Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9

1. Lý do chọn đề tài: Việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn được các cấp quản lí giáo dục và giáo viên đã và đang tổ chức thực hiện bước đầu cũng đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quá trình cảm thụ tác phẩm văn học của học sinh lớp 9 ở trên lớp cũng như khả năng cảm thụ, viết bài nghị luận tác phẩm văn học của các em còn nhiều hạn chế. Đề tài phân tích thực trạng và đề ra giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài cho học sinh lớp 9 để giải quyết tình hình kém chất lượng của học sinh như hiện nay. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu : a/ Đối tượng: Giáo viên dạy Ngữ văn và học sinh lớp 9 trường THCS Thị Trấn - Châu Thành, một số bài viết của học sinh lớp 9 về nghị luận văn học. Cụ thể là: - Thực trạng về phương pháp giảng dạy của giáo viên và bài viết của một số học sinh. - Những giải pháp chủ yếu để rèn luyện kĩ năng, nâng cao chất lượng . b/ Phương pháp : Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, phân tích đối chiếu với thực trạng đưa ra những đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận dụng. 3. Giải pháp rèn kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh: Làm tập làm văn nghị luận văn học là huy động tổng hợp kiến thức Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn. Giáo viên: - Đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hóa hoạt động dạy của giáo viên, học của học sinh, linh động trong việc sử dụng phương pháp, tổ chức tốt các hình thức hoạt động của các em. - Có phương pháp dạy lý thuyết tập làm văn nghị luận văn học, chú trọng cách làm bài, hướng nhiều vào việc thực hành để rèn luyện kĩ năng cần thiết cho các em: kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn. - Phương pháp hướng dẫn học sinh cảm thụ tốt văn bản, vận dụng tốt kiến thức tiếng Việt, chuẩn bị tốt nhất cho việc viết bài tập làm văn. - Thực hiện tốt việc ra đề, chấm bài, thực hiện tốt tiết trả bài viết. Học sinh: - Chuẩn bị bài tốt ở nhà, nắm chắc nội dung, nghệ thuật, rèn luyện kĩ năng phân tích cảm thụ tác phẩm, đọc sách báo mở rộng kiến thức, nâng cao kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt. - Nắm vững kiểu văn bản và yêu cầu tạo lập văn bản, vận dụng tốt lý thuyết vào thực hành, thành thạo các thao tác nghị luận, mạnh dạn trình bày cảm thụ riêng của bản thân trước một tác phẩm 4. Hiệu quả áp dụng: Nhờ có sự đổi mới trong phương pháp dạy và học nên chất lượng bài viết văn nghị luận văn học của học sinh được nâng cao rõ rệt. Cụ thể là: + Đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề về nội dung, thể loại. + Nắm vững hơn phương pháp làm văn nghị luận về tác phẩm. Biết xây dựng luận điểm, trình bày các luận cứ rõ ràng, trình tự, thuyết phục hơn. + Ngày càng nhiều học sinh có sự cảm thụ sâu sắc về tác phẩm, có sự tìm tòi sáng tạo và tinh tế khi viết bài nghị luận. + Rất ít bài viết còn mắc các lỗi chính tả, dùng từ. Tình trạng viết câu sai ngữ pháp, không phân đoạn hay tách đoạn tùy tiện cũng giảm đáng kể. Nhiều em tránh được lối diễn đạt rườm rà, không rõ ràng, súc tích. 5. Phạm vi áp dụng: Giải pháp nêu ra trong đề tài đã được người viết áp dụng có hiệu quả ở lớp 9A1 và 9A2 trường THCS Thị Trấn năm học 2009- 2010. Có thể đây cũng là kinh nghiệm hữu ích cho giáo viên dạy Ngữ văn 9 nói chung đang quan tâm đến vấn đề này.

