Quản lý môi trường ven biển Việt Nam

Vùng ven bờ luôn là nơi được con người quan tâm do nguồn tài nguyên của nó. Đây là nơi có vùng đồng bằng màu mỡ và tài nguyên biển phong phú, vùng ven bờ cũng là nơi dễ dàng cho sự tiếp cận của thị trường quốc tế. Nó tạo ra không gian sống, các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật cho các hoạt động của con người và có chức năng điều hoà đối với môi trường tự nhiên cũng như môi trường nhân tạo. Vùng ven bờ là trọng tâm của nhiều ngành kinh tế quốc gia, là nơi mà phần lớn các hoạt động về kinh tế, xã hội diễn ra và cũng là nơi mà tác động của các hoạt động này nhiều nhất. Đối với những nước có vùng bờ, hơn một nữa dân số sống tại đây và tầm quan trọng của vùng ven bờ còn gia tăng trong tương lai do sự gia tăng không ngừng của việc di dân từ các vùng sâu trong lãnh thổ tới đây. Do vậy, không ngạc nhiên khi có sự xung đột sâu sắc giữa nhu cầu tiêu dùng hiện nay đối với tài nguyên và việc đảm bảo cho việc tiêu thụ tài nguyên đó trong tương lai. Trong một số quốc gia, sự xung đột đó đã đạt đến mức nguy cấp do phần lớn vùng ven bờ đã bị ô nhiễm do các nguồn khác nhau. Rất nhiều hoạt động phát triển đô thị, công nghiệp và nông nghiệp trên vùng ven biển là nằm trong vùng đất ngập nước ven biển có năng suất cao và các dự án phát triển đang làm biến đổi hệ sinh thái ven biển trên một qui mô rất lớn. Nước thải từ hầu hết các đô thị và khu công nghiệp trên thế giới đổ trực tiếp vào biển hoặc gián tiếp qua các hệ thống sông mà không được xử lý hoặc xử lý rất ít. Nghề cá bị sa sút, đất ngập nước bị khô, các rạn san hô bị phá hủy, các bãi biển bị xuống cấp,... Để các vùng ven bờ được duy trì và bảo vệ, cần phải có hành động hiệu quả và kịp thời. Để giải quyết cho yêu cầu này, một hệ thống quản lý được hình thành: Quản lý tổng hợp vùng ven bờ: (ICZM, Integrated Coastal Zone Management).

docx91 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 10/01/2013 | Lượt xem: 4999 | Lượt tải: 24download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quản lý môi trường ven biển Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A : KHÁI NIỆM VÙNG VEN BỜ VÀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÙNG VEN BỜ BIỂN Vùng ven bờ luôn là nơi được con người quan tâm do nguồn tài nguyên của nó. Đây là nơi có vùng đồng bằng màu mỡ và tài nguyên biển phong phú, vùng ven bờ cũng là nơi dễ dàng cho sự tiếp cận của thị trường quốc tế. Nó tạo ra không gian sống, các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật cho các hoạt động của con người và có chức năng điều hoà đối với môi trường tự nhiên cũng như môi trường nhân tạo. Vùng ven bờ là trọng tâm của nhiều ngành kinh tế quốc gia, là nơi mà phần lớn các hoạt động về kinh tế, xã hội diễn ra và cũng là nơi mà tác động của các hoạt động này nhiều nhất. Đối với những nước có vùng bờ, hơn một nữa dân số sống tại đây và tầm quan trọng của vùng ven bờ còn gia tăng trong tương lai do sự gia tăng không ngừng của việc di dân từ các vùng sâu trong lãnh thổ tới đây. Do vậy, không ngạc nhiên khi có sự xung đột sâu sắc giữa nhu cầu tiêu dùng hiện nay đối với tài nguyên và việc đảm bảo cho việc tiêu thụ tài nguyên đó trong tương lai. Trong một số quốc gia, sự xung đột đó đã đạt đến mức nguy cấp do phần lớn vùng ven bờ đã bị ô nhiễm do các nguồn khác nhau. Rất nhiều hoạt động phát triển đô thị, công nghiệp và nông nghiệp trên vùng ven biển là nằm trong vùng đất ngập nước ven biển có năng suất cao và các dự án phát triển đang làm biến đổi hệ sinh thái ven biển trên một qui mô rất lớn. Nước thải từ hầu hết các đô thị và khu công nghiệp trên thế giới đổ trực tiếp vào biển hoặc gián tiếp qua các hệ thống sông mà không được xử lý hoặc xử lý rất ít. Nghề cá bị sa sút, đất ngập nước bị khô, các rạn san hô bị phá hủy, các bãi biển bị xuống cấp,... Để các vùng ven bờ được duy trì và bảo vệ, cần phải có hành động hiệu quả và kịp thời. Để giải quyết cho yêu cầu này, một hệ thống quản lý được hình thành: Quản lý tổng hợp vùng ven bờ: (ICZM, Integrated Coastal Zone Management). Quản lý tổng hợp vùng ven bờ (QLTHVB) có thể cho phép giải quyết các vấn đề nảy sinh trong phát triển như: · Tăng dân số ở vùng ven biển, đô thị hoá, cạnh tranh đất đai, nguồn nước và các vấn đề liên quan đến ô nhiễm. · Sự dâng cao của mức nước biển làm cho nhiều quốc gia ven biển dễ bị ảnh hưởng của lụt lội và đe dọa cuộc sống và các hoạt động kinh tế. · Quản lý tài nguyên kém làm tăng phạm vi ảnh hưởng và tính khốc liệt của các tai biến thiên nhiên như bão lụt, xói lở bờ biển,... đối với cuộc sống và dân cư. · Tài nguyên bị khai thác quá mức và sử dụng không hợp lý ví dụ như vấn đề khai thác cạn kiệt các loài thuỷ hải sản, khai thác san hô làm vật liệu xây dựng, phá rừng ngập mặn để nuôi tôm. I. Khái niệm vùng ven bờ Hầu hết các hướng dẫn QLTHVB được xuất bản đều đồng . rằng vùng ven bờ là khu vực có giao diện khá hẹp giữa biển và đất liền. Đó là nơi các quá trình sinh thái phụ thuộc vào sự tác động lẫn nhau giữa đất liền và biển, các tác động này diễn ra khá phức tạp và nhạy cảm. Vùng ven bờ thường được hiểu như là nơi tương tác giữa đất và biển, bao gồm các môi trường ven bờ cũng như vùng nước kế cận. Các thành phần của nó bao gồm các vùng châu thổ, vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các bãi biển và cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn, đầm phá, và các đặc trưng ven bờ khác. Khái niệm vùng ven bờ thường được xác định một cách tùy tiện, hơi khác nhau giữa các quốc gia và thường dựa vào giới hạn pháp lý và ranh giới hành chánh. Ngoài ra còn có những sai khác về địa văn (physiography), sinh thái và kinh tế giữa các vùng khác nhau, do đó không có một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về vùng ven bờ. Thay vào đó, có nhiều định nghĩa bổ sung phục vụ cho những mục đích quản lý khác nhau, trong đó vấn đề ranh giới cần được xem xét. Ví dụ ở một số nước Châu Âu, vùng ven bờ mở rộng ra tới vùng lãnh hải, một số nước khác thường lấy đường đẳng sâu làm giới hạn. Còn về ranh giới đất liền thì cũng rất mơ hồ do tác động của biển vào khí hậu có thể vào đến vùng nội địa bên trong cũng như vùng đồng bằng ngập lụt rộng lớn. Vấn đề ranh giới vùng ven bờ có thể được xác định một cách thực tế bao gồm các khu vực và các hoạt động liên quan đến vấn đề quản lý mà chương trường sẽ nhắm vào. Trong nhiều trường hợp, ranh giới vùng đất và biển được chọn thường có một khoảng cách nhất định với một mốc tự nhiên chẳng hạn như là mức nước thấp trung bình (MLWM, Mean Low Water Mark) hay mức nước cao trung bình (MHWM, Mean High Water