiết khấu, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có lãi suất đảm bảo bằng vàng hay lãi suất thực được đảm bảo dương trong trường hợp lạm phát cao… Với trái phiếu chuyển đổi, sau một thời gian xác định, loại trái phiếu này được quyền chuyển đổi thành cổ phiếu với một tỷ lệ nhất định. Khi đó, cơ cấu vốn của DN sẽ thay đổi từ nợ sang vốn chủ sở hữu, các trái chủ sẽ được chuyển đổi thành cổ đông và được quyền hưởng các thu nhập thặng dư của DN trong kinh doanh. Ngoài ra, DN còn có thể phát hành trái phiếu thanh toán từng phần - là loại trái phiếu mà DN thực hiện thanh toán từng phần nợ của trái phiếu theo thời gian. Loại trái phiếu này sẽ tăng thêm độ an toàn cho người sở hữu trái phiếu. Hoặc DN cũng có thể phát hành trái phiếu kèm quyền mua cổ phiếu với giá ưu đãi, như trường hợp của Vinaconex phát hành trái phiếu gắn với quyền mua cổ phiếu của một công ty thành viên. 3.2.3 Nhóm giải pháp phát triển thị trường thứ cấp. Quá trình phát triển của thị trường TPDN dựa trên sự phát triển của cả thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Nếu như thị trường sơ cấp có vai trò cung ứng hàng hóa, tạo động lực thúc đẩy giao dịch thứ cấp thì ngược lại, khi thị trường thứ cấp hoạt động hiệu quả sẽ mở đường cho thị trường sơ cấp phát triển theo hướng: - Gia tăng tính phổ biến của chứng khoán trên thị trường, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư, tạo thuận lợi cho các đợt phát hành mới. - Tăng tính thanh khoản của trái phiếu, tạo cơ chế hoán đổi về mặt thời gian của các khoản vốn đầu tư nhằm hạn chế rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận. Từ đó sẽ thu hút đông đảo các nhà đầu tư với quy mô và cơ cấu vốn khác nhau tham gia trên thị trường phát hành. 83 - Góp phần vào việc xây dựng cơ chế lãi suất thị trường, phản ánh khách quan quan hệ cung cầu vốn trên thị trường, tạo động lực kích thích sự luân chuyển các nguồn vốn tiết kiệm chuyển giao cho đầu tư qua kênh thị trường trái phiếu tăng lên. Việc phát hành trái phiếu sẽ trở nên thuận lợi hơn với chi phí thấp. Do vậy, để phát triển thị trường thứ cấp, cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ. 3.2.3.1 Xây dựng hệ thống giao dịch chuyên biệt cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Tính chất của giao dịch trái phiếu khác với giao dịch cổ phiếu. Phương thức giao dịch trái phiếu thường thiên về thỏa thuận chứ không phải khớp lệnh. Người sử dụng hệ thống thường là nhà đầu tư cuối cùng, vì vậy nhu cầu thỏa thuận trực tiếp là rất cao. Hệ thống thường pha trộn giữa hệ thống thỏa thuận với hệ thống tra cứu thông tin có kèm các công cụ phân tích. Thông thường, nếu không đáp ứng được yêu cầu này, hệ thống sẽ không phát huy hiệu quả. Sự pha trộn giữa giao dịch trái phiếu và giao dịch cổ phiếu như hiện nay sẽ cản trở sự phát triển của giao dịch trái phiếu và làm giảm tính thanh khoản của thị trường. Do đó, cần phải xây dựng một hệ thống giao dịch chuyên biệt và hiệu quả cho thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói riêng để tăng tính thanh khoản của thị trường. Đây là việc làm hết sức cần thiết, gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và những cải cách trong từng giai đoạn phát triển của thị trường vốn, phù hợp với chiến lược phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020. Do đặc thù của trái phiếu chuyên biệt, nhà đầu tư chủ yếu là các tổ chức tài chính, tổ chức đầu tư chuyên nghiệp nên việc phát triển nhà đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn trước mắt cũng sẽ dựa vào các tổ chức tài chính và nhà đầu tư bao gồm NHTM (trước mắt là các NHTM quốc doanh), công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí. Trong trung hạn (từ 3 – 5 năm tới), các thành viên tham gia thị trường trái phiếu chuyên biệt sẽ mở rộng ra các NHTM cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, quỹ đầu tư, công ty quản lý tài sản, công ty tài chính… Vì vậy, việc xây dựng hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt cần chia làm hai giai đoạn: - Giai đoạn 1 (từ nay đến năm 2010) thực hiện mô hình đa định chế. Hệ thống này cho phép nhà đầu tư kết nối với nhiều nhà kinh doanh trái phiếu, xem tất cả các giá chào trên hệ thống tại một thời điểm để so sánh và tìm giá chào tốt nhất. Nhà đầu tư liên hệ với nhà kinh doanh có giá chào tốt nhất để thực hiện giao dịch. Hệ thống này có thể làm 84 tăng khả năng tiếp cận thông tin cho nhà đầu tư cuối cùng và có nhiều lựa chọn giao dịch. Tuy nhiên, mặt trái là thông tin thị trường hạn chế và phụ thuộc vào nhà kinh doanh để tăng tính thanh khoản. - Giai đoạn 2 (sau năm 2011) thực hiện mô hình thị trường liên định chế. Đây là hệ thống giao dịch gồm các nhà kinh doanh trái phiếu chuyên nghiệp, làm chức năng môi giới và mua/bán cho chính mình; các tổ chức đầu tư có thể biết được các giá chào tốt nhất trên thị trường tại một thời điểm và tiến hành giao dịch thông qua nhà môi giới. Hệ thống này phù hợp với thị trường có một lượng nhà đầu tư và nhà kinh doanh trái phiếu đủ lớn, quy mô thị trường lớn và các công cụ chuẩn trên thị trường; đặc biệt là trên thị trường sơ cấp đã có một hệ thống nhà kinh doanh trái phiếu cấp 1 (Primary Dealer), có nghĩa vụ tạo lập thị trường cho trái phiếu trên thị trường thứ cấp. Trên cơ sở mô hình tổ chức thị trường giao dịch liên định chế, hệ thống thanh toán giao dịch trái phiếu này cho phép Trung tâm lưu ký thiết lập các tiêu chí riêng về thành viên, loại chứng khoán, phương thức thanh toán, cơ chế đảm bảo nhằm khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán và phù hợp với cơ chế giao dịch liên kết của các thành viên thông qua hệ thống thanh toán của NHNN. Để xây dựng thị trường trái phiếu chuyên biệt, trước hết cần sửa đổi bổ sung các quy định pháp lý cho