doc24 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 05/02/2013 | Lượt xem: 6681 | Lượt tải: 17download
Tóm tắt tài liệu Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Thị Trấn - Châu Thành, một số bài viết của học sinh lớp 9 về nghị luận văn học. Cụ thể là: - Thực trạng về phương pháp giảng dạy của giáo viên và bài viết của một số học sinh. - Những giải pháp chủ yếu để rèn luyện kĩ năng, nâng cao chất lượng . b/ Phương pháp : Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, phân tích đối chiếu với thực trạng đưa ra những đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận dụng. 3. Giải pháp rèn kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh: Làm tập làm văn nghị luận văn học là huy động tổng hợp kiến thức Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn. Giáo viên: - Đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hóa hoạt động dạy của giáo viên, học của học sinh, linh động trong việc sử dụng phương pháp, tổ chức tốt các hình thức hoạt động của các em. - Có phương pháp dạy lý thuyết tập làm văn nghị luận văn học, chú trọng cách làm bài, hướng nhiều vào việc thực hành để rèn luyện kĩ năng cần thiết cho các em: kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn. - Phương pháp hướng dẫn học sinh cảm thụ tốt văn bản, vận dụng tốt kiến thức tiếng Việt, chuẩn bị tốt nhất cho việc viết bài tập làm văn. - Thực hiện tốt việc ra đề, chấm bài, thực hiện tốt tiết trả bài viết. Học sinh: - Chuẩn bị bài tốt ở nhà, nắm chắc nội dung, nghệ thuật, rèn luyện kĩ năng phân tích cảm thụ tác phẩm, đọc sách báo mở rộng kiến thức, nâng cao kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt. - Nắm vững kiểu văn bản và yêu cầu tạo lập văn bản, vận dụng tốt lý thuyết vào thực hành, thành thạo các thao tác nghị luận, mạnh dạn trình bày cảm thụ riêng của bản thân trước một tác phẩm… 4. Hiệu quả áp dụng: Nhờ có sự đổi mới trong phương pháp dạy và học nên chất lượng bài viết văn nghị luận văn học của học sinh được nâng cao rõ rệt. Cụ thể là: + Đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề về nội dung, thể loại. + Nắm vững hơn phương pháp làm văn nghị luận về tác phẩm. Biết xây dựng luận điểm, trình bày các luận cứ rõ ràng, trình tự, thuyết phục hơn. + Ngày càng nhiều học sinh có sự cảm thụ sâu sắc về tác phẩm, có sự tìm tòi sáng tạo và tinh tế khi viết bài nghị luận. + Rất ít bài viết còn mắc các lỗi chính tả, dùng từ. Tình trạng viết câu sai ngữ pháp, không phân đoạn hay tách đoạn tùy tiện cũng giảm đáng kể. Nhiều em tránh được lối diễn đạt rườm rà, không rõ ràng, súc tích. 5. Phạm vi áp dụng: Giải pháp nêu ra trong đề tài đã được người viết áp dụng có hiệu quả ở lớp 9A1 và 9A2 trường THCS Thị Trấn năm học 2009- 2010. Có thể đây cũng là kinh nghiệm hữu ích cho giáo viên dạy Ngữ văn 9 nói chung đang quan tâm đến vấn đề này. Châu Thành, ngày 5 tháng 4 năm 2010 Người thực hiện Trần Thị Kim Sa MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Chúng ta - những người làm công tác giảng dạy nói chung và trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói riêng luôn băn khoăn, trăn trở trước chuẩn kiến thức, chuẩn kĩ năng của chương trình giáo dục đổi mới ở từng bậc học và khả năng tiếp thu, trình độ thực tế của học sinh. Nhiều cuộc hội thảo về phương pháp, nhiều buổi sinh hoạt chuyên đề bộ môn được các cấp quản lý giáo dục tổ chức phần nào cũng định hướng được cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên. Bởi vì việc đổi mới dạy học phải bắt đầu từ việc tự đổi mới tư duy, quan niệm và cách làm việc của chính bản thân người thầy giáo. Sự đổi mới đó thể hiện qua sự thay đổi trong phương pháp giảng dạy, kế hoạch tổ chức một giờ học cho học sinh. Nhìn chung về phía người thầy đã được