Mark). Bảng 1. Một số ví dụ về ranh giới vùng ven bờ Nước, bang  Ranh giới đất liền  Ranh giới biển   Rhode Island  200 bộ kể từ bờ biển  Vùng lãnh hải (3 dặm)   Hawaii  Tất cả đất liền trừ vùng các khu rừng bảo vệ  Vùng nước của Bang   Brunei  Tất cả vùng đất liền và nước cách MHWM 1 km  Từ MHWM đến 200 m nước sâu   Singapore  Toàn bộ đất liền  Vùng lãnh hải và các đảo xa bờ   Sri Lanka  300 m từ MHWM  2 km từ MLWM   Malaysia  Ranh giới huyện  20 km từ bờ   · Vùng ven biển (Coastal area): về mặt địa lý thì rộng hơn vùng ven bờ, đường biên của nó mở rộng về phía đất liền hơn. Vùng ven bờ chỉ là một phần của khu vực ven biển. Điều này rất quan trọng, đứng trên phương diện chức năng,bởi trong nhiều quy tình về môi trường, nhân khẩu, kinh tế và xã hội trên thực tế bắt nguồn từ vùng ven biển rộng lớn, tuy nhiên những biểu hiện của chúng chỉ thấy rõ được trong phạm vi vùng ven bờ. · Vùng nước ven biển (Coastal water): vành đai hẹp gần bờ có nước biển và nước cửa sông. · Vùng gian triều (Intertidal area): vùng giữa đường ngập triều khi triều thấp nhất và đường ngập triều khi triều cao nhất (phần đất liền chịu tác động của thủy triều). · Vùng bờ biển (Coastline): đường tiếp xúc tại điểm chia cắt đất liền với các vùng nước ven biển. · Vùng đất ven bờ (Shore lands): vùng đất liền xuống tới đường biên cao nhất bị ảnh hưởng bởi thủy triều Do có nhiều sự khác nhau trong định nghĩa về khái niệm vùng ven bờ, có một số vấn để thường nảy sinh trong quá trình thực thi quản lý tổng hợp vùng ven bờ. Thứ nhất, pháp luật quốc gia liên quan tới giải quyết vấn đề này, nếu nó tồn tại, thường không rõ ràng trong việc đưa ra những định nghĩa và tiêu chí biên giới vùng ven bờ một cách chính xác. Thứ hai,thường các ranh giới được xác định theo qui định của hành chính không đồng nhất với ranh giới của hệ sinh thái. Thứ ba, việc quản lý các vùng ven bờ xuyên quốc gia thường rất khó khăn do nó liên quan tới lợi ích từng quốc gia. Ngoài ra, pháp chế và sự phân định đới bờ có thể có sự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia cận kề nhau. Như vậy có thể thấy là định nghĩa về vùng ven bờ thường phục vụ và hỗ trợ cho các kế hoạch chính trị, chính sách để cân bằng nhu cầu đối với tài nguyên và giải quyết các xung đột nhiều mặt trong vấn đề sử dụng tài nguyên. Do vậy, định nghĩa vùng ven bờ phải phản ảnh các tiếp cận tổng hợp bao gồm (a) vùng ven bờ được quản lý là một hệ tổng hợp về tài nguyên và sử dụng tài nguyên và (b) chức năng quản lý phối hợp giữa các tổ chức khác nhau liên quan đến qui hoạch và thực thi. Để định nghĩa về vùng ven bờ tiếp tục được chuẩn bị kỹ lưỡng và cập nhật trong các dự án của các quốc gia, các yếu tố sau đây cần phải được tính đến: · Phạm vi phần đất bên trong vùng ven bờ phải được thoả thuận cũng như phần nước thuộc lãnh thổ quản lý. · Định nghĩa vùng ven bờ phải xuất phát từ các đặc điểm tự nhiên (địa mạo) và chức năng sinh thái. · Xác định ranh giới hành chính dựa vào pháp luật quốc gia, các vùng đặc trưng và các qui hoạch chi tiết. · Sử dụng các kỹ thuật bản đồ để phác họa ranh giới đường bờ và đường vùng ven bờ trên các bản đồ. II. Đặc tính của vùng ven bờ 1. Vùng ven bờ bao gồm sự đa dạng lớn về nơi ở và các hệ sinh thái (như vùng cửa sông, rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, đầm phá, vũng biển,..) 2. Các hệ sinh thái trên có các đặc điểm vốn có được mô tả như là các chức năng khi chú ý đến phạm vi hệ thống tài nguyên ven bờ.Đối với các vùng đất ngập nước,các chức năng đó bao gồm năng suất sơ cấp và năng suất thứ cấp để duy trì khu hệ động, thực vật; dự trữ trầm tích và các chất carbon hữu cơ để nâng cao săng suất sinh học; liên kết các hệ sinh thái cần thiết để duy trì chuỗi thức ăn, tuyến di cư và gia tăng sản lượng. Đối với các rạn san hô các chức năng đó sẽ bao gồm năng suất sinh học cao và tỷ lệ cố định carbon cao dẫn đến sự phát triển đáng kể các rạn san hô và sự ăn mòn vật lý và sinh học dẫn đến sự tạo thành trầm tích đá vôi. 3. Lần lượt, các chức năng đó sản sinh ra "hàng hoá" (ví dụ như cá, dầu khí, khoáng sản,...) và các dịch vụ có ích (ví dụ như chống lại sóng, bão, sự giải trí và vận chuyển,..). Các hàng hoá và dịch vụ như thế có giá trị kinh tế, một số có thể trao đổi theo cơ chế thị trường,nhưng số khác không thể đánh giá trực tiếp.Ví dụ tốt nhất là giá trị của san hô về nơi ở,giá trị giải trí như bơi lội, chèo thuyền,câu cá giải trí hay đơn giản chỉ là ngắm nhìn đại dương.Đối với các rừng ngập mặn, sự quan tâm đối với các nguồn tài nguyên này không được mua bán và cũng không được đánh giá như hàng hoá hay như dịch vụ và thường bị loại trừ khi phân tích về giá trị của rừng ngập mặn khi phát triển thành giá trị sử dụng thay thế khác (ví dụ như chuyển đổi thành vùng nuôi tôm).Các giá trị thường buôn bán là cọc chống, than củi, cua, tôm rừng ngập mặn; các giá trị có thể buôn bán là cá, thân mềm 2 mảnh bắt trong vùng kế cận; các giá trị ít khi tính đến là dược liệu, chất đốt trong gia đình, thức ăn trong những lúc nghèo đói, chổ ở cho cá con, bãi thức ăn đối với các loài cá, tôm vùng cửa sông, quan sát và nghiên cứu động vật hoang dã; các giá trị thường bị bỏ qua là dòng dinh dưỡng cho vùng cửa sông, vùng đệm đối với tác hại của gió bão. 4. Có một mối liên hệ trực tiếp giữa các chức năng môi trường và việc sản sinh ra các hàng hoá để có thể sử dụng được nhiều dạng hơn chỉ là một dạng trong các hoạt động của con người (ví dụ như đá san hô được sử dụng trong việc xây dựng và sản xuất vôi). 5. Trong vùng ven bờ, nơi mà có sự cạnh tranh giữa các bên liên quan khác nhau (các bên liên quan được xác định là các nhóm trong cộng đồng có những mối quan tâm đặc biệt hay là liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên như là tài sản chung) đối với việc sử dụng đất và biển thường dẫn đến những xung khắc mãnh liệt và phá huỷ sự thống nhất của hệ thống tài nguyên. 6. Các hoạt động ở vùng ven bờ trong nhiều nước đã góp phần đáng kể vào GDP của kinh tế quốc gia.Ví dụ như ở Sry Lanka,vùng ven bờ chiếm 24% diện tích đất cả nước,nhưng đã đóng góp 40% GDP của quốc gia với 50% dân số sống ở đây. Nhiều cộng đồng trong vùng Đông Nam Á phụ thuộc vào công nghiệp dầu lửa và tàu thuyền, du lịch ven bờ,... 