thị trường giao dịch trái phiếu này. Bộ Tài chính cần đưa ra khung lãi suất cho từng thời kỳ, đặc biệt là lãi suất của TPCP cần phản ánh sát hơn với lãi suất thị trường và nên được điều chỉnh một cách linh hoạt. Về phương thức phát hành, nên tập trung phát hành trái phiếu chuyên biệt theo lô lớn để giảm số loại trái phiếu chuyên biệt lưu hành trên thị trường. Ngoài ra, cần đẩy mạnh phát hành trái phiếu qua các phương thức đấu thầu và bảo lãnh phát hành; tuy nhiên, nên có sự phân chia khối lượng phát hành cho mỗi phương thức theo kỳ hạn trái phiếu, tránh tình trạng các đợt phát hành diễn ra quá gần nhau trong cùng thời kỳ, gây ra sự chồng chéo và làm giảm hiệu quả của đợt phát hành. 3.2.3.2 Phát triển thị trường phi tập trung (OTC). Bên cạnh thị trường giao dịch tập trung, hầu hết các nước trên thế giới đều có cơ chế cho hoạt động của thị trường giao dịch phi tập trung (OTC). Đây là thị trường giao dịch những chứng khoán chưa niêm yết hoặc chưa đủ điều kiện niêm yết trên thị trường tập trung. Trái phiếu doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật, ngoài việc được 85 niêm yết và giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán còn được giao dịch trên thị trường OTC, giá cả và khối lượng giao dịch đều được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa các tổ chức kinh doanh trái phiếu. Đối với các loại TPDN chưa đáp ứng được các điều kiện để được niêm yết giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán sẽ được giao dịch mua bán trên thị trường OTC, ở đây TPDN được mua bán trực tiếp giữa các công ty chứng khoán, nhà đầu tư và chủ sở hữu trái phiếu. Vì vậy, việc phát triển thị trường giao dịch phi tập trung cùng với việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế hoạt động cho thị trường này đã trở thành nhu cầu cấp thiết hiện nay. Thực tế trong thời gian qua, quy mô thị trường OTC đã có sự tăng trưởng mạnh cả về giá trị giao dịch lẫn số lượng DN tham gia, một phần vì tâm lý e ngại giao dịch trên sàn chính thức của các DN, một phần vì hầu hết DN Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa nên chưa đủ điều kiện niêm yết trên thị trường tập trung. Tuy nhiên, thị trường OTC vẫn chưa có cơ chế quản lý chặt chẽ, vì vậy quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư vẫn chưa được đảm bảo và còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Để thị trường giao dịch phi tập trung phát triển lành mạnh, an toàn và hiệu quả, cần chú trọng một số vấn đề sau: - Tăng cường sự phối hợp trong công tác giám sát giao dịch, công bố thông tin để đảm bảo tính công khai, minh bạch và công bằng giữa các chủ thể tham gia thị trường. - Tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư cá nhân tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường nhằm tăng tính thanh khoản cho thị trường. - Tiếp tục hoàn thiện và ứng dụng hệ thống công nghệ thông tin hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch từ xa diễn ra một cách nhanh chóng, rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian cho các nhà đầu tư. - Khuyến khích DN nhỏ và vừa tham gia thị trường OTC để chuẩn bị những điều kiện cần thiết trước khi lên sàn giao dịch chính thức. Việc phát triển thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng phạm vi thị trường có tổ chức, thu hẹp thị trường tự do, hình thành nên một kênh tài trợ vốn hiệu quả cho các DN, góp phần thúc đẩy TTCK nói chung và thị trường TPDN nói riêng phát triển một cách bền vững, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ mới – thời kỳ mở cửa, hội nhập một cách toàn diện và sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. 86 3.2.3.3 Phát triển các định chế tài chính trung gian, các nhà đầu tư chuyên nghiệp và các nhà tạo lập thị trường. Theo kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, muốn phát triển mạnh mẽ thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói riêng, điều đặc biệt quan trọng là phải phát triển các nhà đầu tư có tổ chức, bao gồm các công ty chứng khoán, NHTM, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư… Đối với các nhà đầu tư cá nhân, việc mua TPDN thường nhằm mục đích chủ yếu là hưởng lãi ổn định, nhu cầu mua bán rất ít. Đối với các nhà đầu tư có tổ chức, việc mua bán trái phiếu còn có mục đích tăng khối lượng quản lý tài chính hoặc tài sản trong danh mục đầu tư. Thông qua hoạt động kinh doanh của mình, các nhà đầu tư có tổ chức đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nâng cao tính thanh khoản và thúc đẩy hoạt động thị trường thứ cấp phát triển. Vì vậy, trong thời gian tới, cần đặc biệt quan tâm phát triển các nhà đầu tư có tổ chức, tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành các quỹ đầu tư. Đặc biệt, cần tập trung phát triển các định chế tài chính phi ngân hàng như các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, công ty đầu tư, phát triển thêm nhiều loại hình quỹ đầu tư và công ty quản lý quỹ (quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư trái phiếu, công ty quản lý quỹ công chúng và công ty quản lý quỹ thành viên). Bên cạnh đó; NHNN, Bộ Tài chính, UBCKNN cần tạo những điều kiện thuận lợi về môi trường pháp lý, chính sách ưu đãi để khuyến khích thành lập các quỹ đầu tư chứng khoán liên doanh và quỹ đầu tư 100% vốn nước ngoài theo lộ trình Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và những cam kết của Việt Nam khi đàm phán gia nhập WTO. Để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của thị trường, đặc biệt là các đợt phát hành trái phiếu, cần thiết phải xây dựng một hệ thống bao gồm các nhà phân phối chính và những khách hàng lớn tham gia đấu thầu phát hành. Đối với thị trường TPDN thì các định chế tài chính trung gian đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển thị trường. Sự có mặt của các tổ chức này góp phần quan trọng trong việc tạo ra cung chứng khoán thông qua hoạt động tư vấn, hỗ trợ hoặc bảo lãnh cho nhà phát hành. Mặt khác các định chế tài chính trung gian còn thúc đẩy cầu chứng khoán thông qua chức năng quản lý vốn và tư vấn đầu tư cho các tổ chức và cá nhân, nhất là các nhà đầu tư nhỏ và ít hiểu biết. Trong tương lai, các định chế tài chính như công ty tài chính, quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, các NHTM sẽ là những nhà đầu tư lớn và là những thành viên tham gia thường xuyên trên thị trường thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu. Vì 87 vậy, các định chế tài chính này phải không ngừng được hoàn thiện theo hướng ngày càng chuyên nghiệp hóa, tạo động lực thúc đẩy thị trường TPDN phát triển một cách toàn diện và hiệu quả, thu hút được ngày càng nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư vào thị trường. 3.2.3.4 Giải pháp hạn chế rủi ro trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Hoạt động của thị trường giao dịch có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn trên thị trường phát hành. Hiện tại, tính thanh khoản của trái phiếu nói chung và TPDN nói riêng còn thấp và đây là trở ngại lớn nhất đối với sự phát triển của thị trường TPDN. Vấn đề hết sức quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường giao dịch là cơ chế mua bán và chuyển nhượng trái phiếu. Với cơ chế mua bán, chuyển nhượng thuận lợi sẽ làm tăng tính thanh khoản của TPDN, như vậy các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng mua trái phiếu trung và dài hạn do nó đáp ứng được các yêu cầu: đảm bảo an toàn, sinh lợi tiền vốn và dễ dàng chuyển đổi ra tiền mặt hay các hình thức đầu tư khác. Để làm được điều đó, cần chú ý quan tâm hai vấn đề sau đây: - Tăng cường các thỏa thuận mua lại (REPO) đối với TPDN trung và dài hạn. Nhà nước cần có những quy định kịp thời để điều chỉnh loại hình giao dịch REPO – một loại giao dịch trái phiếu kỳ hạn khá hiệu quả và hấp dẫn đã phát sinh trong thời gian qua. Theo đó, trong những trường hợp cần thiết, người mua và người bán có thể thỏa thuận mua bán lại trái phiếu, nhà phát hành đồng ý mua lại số trái phiếu đã qua giao dịch với mức giá đã được thỏa thuận trước. REPO được phổ biến rộng rãi trên các thị trường vốn phát triển nhằm tạo ra tính thanh khoản cao cho các loại TPDN, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư sử dụng linh hoạt nguồn vốn ngắn hạn, góp phần ổn định và phát triển thị trường TPDN. Thực tế diễn ra trên thị trường trái phiếu Việt Nam trong thời gian qua cho thấy, trong khi các tổ chức tài chính như NHTM, bảo hiểm, quỹ đầu tư…tham gia mua – bán trái phiếu khá thường xuyên thì các nhà đầu tư cá nhân vẫn còn rất thờ ơ. Vì vậy cần phải có những biện pháp tích cực hơn nữa để người dân làm quen và sử dụng dịch vụ REPO. Nếu hoạt động này được tăng cường một cách hiệu quả thì làm tăng đáng kể khả năng thanh khoản cho TPDN, như thế các nhà đầu tư sẽ quan tâm và mua trái phiếu nhiều hơn, từ đó TPDN cũng được phát hành dễ dàng và thành công hơn. - Phát triển các loại hình chứng khoán phái sinh từ TPDN. Chứng khoán phái sinh được tạo lập dựa trên một chứng khoán gốc, giá trị của phái sinh được xác định dựa trên 88 những biến động về giá trong tương lai của chứng khoán cơ sở. Các chủ thể tham gia thị trường tài chính tạo ra các công cụ phái sinh và sử dụng chúng để thực hiện mục đích kinh doanh hoặc hạn chế rủi ro trong đầu tư. Các công cụ phái sinh nhìn chung được đánh giá là rất hữu hiệu trong phòng ngừa rủi ro, giúp nhà đầu tư tự tin và mạnh dạn hơn khi tham gia đầu tư vào thị trường. Hiện nay, thị trường giao dịch TPDN ở Việt Nam còn rất đơn điệu, chỉ dừng lại ở nghiệp vụ mua bán trái phiếu giao ngay, điều này làm hạn chế mục đích đầu tư cũng như tính linh hoạt của thị trường. Vì vậy trong thời gian tới, cần nghiên cứu phát triển các sản phẩm chứng khoán phái sinh liên quan đến TPDN như: quyền chọn mua, bán chứng khoán; hợp đồng tương lai; hợp đồng kỳ hạn; các sản phẩm từ chứng khoán hóa tài sản và các khoản nợ… nhằm tạo sự sôi động hơn cho thị trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của các nhà đầu tư trên cả hai phương diện: tìm kiếm lợi nhuận và kiểm soát rủi ro khi đầu tư vào TPDN. 3.2.4 Giải pháp đối với doanh nghiệp. Thứ nhất, DN cần xây dựng kế hoạch tài chính hàng năm để có chiến lược huy động vốn thích hợp tuỳ thuộc vào nhu cầu và điều kiện thực tế của mỗi DN. Thông thường, DN thường lập kế hoạch ngắn hạn từ 3 – 5 năm, trong đó kế hoạch về nhu cầu vốn là rất quan trọng vì vốn là điều kiện tiên quyết để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các DN. Tuy nhiên, DN thường chưa chú trọng và ít quan tâm đến vấn đề này, chỉ khi phát sinh nhu cầu về vốn thì tại thời điểm đó, DN thấy có khả năng huy động được vốn từ nguồn nào thì sử dụng nguồn đó mà chưa có kế hoạch dài hạn. Vì vậy, việc huy động vốn có thể phải trả chi phí rất cao, gây bất lợi cho chính DN. Do đó, ưu tiên trước hết mà các DN nên làm là phải xây dựng kế hoạch huy động vốn dài hạn, trong đó có chiến lược huy động vốn qua kênh phát hành TPDN một cách hiệu quả sao cho DN có thể chủ động huy động được lượng vốn cần thiết tại mọi thời điểm khi có nhu cầu, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục, ổn định với chi phí sử dụng vốn thấp nhất. Thứ hai, DN cần nâng cao sự am hiểu về pháp luật, các chính sách khuyến khích, ưu đãi của nhà nước trong việc phát hành trái phiếu để tận dụng và tranh thủ cơ hội huy động vốn sao cho có lợi nhất cho DN. Các DN nên có một bộ phận nghiên cứu và tư vấn luật để các hoạt động mang tính hợp pháp, hiệu quả và có tính cạnh tranh cao. Bên cạnh đó, DN cũng cần trang bị những kiến