Quá trình giải quyết 2 nhiệm vụ dân tộc dân chủ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945

MỤC LỤC I. THỰC TIỄN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ KHI PHÁP XÂM LƯỢC3 II. VẤN ĐỀ DÂN TỘC – DÂN CHỦ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO TRONG CÁC CƯƠNG LĨNH CỦA ĐẢNG TA6 1.Giai đoạn 1930 – 1935. 6 1.1.Luận cương chính trị tháng 10 – 1930. 6 Nội dung Luận cương:6 1.2. Chủ trương khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng từ 1931 – 193513 2.Giai đoạn 1936 -1939. 15 2.1Hoàn cảnh lịch sử. 15 Tình hình thế giới:15 Tình hình trong nước:16 2.2. Chủ trương và nhận thức mới của Đảng. 17 3.Giai đoạn 1939 – 1945. 19 3.1. Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng19 a.Tình hình thế giới và trong nước. 19 b.Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng. 21 c.Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược. 23 3.2. Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. 24 a. Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần * Thời cơ trong cách mạng tháng Tám:24 b. Tổng khởi nghĩa tháng Tám giành chính quyền trong cả nước:27 c. Ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử của Cách mạng tháng Tám 1945:29 III. KẾT LUẬN31

doc31 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 31/01/2013 | Lượt xem: 42047 | Lượt tải: 49download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quá trình giải quyết 2 nhiệm vụ dân tộc dân chủ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn 1930 – 1945, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC ĐỀ TÀI: QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT 2 NHIỆM VỤ DÂN TỘC DÂN CHỦ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 LỜI MỞ ĐẦU: Trước kia, Việt Nam vốn là một nước phong kiến và nông nghiệp. Từ khi bị đế quốc Pháp xâm chiếm, Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Với đặc trưng của một nước tư bản chủ nghĩa, Pháp trong cả hai lần khai thác thuộc địa đã áp dụng chính sách độc quyền - chia để trị. Chúng chia nước ta làm ba xứ để cai trị : Bắc kì - Trung kì và Nam kì. Giữa thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam có sự cấu kết chặt chẽ với nhau. Pháp dựa vào phong kiến để lấy cơ sở đàn áp nhân dân, còn phong kiến Việt Nam lại nhờ vào Pháp để duy trì địa vị của mình. Những hình thức áp bức, bóc lột tàn nhẫn, dã man của phong kiến chẳng những không được xoá bỏ mà còn bị thực dân Pháp lợi dụng để bóc lột, áp bức nhân dân Việt Nam nặng nề thêm. Nguyên nhân đó là dẫn đến sự mâu thuẫn gay gắt giữa nông dân và phong kiến, vấn đề dân chủ được đặt ra. I. THỰC TIỄN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ KHI PHÁP XÂM LƯỢC Thực dân Pháp khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam để kinh doanh lấy lợi, chủ nghĩa tư bản đã phát sinh. Chúng ra sức bóc lột nhân dân Việt Nam, coi đó là nguồn nhân công rẻ mạt để phục vụ cho quá trình khai thác thuộc địa của chúng. Trong vô vàn hình thức bóc lột, phải kể đến thủ đoạn bóc lột nhân dân ta bằng cách đánh thuế nặng (thuế ruộng đất, thuế thân, thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện và hàng trăm thứ thuế khác…). Chính điều đó làm cho nhân dân ta càng khốn đốn, mâu thuẫn giữan hân dân ta và thực dân Pháp ngày càng quyết liệt. Sự bóc lột của thực dân Pháp đã làm cho tình hình xã hội Việt Nam có sự phân hoá sâu sắc; trong đó giai cấp nông dân chiếm trên 90% vừa bị phong kiến, lại vừa bị thực dân bóc lột nặng nề bằng cả thủ đoạn sưu cao, thuế nặng, tô tức, phu phen, tạp dịch… giai cấp công nhân ra đời sớm nhưng cũng bị Pháp đàn áp. Giai cấp tư sản bị Pháp chèn ép đến cùng, không thể nào ngóc đầu lên được. Thực trạng Việt Nam lúc này vô cùng khốn đốn. Trong xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản cần phải được giải quyết. 1.     Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân, đế quốc. 2.     Mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân đông đảo và giai cấp địa chủ phong kiến. Giải quyết được hai mâu thuẫn trên, chính là hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ ở Việt Nam. Nhiệm vụ dân tộc - dân chủ do đó vừa là tất yếu vừa là bắt buộc của cách mạng Việt Nam. Nó xuất phát từ thực tiễn của bối cảnh Việt Nam. Hai nhiệm vụ này không phải đến khi Đảng ra đời mới được đặt ra, mà nó đã nhen nhóm từ đó rất lâu. Ngay giữa thế kỷ thứ 19, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì các phong trào yêu nước đã nổ ra và phát triển mạnh mẽ. Các cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp đã nổi dậy ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam và trở thành mục tiêu của mọi cuộc đấu tranh và mọi cuộc khởi nghia. Dù đó là phong trào do các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,…..hay đó là phông trào của nông dân, trí thức yêu nước, tiểu tư sản, tư sản dân tộc,.. thì đó đều nhằm mục đích đánh đuổi cho bằng được thực dân Pháp. Nhưng rốt cuộc các phong trào này đều bị đánh bại. Nguyên nhân là họ chưa xác định được kẻ thù ( ví dụ như : Phan Bội Châu dựa vào Pháp để đánh Nhật, Phan Chu Trinh lại chủ trương đổi mới theo mô hình của nước Pháp ) từ nhận thức sai kể thù nên