7. Vùng ven bờ là nơi tập trung cao sự định cư của con người và là nơi thích hợp cho sự đô thị hoá. Hầu hết các thành phố lớn của các nước vùng Đông Nam Á,cũng như các nước khác trên thế giới nằm ở vùng ven bờ. 8. Vùng ven bờ là sẽ tâm điểm cho sự phát triển trong tương lai trong vòng 50 năm tới với sự gia tăng dân số và mở rộng các ngành công nghiệp.Những sự phát triển như thế sẽ dẫn đến sự gia tăng những xung đột về môi trường và xã hội,đòi hỏi cần phải có việc thực hiện kế hoạch quản lý tổng hợp. III. Các yếu tố sinh thái môi trường vùng ven bờ 1. Vị trí địa lý Nằm tiếp giáp với đường bờ biển, có thể có các dạng địa hình: Đồng bằng thấp trũng thuộc khu vực các sông lớn, chịu ảnh hưởng của thủy triều ,Núi cao ăn ra tận biển, địa hình không bằng phẳng, cao hoặc là những gồm đá sát biển và ít chịu ảnh hưởng của thủy triều Vùng đầm lầy hoặc đầm phá. 2. Khí hậu Tần suất xuất hiện gió và bão cao, nhất là vùng ven biển nhiệt đới. Có chế độ gió mùa và ảnh hưởng rõ của chế độ này. Biên độ nhiệt độ dao động ngày và đêm không lớn như ở lục địa. Lượng mưa và độ ẩm không khí thường cao hơn các vùng khác. Đây cũng là vùng dễ có các sự cố môi trường như bão lốc, sóng thần. 3. Môi trường đất Có thể có các dạng đất như đất mặn, đất phèn, phèn mặn hoặc đất cát, cồn cát ven biển. Dễ mẫn cảm với các điều kiện biến đổi của môi trường như dễ bị xói lở do tác động của sóng gió. Môi trường đất bị ảnh hưởng mạnh của cả độ mặn trong nước biển và thủy triều. Môi trường sinh thái ở đây không có tính ổn định,dễ phát triển nhưng cũng dễ bị phá hủy,thay đổi. 4. Môi trường nước Nước từ mặn cho đến lợ,độ mặn giảm từ biển vào đất liền, điều kiện nước cũng thay đổi theo chế độ thủy văn ở các cửa sông đổ ra biển.Trong nước biển, nước sông và nhất là nước lợ, hàm lượng chất dinh dưỡng cao, có nhiều chất phù sa lơ lững và nhiều hạt sét mịn tạo nên trầm tích nhiều sét. Chế độ thủy triều ảnh hưởng mạnh đến hệ sinh thái thể hiện qua mức triều cực đại hay cực tiểu của chế độ nhật triều hay bán nhật triều. Chế độ nước ngọt rất khan hiếm, chỉ thấy từ các nguồn nước mưa hoặc giếng sâu từ tầng nước ngầm. 5. Môi trường không khí Thường chất lượng không khí ở các vùng ven biển rất tốt nếu không có các hoạt động công nghiệp.Trong những vùng hoạt động công nghiệp ven biển th. môi trường không khí sẽ bị ảnh hưởng.Tuy nhiên khả năng đảo nhiệt thường ít xảy ra hơn. Hàm lượng muối trong không khí cao dễ gây ăn mòn kim loại, các công trình xây dựng,vật liệu. 6. Đa dạng sinh học Được chia làm hai phần:phần dưới nước và trên cạn.Phần trên cạn lại được chia ra sinh vật ở vùng cao và sinh vật ở vùng ngập và bán ngập.Phần dưới nước chia ra sinh vật tầng mặt, sinh vật tầng nước nông và sinh vật tầng nước sâu. Nhìn chung đa dạng sinh học ở vùng ven biển rất phong phú và đa dạng.Tính đa dạng này phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường tự nhiên như nhiệt độ,chế độ nước,môi trường đất. Đối với vùng đất cao,ít ngập triều và không có nước ngọt,đất dễ nhiễm mặn và khô hạn thì đa dạng sinh học nghèo nàn.Đối với vùng ngập nước và bán ngập triều hay còn gọi là đất ngập nước,thì đa dạng sinh học phong phú hơn nhiều. 7. Ô nhiễm môi trường vùng ven biển Ngày nay với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ,hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người đã tác động mạnh mẽ đến môi trường sinh thái ven biển theo hướng ngày một xấu đi. Nguyên nhân của ô nhiễm xuất phát từ:Nguồn nước thải sinh hoạt được thải trực tiếp từ các khu dân cư ven biển;Nước thải công nghiệp;Nguồn nước thải từ các cống rãnh đô thị;Chất thải rắn từ công nghiệp, nông nghiệp. 8. Các dạng năng lượng trong môi trường ven biển Năng lượng sóng biển: vô cùng lớn nhưng đến nay con người chỉ mới khai thác,sử dụng được khoảng 1-2%.Một số nước trên thế giới đã sử dụng một phần năng lượng sóng biển để phát điện,tuy nhiên vấn đề này còn có nhiều khó khăn trong thiết kế,xử lý công trình. Năng lượng gió: là loại năng lượng có tiềm năng rất lớn dùng để phát điện,bơm nước,quay các động cơ,...Tuy nhiên nguồn năng lượng này cũng chưa được khai thác nhiều. Năng lượng ánh sáng mặt trời:sinh vật sử dụng năng lượng này cho quang hợp,sinh trưởng và phát triển,con người sử dụng để sấy khô nguyên liệu,làm muối. IV. Khái niệm về Quản lý tổng hợp vùng ven bờ Tại Hội nghị Quốc tế về Vùng bờ, QLTHVB được định nghĩa như sau: QLTHVB bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý các hệ thống tài nguyên ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử, văn hóa và truyền thống, và các lợi ích trong mâu thuẩn sử dụng;là quá trình liên tục tiến triển nhằm đạt được sự phát triển bền vững. Quản lý tổng hợp vùng ven bờ là một cơ cấu để tập hợp những người sử dụng, các chủ thể và những người ra quyết định tại vùng ven bờ nhằm đảm bảo quản lý hệ sinh thái có hiệu quả hơn đồng thời phát triển được kinh tế và phân chia quyền lợi hợp lý giữa các thế hệ và trong cùng thế hệ, thông qua việc áp dụng những nguyên tắc có tính bền vững.Pháp chế và quy hoạch ở Lãnh hải và nội địa thường là công cụ thuận lợi để thực thi QLTHVB. Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về QLTHVB nhưng sự khác nhau giữa chúng là rất ít.Hầu hết các định nghĩa đều thừa nhận rằng QLTHVB là một quy trình có tính liên tục,tính tiên phong trong thực hiện và có khả năng thích nghi cao nhằm quản lý nguồn tài nguyên cho sự phát triển bền vững vùng ven bờ.QLTHVB phải đạt được mục tiêu của nó trong các điều kiện hạn chế về môi trường,kinh tế,xã hội và tự nhiên cũng như trong hạn chế của các hệ thống và thể chế về pháp lý,tài chính và hành chính. QLTHVB không thay thế cho các việc kế hoạch và quản lý của từng ngành.Đúng hơn là nó tập trung vào sự liên kết giữa hoạt động của các ngành,cũng cố và điều hành quản lý ngành để đạt được mục tiêu một cách bền vững và đầy đủ. QLTHVB là một quy trình tuần hoàn thường bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: l. khởi xướng, 2. lập kế hoạch và 3. thực thi, giám sát và đánh giá.Tuy nhiên nó cũng phải hoạt động như một quy trình lặp lại trong đó việc lập kế hoạch và thực thi cần phải được tiến hành xem xét đánh giá và điều chỉnh thường xuyên. Vấn đề quan trọng nhất trong quản lý tổng hợp vùng ven bờ là quản lý cái gì và như thế nào?Có rất nhiều dạng của quản lý tổng hợp,theo NetCoast 2001,có thể phân biệt các dạng sau: · Tổng hợp giữa các chính quyền: tổng hợp giữa các thể chế và cấp độ hành chính theo các mức độ như địa phương,tỉnh, quốc gia. Đây cũng được gọi là tổng hợp theo ngành dọc. Mục đích của sự tổng hợp này là hoà hợp chính sách của quốc gia và việc thực hiện cuối cùng ở các địa phương. · Tổng hợp giữa các lĩnh vực: tổng hợp giữa các ngành khác nhau tại cùng một cấp độ hành chính, ví dụ như giữa các bộ với nhau.