thức cơ bản về pháp luật quốc tế, luật cạnh tranh, 89 luật thương mại quốc tế… để hỗ trợ hiệu quả nhất trong trường hợp DN phát hành trái phiếu quốc tế để thu hút nguồn vốn nước ngoài. Thứ ba, DN cần đề ra chiến lược phát triển dài hạn để thuyết phục các nhà đầu tư về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và kết quả hoạt động kinh doanh của DN trong từng thời kỳ. Đối với trái phiếu phát hành, DN cần có sự rõ ràng chính xác trong khối lượng, kỳ hạn, lãi suất trái phiếu, tỷ lệ chuyển đổi, thời hạn chuyển đổi, biên độ biến đổi giá cổ phiếu (trong trường hợp phát hành trái phiếu chuyển đổi), phương thức phát hành trái phiếu, các tổ chức bảo lãnh phát hành, bảo lãnh thanh toán, kế hoạch bố trí nguồn thanh toán vốn gốc cũng như lãi trái phiếu và các cam kết khác với các trái chủ đều phải được lên kế hoạch một cách cụ thể, rõ ràng và thống nhất. Thứ tư, trong việc phát hành trái phiếu, DN cần phải đảm bảo 3 khâu quan trọng: DN xây dựng được chiến lược phát triển và huy động vốn dài hạn, có phương thức quản lỹ ngân quỹ hiệu quả, công bố thông tin và tiến hành các thủ tục phát hành TPDN. - Đối với việc huy động vốn, DN cần phải xác dịnh nhu cầu huy động vốn là để đầu tư, để thanh toán nợ hay để sản xuất kinh doanh. Nhưng dù với mục đích nào thì DN cũng cần phải gắn việc huy động vốn với việc sử dụng vốn. - Đối với vấn đề quản lý ngân quỹ thì đây là một bài toán khó. Làm thế nào để DN vừa thu hút được lượng vốn lớn, vừa trả được các khoản nợ nhưng vẫn có vốn để tiếp tục sản xuất kinh doanh hoặc tái đầu tư, đây là vấn đề đòi hỏi mỗi DN phải có sự tính toán kỹ lưỡng cũng như phải có chiến lược quản lý ngân quỹ một cách hiệu quả tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi DN. - Đối với việc công bố thông tin và chuẩn bị các thủ tục phát hành trái phiếu cũng là vấn đề đặc biệt quan trọng mà bất cứ DN nào khi muốn phát hành trái phiếu thành công cũng đều phải hết sức lưu ý. Mọi thông tin cần thiết và liên quan đến việc phát hành trái phiếu của DN cần phải được công bố rộng rãi, minh bạch để tạo sự tin cậy và tăng cường lòng tin cho các nhà đầu tư. Doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công bố thông tin và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực về các thông tin đã công bố cũng như các trách nhiệm cam kết với tổ chức bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành, đại lý thanh toán và tổ chức được ủy quyền đấu thầu trái phiếu nếu các trái chủ tự nguyện bán lại trái phiếu cho DN phát hành. Về quy trình phát hành trái phiếu, DN có thể tham khảo tư vấn của các chuyên gia, các tổ chức trong và ngoài nước, nhưng vấn đề mấu chốt là 90 DN vẫn phải là người đưa ra quyết định cuối cùng và phải hết sức chú ý gắn việc phát hành trái phiếu với việc huy động vốn. Thứ năm, DN cần chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tiến hành huy động vốn từ bên ngoài thông qua phát hành trái phiếu quốc tế. Hiện nay, Bộ Tài chính đang gấp rút hoàn chỉnh dự thảo để trình Chính phủ xem xét, ban hành Nghị định về phát hành trái phiếu quốc tế. Theo đó, có hai loại trái phiếu quốc tế là TPCP và TPDN, cả hai loại trái phiếu này đều được quy định rõ ràng từ mục đích phát hành, nguyên tắc phát hành đến các điều kiện phát hành. Đối với TPDN, mục đích chủ yếu là huy động vốn để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh và tái đầu tư, do đó các DN muốn được phát hành trái phiếu quốc tế thì phải đảm bảo các điều kiện như được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, có hệ số tín nhiệm được thị trường quốc tế thừa nhận, có các dự án đầu tư đạt hiệu quả cao. Các DN thực hiện phát hành trái phiếu quốc tế theo nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn huy động được từ phát hành. Đồng thời, để tạo điều kiện cho các DN chủ động cân đối mức vốn cho từng dự án, Chính phủ không quy định mức vốn tối đa một DN được phát hành, mà chỉ quy định khối lượng tối thiểu của mỗi đợt phát hành nhằm đảm bảo tính thanh khoản của trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế. Mặt khác, mọi DN có thể tự phát hành nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định mà không nhất thiết phải có sự bảo lãnh của Chính phủ. Chỉ trong trường hợp DNNN thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm nhưng chưa đủ điều kiện phát hành (như có hệ số tín nhiệm thấp), cần có sự hỗ trợ của nhà nước thì Chính phủ mới xem xét cấp bảo lãnh. Như vậy, để tiếp cận được với nguồn vốn quốc tế, các DN cần có những bước chuẫn bị tốt trên cả hai mặt, cơ sở kỹ thuật và nguồn nhân lực. Về cơ sở kỹ thuật thì đây là điều kiện cơ bản nhất để có thể tiến hành việc phát hành trái phiếu quốc tế, DN cần xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn để xác định nhu cầu vốn, chuẩn bị các điều kiện để xác định hệ số tín nhiệm. Để đạt được hệ số tín nhiệm do các tổ chức định mức tín nhiệm quốc tế đánh giá, DN phải có báo cáo kiểm toán do các công ty kiểm toán quốc tế thực hiện trong 3 năm gần nhất, đảm bảo yêu cầu về minh bạch các hoạt động kinh doanh, sắp xếp và cơ cấu lại tổ chức phù hợp để có khả năng tiếp nhận và sử dụng tốt nhất nguồn vốn phát hành. Đồng thời, DN cần chuẩn bị đủ nguồn nhân lực có kiến thức về thị trường vốn quốc tế để tiếp cận thị trường, thực hiện quản lý dòng tiền, các nghiệp 91 vụ tài chính, thường xuyên cập nhật cho các nhà đầu tư quốc tế biết tình hình hoạt động của DN và theo dõi sự biến động giá trái phiếu của đơn vị đó trên thị trường… KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Nhằm đề xuất các giải pháp có tính khả thi, tạo động lực thúc đẩy thị trường TPDN tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới, luận văn đã khái quát về nhu cầu, triển vọng cũng như quan điểm và định hướng phát triển thị