Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (tài liệu dùng cho các lớp cao học thạc sĩ)

Vật lực khoa học là toàn bộcơsởvật chất, thiết bị, vật tưkỹthuật chuyên dùng trong nghiên cứu khoa học. Vật lực là một trong bốn nguồn lực đảm bảo cho thành công của hoạt động nghiên cứu khoa học. Cơsởvật chất đầy đủ, thiết bịphong phú, hiện đại là điều kiện thuận lợi đểkhoa học phát triển nhanh và ngược lại thiếu vật lực không thểtiến hành bất cứhoạt động khoa học nào. Vật lực khoa học bao gồm: + Cơsởhạtầng nhưtrụsởlàm việc, phòng thí nghiện, nhà xưởng nơi nghiên cứu, sản xuất thực nghiệm. + Máy móc, thiết bịkỹthuật phổthông hay đặc chủng chuyên dùng cho nghiên cứu khoa học. + Nguyên liệu, vật tưkỹthuật sửdụng trong thí nghiệm, thực nghiệm, sản xuất thửnghiệm Vềnguyên tắc, trong nghiên cứu khoa học phương tiện, thiết bịphải đầy đủ, tinh xảo, hiện đại, với tiêu chuẩn kỹthuật cao, nguyên vật liệu sửdụng phải tinh khiết, đáp ứng đầy đủyêu cầu về định tính và định lượng.

pdf44 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 17/02/2016 | Lượt xem: 1163 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (tài liệu dùng cho các lớp cao học thạc sĩ), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ọc kỹ thuật. 3) Khoa học nông nghiệp. 4) Khoa học về sức khoẻ. 5) Khoa học xã hội và nhân văn. Mỗi cách phân loại có đặc điểm riêng và chúng được sử dụng tuỳ theo mục đích tổ chức nghiên cứu, ứng dụng hay quản lý khoa học. B- CÔNG NGHỆ I. Khái niệm về công nghệ: Do quy luật tự nhiên của sự phát triển khoa học và sự gắn bó mật thiết giữa khoa học và sản xuất xã hội, Khoa học phát triển đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng về kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Khoa học đã làm cho sức sản xuất tăng gấp bội và đã đạt được những thành tựu rực rỡ chưa từng có trong lịch sử loài người. Trong những ngày đầu công nghiệp hoá, người ta sử dụng rất phổ biến 21 thuật ngữ kỹ thuật (Technique) với ý nghĩa là các giải pháp thực hiện một loại công việc hay công cụ được sử dụng trong sản xuất làm tăng hiệu quả sản xuất. Thí dụ: kỹ thuật bôi trơn chống ăn mòn kim loại trong các chi tiết máy. Khi xuất hiện thuật ngữ công nghệ sản xuất, lúc đầu nó được hiểu là quy trình kỹ thuật dùng trong dây chuyền sản xuất, về sau khái niệm công nghệ sản xuất được hiểu theo nghĩa rộng hơn và dần dần ổn định như ngày nay. Theo định nghĩa mà Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á và Thái Bình Dương đề xướng, thì công nghệ sản xuất là tất cả những gì liên quan đến việc biến đổi tài nguyên ở đầu vào thành hàng hoá ở đầu ra của quá trình sản xuất. Hệ thống công nghệ sản xuất bao gồm: + Hệ thống máy móc, thiết bị đồng bộ của các dây chuyền sản xuất (phần kỹ thuật). + Thông tin về quy tinh sản xâu hay các bí quyết kỹ thuật cho một hệ sản xuất (Phát thông tin). + Trình độ tay nghề kỹ năng của người lao động trực tiếp sản xuất (phần con người). + Trình độ tổ chức quản lý, điều hành sản xuất của ban quản lý xí nghiệp, công ty (phần tổ chức). Công nghệ (Technology) là thuật ngữ gọi tắt của công nghệ sản xuất bao gồm hai phần: phần kỹ thuật và phần thông tin. Phần kỹ thuật của công nghệ gọi là phần cứng (Hardware). Phần thông tin gọi là phần mềm (Sofrware). Như vậy, công nghệ là hệ thống thiết bị kỹ thuật và thông tin về quy trình sản xuất được áp dụng trong quá trình chế biến tài nguyên thành sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Về bản chất, công nghệ là kết quả của quá trình áp dụng các thành tựu của khoa học vào sản xuất. Công nghệ là sản phẩm của lao động trí tuệ sáng tạo của con người trong lĩnh vực sản xuất. Công nghệ là tổ hợp nhiều công đoạn của quy trình ứng dụng kiến thức khoa học vào sản xuất, và phương tiện để chế biến tài nguyên vật chất thành sản phẩm hàng hoá. Tuy nhiên công nghệ luôn gắn chặt với công nghiệp, Công nghiệp và công nghệ là hai mặt của một thực thể thống nhất. Công nghệ là nền tảng của công nghiệp, còn công nghiệp là phương thức chuyển tải công nghệ vào cuộc sống. Hiện đại hoá gắn chặt với công nghiệp hoá nền sản xuất, vì nóng cốt của hiện đại hoá là công nghiệp hoá. Công nghiệp hoá phải dựa và công nghệ tiên tiến ở 22 trình độ cao. Công nghiệp hiện đại với công nghệ cao mà hệ trung tâm là máy tính điện tử tạo khả năng tự động hoá hoàn toàn trong các dây chuyền sản xuất và đem lại năng xuất và hiệu quả sản xuất rất lớn. Trong nền công nghiệp hiện đại một phần lao động sức lực và trí tuệ giao cho máy móc đảm nhiệm. Rôbốt thông minh thay vị trí con người trong những lao động chính xác nặng nhọc và độc hại. Những dây chuyền cơ điện tử (Mechatronic) điều khiển bằng máy tính, ngàn loạn tư động từ nhân tính toán, thiết kế đến khâu nhập vật liệu gia công, lắp ráp, kiểm tra thành phẩm và nhập kho. Con người đứng bên cạnh dây chuyền làm nhiệm vụ chỉ huy, điều chỉnh và kiểm tra chung, từ đó xuất hiện thuật ngữ công nghệ cao. Công nghệ cao là một khái niệm nói về một nền sản xuất ở trình độ tinh xảo nhất với những đặc điểm sau đây: + Hệ thống thiết bị được thiết kế tự động hoàn toàn, máy móc có kết cấu phức tạp nhưng vận hành đơn giả? + Bí quyết của quy trình kỹ thuật sản xuất hết sức tinh vi. + Máy móc, thiết bị sản xuất tiêu thụ rất ít năng lượng, nguyên vật liệu sản xuất được sử dụng rất tiết kiệm và nguyên liệu tái tạo được sử dụng nhiều nhất. + Năng xuất lao động rất cao, sản phẩm hàng hoá có chất lượng tốt. + Nhà máy được thiết kế khép kín, phế thải được tinh lọc, không gây ô nhiễm môi trường. Nền sản xuất với công nghệ hiện đại có hàm lượng trí tuệ rất cao. Nếu trước đây hiệu quả kinh tế dựa chủ yếu vào vốn đầu tư và sức lao động đơn giản, nặng nhọc chiếm tới 60 đất 70% cơ cấu giá thành, thì ngày nay trong sản phẩm công nghệ cao chất xám chiếm 70% đến 75% cơ cấu ấy. Có những mặt hàng như: điện tử, tin học, dược phẩm... Nguyên liệu chiếm 1-3% giá thành, sức lao động 12%, còn lại dành cho đầu tư kiến thức mua bí quyết công nghệ, thực hành thí nghiệm, sản xuất thử. II. Chuyển giao công nghệ Cách mạng khoa học và kỹ thuật hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt thế giới. Thang giá trị xã hội được đo bằng trí tuệ. Trí tuệ đã trở thành sàn phẩm cao cấp có giá trị và giá trị sử dụng. Sản phẩm trí tuệ có mối giao lưu trên thị trường hiện đại và bản thân nó cũng tạo ra thị trường có sức cạnh tranh mạnh mẽ. Các nhà tương lai học khẳng định: Tương lai sẽ thuộc về dân tộc