Đây cũng gọi là tổng hợp theo chiều ngang.Một dạng đặc biệt là tổng hợp theo không gian,do vùng đất và biển kế bên vùng ven bờ được quản lý bởi các ngành khác nhau (ví dụ du lịch và nghề cá),nhưng các hoạt động thì lại ảnh hưởng lẫn nhau. · Tổng hợp giữa các tổ chức phi chính phủ và tổ chức chính phủ: ví dụ như giữa các chính quyền địa phương và các tổ chức tự nhiên ở địa phương và các công nghiệp nhỏ. · Tổng hợp giữa khoa học và quản lý: tổng hợp giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau và chuyển giao khoa học tới những người sử dụng và những người lập kế hoạch.Rõ ràng là khoa học xã hội, khoa học công nghệ và tự nhiên có nhiệm vụ cung cấp tài liệu cho các nhà quản lý vùng ven biển.Tuy nhiên, thông tin của họ thường không tối ưu nhất. · Tổng hợp quốc tế: có thể xảy ra vấn đề khi một vùng diện tích lại nằm trong biên giới của hai nước.Do tác động của việc sử dụng tài nguyên giữa hai nước là không biết được,do vậy sự hợp tác quốc tế là điều kiện tiên quyết. Mc Glashan đề nghị 4 phương diện quản lý tổng hợp: đó là hệ thống quản lý theo không gian,theo thời gian,theo chiều dọc và theo chiều ngang. · Tổng hợp theo không gian: bao gồm những vấn đề liên quan đến ranh giới, xa vào đất liền như thế nào và xa ra tới biển bao nhiêu cần phải được xem xét trong các dự án quản lý.Vấn đề đất liền và biển cần phải được coi trọng như nhau,các quá trình tự nhiên không quan hệ đến các ranh giới hành chính. · Tổng hợp theo thời gian:vấn đề thời gian phải được coi trọng, để các quyết định trong hiện tại cần phải xem xét đến tác động của nó trong tương lai để bảo đảm cho sự bền vững. · Tổng hợp theo chiều dọc:tất cảc các mức độ của các mối liên hệ, hợp tác,kế hoạch tại các điểm ở địa phương phải gắn với kế hoạch của vùng ven bờ,với chiến lược của quốc gia và quốc tế.Cũng trong lĩnh vực này,khi áp dụng các chính sách trong các tổ chức,thông tin cần phải được thông qua từ thấp đến cao trong các tổ chức cũng như trong các cấp (ví như văn phòng qui hoạch,hội đồng địa phương,chính quyền quốc gia,..). · Tổng hợp theo chiều ngang: thể hiện nỗ lực nhằm điều phối các ngành kinh tế tư nhân cũng như nhà nước,nhờ đó giảm được sự chắp vá và chồng chéo trong quản lý.Các chủ đề khác nhau trong phạm vi vùng bờ cần được đưa ra khi thành lập các quyết định (ví dụ như bảo vệ vùng ven bờ,phát triển kinh tế, bảo tồn thiên nhiên,...);các ban ngành,các tổ chức khác nhau phải cùng làm việc với nhau hơn là làm việc riêng lẻ nhau. Một vấn đề nữa trong quản lý tổng hợp vùng ven bờ là tính toàn bộ.Đây là một phần của mô hình bền vững bao gồm cả người dân,đặc biệt là người dân địa phương.Điều này đã được nhận thấy trong hầu hết các bước khởi đầu thành công về quản lý tổng hợp vùng ven bờ ở nhiều quốc gia,trong đó có sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng địa phương. Từ các thảo luận trên,có thể thấy là có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tổng hợp vùng ven bờ.Tuy vậy,rõ ràng là một chương trình quản lý vùng bờ miêu tả một số dạng hợp tác giữa các cơ quan hoặc tổ chức khác nhau để cố gắng giải quyết những mâu thuẩn có khả năng sinh ra.Cũng cần phải nhớ rằng các quốc gia khác nhau có các phương pháp tiếp cận vùng ven bờ theo các đường lối khác nhau.Không có một cơ chế nào phù hợp cho tất cả,do sự thành công của việc thực thi QLTHVB phụ thuộc vào các điều kiện địa phương,kinh nghiệm, đặc điểm của hệ sinh thái, áp lực phát triển cũng như vào các khung chính sách,pháp lý khu vực và quốc gia,cùng nhiều yếu tố khác nữa.Điều đó có nghĩa rằng mỗi một vùng cần có một phương pháp tiếp cận của chính mình.Không có một khuôn mẫu chung đối với tất cả các vùng khác nhau. Tuy nhiên, kinh nghiệm trong thực thi QLTHVB cho đến nay, đã thấy có một số nhân tố quan trọng cần phải được kết hợp chặt chẻ trong bất kỳ hoạt động nào của QLTHVB để đạt được thành công.Chúng bao gồm: · Đạt được sự thống nhất và hợp tác giữa các ban ngành chính phủ tại mọi cấp độ khác nhau. · Đảm bảo sự ủng hộ của các thể chế chính trị cho việc thực thi dự án. · Đảm bảo sự tham gia và tham vấn đầy đủ của cộng đồng và các chủ thể địa phương. · Đạt được sự nhất trí trong việc quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên ven bờ. · Đinh hướng các phương pháp quản lý có tính linh hoạt và thích ứng khi các điều kiện thay đổi. · Làm cho quy trình QLTHVB phù hợp với thể chế,tổ chức và môi trường xã hội của quốc gia và khu vực. V. Chức năng của QLTHVB QLTHVB hoàn thiện các dạng quy hoạch phát triển truyền thống theo 4 khía cạnh sau: · Tăng cường nhận thức đầy đủ về các hệ tài nguyên thiên nhiên quý giá của vùng bờ và tính bền vững của chúng đối với các hoạt động đa dạng của con người. · Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ tài nguyên vùng bờ thông qua việc tổng hợp các thông tin sinh thái,xã hội và kinh tế; · Triển khai các cách tiếp cận đa ngành,hợp tác và phối hợp liên ngành nhằm giải quyết những vấn đề phát triển phức tạp, đồng thời xây dựng các chiến lược tổng hợp nhằm mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động kinh tế. · Giúp chính quyền nâng cao năng suất và hiệu quả của việc đầu tư tài chính và nhân lực, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thực hiện được các cam kết quốc tế liên quan đến môi trường biển và ven bờ. Khác với các cách thức quy hoạch phát triển khác,QLTHVB giúp tối ưu hóa các lợi ích kinh tế và hội do việc sử dụng tài nguyên đem lại.Nơi mà sự phát triển bền vững phụ thuộc vào nguồn tài nguyên ven bờ có khả năng phục hồi.QLTHVB sẽ giúp quản lý việc sử dụng đa đa mục tiêu,duy trì được tính tổng hợp về chức năng của các hệ ven bờ và sự ổn định của các nguồn tài nguyên.Tất các các dạng phát triển đều tác động đến chất lượng và năng suất của các hệ sinh thái ven bờ.Do đó,sự phát triển kinh tế,xã hội bền vững của vùng bờ không thể tách rời quy hoạch và quản lý môi trường.Điều này rất quan trọng đối với các ngành kinh tế đang phát triển mà phụ thuộc nhiều vào chất lương môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm,cũng như đối với các ngành kinh tế đã phát triển với mô hình phát triển vùng ven bờ tiên tiến. QLTHVB cũng là một công cụ để giải quyết các vấn đề quốc tế xuyên biên giới như ô nhiễm biển, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên chung và bảo vệ đa dạng sinh học. VI. Các mục tiêu của quản lý tổng hợp vùng ven bờ Mục tiêu chung của một chương trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ là đảm bảo sử dụng bền vững,tốt nhất các tài nguyên thiên nhiên vùng bờ và duy trì lợi ích nhiều nhất từ môi trường tự nhiên.Về mặt thực tế,chương trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ hỗ trợ các mục tiêu quản lý thông qua việc đưa ra cơ sở cho việc sử dụng bền vững các tài nguyên,bảo tồn đa dạng sinh học,ngăn ngừa thiên tai,kiểm soát ô nhiễm,tăng cường lợi ích,phát triển bền vững nền kinh tế và tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: hỗ trợ ngành thủy sản,thu hút khách du lịch,nâng cao sức khỏe cộng đồng,tăng cường nhận thức cộng đồng,duy trì sản lượng sản phẩm có được từ các vùng ngập mặn,...Tất cả các điều này đòi hỏi các hành động của cộng đồng phải được điều phối tốt.