trường TPDN phù hợp với chiến lược phát triển thị trường vốn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Trên cơ sở đó, kết hợp với thực tiễn hoạt động của thị trường trong thời gian qua, luận văn đã đề xuất một số giải pháp cho sự phát triển của thị trường TPDN Việt Nam. Hy vọng những giải pháp này sẽ góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả của các đợt phát hành TPDN, tạo ra một kênh huy động vốn linh hoạt và hiệu quả cho các DN bên cạnh các kênh huy động vốn truyền thống khác như vay vốn ngân hàng, phát hành cổ phiếu… đồng thời từng bước góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường vốn, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển cho nền kinh tế nói chung và các DN Việt Nam nói riêng trong thời kỳ mới – thời kỳ hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế thế giới. KẾT LUẬN hị trường TPDN là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời trong hệ thống tài chính quốc gia. Việc hình thành và phát triển thị trường TPDN ở nước ta là một yêu cầu bức xúc của nền kinh tế, cũng như xuất phát từ chính nhu cầu về vốn đầu tư phát triển của các DN, nhất là trong giai đoạn cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, đặc biệt là sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Mặt khác, sự phát triển của thị trường TPDN cũng có tác động đến sự phát triển của thị trường chứng khoán, khi thị trường TPDN hoạt động hiệu quả sẽ góp phần cung ứng cho thị trường chứng khoán một lượng hàng hóa có chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của các nhà đầu tư, từ đó tạo động lực góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển. Ngược lại, kể từ khi thị trường chứng khoán đi vào hoạt động cũng đã tạo ra nền tảng và nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường TPDN, góp phần cải thiện và nâng cao khả năng huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế nói chung và các DN nói riêng. Vì vậy, phát triển thị trường TPDN để tạo ra kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả cho các DN, đồng thời góp phần từng bước hoàn thiện và phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 là vấn đề cần phải đặc biệt quan tâm hiện nay, không chỉ từ phía Nhà nước mà còn từ chính nhu cầu của giới DN lẫn công chúng đầu tư. Với đề tài “Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam”, luận văn đã đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu cơ sở lý luận về thị trường TPDN, đặc biệt là xem xét vai trò và ý nghĩa của việc phát triển thị trường TPDN trong nền kinh tế, cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của thị trường TPDN. Bên cạnh đó, luận văn cũng đã nghiên cứu kinh nghiệm hình thành và phát triển thị trường TPDN của một số quốc gia trên thế giới, từ đó liên hệ thực trạng hoạt động của thị trường TPDN Việt Nam trong thời gian qua; trong đó chú trọng phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển của thị trường; cũng như chú ý đánh giá nhu cầu, triển vọng và quan điểm, định hướng phát triển thị trường TPDN Việt Nam trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, luận văn đã đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp, tạo cơ sở để thúc đẩy thị trường TPDN phát triển hơn nữa, góp phần nâng cao khả năng T thu hút vốn đầu tư trung và dài hạn, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngày càng lớn cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và cộng đồng DN Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực còn rất mới mẻ và phức tạp, đòi hỏi cần phải có kiến thức và sự nghiên cứu sâu rộng, mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do trình độ còn nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô thành viên Hội đồng và Quý đọc giả để luận văn được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO I. VĂN BẢN PHÁP LÝ. 1. Bộ Tài chính, Thông tư số 75/2004/TT-BTC ngày 23/7/2004 về phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng. 2. Bộ Tài chính, Thông tư số 17/2007/TT-BTC ngày 13/3/2007 hướng dẫn hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng. 3. Bộ Tài chính, Quyết định số 86/QĐ-BTC ngày 15/01/2008 về việc phê duyệt Đề án xây dựng thị trường giao dịch trái phiếu chính phủ chuyên biệt. 4. Chính phủ, Nghị định 120/CP ngày 17/9/1994 ban hành Quy chế tạm thời về việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu Doanh nghiệp nhà nước. 5. Chính phủ, Nghị định 23/CP ngày 22/3/1995 về việc phát hành trái phiếu quốc tế. 6. Chính phủ, Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứng khoán và thị trường chứng khoán. 7. Chính phủ, Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán. 8. Chính phủ, Nghị định 52/2006/NĐ-CP ngày 19/5/2006 về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. 9. Quốc hội khóa X, Luật Doanh nghiệp 1999 ngày 12/6/1999. 10. Quốc hội khóa XI, Luật Doanh nghiệp 2005 ngày 29/11/2005. 11. Quốc hội khóa XI, Luật Chứng khoán ngày 29/6/2006. 12. Thống đốc Ngân hàng nhà nước, Quyết định số 212/QĐ/NH1 ngày 22/9/1994 về thể lệ phát hành trái phiếu Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và hướng dẫn việc phát hành trái phiếu của các tổ chức tín dụng. 13. Thống đốc Ngân hàng nhà nước, Quyết định số 07/2008/QĐ-NHNN ngày 24/3/2008 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành Quy chế phát hành giấy tờ có giá trong nước của tổ chức tín dụng. 14. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 128/2007/QĐ- TTg ngày 02/8/2007 về việc phê duyệt Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. II. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT. 1. TS Phạm Trọng Bình (2001), Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Ủy ban chứng khoán nhà nước, Hà Nội. 2. GS.TS Nguyễn Thị Cành (2009), “Kinh tế Việt Nam qua các chỉ số phát triển và những tác động của quá trình hội nhập”, Tạp chí Phát triển kinh tế (tháng 01/2009), trang 15 – 22. 