nào có tiềm lực trí tuệ cao, chứ không thuộc về những nước giàu có tài nguyên, bởi vì trí tuệ con 23 người là cơ sở thật sự cho mọt sự phát triển khoa học và kinh tế - xã hội. Việc ứng dụng các thành tựu khoa học đã làm rút ngắn thời gian đổi mới công nghệ. Khả năng thay đổi công nghệ được dự tính trước. Máy móc có tính mềm dẻo, linh hoạt, phụ kiện dễ thây thế, đảm bảo không bị lạc hậu so với công nghệ mới. Việc đổi mới cóng nghệ diễn ra nhanh chóng kể cả số lượng và tốc độ trên phạm vi toàn thế giới từ đó tạo nên quá trình chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ là nơi gặp gỡ giữa khoa học và thị trường. Về bản chất, chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, thông qua dịch vụ thương mại có tổ chức. Chuyển giao công nghệ theo khái niệm của UNESCO bao hàm. Chuyển giao thiết bị kỹ thuật, chuyển giao kiến thức về quy trình sản xuất, chuyển giao kinh nghiệm tổ chức quản lý và hoạt động tư vấn trong lĩnh vực sản xuất. Tuy nhiên chuyển giao công nghệ chú trọng hai phần một cách đồng bộ: phần kỹ thuật và phần thông tin. Phần kỹ thuật được chuyển giao bằng dịch vụ thương mại thông thường, phần thông tin được chuyển giao bằng những thoả thuận của hai bên chuyển giao và tiếp nhận. Chuyển giao công nghệ được thực hiện bởi hai nguồn: + Nguồn thứ nhất, chuyển giao tơi nơi phát minh đến các xí nghiệp ứng dụng sản xuất gọi là chuyển giao dọc. Nội dung là công nghệ theo con đường chuyển giao dọc hoàn toàn mới, lần đầu tiên được đưa vào sản xuất. Đây là con đường ngắn nhất của chu trình nghiên cứu - ứng dụng. Tuy nhiên con đường này chứa những yếu tố mạo hiểm vì công nghệ mới chưa được thử thách. + Nguồn thứ hai, chuyển giao từ cơ sở sản xuất có trình độ công nghệ cao đến cơ sở sản xuất còn yếu kém, gọi là chuyển giao ngang. Nguồn chuyển giao này ít mạo hiểm hơn vì công nghệ được thực tiễn thử thách, nhưng bên mua công nghệ thường bị thua thiệt, bởi vì trong thị trường cạnh tranh không một xí nghiệp nào lại bán bí quyết công nghệ mới nhất cho đối thủ cạnh tranh. Cho nên trong quá trình chuyển giao công nghệ ở nước ta, đặc biệt là quá trình nhập ngoại công nghệ phải thận trọng và thực hiện đúng các quy định của nhà nước, thể hiện trong các nguyên tắc đây: 1- Công nghệ nhập ngoại phải là công nghệ tiên tiến, nếu đạt tới trình độ tiên tiến nhất thì đó là điều lý tưởng. 2- Công nghệ nhập ngoại phải giúp ta tận dụng hết các nguồn lực sản xuất 24 trong nước. 3- Công nghệ nhập ngoại phải thúc đẩy sự phát triển công nghệ quốc gia. 4- Công nghệ nhập ngoại phải phù hợp với trình độ sản xuất của công nhân Việt Nam và đem lại hiệu quả cao: 5- Công nghệ nhập ngoại không gây ô nhiễm môi trường. Chuyển giao công nghệ được thực hiện cả ở trong nước và Quốc tế. Chuyển giao công nghệ có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với từng quốc gia và với cả thế giới. Với ý nghĩa văn hoá- khoa học, chuyển giao công nghệ vừa kích thích quá trình lao động sáng tạo của các nhà khoa học, nó vừa thúc đẩy quá trình sản xuất bằng việc ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khoa học. Chuyển giao công nghệ đảm bảo tính pháp lý của các chủ thể sáng tạo và quyền sử dụng hợp pháp các thành quả khoa học ở các cơ sở sản xuất. Với ý nghĩa kinh tế - thương mại, nó giúp mở rộng sự hợp tác giao lưu kinh tế khoa học, kỹ thuật giữa các khu vực trong nước và quốc tế, từ đó làm rút ngắn khoảng cách sự khác biệt trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật giữa các khu vực và tạo điều kiện để các quốc gia cùng phát triển. Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước một trong những con đường quan trọng của chúng ta là phải nhập ngoại công nghệ tiên tiến, với chiến lược chung là: Bước đầu thích nghi với công nghệ nước ngoài để áp dụng có kết quả vào sản xuất, dần dần,cải tiếm công nghệ nhập ngoại để có sản phẩm tốt hơn, khi năng lực khoa học và công nghệ đủ mạnh thì vươn lên sáng tạo công nghệ Việt Nam có sức cạnh tranh với công nghệ thế giới. Chuyển giao công nghệ là hoạt động phức tạp có các mức độ, chiều sâu khác nhau đó là: Trao kiến thức, trao phương tiện kỹ thuật, trao chìa khoá sau khi xây dựng nhà máy, trao chìa khoá sau khi đã sản xuất ra sản phẩm, trao thị trường truyền thống tiêu thụ sản phẩm, mức sâu nhất là đầu tư tư bản. Chúng ta đang tranh thủ tối đa mọi khả năng của chuyển giao công nghệ để nhanh chóng phát triển kinh tế tiếp kịp trình độ các nước trong khu vực. C- KỸ THUẬT - Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống hoặc thực tiễn được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng vào các quá trình sản xuất (kỹ thuật theo nghĩa hẹp). - Kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chiến hệ 25 thống hoặc thực tiễn được sử dụng cho việc sản xuất các sản phẩm hoặc áp dụng vào mục đích quản lý, thương mai, công nghiệp hoặc trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Kỹ thuật là những thao tác có thể, cách thức tác động vào sự vật hoặc hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng. D- PHÂN BIỆT GIỮA KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ VÀ KỸ THUẬT Trong quá trình sử dụng các thuật ngữ "khoa học", "công nghệ", "kỹ thuật", đôi khi chúng ta không chú ý đầy đủ đến phân biệt về ý nghĩa chính xác của chúng, cũng như sự thiếu tách bạch giữa các khái niệm “phát minh”? và sáng chế. Tuy vậy việc phân biệt một cách rõ ràng các khái niệm này còn chưa được thống nhất trong các nhà khoa học và giới nghiên cứu. Về sự phân biệt kỹ thuật và công nghệ, có nhiều quan điểm khác nhau. Theo Charles Edquist, công nghệ có một ý nghĩa tổng hợp và thường bao hàm một số những hiện tượng mang đặc trưng xã hội, như trí thức, tổ chức, phân công lao động xã hội, một phạm trù phi vật chất. Và theo ông thì thuật ngữ kỹ thuật mang một ý nghĩa hẹp hơn. Nó chỉ những yếu tố vật chất và vật thể, chẳng hạn, máy móc, thiết bị và sự tác nghiệp, vận nhành của con người. Theo ông Jacquyes Perrin, công nghệ là sự tư duy về kỹ thuật; nó bao gồm việc mô tả, phân tích lịch sử, triết lý về kỹ thuật, định hình các khái niên, đào tạo, truyền bá và hoàn thiện các hoạt động kỹ thuật và ông xem công nghệ là những tri thức được tổ chức, được định hình trên các kỹ thuật. Tuy nhiên, không phải sự phân biệt trên đây đã được hiểu thống nhất trong giới nghiên cứu. Ví dụ. Có một số tác giả lại đưa ra một các hiểu ngược lại. Các tác giả này đưa ra khái niệm "kỹ thuật công nghiệp" và cho rằng khái niệm kỹ thuật công nghiệp rộng hơn khái niệm công nghệ và "bao hàm tất cả các hoạt động (có hệ thống hoặc chỉ đạt được từ thực tiễn) nhằm áp dụng những quy luật khoa học vào sản xuất công nghiệp. Một điều cần quan tâm là các thuật ngữ “công nghệ” và “kỹ thuật” trong các nước sử dụng cũng chưa thống nhất. Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong những hoạt động kinh doanh liên quan đến chuyển giao công nghệ và bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp, những phạm trù này cần được phân biệt một cách chuẩn xác. Một vài khía cạnh so sánh về mặt ý nghĩa giữa khoa học và công nghệ được chỉ ra trong bảng tsau: Bảng so sánh các đặc điểm khoa học là công nghệ 26 TT Khoa học Công nghệ 1 Quá trình nghiên cứu khoa học mang tính xác xuất Quá trình điều hành công ghệ mang tính xác định 2 Hoạt động khoa học mang tính hướng mới, không lặp lại Hoạt động công nghệ được tập lại theo chu kỳ 3 Sản phẩm khó được định hình trước Sản phẩm được định hình theo thiết kế 4 Sản phẩm mang đặc trưng thông tin Đặc trưng sản phẩm tuỳ theo đầu vào 5 Một khoa học có thể ra đời ngẫu nhiên Công nghệ ra đời tuỳ thuộc thành tựu khoa học và sức ép của phát triển 6 Lao động với độ linh hoạt và độ sáng tạo cao Lao động bị định khuôn theo quy định mang tính thiết chế của công nghệ 7 Có thể mang mục đích tự nhân Không mang mục đích tự thân 8 phát minh khoa học tồn tại mãi với thời gian Sáng chế công nghệ tồn tại tiêu vong theo lịch sử tiến bộ kỹ thuật Sự so sánh chỉ trong bảng chỉ là gợi ý cho người nghiên cứu, người làm chính sách và quản lý nghiên cứu những cơ sở phương pháp luận phù hợp với đặc điểm của mỗi loại hình lao động. Trong sự so sánh này; cần lưu ý rằng khái niệm về công nghệ với những thuộc tính chỉ trong bảng là những công nghệ đã được xác nhận qua quá trình phát triển của khoa học và công nghệ, đã được kiểm chứng là không còn rủi ro trong thử nghiệm, nghĩa là đã vượt quạ phạm trù nghiên cứu để bước vào giai đoạn vận hành ổn định, đủ điều kiện để bàn giao cho người sử dụng. 27 Chương II NGHIÊN CỨU KHOA HỌC I. KHÁI NIỆM Nghiên cứu khoa học là sự tìm hiểu khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật hoặc hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng, đồng thời vận dụng những quy luật ấy để sáng tạo các giải pháp cải tạo thế giới khách quan. Nghiên cứu khoa học, suy cho cùng, mang hai nội dung cơ bản sau: + Phát hiện quy luật vận động của thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội, con người). + Sáng tạo các giải pháp nhằm biến đổi trạng thái của sự vật hoặc hiện tượng, cải tạo thế giới, tức tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người. Bản chất nghiên cứu khoa học là các hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới. Chủ thể của nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học với những phẩm chất trí tuệ và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo. Quá trình nghiên cứu được thực hiện trong một cơ quan nghiên cứu với một tập thể có tiềm lực mạnh, được tổ chức chặt chẽ, có chương trình chiến lược hoạt động. Sự sáng tạo khoa học bao giờ cũng được bắt đầu từ một ý tưởng của cá nhân và sau đó được sự hỗ trợ, hợp tác nghiên cứu của một tập thể, theo ý tưởng định hướng nghiên cứu của người đề xuất. Vì vậy, có thể nói: chủ thể nghiên cứu khoa học vừa là cá nhân, vừa là tập thể. Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và các quy luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất vật chất hay tạo ra những giá trị tinh thần, để thỏa mãn nhu cầu cuộc sống của con người. Nhiều nghiên cứu khoa học không chỉ là nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới, khoa học đích thực luôn vì cuộc sống con người. Phương pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp nhận thức thế giới bao gồm những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các thao tác cụ thể để tác động vào đối tượng để làm bộc lộ bản chất của đối tượng. Nghiên cứu khoa học còn phải sử dụng những công cụ đặc biệt, có tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe trong định 28 tính và định lượng để thí nghiệm, thực nghiệm đo lường và kiểm định sản phẩm sáng tạo. Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là hệ thống thông tin mới về thế giới và những giải pháp cải tạo thế giới. Cho nên có thể nói khoa học luôn hướng tới cái mới. Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại và có giá trị dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn. Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, hòan thiện, bổ sung theo đà tiến bộ của xã hội lòai người và ngày một tiệm cận tới chân lý khách quan. Mỗi lý thuyết khoa học được hình thành, phát triển hưng thịnh, rồi lạc hậu nhường chỗ cho cái mới, cái tiến bộ, cái có triển vọng hơn. Giá trị của nghiên cứu khoa học được quyết định bởi tính thông tin, tính ứng dụng và sự đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Thông tin khoa học phải có tính khách quan, có độ tin cậy, có thể kiểm tra được bằng các phương pháp khác nhau. Quá trình nghiên cứu khoa học: quá trình nghiên cứu khoa học diễn ra phức tạp, luôn chứa đựng những mâu thuẫn, liên tục xuất hiện những xu hướng, các trường phái lý thuyết, các giả thuyêt, các dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và kết cục cái nào phù hợp với hiện thực, đem lại lợi ích cho con người là cái chiến thắng. Khoa học là cách mạng với nghĩa đó. Nghiên cứu khoa học có chứa đựng những yếu tố mạo hiểm, bởi vì nghiên cứu khoa học không phải lúc nào cũng thành công. Sự thành công sẽ tạo ra giá trị mới cho nhân loại và có cả những thất bại rủi ro, đó là sự phải trả giá của nghiên cứu khoa học, nhưng chính sự thất bại đó cũng là một thông tin có ích để đồng nghiệp không lặp lại sai lầm tương tự. II. CHỨC NĂNG VÀ CÁC LOẠI HÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Chức năng của nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là hoạt động phức tạp. Cùng với lịch sử phát triển của loài người, trình độ nhận thức khoa học ngày một nâng cao. Tổng kết lịch sử phát triển khoa học người ta thấy loài người đã trải qua mấy trình độ nhận thức sau đây: Trình độ mô tả: Mô tả khoa học là trình bày lại những kết quả nghiên cứu một hiện tượng hay một sự kiện khoa học làm sao cho đối tượng đó được thể hiện đến mức độ nguyên bản tối đa. 29 Tri thức mô tả là những tri thức thu nhận được qua quan sát, điều tra và được trình bày hệ thống ký hiệu có tính trực quan, đồng thời là những khái niệm có liên quan đến hệ thống ký hiệu này. Mô tả là biện pháp quan trọng để chuẩn bị tư liệu cho việc giải thích khoa học. Trong mô tả thường người ta phân biệt mô tả định tính và mô tả định lượng. Mô tả định tính là chỉ rõ các đặc trưng về vật chất của sự vật, hiện tượng. Ví dụ, Trái đất và sao kinh tinh quay xung quanh mặt trời theo một quỹ đạo bầu dục, “Quy theo một quỹ đạo bầu dục” là một đặc trưng về chất của cả hai hành tinh Trái đất và Kim tinh. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mô tả dựa trên những tiêu chí định tính trên đây, thì người ta chưa thể phân biệt được Trái đất và Kim tinh khác nhau như thế nào. Vì vậy, sự mô tả định tính phải được bổ sung bằng các mô tả định lượng. Mô tả định lượng là tiêu chí chỉ rõ các đặc trưng về lượng của sự vật hoặc hiện tượng. Trong ví dụ trên, người ta biết được một trong những đặc trưng về lượng là chu kỳ quay của Trái đất xung quanh mặt trời là 365,24 ngày đêm; còn chu kỳ của Kim tinh xung quanh Mặt trời là 224,7 ngày đêm. Đó là các mô tả định lượng. Mô tả khoa học tuy đã cố gắng cho ta hình ảnh đầy đủ về đối tượng nghiên cứu hiện thực, nhưng mô tả chưa đạt tới trình độ thiết lập được các mối liên hệ có tính quy luật, bản chất bên trong của đối tượng, vì thế nó vẫn còn dừng ở mức độ nhận thức thực tiễn và kinh nghiệm. Trình độ giải thích: Giải thích khoa học là trình bày một cách tường minh bản chất của đối tượng nghiên cứu, bằng cách chỉ rõ rằng đối tượng ấy đã tuân thủ một phần hay toàn bộ các quy luật chung của sự phát triển hiện thực. Cơ sở cần thiết cho mọi sự giải thích khoa học là các tài liệu về đối tượng phải đầy đủ, chính xác, ngôn ngữ rõ ràng, lập luận chặt chẽ, phù hợp với các lôgíc của suy luận, tư tưởng học thuật phải phù hợp với các lý thuyết khoa học đã được chứng minh. Giải thích khoa học cố gắng phản ánh trung thực các sự kiện của hiện thực, chỉ ra nguồn gốc phát sinh, phát triển, mối quan hệ của sự kiện với các sự kiện khác, với môi trường xung quanh, những điều kiện, nguyên nhân, những hệ quả đã có hay có thể xẩy ra. 30 Trình độ giải thích khoa học như vậy đã cố gắng đi sâu vào bản chất của sự kiện, bắt đầu tham gia vào quá trình tìm kiếm quy luật vận động của đối tượng nhận thức. Tuy nhiên đạt tới trình độ chính xác đến đâu, còn phụ thuộc vào khả năng của người nghiên cứu và mức độ tự bộc lộ của đối tượng Trình độ phát hiện: Trình độ phát hiện là trình độ nghiên cứu hướng tới bản chất của các sự kiện, hiện tượng khách quan một cách chủ động nhằm khám phá các quy luật vận động và phát triển của chúng. Phát hiện đồng nghĩa với phát minh, với quá trình sáng tạo ra chân lý mới làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại. Trình độ phát triển khoa học là trình độ nhận thức sáng tạo cao nhất của con người, được thực hiện bằng những phương thức đặc biệt, với những công cụ, phương tiện tinh sảo và với những quy trình kỹ thuật khắt khe làm cho đối tượng bộc lộ nguyên hình với những dấu hiệu bản chất, với các quy luật vận động và phát triển khách quan. Tri thức phát hiện tạo nên các khái niệm, phạm trù, các quy luật các lý thuyết, học thuyết mới, những phương pháp nghiên cứu mới, những quy trình công nghệ mới, đó là những tri thức có giá trị đối với lý luận và thực tiễn. 2. Loại hình nghiên cứu khoa học Việc lựa chọn loại hình nghiên cứu khoa học được quyết định bởi mục tiêu nghiên cứu và chủng loại sản phẩm thu được sau quá trình nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu khoa học có thể rất khác nhau: hoặc là phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật hoặc hiện tượng; hoặc là sáng tạo nguyên lý những giải pháp phục vụ cho các hoạt động xã hội khác nhau của con người. Chủng loại sản phẩm sẽ thu nhận được sau nghiên cứu: có thể là các phát hiện, phát kiến, phát minh, vv cũng có thể là các giải pháp, bí quyết, sáng chế, v.v Tùy thuộc mục tiêu nghiên cứu và sản phẩm thu nhận sau nghiên cứu,người ta chia ra những loại hình nghiên cứu khác nhau: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu dứng dụng hoặc triển khai. a) Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới, những giá trị mới cho nhân loại. Nghiên cứu cơ bản đi sâu 31 khám phá bản chất và quy luật vận động và phát triển của thế giới ở cả hai phía vi mô và vĩ mô. Tri thức sáng tạo từ nghiên cứu cơ bản là tri thức nền tảng cho mọi quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo. Kết quả của nghiên cứu cơ bản luôn là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, những định luật, định lý Cuối cùng, trên cơ sở những nghiên cứu này, người nghiên cưu đưa ra những phát hiện, phát kiến, phát minh, xây dựng nên những cơ sở lý thuyết có một giá trị tổng quát cho nhiều lĩnh vực hoạt động. Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu phức tạp nhất do đội ngũ các nhà khoa học có trình độ năng lực sáng tạo đặc biệt tiến hành. Với những yêu cầu cao về trang thiết bị, với những chương trình nghiên cứu lâu dài, một nguồn tài chính lớn, tốn kém và mạo hiểm. Chỉ có các nước có tiềm lực khoa học mạnh mới có khả năng tổ chức loại hình nghiên cứu cơ bản một cách rộng rãi. Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại: Nghiên cứu cơ bản thuần túy và nghiên cứu cơ bản định hướng. Nghiên cứu cơ bản thuần túy: Nghiên cứu cơ bản thuần túy còn được gọi là nghiên cứu tự do hoặc nghiên cứu cơ bản không định hướng. Nghiên cứu cơ bản thuần túy có mục tiêu là phát hiện, sáng tạo ra giá trị mới, những quy luật, những lý thuyết khoa học mới dù chưa có địa chỉ ứng dụng. Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản thuần túy có thể là các phát hiện, phát minh, phát kiến, các công thức và thường dẫn đến việc hình thành hệ thống lý thuyết có ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lịch sử khoa học, chúng ta gặp rất nhiều những phát hiện của nghiên cứu cơ bản thuần túy trong mọi lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội, chẳng hạn, Newtơn phát hiện định luật hấp dẫn vũ trụ, Galileo phát hiện các vệ tinh của Sao Mộc, Marie Curie phát hiện nguyên tố phóng xạ uranium, Adam Smith phát hiện “bày tay vô hình” của kinh tế thị trường, Karl Marx phát hiện ra quy luật về thặng dư. Đó đều là sản phẩm của những nghiên cứu cơ bản thuần túy. Tác giả các phát hiện này không thể dự kiến hết được, thậm chí không hề dự kiến được những phát hiện của mình sẽ được nhằm vào mục đích áp dụng nào và dẫn đến những kết quả, những ảnh hưởng lớn lao như thế nào trong đời sống xã hội. Nghiên cứu cơ bản định hướng: Nghiên cứu cơ bản định hướng có mục tiêu để tìm ra những kiến thức mới, giải pháp mới theo yêu cầu của thực tiễn xã hội hay sản xuất, đã có sẵn địa chỉ ứng dụng. Hay nói cách khác đây là những 32 nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng. Nghiên cứu cơ bản định hướng còn được gọi là nghiên cứu thăm dò và đôi khi được hiểu là một loại hình nghiên cứu để xác định phương hướng nghiên cứu. Thí dụ, hoạt động thăm dò địa chất mỏ cũng xem là nghiên cứu cơ bản định hướng, bởi vì nó nhằm khám phsa quy luật (định tính và định lượng) phân bố khoáng sản trong lòng đất. Hoạt động nghiên cứu này hướng vào mục đích phục vụ nhu cầu khai thác khoáng sản. Nghiên cứu nền tảng: nghiên cứu nền tảng là những nghiên cứu dựa trên các quan sát, đo đạc để thu thập số liệu và dữ kiện nhằm mục đích tìm hiểu và khám phá quy luật của tự nhiên. Thuộc loại hình nghiên cứu nền tảng có thể liệt kê một số dạng như nghiên cứu dịch tễ học trong y; điều tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiên như điều tra địa chất, nghiên cứu đại dương, khí quyển, khí tượng; tổng hợp các hóa chất, nghiên cứu bản chất vật lý, hóa học, sinh học. Nghiên cứu chuyên đề: Nghiên cứu chuyên đề là nghiên cứu có hệ thống một hiện tượng đặc biệt của tự nhiên, ví dụ trạng thái plasma của vật chất, của bức xạ vũ trụ, gien di truyền. Những loại hình nghiên cứu cơ bản định hướng thuộc dạng này không chỉ đưa đến những cơ sở lý thuyết quan trọng, mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa lớn lao trong kinh tế và trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Chúng ta không nên hiểu đồng nhất giữa hai khái niệm nghiên cứu cơ bản và khoa học cơ bản b) Nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu ứng dụng là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm cách vận động những tri thức cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới trong sản xuất, những nguyên lý mới trong quản lý kinh tế xã hội. Sản phẩm của nghiên cứu ứng dụng có thể là một giải pháp về công nghệ có tính mới về nguyên lý, vật liệu mới, sản phẩm mới, giải pháp hữu ích, sáng chế. Điều quan trọng nhất để phân biệt nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng là ở chỗ, nghiên cứu cơ bản thì đưa ra những tri thức mới về bản chất, quy luật vận động và hiện tượng, còn nghiên cứu ứng dụng đưa ra những nguyên lý mới về giải pháp tác động vào sự vật hoặc hiện tượng. 33 Đây là một loại hình nghiên cứu phù hợp với quy luật phát triển của khoa học hiện đại, nó làm rút ngắn thời gian từ khi phát minh đến khi ứng dụng. Chính nghiên cứu ứng dụng đã làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển cả khoa học lẫn sản xuất. Nghiên cứu ứng dụng là một trong những con đường quan trọng nhất giúp cho các nước phát triển nhanh chóng, bỏ qua giai đoạn nghiên cứu cơ bản tốn kém để tiến kịp các nước phát triển có tiềm lực khoa học mới. Nhật Bản là thí dụ điển hình. Cũng như đối với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng không nên hiểu đồng nghĩa với khoa học ứng dụng. Và điều cần lưu ý nữa là, mặc dầu loại hình này có tên gọi là nghiên cứu ứng dụng, nhưng kết quả của nó thì chưa ứng dụng được. Để có thể đưa kết quả của nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong thực tế thì còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, có tên gọi là nghiên cứu triển khai. c) Nghiên cứu triển khai Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm khả năng áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất và đời sống xã hội, tạo ra các mô hình chế biến thông tin khoa học thành ra sản phẩm tinh thần hay vật chất. Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu nối liền khoa học và đời sống, là con đường đưa khoa học tới nơi cần sử dụng, chính nó làm cho ý tưởng khoa học trở thành hiện thực, làm phát triển nền kinh tế văn hóa xã hội, làm tăng chất lượng cuộc sống của con người. Đặc trưng của nghiên cứu triển khai là sự vận dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu với những tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật. Sản phẩm của nghiên cứu triển khai chỉ mới là những vật mẫu, hình mẫu có tính khả thi về kỹ thuật, nghĩa là đã được khẳng định, không còn xác suất rủi ro về mặt kỹ thuật trong áp dụng. Điều này chưa hòan toàn có nghĩa là đã có thể áp dụng vào một địa chỉ cụ thể nào đó, bởi vì, để áp dụng được vào một điều kiện cụ thể xác định còn phải tính đến khả năng về tài chính, kinh tế, môi trường, xã hội, chế độ, chính trị, v.v d) Nghiên cứu dự báo Nghiên cứu dự báo là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là phát hiện những triển vọng, những khả năng xu hướng mới của sự phát triển của khoc học và 34 thực tiễn. Nghiên cứu dự báo dựa trên các quy luật và tốc độ phát triển của khoa học hiện đại, trên cơ sở các tiềm lực khoa học quốc gia và thế giới. Nghiên cứu dự báo dựa trên kết quả phân tích và tổng hợp một số lượng lớn các thông tin khách quan về các thành tựu của khoa học, đồng thời dựa vào nhu cầu khả năng phát triển cuộc sống của xã hội hiện đại. Các dự báo gồm: + Những thành tựu của khoa học và thực tiễn có thể đạt được trong tương lai. Những triển vọng của những phát minh, số lượng và chất lượng thông tin mới. + Những xu hướng, trường phái khoa học, những chương trình khoa học mới, những khả năng phát triển tiềm lực khoa học quốc gia và quốc tế. + Những khả năng hình thành các tổ chức khoa học mới và những triển vọng của sự phát triển tiềm lực khoa học quốc gia và quốc tế. Nghiên cứu dự báo có ba cấp: - Cấp 1: Dự báo cho 15-20 năm. - Cấp 2: Dự báo cho 40-50 năm - Cấp 3: Dự báo cho 1 thế kỷ Mọi dự báo đều chứa đựng những thông tin giả định, tuy vậy nó có vai trò to lớn trong phát triển cả thực tiễn và lý luận khoa học. Cuộc sống hiện thực, nhu cầu thực tế, tiềm năng của khoa học sẽ bổ sung và sửa đổi dự báo. Số phận của dự báo chịu ảnh hưởng của sự phát triển xã hội và những bí mật của thiên nhiên được phát hiện. 3. Ý nghĩa của việc xác định loại hình nghiên cứu Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu cần bắt đầu từ việc thiết lập sự kiện, quan sát và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu chính là cái mà người nghiên cứu phải kiểm chứng trong toàn bộ tiến trình nghiên cứu. Đặt giả thuyết nghiên cứu: Mỗi loại hình nghiên cứu tương ứng với nhiều loại giả thuyết nghiên cứu. Bất cứ nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học nào, người nghiên cứu cũng cần phải đưa ra những giả thuyết nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu sẽ được chứng minh hoặc bác bỏ sau khi được kiểm chứng bởi chính người nghiên cứu. - Với nghiên cứu cơ bản, người nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết về bản chất hay quy luật vận động của sự vật hoặc hiện tượng. 