Đó chính là cái mà quản lý tổng hợp vùng ven bờ cần làm.Các mục tiêu cụ thể đó là: · Hướng dẫn mức độ sử dụng và can thiệp đối với nguồn tài nguyên ven biển để chúng không bị sử dụng hoặc can thiệp quá sức mang cho phép bằng cách phân định ra các nguồn tài nguyên nào có thể khai thác mà không gây ra suy thoái hoặc cạn kiệt, hay nguồn tài nguyên nào cần phải cải tạo hoặc khôi phục lại để cho những mục đích sử dụng truyền thống và các mục đích khác sau này. · Duy trì môi trường vùng bờ với chất lượng cao nhất,xác định và bảo vệ các loài có giá trị,xác định và bảo tồn các sinh cảnh vùng bờ quan trọng. · Giải quyết các mâu thuẩn giữa các hoạt động tác động đến tài nguyên vùng bờ và việc sử dụng không gian. · Tôn trọng các quy trình tự nhiên,khuyến khích các qui trình có lợi và ngăn chặn những sự can thiệp có hại. · Xác định và kiểm soát các hoạt động gây tác hại lên môi trường vùng bờ. · Kiểm soát các ô nhiễm từ nguồn,từ dòng chảy tràn và từ việc tràn hóa chất do sự cố. · Phục hồi các hệ sinh thái bị phá hủy. · Khuyến khích các hoạt động có tính kết hợp hơn là những hoạt động có tính cạnh tranh; · Đảm bảo rằng các mục tiêu kinh tế,xã hội,môi trường đạt được với mức chi phí có thể chấp nhận được với xã hội · Bảo đảm các quyền và sử dụng truyền thống và các cách tiếp cận hợp lý đối với tài nguyên · Nâng cao nhận thức,phát triển cộng đồng. Một điều quan trọng sống còn đối với sự thành công của quy trình QLTHVB là việc bảo đảm sự tham gia và cam kết đầy đủ của các cộng đồng địa phương từ những giai đoạn đầu tiên. Điều này đặc biệt quan trọng trong trường hợp nhiều hoặc toàn bộ vùng ven bờ thuộc quyền quản lý của địa phương, bởi nhiều khi địa phương có sự chiếm hữu truyền thống và có các quyền khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên. VII. Các nhân tố thiết yếu của việc tổng hợp vùng ven bờ. Nhân tố cơ bản của quá trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ là sự thống nhất và hợp tác.Bất kỳ một chính sách và hành động quản lý tổng hợp nào được thiết kế để giải quyết các xung đột trong phát triển vùng bờ phải căn cứ vào những hiểu biết có cơ sở của các quá trình tự nhiên và những cách thức mà các quá trình này có thể bị nhiễu động.Đó là các hiểu biết về các vấn đề chính trị,kinh tế,xã hội,các nhu cầu hiện tại và tương lai;cũng như bao gồm chi phí xã hội. Việc quản lý hệ thống tài nguyên ven bờ được liên kết bởi 3 mặt của một hình khối hổ trợ nhau.Đó là các tiến trình,các vấn đề và các hành động,mỗi một mặt như thế là một trục của hình khối.Ba khía cạnh này quyện chặt vào nhau và việc chỉ xem xét một trong 3 khía cạnh này có thể làm sụp đổ toàn bộ hệ thống quản lý . Các tiến trình quản lý bao gồm 3 thành phần thiết yếu đó là kế hoạch,thực thi,quan trắc và đánh giá. · Kế hoạch bao gồm sự khởi đầu,nghiên cứu,phân tích,hình thành các chương trình,thông qua và các thủ tục. · Sự thực thi đòi hỏi kinh phí và nhân lực và bước đầu phụ thuộc vào thiết kế dự án và năng lực của các cơ quan thực thi. · Quan trắc là phần quan trọng của quá trình quản lý và kết hợp chặt chẽ vào giai đoạn sớm của chương trình.Mục tiêu của quan trắc là xem xét dự án tiến triển như thế nào,thăm dò các cơ hội có thể mở rộng,đánh giá tác động và bài học rút ra. Đánh giá là cấp thiết do nó có khă năng sửa đổi các hoạt động nếu như kế hoạch quản lý không tạo được những kết quả như mong đợi. Kết quả của đánh giá làm thay đổi những kế hoạch và chiến lược quản lý để có thể sửa chữa những sai sót ngay từ giai đoạn đầu của quá trình quản lý.Theo cách này,quản lý tổng hợp vùng ven bờ được lập lại với các bài học rút ra từ những sai sót ngay từ những giai đoạn đầu của chương trình quản lý các vấn đề bao gồm việc xử dụng tài nguyên (đánh bắt quá mức, tiềm năng du lịch, phá hủy nơi ở,...),chất lượng môi trường (ô nhiễm, xói lở vùng bờ) và các liên quan đến các tổ chức (ví dụ những xung đột trong pháp chế,xung đột giữa các ngành,việc thi hành luật kém hiệu quả,...) Các hành động quản lý tạo nên mặt quan trọng nhất của chương trình quản lý vùng ven bờ do liên quan đến việc áp dụng các biện pháp trực tiếp hướng tới các thành quả mong muốn đạt được.Ví dụ như duy trì chức năng thống nhất của hệ sinh thái, nâng cao chất lượng nước và thay đổi hành vi của con người.Các hành động bao gồm: · Sắp xếp các tổ chức và thể chế để làm rõ các quyền hạn và nghĩa vụ,tăng cường sức mạnh cho việc tuân theo pháp luật và nhiệm vụ quan trắc và đánh giá. · Khuyến khích và điều chỉnh để thay đổi các hành vi của con người bao gồm việc hình thành quỹ trợ cấp,giấy phép đánh bắt,cấm khai thác mỏ và đánh bắt cá,điều chỉnh tàu thuyền và các hoạt động đánh bắt. · Đầu tư công cộng trực tiếp,bao gồm các đầu tư của chính phủ trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng,các nghiên cứu thích đáng về quản lý,tạo ra cơ sở hạ tầng căn bản(ví dụ như hệ thống thải chất thải)và các hổ trợ kỹ thuật nếu cần thiết. Những rào cản này có thể phá bỏ nếu thực thi các bước sau: · Đặt các chương trình QLTHVB vào đúng hoàn cảnh xã hội tại thời điểm sớm nhất có thể. · Hướng dẫn một cách rõ ràng cho càng nhiều chủ thể càng tốt thế nào là QLTHVB và những gì nó có thể và không thể đạt được. · Gia tăng mức độ minh bạch của quá trình ra quyết định thông qua các bộ máy của QLTHVB. · Nâng cao sự tham gia của các chủ thể và Tập hợp các đại diện của các cơ quan chịu trách nhiệm thực thi và quản lý tại vùng ven bờ vào trong quy trình QLTHVB. VIII. Cơ cấu tổ chức hệ thống QLTHVB Quản lý tài nguyên vùng ven bờ đòi hỏi sự tham gia của tất cả các cấp.Cấp chính quyền địa phương tham gia và họ quyết định chổ nào dự định phát triển,nơi nào tài nguyên được tìm thấy và nơi nào cần khai thác lợi ích. Chính phủ cũng tham gia vào Thu hút cộng đồng đầu tư. Tiến trình - Kế hoạch - Thực thi - Quan trắc và đánh giá Hành động Vấn đề -Ô nhiễm -Mất nơi ở -Khai thác quá mức Khuyến khích thi hành pháp luật, thay đổi thái độ Sắp xếp các thể chế, tổ chức một số trách nhiệm và quyền hạn khác đối với các lĩnh vực về biển ở đó (hàng hải, an ninh quốc gia, cá di cư, quan hệ quốc tế,...). Cần thấy rõ rằng QLTHVB là một chương trình tổng thể, bao trùm,nó không thay thế thể chế hiện tại,trong phần lớn trường hợp, mà cũng cố chúng . Sự tổng hợp các lợi