các vị tiền bối đi trước đều không nhận thức rõ mâu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn đó là gì. Vì vậy, không thể nhìn ra rõ nhiệm vụ cần thiết. Đến tận đầu thế kỷ XX, nước ta vẫn trong tình trạng khủng hoảng về đường lối Mãi đến sau này thông qua hoạt động của Nguyễn Ái Quốc từ khi bắt đầu ra đi tìm đường cứu nước, qua quá trình buôn ba, khảo nghiệm ở các nước phương Tây … cho đến khi thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam mới tìm được đường đi cho cách mạng Việt Nam. Thông qua quá trình tìm tòi, học hỏi và khảo cứu tình trạng nước ngoài kết hợp với việc phân tích tình hình trong nước, đến ngày 3-2-1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc. Người đã thành lập ra Đảng Cộng Sản Việt Nam và đề ra “cương lĩnh vắn tẵt và sách lược vắn tắt” trong đó Người nêu ra cách mạng Việt Nam phải trải qua 2 giai đoạn: cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn đó kế tiếp nhau, không có bức tường nào ngăn cách. Cương lĩnh viết “ chủ truơng làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Như vậy ngay từ đầu Người đã thông suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng nước ta là con đường kết hợp đang cao ngon cờ độc lập dân tộc và xã hội chủ nghĩa. Như vậy mục tiêu đó cho thấy tính chất của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đó là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân- một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân, giai cáp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên cơ sở liên minh công nông, nhằm mục đích đánh đổ đế quốc, phong kiền, giải phóng dân tộc, thực hiện người cày có ruộng đất, lập nên nứơc Việt Nam dân chủ công hoà, tức nhà nước dân chủ nhân dân, mà tạo điều kiện cho nhà nước Việt Nam không qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa. Và một cuộc cách mạng như thế người ta gọi là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Đó cũng là cuộc cánh mạng dân chủ kiểu mới ở một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến, nó khác với cuộc cách mạng dân chủ kiểu cũ do giai cấp tư sản lãnh đạo như cách mạng Pháp 1789 và cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ năm 1925. Tiến hành cuộc cách mạng dân tộc chình là tiến tới đánh đuổi đế quốc thực dân làm cho nước nhà hoàn toàn độc lập. Còn giải quyết nhiệm vụ dân chủ chình là đánh đổ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nhân dân. Đó là nhiệm vụ cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam nhưng không phải lúc nào cũng diễn ra cùng một lúc. Tuỳ từng thời kỳ, tưng giai đoạn mà vận dụng hợp lý. Vậy haio nhiệm vụ đó được thực hiện như thế nào và thực hiện đến đâu đi từng vào giai đoạn cụ thể sẽ sáng rõ. II. VẤN ĐỀ DÂN TỘC – DÂN CHỦ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT NHƯ THẾ NÀO TRONG CÁC CƯƠNG LĨNH CỦA ĐẢNG TA Giai đoạn 1930 – 1935 Luận cương chính trị tháng 10 – 1930 Nội dung Luận cương: Luận cương đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phong kiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo. - Luận cương chỉ rõ: mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa 1 bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với 1 bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc. - Luận cương vạch ra phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương là : lúc đầu cách mạng Đông Dương là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền, có tính chất thổ địa và phản đế , tư sản dân quyền cách mạng là thời kì dự bị để làm xã hội cách mạng, sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kì tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường XHCN. - Luận cương khẳng định nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là : đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để để đánh đổ đề quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khăng khít với nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ, để tiến hành cách mạng thổ địa thắng lợi, và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa. Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác định: “ Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày. - Về lực lượng cách mạng: Luận cương chỉ rõ, giai cấp vô sản vừa là động lục chính của cách mạng tư sản dân quyền, vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Dân cày là lực lượng đông đảo nhất và là lục lượng mạnh của cách mạng. Tư sản thương nghiệp thì đứng về phe đế quốc và địa chủ chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc. Trong giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự, tiểu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể hăng hái tham gia chống đế quốc trong thời kì đầu. Chỉ có các phần tử lao khổ ở các đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ công nhỏ, trí thức thất nghiệp mới đi theo cách mạng mà thôi. - Về phương pháp cách mạng : Luận cương chỉ rõ, để đạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường võ trang bạo động, phải tuân theo khuôn phép nhà binh. - Về quan hệ giữa cách mạng VN với cách mạng thế giới: Luận cương khẳng định cách mạng đông dương là 1 bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương. - Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Luận cương khằng định: sự lãnh đạo của đảng cộng sản là điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng , đảng phải có đường lối chính trị đúng dắn, có kỉ luật tập trunng , liên hệ mật thiết với quần chúng. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin làm nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho quyền lợi của giai cấp vô sản ở đông dương, đấu tranh đề đạt được mục đích cuối cùng là chỉ nghĩa cộng sản. * Ý nghĩa của Luận cương : Từ  nội dung cơ bản nêu trên, có thể thấy, Luận cương chính trị \khẳng định lại nhiều vấn đề căn bản thuộc chiến lược cách mạng mà chính cương vắn tắt và sách lược vắn tắt đã nêu ra.      So sánh Luận cương chính trị Tháng 10-1930 với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng -     Điểm giống nhau: +    Chiến lược phát triển CM: Độc lập dân tộc gắn liền CNXH +    Nội dung CM về tư sản dân quyền: Đánh đổ đế quốc & phong kiến +    Thống nhất vai trò của các lực lượng cơ bản của CM: vai trò lãnh đạo của công nhân và vai trò động lực mạnh của CM của nông dân. +    Thống nhất phương pháp CM : vũ trang bạo động +    Thống nhất mối quan hệ giữa CM Việt Nam & CM thế giới : CM Việt Nam là một bộ phận của CM thế giới. +    Thống nhất về vai trò lãnh đạo của Đảng trong tiến trình CM. -     Điểm khác nhau: +    Luận cương tháng 10 -1930 không đưa nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu, không nêu ra mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp. +    Đánh giá không đúng vai trò CM của tầng lớp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của tư sản dân tộc, chưa thấy được khả năng phân hóa, lôi kéo một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ tham gia CM, do đó Luận cương không đề ra được một liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai. -     Nguyên nhân chủ yếu khác nhau: +    Luận cương chưa phân tích những mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa nửa phong kiến của Việt Nam . +    Do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề giai cấp, dân tộc trong CM thuộc địa. +    Chịu ảnh hưởng trực tiếp tử khuynh hướng “Tả” của Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản trong thời gian đó. Luận cương tháng 10-1930 đã không chấp nhận những điểm mới, sáng tạo trong Chính cương của Nguyễn Ái Quốc. * Vấn đề dân tộc và dân chủ được chú trọng như thế nào trong giai đoạn này: Trong giai đoạn này, vấn đề dân tộc dân chủ được chú trọng, gắn liền với nhau và có mối quan hệ biện chứng với nhau.  Sự xuất hiện Đảng Cộng Sản Việt Nam đầu năm 1930 khác hẳn sự ra đời của các tổ chức chính trị đương thời, đã thu hút sự chú ý của đông đảo các giai tầng xã hội tuyên truyền chống cộng đã phản tác dụng, vô hình chung lại đề cao chủng nghĩa Cộng sản. Đó cũng là lúc hình ảnh nhà nước công - nông ở Liên Xô đang có sức thuyết phục khá lớn, nhiều dân tộc bị áp bức đang mơ ước chế độ Xô - Viết… Như thế một thời kỳ đấu tranh cách mạng đi theo xu hướng mới nhất định sẽ bùng nổ. Ở Việt Nam từ năm 1930 trở đi, con đường Cách mạng vô sản đã dẫn dắt nhân dân ta đấu tranh bằng những cao trào rộng lớn. Mở đầu cho những bước phát triển mới là sự bùng nổ cao trào chống đế quốc phong kiến những năm 1930 - 1931, đỉnh cao là sự xuất hiện và tồn tại của các Xô - Viết ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.  Đảng ta đã đánh giá: “Trực tiếp mà nói, không có những trận chiến đấu giai cấp rung trời chuyển đất những năm 1930 - 1931 trong đó công - nông đã vung ra nghị lực cách mạng phi thường của mình thì không thể có cao trào những năm 1936 - 1939”. Cao trào đấu tranh cách mạng 1930 -1 931 đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, là “Bước thắng lợi đấu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển về sau của cách mạng.” Cùng với nhu cầu dân chủ ngày càng tăng lên trong xã hội, các hội quần chúng công khai ra đời như hội Tương Tế, hội Cấy, hội Gặt, hội Thể Thao; các nghiệp đoàn cũng hình thành. Đấu tranh công khai, hợp pháp đòi dân sinh, dân chủ trong các tầng lớp nhân dân từ đó cũng dần dần phát triển. Khi hệ thống Đảng Cộng Sản Đông Dương được phục hồi thì phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng công nông cũng được dấy lên mạnh mẽ dưới những hình thức ôn hòa như mít - tinh, biểu tình, bãi công, bãi khóa, bãi thị. Đến năm 1935, bằng sự phục hồi của Đảng Cộng Sản Đông Dương và các lực lượng yêu nước, phong trào dân tộc lại sẵn sàng bước vào một thời kỳ đấu tranh mới. Có thể nói những năm đầu tiên trên con đường Cách mạng vô sản, phong trào dân tộc sau hơn nửa thế kỷ tồn tại, phát triển đã có những yếu tố căn bản được kiểm nghiệm trong thực tế để khẳng định có thể đảm bảo đưa phong trào đến thắng lợi cuối cùng. Nhiệm vụ dân tộc và dân chủ trong giai đoạn này: Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kì cả nước tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ đế quốc, giành chính quyền về tay công nông. Ưu, nhược điểm của luận cương Ưu điểm :  - Từ việc khẳng định tính chất XH Đông Dương là một xã hội thuộc địa nửa :phong kiến thì luận cương khẳng định hướng tiến lên của cách mạng Đông Dương là làm CMDTDC và tiến lên CNXH không qua phát triển TBCN. Chỉ ra được điều kiện khách quan và chủ quan của bước bỏ qua TBCN đó là CNXH Liên Xô giành thắng lợi (khách quan) và ĐCSĐD ra đời (chủ quan).  - Chỉ rõ bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân là khởi nghĩa vũ trang, muốn thắng lợi thì phải xây dựng lực lượng cách mạng mà lực lượng chính trị là chủ yếu, đồng thời phải tuân thủ những quy luật của chiến tranh và nổ ra khi có thời cơ cách mạng.  - Khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSĐD, để xây dựng một Đ vững mạnh thì:  + Phải có đường lối chính trị đúng đắn  + Có kỷ luật tập trung liên hệ mật thiết với quần chúng, trải qua quá trình đấu tranh để hình thành.  + Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động. Những điểm hạn chế của luận cương:  - Không vạch rõ mâu thuẫn chủ yếu trong XHĐD lúc bấy giờ nên không khẳng định được nhiệm vụ chống ĐQ là hàng đầu.   - Không thấy được tính cách mạng của giai cấp tiểu tư sản VN.  - Không thấy được mặt tích cực của giai cấp TSVN.   - Không có chính sách phân hoá để nôi kéo một bộ phận thuộc về địa chủ PKVN về phía cách mạng.  - Do đó không có chính sách liên minh dân tộc và giai cấp một cách rộng rãi.  Nguyên nhân của những hạn chế: -Nhận thức giáo điều và máy móc mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong cách mạng của một nước thuộc địa. - Hiểu không đầy đủ về đặc điểm tình hình các nước Đông Dương. - Chịu ảnh hưởng trực tiếp của khuynh hướng tả khuynh từ quốc tế cộng sản. 1.2. Chủ trương khôi phục tổ chức Đảng và phong trào cách mạng từ 1931 – 1935 Mới ra đời chưa lâu, Đảng đã phát động được phong trào cách mạng rộng lớn mà đỉnh cao là Xô Viết – Nghệ Tĩnh. Giữa lúc phong trào lên cao, cuối năm 1931, Pháp đã thi hành chính sách Khủng bố trắng làm cho lực lượng cách mạng Việt Nam tổn thất nặng nề: Hàng ngàn chiến sĩ cộng sản, hang vạn người yêu nước bị bắt, giết hoặc tù đày Các cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Trung ương và lần lượt các địa phương bị phá vỡ Toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương bị bắt Do đó phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống Trong giai đoạn này bọn Pháp cũng thi hành các thủ đoạn trong các mặt chính trị, kinh tế cũng như văn hóa xã hội. Ví dụ như tăng số đại diện người Việt vào cơ quan lập pháp. Cho người bản xứ tham gia đấu thầu một số công trình công cộng. tổ chức một số trường Cao đẳng, lợi dụng tôn giáo để chia rẽ khối đoàn kết Tuy bị quân địch khủng bố ác liệt nhưng nhờ tinh thần và nghị lực phi thường được rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng trong những năm 1930 -1931, Đảng và quần chúng đã vượt qua khó khăn thử thách, từng bước khôi phục tổ chức đảng và phong trào cách mạng. Các đảng viên trong tù tìm cách lien lạc với nhau và bắt lien lạc với bên ngoài để hoạt động Số đảng viên còn lại bên ngoài bí mật tìm cách gây dựng lại các tổ chức cơ sở Đảng Đầu năm 1932 Quốc tế cộng sản chỉ thị Lê Hồng Phong cùng một số đồng chí chủ chốt ở trong và ngoài nước tổ chức ra Ban lãnh đạo Trung ương của Đảng. tháng 6 – 1932, Ban lãnh đạo Trung ương đã công bố Chương trình hành động của Đảng cộng sản Đông Dương Đảng chuẩn bị cho cuộc võ trang bạo động thực hiện nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến và tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo quần chúng đấu tranh giành những quyền lợi hàng ngày, rồi đưa quần chúng tiến lên đấu tranh cho những mục tiêu chính trịn cao hơn Chương trình hành động còn đề ra nhưng yêu cầu cụ thể cho từng giai cấp và tầng lớp nhân dân, vạch rõ phải ra sức tuyên truyền mở rộng ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng Nhũng yêu cầu chính trị trước mắt cùng với những biện pháp tổ chức và đấu tranh do Đảng vạch ra trong Chương trình hành động năm 1932 phù hợp với điều kiện lịch sử lúc bấy giờ. Nhờ vậy, phong trào cách mạng của quàn chúng và hệ thống tổ chức Đảng nhanh chóng được phục hồi Tháng 3 – 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma Cao – Trung Quốc đã khẳng định thắng lợi của cuộc đấu tranh khôi phục phong trào cách mạng và hệ thống tổ chức Đảng. Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ trước mắt đó là : củng cố và phát triển Đảng, đẩy mạnh cuộc vận động thu phục quần chúng, mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh, ủng hộ Liên Xô, ủng hộ cách mạng Trung Quốc… Giai đoạn 1936 -1939 2.1Hoàn cảnh lịch sử Tình hình thế giới: -     Cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1929-1933 ở các nước thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa đã khiến cho mâu thuẫn nội tại của CNTB ngày càng gay gắt, đồng thời làm cho phong trào cách mạng của quần chúng dâng trào. -     Chủ nghĩa Phát xít đã xuất hiện và thắng thế ở  một số nơi: phát xít Hitle ở Đức, phát xít Phrangco ở Tây Ban Nha, phát xít Mutxolini ở Italia và phái Sĩ quan trẻ ở Nhật. Chế độ độc tài phát xít là nền chuyên chính của những thế lực phản động nhất, tàn bạo nhất, dã man nhất. Chúng tiến hành chiến tranh xâm lược, bành trướng và nô dịch các nước khác.Nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế. -     Ở Pháp, mặt trân bình dân lên nắm chính quyền do Đảng Xã Hội và Đảng Cộng sản thành lập đã có những chính sách thân thiện hơn với giai cấp công nhân và nông dân. -     Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại Matxcova vào tháng 7- 1935 do Dimitorop chủ trì đã diễn ra. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu đã tham dự đại hội. Nội dung đại hội : -     Xác định lại kẻ thù nguy hiểm trước mắt của giai cấp vô sản và nhân dân lao động thế giới lúc này chưa phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ nghĩa Phát xít. -     Xác định nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới lúc này chưa phải là đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, mà là đấu tranh chống chủ nghĩa Phát xít, chống chiến tranh, bảo vệ dân chủ và hòa bình. -     Để thực hiện được nhiệm vụ cấp bách này, các đảng cộng sản và nhân dân các nước trên thế giới cần thiết phải thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hòa bình và cải thiện đời sống. Tình hình trong nước: -     Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã tác động sâu sắc tới mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội. -     Bọn cầm quyền phản động ở Đông Dương vẫn ra sức vơ vẹt, bóc lột, bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ và thi hành chính sách khủng bố, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta. 2.2.     Chủ trương và nhận thức mới của Đảng Được thể hiện qua 4 nghị quyết của 4 hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương: Hội nghị lần 2 (tháng 7-1936), Hội nghị lần 3 (3-1937), HN lần 4(9-1937), HN lần 5(3-1938) -     Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh: BCH TW xác định cách mạng ở Đông Dương vẫn là “cách mạng tư sản dân quyền - phản đế và điền địa”, nhưng yêu cầu cấp thiết trước mắt của nhân dân ta lúc này là tự do, dân chủ, cải thiên đời sống.  Về kẻ thù cách mạng: chủ trương đánh đổ bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng. -     Xác định nhiệm vu trước mắt của CM : chống Phát xít, chống chiến tranh đế quốc, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. -     Xác định lực lượng CM: thành lập mặt trận nhân dân phản đế gồm mọi giai cấp, tầng lớp, đảng phái, tôn giáo với nòng cốt là liên minh công nông -     Đoàn kết quốc tế: Ủng hộ mặt trận nhân dân Pháp, ủng hộ Chính phủ mặt trận nhân dân Pháp để cùng nhau chống lại kẻ thù chung là bọn Phát xít ở Pháp và bọn phản đông thuộc địa ở Đông Dương. -     Hình thức và phương pháp đấu tranh: Kết hợp nhiều hình thức. Vừa đấu tranh công khai vừa nửa công khai, vừa hợp pháp vừa nửa hợp pháp. -     Xây dựng tổ chức: Phải chuyển hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai và nửa công khai Nhằm mở rộng quan hệ của Đảng với quần chúng, giáo dục, tổ chức, lãnh đạo quần chúng bằng các hình thức và khẩu hiệu thích. -     Nhận thức mới của Đảng vể mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ: Được thể hiện trong văn kiện Chung quanh vấn đề chính sách mới công bố tháng 10 năm 1936. Trong chính sách mới cho rằng : “ Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải gắn kết chặt với cuộc cách mạng liên địa. Nghĩa là không thể nói rằng muốn đánh đổ đế quốc cần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa cần phải đánh đổ đế quốc. Lý thuyết ấy có chỗ không xác đáng.”. Tức là với 2 nhiệm vụ này không nhất thiết phải song song tồn tại, mà phải tùy hoàn cảnh mà đặt nhiệm vụ nào lên hàng đầu hoặc giải quyết các nhiệm vụ một cách liên tiếp, đồng thời xác định kẻ thù nào là nguy hiểm nhất để tập trung lực lượng của dân tộc mà đánh cho toàn thắng. Tóm lại: chủ trương mới của Đảng đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và dân chủ, xác định mục tiêu trước mắt của CM, từ đó đề ra các hình thức tổ chức và đấu tranh linh hoạt, thích hợp hướng dẫn quần chúng đấu tranh giành chính quyền, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh sau này. 3.Giai đoạn 1939 – 1945 3.1. Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng Tình hình thế giới và trong nước Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, mở đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Ngày 29-9-1939, chính phủ Đalađiê (Đaladier) ra sắc luật cấm Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhưng chẳng phải đợi đến sắc luật này, khi chiến tranh mới nổ ra, bọn cầm quyền Pháp ở Hà Nội đã khủng bố phong trào cách mạng. Ngày 3-9, các báo ở Hà Nội đều đăng tin mật thám vây ráp trong thành phố, bắt đi 100 người. Ngày 9-9, chúng bắt 139 người. Đêm 17-9, bắt 100 người. Đêm 19-9 bắt 221 người. Trụ sở các hội ái hữu, các hiệu sách và các cơ quan báo chí công khai của đảng đều bị khám xét. Các báo Đời nay, Ngày mới, Notre Voix… bị cấm xuất bản. Một số cán bộ hoạt động công khai chưa kịp rút vào bí mật đã bị bắt. Sau đó, chính quyền Pháp ra lệnh giải tán các tổ chức nghiệp đoàn, ái hữu, huỷ bỏ các quyền tự do dân chủ mà nhân dân ta đã giành được trong thời kỳ Mặt trận dân chủ. Những năm tháng tiếp theo, thực dân tiếp tục khủng bố, bắt bớ, giam cầm các cán bộ cách mạng và nhiều quần