35 - Với nghiên cứu ứng dụng, người nghiên cứu cần đưa ra những giả thuyết về hình mẫu. Khi đã xác định được loại hình nghiên cứu, người nghiên cứu sẽ định hướng được sản phẩm nghiên cứu của mình, đưa ra được những kết luận giả định (giả thuyết nghiên cứu) để theo đuổi. III. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Nghiên cứu khoa học trước hết là một hoạt động xã hội, là một dạng nhân công lao động xã hội. Nhưng nghiên cứu khoa học có những đặc điểm khác với các loại hình lao động khác, nhất là so với lao động trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Những đặc điểm ấy làm cho lao động nghiên cứu khoa học khó đánh giá. Chính Marx cũng phải nói rằng: “Sản phẩm của lao động khoa học luôn luôn được đánh giá kém xa so với giá trị thực của nó, bởi vì giá trị lao động sống nhằm tái tạo ra nó không thể nào so sánh được với giá trị lao động quá khứ đã sáng tạo ra nó lần đầu tiên”. Để minh họa, Marx đã lấy ví dụ, “Bất kỳ một em học sinh tiểu học nào cũng có thể học thuộc lòng một bản cửu chương. Trong khi các nhà bác học phải mất bao nhiêu năm nghiên cứu mới xây dựng nên nó. Để có cơ sở đánh giá giá trị và tầm quan trọng của loại hình lao động này, chúng ta nêu lên một số đặc điểm cơ bản của nghiên cứu khoa học. 1. Tính mới mẻ Nghiên cứu khoa học là một quá trình thâm nhập vào thế giới của những sự vật, hiện tượng mà con người chưa biết. Vì vậy, quá trình nghiên cứu khoa học là quá trình sáng tạo luôn hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới. Trong nghiên cứu khoa học không có sự phát hiện lại hoặc sáng tạo lại. Vì vậy, tính mới là thuộc tính số một của lao động khoa học. Đặc điểm trên đây cho thấy một đặc điểm khác, là quá trình nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại một thí nghiệm hoặc một quan sát đúng như công việc đã làm trước đó. Ví dụ, khi làm lại một thí nghiệm hóa học với những thành phần hóa chất tham gia phản ứng vẫn được giữ nguyên như ban đầu, thì các tham số về điều kiện phản ứng, như nhiệt độ, áp suất, v.v phải thay đổi. “Tính mới” cần phải được hiểulà, cho dù đạt được một phát hiện mới, nhưng người nghiên cứu còn tiếp tục vươn tới những phát hiện mới hơn. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, tính mới của nghiên cứu khoa học không hề mâu thuẫn, và do vậy, không thể bị hiểu lầm bởi một tính chất khác về tính tin cậy của kết quả nghiên cứu. 36 2. Tính thông tin Sản phẩm của nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều dạng, có thể đó là một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, song cũng có thể là một mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới, mô hình thí điểm về một phương pháp tổ chức sản xuất mới, vv Tuy nhiên, trong tất cả các trường hợp này, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin về quy luật vận động của sự vật hoặc hiện tượng, thông tin về quy trình công nghệ và các tham số đi kèm quy trình đó. Ví dụ, trong trường hợp kết quả nghiên cứu cho sản phẩm là một kilogram thóc giống vừa được thử nghiệm thành công. Nhìn bề ngoài, nó có thể không khác bao nhiêu so bởi một kilogram thóc khác, nhưng đi sâu vào bên trong, nó chứa đựng những thông tin hoàn toàn mới về kỹ thuật lai tạo, kỹ thuật canh tác, khả năng chống chịu sâu bệnh, chế độ chăm bón, tưới tiêu, bảo vệ thực vật, v.v... 3. Tính khách quan Tính khách quan vừa la đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn của người nghiên cứu khoa học. Một nhận định vội vã theo cảm tính, một kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật hoặc hiện tượng. 4. Tính tin cậy Tính tin cậy là một thuộc tính của sản phẩm khoa học. Một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào đó chỉ có thể xem là tin cậy khi nó có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần do nhiều người khác nhau thực hiện trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau và với những kết quả thu được hoàn toàn giống nhau. Một kết quả ngẫu nhiên dù phù hợp với giả thuyết đã đặt ra trước đó cũng chưa thể xem là đủ tin cậy để kết luận về bản chất của sự vận động hoặc hiện tượng. Điều này dẫn đến một nguyên tắc mang tính phương pháp luận của nghiên cứu khoa học, là khi trình bầy một kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu đã chỉ rõ các điều kiện, các nhân tố và phương tiện thực hiện (nếu có). Ví dụ, khi nói “nước sôi ở nhiệt độ 1000C”, thì người nghiên cứu đã phải chỉ ra điều kiện là nước nguyên chất, đun nóng dưới áp xuất 1atm. Nếu lặp lại các điều kiện giống như thế, mọi người đều có thể đạt được kết quả giống như những kết quả đạt được trước đó. 5. Tính rủi ro Tính hướng mới của nghiên cứu khoa học quy định một thuộc tính quan trọng khác của nghiên cứu khoa học, đó chính là tính rủi ro. Một nghiên cứu có 37 thể thành công, có thể thất bại. Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiêu nguyên nhân với các mức độ khác nhau, chẳng hạn, do thiếu những thông tin cần thiết và đủ tin cậy; do trình độ kỹ thuật của thiết bị thí nghiệm không đáp ứng nhu cầu kiểm chứng giả thuyết; do khả năng thực hiện của người nghiên cứu chưa đủ tầm để xử lý vấn đề; do giả thuyết nghiên cứu đặt ra sai; do những tác nhân bất khả kháng,v.v Ngay cả những nghiên cứu đã thử nghiệm thành công vẫn chịu những rủi ro trong áp dụng kỹ thuật chưa được làm chủ, hoặc ngay cả khi đã thử nghiệm thành công thì vẫn không thể đi đến quyết định áp dụng vì một nguyên nhân xã hội nào đó. Tuy nhiên, trong nghiên cứu khoa học, sự thất bại cũng được xem là một kết quả. Kết quả ấy cũng được mang ý nghĩa về một kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là, các giả thuyết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là, trong sự vật hoặc hiện tượng không tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự kiến. Kết quả này cũng phải được tổng kết lại, được lưu giữ như một tài liệu khoa học nghiêm túc. Mục đích của sự tổng kết là để tránh cho các nhà nghiên cứu khác không dẫm trên lên lối mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu. 6. Tính kế thừa Ngày nay không còn một công trình nghiên cứu khoa học nào bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến trúc. Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học rất xa khác nhau. Chẳng hạn, khi nghiên cứu kinh tế học, Marx đã kế thừa những kiến thức về mô hình toán học để thiết lập mô hình toán học của quá trình tái sản xuất xã hội. Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu: một người nghiên cứu chân chính không bao giờ đóng cửu cố thủ trong những “kho tàng” lý luận và phương pháp luận “riêng có” của mình mà bài xích sự thâm nhập cả về lý luận và phương pháp luận từ các lĩnh vực khoa học dù là rất khác nhau. Hàng loạt các phương hướng nghiên cứu mới và các bộ môn khoa học mới xuất hiện chính là kết quả kế thừa lẫn nhau giữa các bộ môn khoa học. Chẳng hạn, sự xuất hiện bộ môn Kinh tế chính trị học chính là kết quả kế thừa những cơ sở lý luận và phương pháp luận của chính trị học và nghiên cứu kinh tế học. Hiển tính kế thừa mang một ý nghĩa hết sức quan trọng về mặt phương pháp luân: Trước hết, người nghiên cứu không giữ thái độ quá cứng nhắc và tự 38 mãn đối với những hệ lý luận và phương pháp luận “của mình” đến mức từ chối tiếp nhận những cơ sở lý luận và phương pháp luận tiên tiến của các bộ môn khoa học khác. Hơn nữa, người nghiên cứu không ngộ nhận và áp đặt những lý luận và phương pháp luận “của mình” cho các lĩnh vực nghiên cứu khác. 7. Tính cá nhân Dù là một công trình nghiên cứu khoa học do một tập thể thực hiện, thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính chất quyết định. Tư duy cá nhân trong nghiên cứu chính là quá trình tự tìm tòi, điều tra, sáng tạo để có ý kiến riêng có giá trị mới mẻ về mặt khoa học. Người nghiên cứu nên thường xuyên kiểm tra trong các tác phẩm của mình về xuất xứ của các sản phẩm trí tuệ, xem đâu là sản phẩm tư duy của riêng mình, đâu là ý kiến cấp trên, đâu là tiếp thu của người khác hoặc kế thừa từ một công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước. 8. Tính kinh phí Tính kinh phí là một đặc trưng đáng lưu ý của nghiên cứu khoa học. Đặc trưng này thể hiện ở một số điểm sau: - Lao động nghiên cứu khoa học rất khó định mức một cách chính xác như trong lĩnh vực sản xuất vật chất, thậm chí có thể nói, lao động khoa học hầu như không thể định mức. - Những thiết bị chuyên dụng cho nghiên cứu khoa học hầu như không thể khấu hao, nếu nó được đặt trong balô của các nhà nghiên cứu. Có hai lý do: + Thứ nhất, tần suất sử dụng không ổn định và hầu như rất thấp. Một kính hiển vi điện tử rất đắt tiền có thể chỉ sử dụng để phân tích một vài mẫu thí nghiệm trong một tuần, đôi khi sử dụng dồn dập trong vài ba ngày với tần suất 24/24 giờ, và sau đó hàng tháng, thậm chí hàng năm không sử dụng đến nữa. + Thứ hai, tốc độ hao mòn vô hình luôn vượt trước rất xa so với tốc độ hao mòn hữu hình, một thiết bị thí nghiệm hoặc một máy vi tính đắt tiền chưa kịp hao mòn hữu hình thì đã bị lỗi thời về kỹ thuật. - Hiệu quả kinh tế của nghiên cứu khoa học hầu như không thể xác định được, ngay cả những kết quả nghiên cứu về kỹ thuật dưới dạng các sáng chế và hình mẫu rất có giá trị về kỹ thuật, thậm chí có thể giá trị mua bán rất cao trên thị trường, song không thể áp dụng chỉ vì một lý do thuần túy xã hội, và như vậy hiệu quả kinh tế cũng không thành hiện thực. - Lợi nhuận trong nghiên cứu khoa học không dễ xác định. 39 IV. TIỀM LỰC KHOA HỌC Tiềm lực khoa học của một quốc gia là năng lực khoa học quốc gia đảm bảo cho mọi hoạt động và phát triển của toàn bộ hệ thống tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ của đất nước. Tiềm lực khoa học dồi dào, khai thác có hiệu quả sẽ tạo ra mọi thành công trong hiện đại hóa khoa học của quốc gia. Tiềm lực khoa học được biểu hiện bằng các thông số sau đây: 1. Nhân lực khoa học Nhân lực khoa học là đội ngũ những người tham gia trực tiếp vào quá trình nghiên cứu sáng tạo khoa học. Nhân lực khoa học là tiềm năng của mọi tiềm năng, là nhân tố quan trọng nhất tạo ra mọi thành công không những cho khoa học, mà còn cho tất cả các lĩnh vực hoạt động khác của nhân loại. Nhân lực khoa học bao gồm: các nhà khoa học, các nhân viên kỹ thuật và dịch vụ khoa học, đội ngũ này hỗ trợ nhau trong tìm tòi, sáng tạo ra mọi giá trị khoa học. Nhân lực khoa học quan trọng nhất là các nhà khoa học. Các nhà khoa học là những người có trình độ từ đại học trở lên trực tiếp tham gia vào quá trình nghiên cứu và giảng dạy ở các Viện nghiên cứu và các Trường Đại học. Đội ngũ này gồm có: + Trợ lý nghiên cứu và trợ lý giảng dạy + Nghiên cứu viên và giảng viên + Nghiên cứu viên chính và giảng viên chính + Nghiên cứu viên cấp cao, phó giáo sư, viện sĩ. Với các học vị: Cử nhân khoa học, thạc sĩ khoa học và Tiến sĩ khoa học. Điều quan trọng nhất của nhân lực khoa học là khả năng sáng tạo của họ. Các nhà khoa học thường có ba mức độ tài năng: 1- Những người có khả năng tạo ra những lý thuyết độc đáo, những trường phái mới, làm phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ. Những người này tuy rất ít nhưng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của khoa học. 2- Những người có khả năng nghiên cứu để hoàn thiện và bổ sung tri thức hiện có, làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại. 3- Những người có khả năng giải quyết những tình huống, những công việc cụ thể nẩy sinh trong sản xuất và đời sống xã hội. Các nhà khoa học tài năng có những phẩm chất đặc biệt sau đây: 40 1- Có trí tuệ phát triển cao, linh hoạt, độc đáo, luôn hướng vào bản chất của mọi vấn đề, biết quan sát, biết phê phán và đánh giá, đồng thời cũng biết bổ sung, hoàn thiện những thiếu sót của mình và của người khác. 2- Có tri thức toàn diện và sâu sắc trong lĩnh vực chuyên ngành, đồng thời có hiểu biết rộng về các lĩnh vực liên ngành. 