ích đa ngành vào trong một chương trình là rất khó khăn. Việc có được một cơ chế điều phối các hoạt động đa ngành, hướng tới mục tiêu của QLTHVB,chứ không phải một cơ quan đơn lẻ thực hiện,là một trong những công việc tối cần thiết của chương trình QLTHVB. Đối với một chương trình có phạm vi lớn và toàn diện, có thể xem xét và hình thành một cơ quan mới, chẳng hạn như một cơ quan lãnh đạo chung, được chính phủ trợ giúp các nguồn lực, tài chính cần thiết để hoạt động. Trong trường hợp khác, một cơ quan đang hoạt động cũng có thể trở thành cơ quan trọng trách thực hiện chương trình, nó được tăng cường để quản lý, bảo tồn, với các mục tiêu rõ ràng và phù hợp với luật pháp và được trao trách nhiệm, nguồn lực, tiện ích hành chính và kỹ thuật cần thiết. Không có câu trả lời duy nhất cho câu hỏi quyền hạn QLTHVB sẽ đặt vào chổ nào trong cơ cấu thể chế nhà nước hiện hành. Nó sẽ rất khác biệt đối với mỗi quốc gia, phụ thuộc vào những câu trả lời cho các câu hỏi như: liệu một cơ quan điều phối có đủ không? Nếu đủ thì nó phải đặt ở bộ nào? Hoặc là có cần một cơ quan có quyền lực tiến hành QLTHVB một cách độc lập không? Kỹ năng cần thiết của nhân viên là gì? Cơ quan này lồng ghép vai trò của một số cơ quan, ngành liên quan nhiều đến vùng ven bờ như thế nảo? Đó là các vấn đề quan trọng cần phải xem xét. Về mặt thể chế, hầu hết các quốc gia sẽ tìm thấy rằng chương trình QLTHVB của họ có thể được quản lý bằng cơ chế quản lý hiện hành, với ít sự thay đổi nhất trong các sắp xếp về thể chế. Ưu tiên về chính trị của một số quốc gia trong việc thành lập một cơ quan mới cho các chương trình QLTHVB thường khó thực hiện được, do vậy cơ quan QLTHVB có lẽ nên đặt trong một cơ quan có quyền lực pháp lý phù hợp nhất như là Cơ quan quản lý tài nguyên, môi trường hoặc là cơ quan mà có quyền lực đối với nhiều cơ quan khác, nếu như nó có chức năng điều phối mạnh. QLTHVB đòi hỏi sự tổng hợp hoạt động của nhiều ngành liên quan vào chung một chương trình, và điều này có thể xảy ra nếu có một sự điều phối đa ngành mạnh, cho nên sẽ rất cần thiết, nếu như không phải là bắt buộc, thiết lập một Ủy ban điều phối đa ngành, tham gia xây dựng kế hoạch chiến lược. Ủy ban này sau đó cũng tham gia trong việc hình thành kế hoạch tổng thể với nhiệm vụ kiểm tra tiến độ, xem xét các thay đổi của chương tr.nh, thảo luận các quy định đề xuất và cung cấp các thông tin, tư vấn kỹ thuật. Sau này, khi triển khai chương trình,Ủy ban này sẽ xem xét các đề cương cụ thể về phát triển và quản lý tài nguyên. Cơ quan QLTHVB cũng cần phải xây dựng nhiệm vụ,đội ngũ, có nguồn tài chính và ít nhất phải hoàn thành 3 nhiệm vụ sau: · Điều phối liên ngành về phát triển vùng bờ và các vấn đề bảo tồn nguồn lợi. · Đánh giá môi trường và cấp phép cho các hoạt động chính trong phát triển vùng ven bờ. · Đạt được sự tuân thủ của các ngành với các điều lệ và quyết định của QLTHVB. Có thể có thêm một số nhiệm vụ khác như là xây dựng các dịch vụ về QLTHVB. Sẽ rất hữu ích nếu trao cho một Bộ cụ thể triển khai giai đoạn lập kế hoạch và chiến lược và Bộ khác hiện kế hoạch, bao gồm cả xây dựng và quản lý chương trình. B : CÁC HỆ SINH THÁI VÙNG VEN BỜ I. Hệ sinh thái cửa sông 1. Các kiểu cửa sông Cửa sông (estuary) là thuỷ vực ven bờ tương đối kín, nơi mà nước ngọt và nước biển gặp nhau và trộn lẫn vào nhau.Các đặc trưng về địa mạo, lịch sử địa chất và điều kiện khí hậu tạo nên sự khác biệt về tính chất vật lý và hoá học của các kiểu cửa sông. Kiểu tiêu biểu nhất là cửa sông châu thổ ven bờ (coastal plain estuary).Các cửa sông thuộc kiểu này được hình thành vào cuối kỷ băng hà muộn,khi nước biển dâng lên ngập các châu thổ sông ven bờ biển.Kiểu cửa sông thứ hai là vịnh nửa kín (semi-enclose bay) hoặc đầm phá (lagoon).Ở đây các doi cát song song với đường bờ hình thành và ngăn cản một phần sự trao đổi nước từ biển.Độ muối trong các đầm khác nhau nhiều,phụ thuộc vào điều kiện khí hậu.Kiểu cửa sông cuối cùng là vịnh hẹp.Các thung lũng này bị trũng bởi hoạt động băng hà và sau đó bị ngập bởi nước biển. Chúng đặc trưng bởi cửa nông làm hạn chế trao đổi nước trong vịnh với biển. Các kiểu cửa sông còn được phân chia bằng cơ sở khác dựa trên xu thế biến thiên của độ muối. Nước ngọt có tỷ trọng nhỏ hơn nước biển,khi gặp nhau nước ngọt sẽ nổi trên nước biển.Chúng sẽ trộn lẫn khi tiếp xúc,quá trình này khác nhau do nhiều yếu tố.Khi cột nước thẳng đứng có độ muối cao nhất ở đáy và thấp nhất ở tầng mặt,người ta gọi là kiểu cửa sông dương (positive estuary).Ở vùng khô hạn, lượng nước ngọt từ sông nhỏ và tốc độ bay hơi cao,hình thành kiểu cửa sông âm (negative estuary).Đặc trưng của nó là nước mặn đi vào bề mặt và đôi khi được pha loãng bởi lượng nước ngọt nhỏ.Kiểu cửa sông mang tính chất mùa (seasonal estuary) hình thành ở vùng có mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Độ muối ở đây thay đổi theo thời gian chứ không phải thay đổi theo không gian. 2. Các đặc trưng môi trường Chế độ thuỷ lý hoá ở vùng cửa sông thay đổi trong giới hạn lớn làm cho môi trường gây ra nhiều áp lực đối với sinh vật. Sự thay đổi chế độ muối là đặc trưng cơ bản ở cửa sông và phụ thuộc vào mùa, địa hình, thuỷ triều và lượng nước ngọt. Hầu hết các vùng cửa sông đều có nền đáy bùn.Trầm tích được mang đến từ nước ngọt và nước biển.Vai trò của vật chất từ sông hoặc từ biển trong quá trình hình thành nền đáy bùn khác nhau giữa các cửa sông.Thành phần cơ học của trầm tích cũng bị chi phối bởi dạng chảy, nơi dòng chảy mạnh, chất đáy thô hơn; còn nơi nước tĩnh, chất đáy rất mịn. Các tai biến như lũ lội, bão lớn có thể làm thay đổi lớn đặc điểm trầm tích và gây chết hàng loạt sinh vật.Nhiệt độ ở vùng cửa sông thay đổi lớn hơn so với các thuỷ vực ven bờ lân cận. Biến thiên của giá trị này mang tính mùa vụ và theo điều kiện khí quyển. Nhiệt độ còn khác nhau giữa các tầng nước. Bề mặt có dao động cao hơn do trao đổi với khí quyển.Cửa sông được đất liền che chắn 3 phía, nên ảnh hưởng tạo sóng của gió được giảm thiểu và vì vậy chỉ có sóng nhỏ. Hoạt động yếu của sóng tạo điều kiện cho nền đáy mịn hơn, cho phép thực vật có rễ phát triển và nền đáy ổn định. Dòng chảy ở cửa sông do triều và nước sông chi phối. Tốc độ dòng chảy mạnh nhất đạt được ở giữa luồng. Ở một số vùng nơi cửa sông bị đóng vào mùa khô, sự vận chuyển nước giảm nghiêm trọng có thể dẫn đến ứ đọng nước, hàm lượng O2 giảm, tảo nở hoa và cá chết. Hầu hết các cửa sông đều có lượng nước ngọt chảy ra liên tục từ nguồn. Một lượng nước ngọt vận chuyển ra cửa sông trộn lẫn vào nước biển theo mức độ khác nhau, thể tích của lượng nước này được tải ra khỏi cửa sông hoặc