3. Thạc sĩ Lê Quang Cường (2007), “Xây dựng mô hình tổ chức định mức tín nhiệm ở Việt Nam”, Tạp chí phát triển kinh tế (tháng 4/2007), trang 31 – 32. 4. Phạm Thúy Lan (2001), Thị trường trái phiếu công ty của một số nước Châu Á sau khủng hoảng và một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Ủy ban chứng khoán nhà nước, Hà Nội. 5. TS. Vũ Tiến Lộc (2009), “Kế hoạch phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Thực tiễn triển khai và kiến nghị”, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp (tháng 01/2009), trang 32 – 33. 6. Đỗ Hoa Quỳnh (2008), “Phát hành trái phiếu – Kênh huy động vốn hiệu quả cho Doanh nghiệp”, Tạp chí Thị trường Tài chính – Tiền tệ (số 01+02 ngày 01.01.2008), trang 52 – 53. 7. Trần Đắc Sinh (2002), Định mức tín nhiệm tại Việt Nam, Nhà xuất bản TP.HCM. 8. TS. Nguyễn Đình Thọ (2008), “Kinh nghiệm phát triển thị trường trái phiếu Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Phát triển kinh tế (tháng 10/2008), trang 30 – 36. 9. PGS.TS Trần Ngọc Thơ chủ biên (2005), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê. 10. Nguyễn Lê Trung (2009), “Tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển”, Tạp chí Kinh tế & Dự báo (số 02/2009), trang 26 – 28. 11. TS. Trần Thị Thanh Tú (2008), “Thị trường trái phiếu doanh nghiệp – Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Kinh tế và phát triển (tháng 6/2008), trang 22 – 26. 12. Phùng Tuấn (2008), “Trái phiếu doanh nghiệp: Lạc quan trong năm mới”, Tạp chí Tài chính (tháng 01/2008). 13. Hải Vân (2008), “Thị trường trái phiếu doanh nghiệp: Đường cong chưa rõ nét”, Tạp chí Thông tin Tài chính (số 01+02 tháng 01/2008), trang 32 -33. 14. PGS.TS Bùi Kim Yến – TS. Nguyễn Minh Kiều (2009), Thị trường tài chính, Nhà xuất bản Thống kê. 15. Thông tin tham khảo trên các Website và Internet. PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1 THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU MỘT SỐ NƯỚC ASEAN + 3 2005 2006 2007 Nước Loại trái phiếu Khối lượng (tỷ USD) Tỷ trọng (%) Khối lượng (tỷ USD) Tỷ trọng (%) Khối lượng (tỷ USD) Tỷ trọng (%) Tổng 899,24 100 1184,12 100 1689,83 100 Chính phủ 835,18 92,88 1078,57 91,09 1533,12 90,73Trung Quốc Doanh nghiệp 64,07 7,12 105,55 8,91 156,71 9,27 Tổng 983,53 100 1192,72 100 1313,81 100 Chính phủ 583,07 59,28 702,88 58,93 722,11 54,96Hàn Quốc Doanh nghiệp 400,45 40,72 489,84 41,07 591,69 45,04 Tổng 7046,41 100 7096,10 100 7653,25 100 Chính phủ 6302,54 89,44 6389,17 90,04 6879,28 89,89Nhật Bản Doanh nghiệp 743,87 10,56 706,93 9,96 773,97 10,11 Tổng 85,59 100 96,19 100 97,98 100 Chính phủ 16,34 19,09 16,94 17,62 17,52 17,88Hồng Kông Doanh nghiệp 69,25 80,91 79,25 82,38 80,46 82,12 Tổng 54,15 100 76,72 100 87,55 100 Chính phủ 48,27 89,15 69,88 91,09 79,14 90,39Indonesia Doanh nghiệp 5,88 10,85 6,84 8,91 8,41 9,61 Tổng 106,70 100 121,38 100 164,16 100 Chính phủ 52,25 48,97 61,00 50,26 88,61 53,98Malaysia Doanh nghiệp 54,45 51,03 60,37 49,74 75,55 46,02 Tổng 41,66 100 46,36 100 58,02 100 Chính phủ 40,20 96,50 43,50 93,83 52,84 91,07Philippine Doanh nghiệp 1,46 3,50 2,86 6,17 5,18 8,93 Tổng 83,10 100 99,39 100 118,11 100 Chính phủ 46,90 56,44 55,92 56,26 68,13 57,68Singapore Doanh nghiệp 36,20 43,56 43,47 43,74 49,98 42,32 Tổng 78,84 100 112,01 100 153,93 100 Chính phủ 54,29 68,86 74,58 66,58 107,47 69,82Thái Lan Doanh nghiệp 24,55 31,14 37,44 33,42 46,45 30,18 Tổng 4,30 100 4,93 100 9,79 100 Chính phủ 4,20 97,52 4,50 91,28 8,28 84,54Việt Nam Doanh nghiệp 0,11 2,48 0,43 8,72 1,51 15,46 Tổng 2337,11 100 2933,82 100 3693,19 100 Chính phủ 1680,70 71,91 2107,77 71,84 2677,23 72,49Tổng các nước thị trường mới nổi Doanh nghiệp 656,41 28,09 826,05 28,16 1015,95 27,51 Nguồn: Asia Bond Monitor 2008 PHỤ LỤC 2 TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CÁC NƯỚC ASEAN + 3 2005 2006 2007 Nước Loại trái phiếu Tăng trưởng (%) Tỷ trọng GDP (%) Tăng trưởng (%) Tỷ trọng GDP (%) Tăng trưởng (%) Tỷ trọng GDP (%) Tổng 40,57 39,47 27,35 43,83 33,42 50,00 Chính phủ 35,85 36,66 24,90 39,92 32,89 45,36Trung Quốc Doanh nghiệp 157,13 2,81 59,35 3,91 38,80 4,64 Tổng 14,20 122,56 11,66 130,80 10,87 136,46 Chính phủ 21,32 72,66 11,00 77,08 3,40 75,00Hàn Quốc Doanh nghiệp 5,20 49,90 12,63 53,72 21,58 61,46 Tổng 8,55 165,37 1,83 166,02 1,18 165,35 Chính phủ 10,29 147,91 2,51 149,48 1,02 148,63Nhật Bản Doanh nghiệp -4,23 17,46 -3,9 16,54 2,72 16,72 Tổng 9,18 48,01 12,72 50,69 2,15 47,39 Chính phủ 3,37 9,16 4,01 8,93 3,69 8,47Hồng Kông Doanh nghiệp 10,65 38,84 14,77 41,76 1,82 38,92 Tổng -5,28 19,19 29,64 20,66 19,27 20,80 Chính phủ -5,69 17,10 32,46 18,82 18,36 18,80Indonesia Doanh nghiệp -1,75 2,08 6,48 1,84 28,55 2,00 Tổng 9,67 77,63 6,19 74,79 26,77 84,62 Chính phủ 8,04 38,02 8,99 37,59 36,15 45,68Malaysia Doanh nghiệp 11,27 39,62 3,5 37,20 17,28 38,94 Tổng 9,73 40,67 2,73 37,66 5,30 35,97 Chính phủ 8,30 39,25 -0,11 35,34 2,21 32,76Philippine Doanh nghiệp 72,76 1,42 81,29 2,32 52,34 3,21 Tổng 5,90 69,32 10,35 70,28 11,53 69,94 Chính phủ 8,03 39,12 10,00 39,54 14,34 40,34Singapore Doanh nghiệp 3,26 30,19 10,80 30,74 7,91 29,60 Tổng 24,69 45,59 22,75 50,71 15,52 54,06 Chính phủ 29,01 31,39 18,69 33,76 21,14 37,75Thái Lan Doanh nghiệp 16,10 14,20 31,73 16,95 4,31 16,31 Tổng 14,52 8,18 15,57 8,13 98,11 13,72 Chính phủ 12,24 7,97 8,17 7,42 83,48 11,60Việt Nam Doanh nghiệp 466,67 0,2 306,16 0,71 251,33 2,12 Tổng 22,02 56,63 18,12 60,08 21,10 63,13 Chính phủ 25,73 40,73 18,31 43,17 21,40 45,76Tổng các nước thị trường mới nổi Doanh nghiệp 13,32 15,91 17,62 16,92 20,34 17,37 Nguồn: Asia Bond Monitor 2008 PHỤ LỤC 3 GIÁ TRỊ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP PHÁT HÀNH NĂM 2006 STT Tổ chức phát hành Giá trị (tỷ đồng) Kỳ hạn (năm) Ngày phát hành 350 5 24/3/2006 500 5 15/6/2006 1.150 5 06/7/2006 900 5 20/7/2006 600 5 2006 500 5 01/10/2006 1.000 5 01/11/2006 1 Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) 1.000 10 11/12/2006 500 2 09/9/2006 300 2 09/11/2006 500 2 2006 1.000 10 2006 2 Tập đoàn công nghiệp tàu thủy VN (Vinashin) 300 2 2006 1.016,01 15 19/5/2006 1.188,63 10 19/5/2006 1.104,34 3 01/12/2006 450,05 4 07/12/2006 450,05 5 07/12/2006 69,55 15 18/12/2006 350,06 19 18/12/2006 3 Ngân hàng Đầu tư & phát triển VN (BIDV) 350,06 20 18/12/2006 4 Tổng công ty Sông Đà 260 5 8/2006 5 Công ty tài chính dầu khí (PVFC) 365 3 19/6/2006 6 Công ty CP Đầu tư – kinh doanh nhà (INTRESCO) 100 5 15/5/2006 7 Công ty CP Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP. HCM (CII) 131,5 3 15/9/2006 8 Công ty CP May Nhà bè (NHABECO) 36 5 25/12/2006 800 2 15/3/20069 Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) 700 2 25/10/2006 1.500 10 10/10/2006 1.500 15 10/10/200610 Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) 2.000 10 2006 11 Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) 220 5 30/11/2006 12 Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) 1.000 13tháng 01/11/2006 Tổng cộng 22.191,25 Nguồn: Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước và tác giả tự thống kê PHỤ LỤC 4 GIÁ TRỊ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP PHÁT HÀNH NĂM 2007 STT Tổ chức phát hành Giá trị (tỷ đồng) Kỳ hạn (năm) Ngày phát hành 1 Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) 600 5 01/9/2007 500 5 05/01/2007 500 5 09/01/2007 1.000 10 18/01/2007 300 2 30/01/2007 3.000 10 13/4/2007 3.000 10 20/9/2007 2 Tập đoàn công nghiệp tàu thủy VN (Vinashin) 200 2 2007 500 5 05/3/2007 1.000 10 06/6/20073 Công ty CP Lắp máy LILAMA 500 5 28/9/2007 4 Ngân hàng Đầu tư & phát triển VN (BIDV) 3.000 5 23/7/2007 5 Tổng công ty Thép Việt Nam (VnSteel) 400 5 10/5/2007 6 Công ty tài chính dầu khí (PVFC) 1.000 5 19/6/2007 7 Công ty CP Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP. HCM 500 7 09/7/2007 8 Tổng công ty CP Xây dựng điện VN (VNECO) 500 5 28/9/2007 9 Vilexim 5 3 2007 10 Công ty CP VINCOM 1.000 5 22/10/2007 500 5 31/10/200711 Công ty CP Địa ốc Sài Gòn Thương tín 500 5 10/12/2007 12 Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc VN (VEC) 400 15 28/11/2007 13 Tổng công ty XNK & Xây dựng Vinaconex 1.000 3 19/9/2007 14 Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản VN (Vinacomin) 1.500 10 11/12/2007 15 Tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra) 1.000 5 15/12/2007 16 Công ty CP Thủy hải sản Minh Phú 200 5 21/12/2007 17 Công ty công nghiệp tàu thủy Nam Triệu 300 2 2007 18 Công ty CP Ngoại thương & phát triển đầu tư TP. HCM (FIDECO) 119 1 30/3/2007 19 Công ty CP Xuất nhập khẩu tổng hợp 1 30 1 8/2007 20 Công ty CP Đầu tư điện Tây Nguyên (TIC) 19,74 1 5/2007 21 Ngân hàng phát triển nhà ĐBSCL (MHB) 2.000 2 16/10/2007 2.250 5 25/9/200722 Ngân hàng TMCP Á Châu 1.920 3 20/12/2007 23 Ngân hàng TMCP Kỹ thương VN 1.750 5 31/8/2007 420 2 20/6/200724 Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) 580 2 11/10/2007 1.000 1 Q3/200725 Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) 1.000 2 Q4/2007 300 2 22/9/200726 Công ty Chứng khoán Thăng Long 200 2 27/11/2007 27 Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) 1.400 2 02/12/2007 Tổng cộng 35.894 Nguồn: Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước và tác giả tự thống kê PHỤ LỤC 5 GIÁ TRỊ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP PHÁT HÀNH NĂM 2008 STT Tổ chức phát hành Giá trị (tỷ đồng) Kỳ hạn (năm) Ngày phát hành 100 6 tháng 02/2/20081 Công ty CP Địa ốc Sài Gòn Thương tín 750 8 tháng 06/3/2008 2 Tập đoàn công nghiệp tàu thủy VN (Vinashin) 650 3 & 5 25/12/2008 3 Công ty tài chính dầu khí (PVFC) 1.500 3 2008 4 Công ty cổ phần VINCOM 2.000 5 06/5/2008 500 3 06/5/20085 Công ty CP DL & TM Vinpearl 500 5 06/5/2008 650 2 & 3 30/9/20086 Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai 350 2 & 3 31/12/2008 7 Công ty CP Bê tông & Xây dựng Vinaconex Xuân Mai 200 30 tháng 2008 8 Công ty CP phát triển BĐS Phát Đạt 98 2008 9 Công ty CP Full Power (FPC) 400 3 Q3/2008 10 Ngân hàng TMCP Á Châu 1.350 5 21/02/2008 11 Ngân hàng VIB Bank 3.000 2008 12 Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) 600 2008 13 Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB) 3.000 2008 14 Ngân hàng TMCP Việt Á 400 2008 15 Ngân hàng TMCP SG Công thương (SGB) 1.000 2008 Tổng cộng 17.048 Nguồn: Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước và tác giả tự thống kê PHỤ LỤC 6 TÌNH HÌNH PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 1994 ĐẾN NĂM 2008 STT Tổ chức phát hành Giá trị (tỷ đồng) Kỳ hạn (năm) Ngày phát hành Ngày đáo hạn Lãi suất 1 Công ty Xi măng Hoàng Thạch 44,45 4 1994 1998 2 Nhà máy xi măng Anh Sơn 7,7 3 & 5 1994 1998 3 Công ty CP Cơ điện lạnh REE 55 2 01/7/1996 01/7/1998 4,5% chuyển đổi 4 Công ty Thép Miền Nam 9,2 25 - 30 1997 2022 - 2027 Công bố hàng năm 5 Công ty CP Công nghệ thông tin (EIS) 10 3 2001 2004 8% chuyển đổi 6 Tổng công ty Xi măng 200 2003 7 Công ty tài chính tàu thủy 50 2004 8 Công ty tài chính Cao su 300 2004 300 2003 200 5 06/5/2005 06/5/2010 8,8% năm đầu, các năm sau thả nổi 350 5 24/3/2006 24/3/2011 9,6% năm đầu, các năm sau thả nổi + 1,2% 500 5 15/6/2006 15/6/2011 9,6% năm đầu, các năm sau thả nổi + 1,2% 1.150 5 06/7/2006 06/7/2011 9,6% năm đầu, các năm sau thả nổi + 1,2% 900 5 20/7/2006 20/7/2011 9,6% năm đầu, các năm sau thả nổi + 1,2% 600 5 2006 2011 9,6% cố định 500 5 01/10/2006 01/10/2011 9,6% năm đầu, các năm sau bằng l/s tiền gửi 