3- Có óc tưởng tượng sáng tạo, có khả năng trực giác, tiên đoán chính xác, táo bạo và mạo hiểm trong tư duy và trong hành động. 4- Say mê khoa học, có khả năng tập trung cao độ và lâu dài vào một đối tượng nghiên cứu dù là rất hẹp. 5- Có tính mục đích cao, kiên trì với ý tưởng khoa học, không ngại gian khổ khó khăn, quyết tâm đạt tới mục đích bằng mọi biện pháp sáng tạo. 6- Có các phẩm chất đặc biệt: Khách quan, trung thực, thẳng thắn, khiêm tốn, ham học hỏi, có tinh thần hợp tác và đôi khi có những tính cách độc đáo khác. Trong suốt cuộc đời lao động của nhà khoa học tính tích cực sáng tạo phát triển không đều, tạo thành “đường cong sáng tạo”. Một quy luật cần được các nhà tổ chức, quản lý và đào tạo quan tâm thích đáng. Thực tiễn đã xác minh: Trí lực và sáng tạo của con người giảm theo tuổi tác, sự cằn cỗi trí tuệ lấn áp sức sống và tính năng động, ở tuổi già việc tiếp thu cái mới trở nên khó khăn. Các nhà khoa học cũng có tuổi già, thậm chí còn già nhanh hơn người bình thường, bởi vì ở tuổi trẻ họ đã lao động quá mệt mỏi, đã cống hiến nhiều trí lực cho khoa học. Theo thống kê, ở nước ta hiện nay có khoảng trên hai vạn cán bộ khoa học đang làm việc trong hơn 350 Viện nghiên cứu và trường Đại học. Đây là con số lớn và nó phát triển rất nhanh trong mấy thập niên vừa qua. Họ là vốn quý, đang làm phát triển nhanh chóng bộ mặt của đất nước. Tuy nhiên, đa số những nhà khoa học có trình độ cao đã vào tuổi trung niên. Để xây dựng và phát huy hết tiềm năng của nhân lực khoa học, cần có quy hoạch đào tạo cán bộ trẻ, bổ xung thường xuyên đội ngũ cán bộ trẻ cho các Viện nghiên cứu khoa học, các trường Đại học cần sắp xếp họ vào các vị trí làm việc hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho họ làm việc. Cần có chính sách đặc biệt đối với tài năng, cần ưu đãi nhân tài, coi nhân tài và trí tuệ như tài sản quý giá nhất của quốc gia. 41 2. Tài lực khoa học Tài lực khoa học là toàn bộ ngân sách đầu tư cho khoa học và công nghệ. Tài lực là thông số quan trọng để đánh giá tiềm lực khoa học của một quốc gia và là điều kiện thiết yếu đảm bảo cho sự thành công của mọi kế hoạch triển khai nghiên cứu khoa học. Ở các nước phát triển, người ta dành một khoản ngân sách lớn cho triển khai nghiên cứu khoa học và công nghệ. Đây là khoản tài chính khổng lồ, với hàng trăm tỷ USD, dành cho các chương trình khoa học. Nhờ có tài lực dồi dào họ đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Ở nước ta, theo kế hoạch nhà nước sẽ dành 2% tổng thu nhập quốc dân ngân sách cho nghiên cứu khoa học vào năm 2000. Ngoài ngân sách do nhà nước đầu tư, còn có các nguồn khác bổ xung như vay vốn ngân hàng, nguồn tự tạo do hợp đồng, liên kết nghiên cứu sản xuất, chuyển giao công nghệ và viện trợ của các tổ chức chính phủ hoặc phi chính phủ. Ngân sách khoa học đang được dùng để chi cho xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị, chi trả lương và sau đó là chi cho các chương trình nghiên cứu khoa học từ cấp cơ sở tới cấp nhà nước 3. Thông tin khoa học Thông tin theo nghĩa chung nhất là các tin tức có ích cho một hoạt động nào đó. Thông tin này có hai cấp: thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp. + Thông tin sơ cấp (còn gọi là thông tin đầu nguồn) được thu nhận từ các hoạt động xã hội hoặc sản xuất, từ các cuộc điều tra cơ bản, điều tra xã hội hay quan sát thực tiễn + Thông tin thứ cấp (còn gọi là thông tin tinh) đã qua xử lý bằng kỹ thuật toán học hay máy tính, thông tin thứ cấp được cung cấp cho các cơ quan nghiên cứu để chọn lọc, xử lý và sử dụng theo mục đích của các hệ đề tài. Đó chính là thông tin khoa học. Nhờ có bộ máy lôgíc với phép suy luận đặc biệt mà thông tin trở thành các lý thuyết khoa học. Như vậy, thông tin khoa học là các tài liệu lý thuyết hoặc số liệu thực tiễn (đã qua xử lý) cung cấp cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Nhờ có thông tin khoa học mà bộ máy khoa học mới có thể vận hành tạo ra những giá trị mới. Thông tin khoa học là sản phẩm nghiên cứu khoa học hoặc thu nhập từ hoạt động thực tiễn, thông tin khoa học lại là “nguyên liệu” để khoa học tái sản xuất tạo ra thông tin mới có giá trị cao hơn. 42 Nghiên cứu khoa học theo lý thuyết thông tin đó là quá trình thu thập, gia công xử lý thông tin để tạo hệ thống các lý thuyết thông tin mới. Các nguồn cung cấp thông tin thường là: + Từ các ấn phẩm công bố trong nước và thế giới. + Từ các kho tài liệu lưu trữ quốc gia. + Từ các kết quả điều tra cơ bản hay điều tra xã hội, các cuộc phỏng vấn, các cuộc thội thảo khoa học. + Các số liệu thực tế trong hoạt động kinh tế, xã hội của trung ương và địa phương Số lượng và chất lượng thông tin là những chỉ tiêu rất quan trọng đối với hoạt động nghiên cứu khoa học. Về mặt số lượng, thông tin cần phải phong phú, đa dạng, nhiều chiều. Về mặt chất lượng, thông tin phải khách quan, chính xác và cập nhật. Thông tin là điều kiện sống còn của hoạt động khoa học. Thiếu thông tin, nghiên cứu khoa học sẽ rơi vào tình trặng của hoạt động khoa học. Thiếu thông tin, nghiên cứu khoa học sẽ rơi vào tình trạng mất phương hướng, lạc hậu, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. 4. Vật lực khoa học Vật lực khoa học là toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị, vật tư kỹ thuật chuyên dùng trong nghiên cứu khoa học. Vật lực là một trong bốn nguồn lực đảm bảo cho thành công của hoạt động nghiên cứu khoa học. Cơ sở vật chất đầy đủ, thiết bị phong phú, hiện đại là điều kiện thuận lợi để khoa học phát triển nhanh và ngược lại thiếu vật lực không thể tiến hành bất cứ hoạt động khoa học nào. Vật lực khoa học bao gồm: + Cơ sở hạ tầng như trụ sở làm việc, phòng thí nghiện, nhà xưởng nơi nghiên cứu, sản xuất thực nghiệm. + Máy móc, thiết bị kỹ thuật phổ thông hay đặc chủng chuyên dùng cho nghiên cứu khoa học. + Nguyên liệu, vật tư kỹ thuật sử dụng trong thí nghiệm, thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm Về nguyên tắc, trong nghiên cứu khoa học phương tiện, thiết bị phải đầy đủ, tinh xảo, hiện đại, với tiêu chuẩn kỹ thuật cao, nguyên vật liệu sử dụng phải tinh khiết, đáp ứng đầy đủ yêu cầu về định tính và định lượng. 43 Nguồn cung cấp thiết bị, vật tư khoa học rất đa dạng, có thể là tự chế tạo hay đặt ra hàng từ nhà máy chuyên sản xuất thiết bị khoa học. Đối với Việt Nam nhập từ nước ngoài vẫn là nguồn quan trọng nhất Tóm lại, nghiên cứu khoa học là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, mục đích của nó nhận thức và cải tạo thế giới, phục vụ cho lợi ích của con người. Để nghiên cứu khoa học mỗi quốc gia phải có tiềm năng, trong đó tiềm năng trí tuệ là tiềm năng của mọi tiềm năng. Các nguồn lực khác là điều kiện thiết yếu đảm bảo cho nghiên cứu khoa học thành công. Nghiên cứu khoa học phải được tổ chức thành hệ thống chặt chẽ, với những chương trình chiến lược quốc gia. 44

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfgtkhtn1720_p1_4334.pdf
Luận văn liên quan