bay hơi để bù cho thể tích nước tương tự chảy ra từ nguồn.Thời gian cần thiết để đo khối nước ngọt đã cho được tải ra khỏi cửa sông được gọi là thời gian chảy. Khoảng thời gian này có thể định lượng được tính ổn định của hệ cửa sông. Thời gian chảy kéo dài rất quan trọng cho sự duy trì quần xã sinh vật nổi.Do có số lượng lớn vật lơ lững trong nước vùng cửa sông, ít nhất là vào một thời kỳ nào đó trong năm, độ đục của thuỷ vực thường rất cao. Độ đục có giá trị cao nhất khi lượng nước ngọt chảy ra nhiều nhất và giảm dần khi ra phía cửa, nơi lượng nước biển ưu thế. Ảnh hưởng sinh thái chính của độ đục là làm giảm đáng kể độ chiếu sáng, vì thế giảm quang hợp của thực vật phù du và thực vật đáy làm giảm năng suất sinh học. Trong điều kiện độ đục quá cao, sinh khối thực vật phù du gần như không có và khối lượng vật chất hữu cơ được tạo thành chủ yếu bởi thực vật bãi lầy nổi.Sự hoà tan oxy trong nước giảm theo quá trình tăng nhiệt độ và độ muối. Vì vậy lượng oxy thay đổi khi các thông số này biến thiên. Ở các cửa sông có độ sâu lớn, thường xuất hiện lớp đẳng nhiệt vào mùa hè và tồn tại sự phân tầng độ muối. Trong điều kiện đó, trao đổi khí giữa lớp mặt giàu oxy và tầng đáy sâu diển ra rất kém. Hiện tượng này cùng với hoạt động sinh học tích cực, sự trao đổi nước chậm gây ra sự thiếu oxy ở tầng đáy. 3. Quần xã sinh vật Động vật biển là nhóm lớn nhất ở vùng cửa sông khi xét về phương diện số lượng loài và được xếp vào hai phân nhóm. Các động vật hẹp muối (stenohaline) không thể chịu được sự biến thiên độ muối và chỉ sống được ở vùng cửa sông với độ muối lớn hơn 25% .Đây thực sự là những động vật sống ở biển. Phân nhóm rộng muối (euryhaline) có thể thích nghi được với độ muối 15 – 18%0, thậm chí một số loài chịu được muối nhạt đến 5%0 .Các loài nước lợ hay còn gọi là các loài cửa sông điển hình,có chu kỳ sống hoàn toàn ở vùng cửa sông, sống chủ yếu ở vùng có độ muối trong khoảng từ 5-18% nhưng không xuất hiện trong nước ngọt hay nước biển thực sự. Một số giống loài nước lợ có thể hạn chế phân bố về phía biển không phải vì yếu tố sinh lý mà do các mối quan hệ sinh học như cạnh tranh hoặc vật dữ.Nhóm động vật nước ngọt không thể chịu được độ muối trên 5% và chỉ sống ở phần trên cửa sông. Ngoài ra, vùng cửa sông còn có nhóm sinh vật quá độ gồm những loài như cá di cư. Chúng có thể đi qua cửa sông trên đường đến bãi đẻ ngoài biển hoặc trong sông. Ví dụ thông thường là cá hồi hoặc cá chình. Một số sinh vật chỉ trải qua một phần cuộc đời trong cửa sông, thường gặp là giai đoạn ấu trùng. Số lượng loài động vật cửa sông thường nghèo hơn các quần cư biển hoặc các vùng nước ngọt lân cận. Đây là vùng khắc nghiệt mà nhiều sinh vật biển hoặc nước ngọt không thể chịu đựng được. Các sinh vật cửa sông thực sự chủ yếu có nguồn gốc biển.Sinh vật biển chịu sự giảm độ muối tốt hơn sinh vật nước ngọt chịu đựng độ muối tăng,vì vậy sinh vật cửa sông có ưu thế bởi động vật biển.Tính đa dạng kém của thành phần loài ở cửa sông được giải thích bởi vài lý do. kiến phổ biến nhất cho rằng điều kiện môi trường biến động chỉ cho phép những loài với sự chuyên hoá chức năng sinh lý đặc biệt để thích nghi. Cách giải thích thứ hai đề cập đến thời gian địa chất của quá trình hình thành các cửa sông. Sự tồn tại của chúng không đủ dài để khu hệ cửa sông phát triển đầy đủ. Lý do cuối cùng có thể là do hình thái vùng cửa sông kém đa dạng nên có ít nơi sống và có ít loài động vật.Thành phần loài thực vật lớn ở cửa sông kém phong phú. Hầu hết các vùng ngập nước thường xuyên đều có đáy mùn không phù hợp để rong bám.Hơn nữa,nước đục hạn chế độ chiếu sáng,vì vậy vùng nước sâu hầu như không có thực vật.Vùng triều và vùng nước nông cho phép phân bố một số loài rong lục,cỏ biển và đặc biệt là thực vật ngập mặn ở vùng nhiệt đới.Tảo Silic khá phổ biến, phong phú trên các bãi triều gần bùn vùng cửa sông. Chúng có thể di động lên bề mặt hoặc vào trong bùn phụ thuộc vào độ chiếu sáng. Bùn cửa sông cũng là nơi sống thích hợp của tảo lam sợi.Vi khuẩn là thành phần phong phú cả trong nước và trong bùn, nơi giàu có vật chất hữu cơ. Sinh vật phù du ở vùng cửa sông khá nghèo về thành phần loài.Tảo Silic thường chiếm ưu thế trong mùa nóng và thậm chí quanh năm ở một số khu vực. Động vật phù du cũng nghèo về thành phần cũng như biến động lớn theo mùa.Các loài cửa sông thực sự chỉ tồn tại ở các cửa sông lớn và ổn định.Ở các cửa sông nông,thành phần động vật phù du biển điển hình chiếm ưu thế. 4. Các quá trình sinh thái Năng suất sinh học sơ cấp ở vùng cửa sông chủ yếu do tảo Silic sống đáy.Tuy nhiên,cửa sông lại có một lượng lớn chất hữu cơ và năng suất thứ cấp cao.Nguồn năng suất sơ cấp chủ yếu được cung cấp bởi thảm thực vật vùng triều bao quanh cửa sông.Ngoài ra, cửa sông còn nhận vật chất hữu cơ từ sông và từ biển với lượng đáng kể.Vùng cửa sông có rất ít động vật ăn thực vật và vì vậy,vật chất có nguồn gốc thực vật phải được phân huỷ thành mùn bã để đi vào chuỗi thức ăn.Quá trình này có sự tham gia của vi khuẩn. Mùn bã hữu cơ lắng đọng hình thành nền đáy giàu vi khuẩn và tảo.Đây là những nguồn thức ăn quan trọng cho các động vật ăn mùn bã và chất lơ lững. Nhìn chung,nhờ giàu dinh dưỡng và tương đối ít các vật dữ, cửa sông trở thành nơi nuôi dưỡng ấu trùng của nhiều loài động vật mà khi trưởng thành chúng sống ở vùng khác. Đây cũng là bãi kiếm ăn của nhiều loài động vật di cư.Bên cạnh đó,nhờ sự bảo vệ tự nhiên của đầm phá và vùng cửa sông mà nó có giá trị lớn cho sự phát triển cảng và cảng biển, tiếp đến là các khu công nghiệp và dân cư lân cận.Cửa sông cũng được xem như là môi trường tiếp nhận các loại rác thải công nghiệp và sinh hoạt dân cư.Hoạt động đánh bắt thủy sản thường dựa trên hệ sinh thái cửa sông đầm phá.Cuối cùng thì cửa sông,đầm phá còn được sử dụng cho mục đích nghỉ ngơi,du lịch giải trí. II. Hệ sinh thái vùng triều Vùng triều là vùng không ngập nước một khoảng thời gian trong ngày với các yếu tố tự nhiên thay đổi do nước và không khí chi phối.Quần xã sinh vật thích nghi môi trường này và sự liên kết giữa sinh vật và môi trường tạo nên hệ sinh thái vùng triều. 1. Môi trường vùng triều Thuỷ triều là yếu tố quan trọng nhất tác động lên mọi sinh vật vùng triều. Thiếu sự hoạt động của thuỷ triều với sự lên xuống theo chu kỳ của mực nước biển hệ sinh thái này sẽ không tồn tại và các yếu tố khác hết bị chi phối.Có ba chế độ thuỷ triều khác nhau gồm nhật triều,bán nhật triều và hỗn hợp triều.