1.000 5 01/11/2006 01/11/2011 9,6% năm đầu, 9,95% các năm sau 1.000 10 11/12/2006 11/12/2016 9,7% 9 Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) 600 5 01/9/2007 01/9/2012 9,6% 1.000 2005 500 2 09/9/2006 09/9/2008 9,6% 300 2 09/11/2006 09/11/2008 9,6% 500 2 2006 2008 10% 1.000 10 2006 2016 10,5% 300 2 2006 2008 9,6% 500 5 05/01/2007 05/01/2012 10% 1.000 10 18/01/2007 18/01/2017 10,5% 300 2 30/01/2007 30/01/2009 9,6% 3.000 10 13/4/2007 13/4/20017 9% 3.000 10 20/9/2007 20/9/2017 9,4% 200 2 2007 2009 8,95% 3 25/12/2008 25/12/2011 12,75% năm đầu, các năm sau thả nổi +2,5% 10 Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) 650 5 25/12/2008 25/12/2013 12,75% năm đầu, các năm sau thả nổi +3,8% 200 3 10/5/2005 10/5/2008 9,3% 11 Tổng công ty Sông Đà 260 5 8/2006 8/2011 10,5% năm đầu, các năm sau thả nổi 500 5 05/3/2007 05/3/2012 9,6% 1.000 10 06/6/2007 06/6/2017 9,2% 12 Công ty CP Lắp máy LILAMA 500 5 28/9/2007 28/9/2012 8,8% 13 Tổng công ty Thép Việt Nam (Vietnam Steel) 400 5 10/5/2007 10/5/2012 9,5% 1.016,01 15 19/5/2006 19/5/2021 10,2% 1.188,63 10 19/5/2006 19/5/2016 9,8% 1.104,34 3 07/12/2006 07/12/2009 9,36% 450,05 4 07/12/2006 07/12/2010 9,5% 450,05 5 07/12/2006 07/12/2011 9,5% 69,55 15 18/12/2006 18/12/2021 10,1% 350,06 19 18/12/2006 18/12/2025 10,45% 350,06 20 18/12/2006 18/12/2026 10,45% 14 Ngân hàng Đầu tư & phát triển Việt Nam (BIDV) 3.000 5 23/7/2007 23/7/2012 8,15% 300 5 09/3/2003 09/3/2008 8,03% 365 3 19/6/2006 19/6/2009 9,05% 1.000 5 19/6/2007 19/6/2012 8,6% 15 Công ty tài chính dầu khí (PVFC) 1.500 3 2008 2011 17,5% năm đầu, các năm sau thả nổi + 0,3% 131,5 3 15/9/2006 15/9/2009 8% 16 Công ty CP Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP. HCM (CII) 500 7 09/7/2007 09/7/2014 10,3% 17 Tổng công ty CP Xây dựng điện Việt Nam (VNECO) 500 5 28/9/2007 28/9/2012 10,15% 18 Vilexim 5 3 2007 2010 19 Công ty CP Đầu tư – kinh doanh nhà (INTRESCO) 100 5 15/5/2006 15/5/2011 10% 20 Công ty CP May Nhà bè (NHABECO) 36 5 25/12/2006 25/12/2011 7% 1.000 5 22/10/2007 22/10/2012 10,3% 21 Công ty Cổ phần VINCOM 2.000 5 06/5/2008 06/5/2013 16% năm đầu, các năm sau thả nổi +4% 500 5 31/10/2007 31/10/2012 9,8% 500 5 10/12/2007 10/12/2012 10% 100 6 tháng 02/2/2008 02/8/2008 8,8% + quyền mua căn hộ giảm giá 5% 22 Công ty CP Địa ốc Sài Gòn Thương tín (Sacomreal) 750 8 tháng 06/3/2008 06/11/2008 12% + quyền mua căn hộ giảm giá 8% 23 Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) 400 15 28/11/2007 28/11/2022 9% 24 Tổng công ty XNK & Xây dựng Vinaconex 1.000 3 19/9/2007 19/9/2010 3% + quyền mua CP với giá ưu đãi 25 Tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản VN (Vinacomin) 1.500 10 11/12/2007 11/12/2017 9,5% 26 Tổng công ty thương mại Sài Gòn (Satra) 1.000 5 15/12/2007 15/12/2012 9,6% 27 Công ty CP Thủy hải sản Minh Phú 200 5 21/12/2007 21/12/20012 9,98% 28 Công ty công nghiệp tàu thủy Nam Triệu 300 2 2007 2009 9,6% 29 Công ty CP Ngoại thương & phát triển đầu tư TP. HCM (FIDECO) 119 1 30/3/2007 30/3/2008 8% chuyển đổi 30 Công ty CP Xuất nhập khẩu tổng hợp 1 30 1 8/2007 8/2008 8,4% chuyển đổi 1:1 31 Công ty CP Đầu tư điện Tây Nguyên (TIC) 19,74 1 5/2007 5/2008 Chuyển đổi 500 3 06/5/2008 06/5/2011 15% 32 Công ty CP DL & TM Vinpearl 500 5 06/5/2008 06/5/2013 16% 33 Công ty CP Bê tông & Xây dựng Vinaconex Xuân Mai 200 30 tháng 2008 2011 12% 2 30/9/2008 30/9/2010 20,5% năm đầu, các năm sau thả nổi điều chỉnh 6 th/lần 650 3 30/9/2008 30/9/2011 21% năm đầu, các năm sau thả nổi điều chỉnh 6 th/lần 2 31/12/2008 31/12/2010 12,25% năm đầu, các năm sau thả nổi, đ/c 6th/lần 34 Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai 350 3 31/12/2008 31/12/2011 12,75% năm đầu, các năm sau thả nổi, đ/c 6th/lần 35 Công ty CP Bê tông & Xây dựng Vinaconex Xuân Mai 200 30 tháng 2008 2011 12% 36 Công ty CP phát triển BĐS Phát Đạt 98 2008 37 Công ty CP Full Power (FPC) 400 3 Q3/2008 Q3/2011 10% năm đầu, các năm sau thả nổi 38 Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) 1.375 7 26/12/2005 26/12/2012 6% chuyển đổi 1.500 10 10/10/2006 10/10/2016 9,8% cho 5 năm đầu, các năm sau 10,2% nếu mua lại, 10,4% nếu không mua lại 1.500 15 10/10/2006 10/10/2021 10,2% cho 10 năm đầu, sau 10 năm mua lại 10,8% 39 Ngân hàng Nông nghiệp & phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) 2.000 10 2006 2016 9,8% - 5 năm đầu, 10,2% - 5 năm sau 200 2004 800 2 15/3/2006 15/3/2008 9,2% 700 2 25/10/2006 25/10/2008 9,2% 40 Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) 2.000 2 16/10/2007 16/10/2009 9% 2.250 5 25/9/2007 25/9/2012 8,6% 1.920 3 20/12/2007 20/12/2010 8,7% 41 Ngân hàng TMCP Á Châu 1.350 5 21/02/2008 21/02/2013 8% 42 Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) 1.750 5 31/8/2007 31/8/2012 8,6% 220 5 30/11/2006 30/11/2011 8% 420 2 20/6/2007 20/6/2009 8% 580 2 11/10/2007 11/10/2009 8% 43 Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) 3.000 2008 1.000 1 Q3/2007 Q3/2008 8% 44 Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) 1.000 2 Q4/2007 Q4/2009 8% 300 2 22/9/2007 22/9/2009 9% 45 Công ty Chứng khoán Thăng Long 200 2 27/11/2007 27/11/2009 9% 1.000 13tháng 01/11/2006 01/12/2007 46 Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) 1.400 2 02/12/2007 02/12/2009 8,5% chuyển đổi 1:1 47 Ngân hàng VIB Bank 3.000 2008 48 Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) 600 2008 Chuyển đổi 49 Ngân hàng TMCP Việt Á 400 2008 Chuyển đổi 50 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công thương (SGB) 1.000 2008 Chuyển đổi Nguồn: Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước và tác giả tự thống kê

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfphat_trien_thi_truong_trai_phieu_doanh_nghiep_tai_viet_nam_0924.pdf
Luận văn liên quan