chúng cách mạng khác. Đẩy mạnh khủng bố, chúng hy vọng dập tắt phong trào cách mạng của Hà Nội. Đi đôi với việc đàn áp, thực dân Pháp còn có những chính sách nhằm mua chuộc, lừa phỉnh trí thức và các tầng lớp trên. Chúng tăng thêm một số hội viên người Việt là bác sĩ, luật sư, quan lại, nhà buôn lớn vào Hội đồng thành phố Hà Nội. Một số công chức người Việt được bổ nhiệm vào các chức vụ trước đây chỉ dành riêng cho người Pháp. Một số tư sản mại bản và địa chủ được phép mua cổ phần trong các công ty thương mại và kỹ nghệ của Pháp. Song song với việc phát xít hoá trở lại chế độ cai trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách kinh tế chỉ huy mà thực chất là tăng cường độc quyền kinh tế. Chúng ban hành một loạt sắc lệnh trưng tập công nhân, trưng thu, sung công nhà cửa và các phương tiện vận tải. Chúng kiểm soát các hàng nguyên liệu chiến lược. Với tính chất một thành phố chủ yếu là tiêu thụ (có một phần nhỏ sản xuất) và hoàn toàn dựa vào nguồn hàng hoá và nguyên liệu của nước Pháp, từ khi có chiến tranh, Hà Nội lâm vào tình trạng khủng hoảng thiếu. Đó là cơ hội cho các công ty tư bản Pháp và các hãng buôn Nhật hoạt động tích trữ đầu cơ, lũng đoạn giá cả vô hạn độ. Công nhân bị sa thải nhiều. Những người còn có việc làm thì thời gian làm việc hàng ngày bị kéo dài tới 10-12 giờ. Vật giá leo thang nên đồng lương thực tế bị giảm sút. Đã thế, giấy bạc Đông Dương lại bị lạm phát dữ nên mất giá ghê gớm, giá các loại hàng cao vọt lên, nhất là giá gạo. Thêm vào đó, nhân dân thành phố còn phải đóng thuế cao và nặng hơn trước. Vô vàn thứ thuế: thuế tiêu thụ, thuế vận chuyển hàng hoá, thuế trước bạ, thuế chợ và sát sinh, thuế đỗ xe ô tô, thuế mành mành và mái hiên… thứ mới đặt, thứ mới tăng gia ngạch, chồng chất khó khăn lên đầu dân chúng. Trên lĩnh vực văn hoá xã hội, thực dân Pháp thi hành nhiều thủ đoạn lừa bịp, nhiều chiêu bài gian dối. Chúng khuyến khích các hoạt động thể thao với những khẩu hiệu lấp lửng “Khoẻ để phụng sự” để đánh lạc hướng thanh niên. Trong khi cấm lưu hành, tàng trữ trên toàn cõi Đông Dương các sách báo theo quan điểm Mác-xít xuất bản trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, thậm chí cấm cả các tiểu thuyết hiện thực phê phán, chúng lại tạo điều kiện cho các sách báo lạc hậu, phản động, đồi truỵ được phát hành rộng rãi để đầu độc tuổi trẻ. Mặt khác để mị dân, chúng mở thêm một số trường cao đẳng (khoa học, công chính…), xây Đông Dương học xá để làm nơi ăn ở cho sinh viên, tăng thêm lượng sinh viên tuyển hàng năm… b.Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng Nội dung được thể hiện trong 3 nghị quyết của hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng: Hội nghị lần 6 ( 11 – 1939),HN lần 7 ( 11-1940),HN lần 8 (5-1941). Nội dung chủ trương như sau: + Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu bởi: Mâu thuẫn chủ yếu của dân tộc ta luc này là mâu thuẫn giữa dân tộc phát xít Pháp- Nhật. Ban chấp hành TW quyết định tạm gác khẩu hiệu: “Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu: “ Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian cho dân cày nghèo”. + Xây dựng lực lượng cách mạng: thành lập mặt trận Việt Minh thay cho mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, nhằm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng tham gia giải phóng dân tộc. Trực thuộc mặt trận Việt Minh có Hội công nhân cứu nước, Thannh niên cứu quốc… Mặt trận Việt Minh được hình thành với một số đặc điểm: chỉ đạo hoạt động trong phạm vi dân tộc Việt Nam, có cương lĩnh hành động rõ ràng, có cờ đỏ sao vàng, tổ chức hoạt động một cách mạnh mẽ… + Xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ tranh là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhân dân trong giai đoạn hiện tại, phong trào lực lượng cách mạng bao gồm chính trị quân sự thành lập các khu căn cứ, chú trọng công tác xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ và đẩy mạnh công tác vận động quần chúng. Phương châm hình thái khởi nghĩa ở nước ta: nắm vững và dự báo được thời cơ cách mạng, chuẩn bị sẵn sàng, nhằm lợi dụng cơ hội thuận tiện hơn cả đánh lại quân thù. Để đưa lực lượng vũ trang dẫn đến thứng lợi cần phải ra sức phát triển lực lượng cách mạng bao gồm: lực lượng chính trị và vũ trang. Ban chấp hành TW chỉ rõ việc: “ BCHTW xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở nước ta”. Phải luôn luôn chuẩn bị một lượng sẵn sằng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn mà đánh giá lại quân thù…”.BCHTW còn chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của Đảng, gấp rút đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, bình vận quân sự và đẩy mạnh coonng tác vận động quần chúng. Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu…tập hợp rộng rãi mọi người VN trong nước ở Mặt Trận Việt Minh, xây dựng lực lượng quần chúng ở cả nông thôn và thành thị Xây dựng lực lượng quân đội thông qua việc thành lập Việt Nam giải phóng quân. Đường lối là ngọn cờ dẫn đường chho dân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân. 3.2. Chủ trương phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền a) Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước và đẩy mạnh khởi nghĩa từng phần * Thời cơ trong cách mạng tháng Tám: - Điều kiện khách quan vô cùng thuận lợi: + Liên Xô và Đồng minh đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật đã tạo điều kiện khách quan thuận lợi cho các dân tộc đứng lên giải phóng. + Quân Nhật ở Đông Dương và bọn tay sai thân Nhật hoang mang rệu rã đến cực điểm. Kẻ thù của cách mạng nước ta suy yếu đến cực độ. - Điều kiện chủ quan cho cuộc cách mạng nổ ra và giành được thắng lợi rất đầy đủ: + Đảng cộng sản Đông Dương đã có quá trình chuẩn bị chu đáo cho thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám trong suốt 15 năm với ba cao trào cách mạng: 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945. Trong cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, Đảng cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị đầy đủ và chu đáo về mặt đường lối, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng và bước đầu tập hợp được cho quần chúng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. + Khi phát xít Nhật đầu hàng không điều kiện quân Đồng Minh, Đảng ta kịp thời chớp thời cơ, chuẩn bị chu đáo hơn nữa và dũng cảm phát động toàn dân nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào từ 13 đến 15 - 8 - 1945 đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa và Đại hội quốc dân Tân Trào ngày 16 và 17 - 8 - 1945 hưởng ứng mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa của Đảng quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, chuẩn bị những công việc cuối cùng cho Tổng khởi nghĩa. *. Chủ trương của Đảng: - Ngày 12 - 3 - 1945, ban thường vụ trung ương Đảng ra chỉ thị Nhật - Pháp đánh nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị đã nêu rõ là điều kiện khởi nghĩa vũ trang đã chín muồi, phát xít Nhật là kẻ thù chính và cụ thể của cách mạng Đông Dương, thay khẩu hiệu Đánh đổ Nhật, Pháp bằng Đánh đuổi phát xít Nhật. - Đấu tranh từ bất hợp tác, bãi công, biểu tình, thị uy, vũ trang du kích chuyển sang hình thức tổng khởi nghĩa. - Phát động phong trào chống Nhật cứu nước, làm tiền đề cho cuộc khởi nghĩa. Ý nghĩa: thể hiện sự sáng suốt, kịp thời của Đảng là kim chỉ nam cho hành động của Đảng. *. Khởi nghĩa từng phần: - Ở khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng: Đội Việt Nam tuyên truyền cứu quân và lực lượng chính trị của quần chúng giải phóng hàng loạt xã, huyện, thành lập chính quyền, các hội cứu quốc được củng cố và phát triển. - Ở Bắc Kì: Diễn ra phong trào phá kho thóc Nhật, giải quyết nạn đói ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Quảng Yên,... - Ở Quảng Ngãi: Tù chính trị ở nhà lao Ba Tơ nổi dậy, thành lập chính quyền cách mạng, tổ chức đội du kích Ba Tơ. - Ở nhà tù đế quốc: Hỏa Lò ( Hà Nội ), Nghĩa Lộ, Sơn La,... tù chính trị nổi dậy đấu tranh, đòi tự do, phá nhà lao. Đây là nguồn cán bộ bổ sung rất lớn cho cách mạng. - Hội nghị quân sự Bắc Kì ( họp từ 15 đến 20 - 4 -1945 ): Hội nghị quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang, phát triển lực lượng vũ trang và nửa vũ trang, mở trường đào tạo cấp tốc cho cán bộ quân sự và chính trị, phát triển du kích, xây dựng căn cứ địa phá Nhật. Ủy ban quân sự Bắc Kì được thành lập. - Sau hội nghị: + Ngày 16 - 4 - 1945, Việt Minh ra chỉ thị thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng trung ương và các cấp. + Ngày 15 - 5 - 1945, đội Việt Nam tuyên truyền phối hợp với cứu quân thành Việt Nam giải phóng quân và có bảy chiến khu trung ương ra đời. + Tháng 5 - 1945, Hồ Chí Minh chuyển từ Pắc Pó ( Cao Bằng ) về Tân Trào ( Tuyên Quang ), lấy đây là trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước. + Tháng 6 - 1945, khu giải phóng Việt Bắc được thành lập. Công việc chuẩn bị cho cách mạng tháng Tám vẫn đang diễn ra và cả dân tộc ở trong tư thế chờ thời cơ để giành chính quyền. b. Tổng khởi nghĩa tháng Tám giành chính quyền trong cả nước: - Ngay từ những ngày đầu tháng 8 - 1945, một không khí gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa đã sục sôi trong cả nước. Khi nghe tin Nhật đầu hàng Đồng minh, đồng thời thực hiện quyết định Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội họp ở Tân Trào thì cuộc khởi nghĩ vũ trang của quần chúng đã chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang tổng khởi nghĩa. - Chiều 16 - 8 - 1945, theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa, một đội quân giải phóng do Võ Nguyên Giáp chỉ huy, xuất phát từ Tân Trào về thị xã Thái Nguyên bao vậy và tiến công quân Nhật ở thị xã, mở đầu cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. - Ngày 18 - 8 - 1945, bốn tỉnh giành chính quyền ở tỉnh lị sớm nhất là Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam. - Sáng 19 - 8 - 1945, cả thủ đô Hà Nội tràn ngập khí thế cách mạng. Đồng bào kéo tới quảng trường Nhà hát lớn dự cuộc mít tinh do Mặt trận Việt Minh tổ chức. Cuộc mít tinh nhanh chóng chuyển thành biểu tình, chia ra nhiều đoàn đi chiếm phủ khâm sai, tòa thị chính, trại lính bảo an, sở cảnh sát, các công sở của chính quyền bù nhìn. Trước khí thế quần chúng khởi nghĩa, hơn 1 vạn quân Nhật ở Hà Nội không