Độ cao thuỷ triều khác nhau từ ngày này sang ngày khác do so sánh giữa vị trí mặt trời và mặt trăng.Thuỷ triều cùng với thời gian có thể ảnh hưởng trực tiếp lên sự tồn tại và cấu trúc quần xã sinh vật vùng triều. Ảnh hưởng đầu tiên là thời gian vùng triều phơi ra không khí và thời gian ngập nước.Trong thời gian phơi bãi,sinh vật phải chịu đựng sự dao động nhiệt lớn và dễ bị mất nước. Do hầu hết sinh vật vùng triều phải chờ ngập nước mới bắt mồi,thời gian phơi bãi càng dài cơ hội kiếm ăn và tích luỹ năng lượng càng ngắn.Động thực vật khác nhau về khả năng chống chịu với thời gian phơi bãi và sự chuyên hóa này là một trong những lý do tạo nên sự phân vùng phân bố. Ảnh hưởng thứ hai lên đời sống sinh vật là thời gian phơi bãi vào ban ngày.Triều thấp vùng nhiệt đới diễn ra lúc trời tối thuận lợi hơn đối với sinh vật do nhiệt độ thấp hơn và ít mất nước hơn.Thuỷ triều là chu kỳ có thể dự báo trước và hình thành nhịp điệu của nhiều loài sinh vật.Nhịp điệu này liên quan đến các quá trình sinh sản, dinh dưỡng,...,Nhờ đặc trưng vật lý,môi trường nước,nhất là các thuỷ vực lớn như đại dương có biến thiên nhiệt độ không lớn.Giới hạn nhiệt độ ở biển hiếm quá ngưỡng gây chết đối với sinh vật.Tuy nhiên, vùng triều thường phải chịu chế độ nhiệt của không khí. Trong thời gian khác nhau,nhiệt độ có thể vượt quá ngưỡng gây chết hoặc có ảnh hưởng gián tiếp làm cho sinh vật suy yếu và không thể duy trì hoạt động bình thường. Sóng biển ảnh hưởng đến các cá thể và quần thể sinh vật ở vùng triều nhiều hơn các thuỷ vực khác.Tác động đầu tiên với sinh vật là đập vỡ hoặc xé nát vật thể.Sự chịu sóng là giới hạn phân bố của các sinh vật không thích nghi sóng và là nhu cầu đối với các sinh vật ưa sóng.Sóng còn có tác động mở rộng vùng triều nhờ đẩy nước lên cao so với độ cao của triều.Nhờ vậy, nhiều sinh vật có thể sống cao hơn ở vùng có sóng so với vùng che chắn trong cùng một mức triều. Độ muối ở vùng cũng thay đổi lớn. Khi triều thấp, mưa lớn hoặc dòng nước từ đất liền làm giảm độ muối, có thể làm chết sinh vật do khả năng chống chịu hạn chế của chúng. 2. Thích nghi của sinh vật vùng triều Các sinh vật vùng triều chủ yếu có nguồn gốc biển. Sự thích nghi cơ bản là tránh sức ép của điều kiện khí quyển. Sự mất nước là quá trình diễn ra ngay sau khi sinh vật biển ra khỏi môi trường nước. Sinh vật vùng triều sống sót được khi phơi bãi khi sự mất nước ở mức tối thiểu hoặc cấu tạo cơ thể thích nghi với sự mất nước trong một thời gian nhất định. Cơ chế đơn giản nhất là trốn chạy trong các hang hốc, rãnh hoặc tìm nơi trú ẩn ở vùng ẩm ướt phủ rong tảo. Rong biển chịu đựng sự mất nước nhờ cấu tạo mô. Sau khi bị khô do triều rút,chúng nhanh chóng lấy nước và phục hồi hoạt động bình thường lúc triều lên. Nhiều động vật vùng triều có cơ chế thích nghi khác thông qua cấu trúc, tập tính hoặc cả hai. Để thích nghi với nhiệt độ dao động lớn, sinh vật vùng triều phải duy trì cân bằng nhiệt trong cơ thể. Sinh vật tránh nhiệt độ cao bằng cách giảm sự tăng nhiệt từ môi trường nhờ kích thước cơ thể lớn hơn. Kích thước lớn có nghĩa là vùng bề mặt tiếp xúc trên thể tích nhỏ hơn và vùng thoát nhiệt nhỏ hơn. Nhằm chống lại tác động cơ học của sóng, nhiều sinh vật sống cố định vào nền đáy như hà, hầu,... Một số sinh vật khác có cơ quan bám tạm thời nhưng vững chắc và vận động hạn chế như ví dụ về tơ bám của vẹm. Vỏ dày hoặc thấp và dẹt cũng là một cách chống sóng. Hầu hết sinh vật vùng triều có cơ quan hô hấp thích nghi với hấp thụ O2 từ nước. Chúng có xu thế dấu bề mặt hô hấp trong khoang kín để chống khô. Một số động vật thân mềm có mang trong màng áo và được vỏ bảo vệ. Các thân mềm ở triều cao giảm mang và hình thành khoang áo với nhiều mao mạch có chức năng như phổi để hấp thu khí. Để bảo toàn O2 và nước, hầu hết động vật nằm yên lặng khi triều rút. Cá vùng triều đặc trưng bởi hô hấp qua da do tiêu giảm mang và nảy nở nhiều mạch máu trên da.Động vật vùng triều trên nền đáy cứng chỉ kiếm ăn khi ngập triều. Điều này đúng với tất cả các nhóm ăn thực vật, ăn lọc, ăn mùn bã và ăn thịt. Sinh vật sống trên nền đáy mềm có thể kiếm ăn khi triều thấp nhờ trong đáy có nước. Sự thay đổi độ muối lớn là một sức ép cho sinh vật vùng triều bởi lẽ hầu hết sinh vật vùng triều không có khả năng thích nghi tốt như sinh vật cửa sông. Chúng không có cơ chế kiểm soát hàm lượng muối trong dịch cơ thể. Do vậy chúng là sinh vật có khả năng thẩm thấu. Chính vì vậy, mưa lớn có thể gây ra những tai biến lớn. Do rất nhiều sinh vật vùng triều sống định cư hoặc sống bám, trứng đã thụ tinh và ấu trùng của chúng phải trôi nổi tự do như sinh vật nổi để phát tán. Do vậy, chu trình sinh sản của hầu hết các sinh vật này phải đồng bộ với chu kỳ triều nào đó để bảo đảm hiệu suất thụ tinh. 3. Đặc trưng của các loại bãi triều Bãi triều đá: So với các loại bãi triều, bờ triều đá, đặc biệt ở vùng ôn đới có nhiều sinh vật có kích thước lớn cư trú và đạt tính đa dạng về thành phần loài động thực vật cao nhất. Đặc trưng nổi bật ở tất cả bãi triều đá là sự phân vùng của sinh vật tức hình thành các dãy theo chiều ngang rõ rệt. Bãi triều cát: yếu tố môi trường quan trọng nhất chi phối đời sống sinh vật ở các bãi triều cát là không được che chắn sóng biển và mối liên quan của nó đến độ hạt và độ dốc của bãi .Sóng gây ra sự di chuyển của bãi,làm nền đáy không ổn định. Sinh vật có hai con đường để thích nghi, chúng có thể vùi vào cát ở độ sâu lớn hơn nơi mà trầm tíchkhông còn bị sóng xô đẩy.Khả năng này được quan sát thấy ở các loài sò.Cách thích nghi thứ hai là tốc độ vùi nhanh của một số động vật thuộc nhóm giun, giáp xác. Bãi triều bùn: sự phân biệt giữa bãi triều cát và bãi triều bùn là không rõ ràng.Vùng triều càng được che chắn càng có trầm tích mịn hơn và tích luỹ nhiều chất hữu cơ hơn. Đáy bùn cũng là đặc trưng của hệ sinh thái cửa sông và quần xã sinh vật của hai hệ có những nét tương đồng. Bãi triều bùn chỉ xuất hiện ở vùng được che chắn, không bị sóng vỗ như trong các vịnh kín, đầm và đặc biệt là cửa sông. Bãi triều bùn tích luỹ nhiều chất hữu cơ,tạo nên tiềm năng thức ăn lớn cho sinh vật.Sinh vật sống ở bãi triều bùn chủ yếu thuộc nhóm sống trong đáy với các ống, hang thông lên bề mặt. Kiểu dinh dưỡng ưu thế trong môi trường này là ăn chất lắng đọng và chất lơ lững. 4. Vai trò của hệ sinh thái vùng triều Hệ sinh thái vùng triều có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái nước mặn, bao gồm các chức năng sau: · Là nơi cư trú, sinh sống của các loài sinh vật biển, như các loài hai mảnh vỏ, các loài rong tảo,... · Là nơi cung cấp nguồn lợi kinh tế và cũng là nơi diễn ra sự trao đổi vật chất, năng lượng, tạo nên nguồn sinh khối lớn trong hệ sinh th

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxQuản lý môi trường ven biển Việt Nam.docx