dám chống lại. Ngày 19 - 8 - 1945, cuộc khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn ở Thủ đô Hà Nội. Sự kiện này có tác dụng cổ vũ to lớn đối với phong trào của cả nước. - Ngày 23 - 8 - 1945, Huế - thành lũy hàng trăm năm của phong kiến triều Nguyễn và thủ phủ chính quyền bù nhìn trung ương cũng lọt vào tay nhân dân cách mạng. - Ngày 25 - 8 - 1945, Sài Gòn - thành lũy cuối cùng của chế độ thực dân sụp đổ. Thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã có tác dụng vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám trong phạm vi cả nước. - Ngày 28 - 8 - 1945, hai tỉnh cuối cùng là Hà Tiên và Đồng Nai Thượng giành chính quyền. Như vậy, chỉ trong vòng 15 ngày ( 14 - 8 đến 28 - 8 ), cuộc Tổng khởi nghĩa đã thành công hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, chính quyền cả nước thực sự thuộc về tay nhân dân ta. - Ngày 30 - 8 - 1945, Bảo Đại - ông vua cuối cùng của triều đại phong kiến nhà Nguyễn tuyên bố thoái vị, chấm dứt chế độ phong kiến hàng nghìn năm ở nước ta. - Ngày 2 - 9 - 1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới rằng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra đời. c. Ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học lịch sử của Cách mạng tháng Tám 1945: * Ý nghĩa: - Đây là một chiến thắng lớn của ta, nó đã phá tan xiếng xích nô lệ của Nhật - Pháp và lật nhào ngai vàng phong kiến. Nước ta trở thành một nước độc lập, nhân dân ta từ nô lệ lên địa vị làm chủ nước nhà. - Đánh dấu bước nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỉ nguyên độc lập, tự do của dân tộc; kỉ nguyên nhân dân lao động làm chủ vận mệnh đất nước. - Góp phần vào chiến thắng phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chọc thủng khâu yếu nhất trong hệ thống thuộc địa của đế quốc và góp phần làm suy yếu chúng, cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa đấu tranh tự giải phóng như hai nước Lào và Campuchia. * Nguyên nhân thắng lợi: - Nguyên nhân khách quan: Chiến thắng của Đồng minh trong cuộc chiến chống bọn phát xít, đặc biệt là chiến thắng phát xít Đức và bọn quân phiệt Nhật Bản của Hồng quân Liên Xô đã cổ vũ tinh thần, củng cố niềm tin cho nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tạo thời cơ để nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa. - Nguyên nhân chủ quan: + Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước nên khi Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh phát động là nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà. + Cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh lãnh đạo đã có những chiến lược, chủ trương và sách lược đúng đắn dựa trên lí luận Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam. + Để giành thắng lợi, Đảng ta đã chuẩn bị trong suốt 15 năm và đã rút được nhiều kinh nghiệm. + Toàn Đảng, toàn dân nhất trí, đồng lòng, không sợ hi sinh, gian khổ quyết tâm giành độc lập, tự do. Các cấp lãnh đạo linh hoạt, sáng tạo chỉ đạo khởi nghĩa, chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền. * Bài học kinh nghiệm: - Đảng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam một cách phù hợp, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đề cao vấn đề dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. - Đảng đã tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng nên đã tạo nên sức mạnh toàn dân và phân hóa, cô lập kẻ thù rồi tiến tới đánh bại chúng. - Trong chỉ đạo khởi nghĩa, Đảng linh hoạt kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa ở nông thôn và thành thị tiến tới tổng khởi nghĩa. - Đảng luôn kết hợp giữa đấu tranh và xây dựng để ngày càng vững mạnh về tổ chức, tư tưởng và chính trị, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo phong trào cách mạng thành công. III. KẾT LUẬN Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân, đế quốc. Mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân đông đảo và giai cấp địa chủ phong kiến Giải quyết được hai mâu thuẫn trên, chính là hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ ở Việt Nam. Nhiệm vụ dân tộc - dân chủ do đó vừa là tất yếu vừa là bắt buộc của cách mạng Việt Nam. Nó xuất phát từ thực tiễn của bối cảnh Việt Nam. Hai nhiệm vụ này không phải đến khi Đảng ra đời mới được đặt ra, mà nó đã nhen nhóm từ đó rất lâu Như vậy mục tiêu đó cho thấy tính chất của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Đó là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân- một cuộc cách mạng của giai cấp công nhân, giai cáp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc, do giai cấp công nhân lãnh đạo, dựa trên cơ sở liên minh công nông, nhăm mục đích đánh đổ đế quốc, phong kiền, giải phóng dân tộc, thực hiện người cày có ruộng đất, lập nên nứơc Việt Nam dân chủ công hoà, tức nhà nước dân chủ nhân dân, mà tạo điều kiện cho nhà nước Việt Nam không qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xã hội chủ nghĩa. Và một cuộc cách mạng như thế người ta gọi là cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQuá trình giải quyết 2 nhiệm vụ dân tộc dân chủ của cách mạng việt nam trong giai đoạn 1930 – 1945.doc
Luận văn liên quan