chuẩn bị một cách chu đáo. Tuy nhiên, nói đến đổi mới phương pháp dạy học, nhất là môn văn phải được hiểu là sự đổi mới đồng bộ đối với những hạn chế chủ quan của cả thầy lẫn trò. Người thầy giảng dạy đúng hướng, đúng cách , đạt mục đích cao nhất là dạy văn để dạy người. Trò phải suy nghĩ nhiều hơn, tích cực chủ động trong hoạt động nhận thức, cảm thụ và vận dụng các kiến thức, kĩ năng văn học. Thực tế cho thấy quá trình cảm thụ tác phẩm văn học của học sinh lớp 9 ở trên lớp cũng như khả năng cảm thụ, viết bài nghị luận tác phẩm văn học của các em còn nhiều hạn chế: thường khô cứng, sáo rỗng, lúng túng và máy móc… Các em thường dựa vào văn mẫu hoặc dựa vào các ý trong đề cương hay trong dàn ý thầy cô cho sẵn mà viết lại nên rất hạn chế về mạch cảm xúc ( không chân thật, còn gượng ép… ). Rất ít học sinh chịu tìm tòi, khám phá ra các ý mới, ý riêng, sâu sắc, ý hay do chính bản thân các em cảm nhận, thật sự rung động với tác phẩm. Bản thân là giáo viên được trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9, tôi luôn trăn trở trước thực trạng chất lượng bài viết nghị luận tác phẩm văn học của học sinh. Vì vậy tôi chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9”, với mục đích phân tích thực trạng chất lượng bài viết của học sinh hiện nay, đối chiếu với phương pháp giảng dạy của giáo viên, đề ra kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy, cách thức rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh cuối cấp, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học văn, giải quyết tình hình kém chất lượng trong dạy học văn hiện nay. 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Giáo viên, học sinh lớp 9 trường THCS Thị Trấn năm học 2008- 2009, 2009-2010. Một số tiết dạy văn bản, tiếng Việt và tập làm văn của giáo viên lớp 9 trong trường mà tôi được dự giờ trao đổi kinh nghiệm. Bài viết của học sinh ở các lớp được giảng dạy năm học 2008-2009, 2009-2010. 3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Do thời gian và điều kiện của bản thân, trong phạm vi giải pháp, tôi tập trung đề cập đến: Những cơ sở lý luận để nghiên cứu giải pháp. Thực tiễn của vấn đề nghiên cứu. Thực trạng bài viết nghị luận tác phẩm văn học của học sinh, thực trạng quá trình giảng dạy của giáo viên. Những giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 đạt kết quả cao. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Để thực hiện giải pháp tôi đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu nghiệp vụ dạy học môn Ngữ văn lớp 9, sách giáo khoa, sách giáo viên, ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lí giáo dục, quản lý chuyên môn, các giáo viên giỏi trong toàn quốc trên các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học… Phân tích đối chiếu: Phân tích đối chiếu yêu cầu giữa chuẩn kiến thức, chuẩn kĩ năng đối với học sinh lớp 9 bậc THCS với những bài viết thực tế của học sinh, tìm ra những hạn chế chủ yếu của học sinh khi viết bài nghị luận tác phẩm văn học. c. Giả thuyết khoa học: Đưa ra những giải pháp, những đề xuất có tính khoa học để giáo viên vận dụng vào việc rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh nhằm phát huy khả năng tư duy, sáng tạo, đa dạng trong cách cảm, cách hiểu của các em trước những tác phẩm văn học. B. NỘI DUNG CƠ SỞ LÝ LUẬN: Từ năm 1998, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai dự án phát triển giáo dục THCS nhằm đổi mới một cách toàn diện bậc học này. Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH khóa 10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội, tháng 9 năm 2002, cả nước bắt đầu dạy học theo chương trình và SGK THCS mới bắt đầu từ lớp 6. Môn Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông cũng là môn học có nhiều thay đổi nhất trong việc đổi mới chương trình, SGK, phương pháp đến đánh giá kết quả học tập. Nhiều vấn đề được đặt ra khi phải tiếp cận một chương trình mới, trong đó vấn đề đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh là vấn đề được đặt lên hàng đầu. Chương trình SGK Ngữ văn lớp 9 được tổ chức thực hiện từ năm 2005-2006 đến nay đã được gần 5 niên học. Nội dung đổi mới chương trình, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, chất lượng học tập của học sinh đã được phản ánh sôi nổi trên báo chí, trong hội thảo khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng, song bài toán chất lượng là điều làm cho các nhà quản lý giáo dục, quản lý chuyên môn phải tính toán. Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học chương trình Ngữ văn 9 là phải kết hợp nhiều phương pháp trong dạy học, là phải “tích hợp nhiều phương pháp trong bài học, tiết học và trong cả quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên cơ sở xác định phương pháp chính gắn với đặc trưng của môn học. Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học, chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạo thuận lợi để học sinh lĩnh hội và phát triển các thao tác tư duy khoa học. Tăng cường và sử dụng hợp lý các phương tiện trong dạy học, “nâng cao chất lượng hoạt thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân” ( Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy SGK lớp 9 -Vụ giáo dục trung học trang 6,7). Lớp 9 là lớp cuối của vòng II, đồng thời cũng là lớp cuối cùng của cấp THCS nên có một vị trí hết sức quan trọng : vừa phải tổng kết được những kiến thức, kĩ năng được học tập, rèn luyện trong bốn năm học, vừa phải chuẩn bị cho các kì thi, tạo tâm thế, tiềm lực cho học sinh học lên THPT hoặc đi vào cuộc sống. Nghị luận nói chung, nghị luận về tác phẩm văn học nói riêng có vị trí rất quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 9. Thông qua việc đọc và học tác phẩm văn học, học sinh chẳng những đã có một vốn khá phong phú về kiến thức văn học ( tác phẩm, thể loại…) mà còn được nâng cao dần về năng lực cảm thụ , phân tích, bình giá, tác phẩm… Đó là một thuận lợi. Nhưng mặt khác, cũng cần nắm vững yêu cầu và mức độ cần đạt của kiểu bài nghị luận về tác phẩm trong chương trình. Tập làm văn 9 không đồng nhất yêu cầu và mức độ phân tích tác phẩm trong chương trình văn học và khi làm bài tập làm văn. Tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tổng thể hoàn chỉnh giữa nội dung và phương thức biểu đạt, tức là nghệ thuật. Nghị luận về tác phẩm là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể. Những nhận xét, đánh giá ấy phải xuất phát từ ý nghĩa ( cốt truyện, nhân vật, cảm xúc…) và nét đặc sắc về nghệ thuật ( xây dựng tình huống, nhân vật, từ ngữ, hình ảnh…) của tác phẩm mà người viết phát hiện và khái quát. Bài nghị luận về tác phẩm phải có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, lập luận thuyết phục, lời văn chuẩn xác, gợi cảm. Như vậy, để làm tốt bài nghị luận về tác phẩm, giáo viên cần cho học sinh hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài này Giáo sư Lê Trí Viễn cũng có lời nhắn nhủ: “ Dạy văn lấy cảm làm đầu”. Người GV dạy HS làm bài văn nghị luận về tác phẩm không thể nghèo nàn cảm xúc. Cho nên hướng gợi ý HS trình bày những cảm nhận, đánh giá tác phẩm phải xuất phát từ những rung cảm thẩm mĩ chân thật. Đồng thời phải biết kết hợp linh hoạt nhiều phép lập luận ( giải thích, chứng minh, phân tích…), phát huy tính tích cực, sáng tạo của cá nhân, không gò ép theo khuôn mẫu. Vì vậy, nếu ai đó tự cho rằng mình đã gợi đầy đủ các ý tưởng của tác phẩm qua từng trang truyện, từng dòng thơ thì chưa hẳn là một GV dạy tốt, nắm chắc phương pháp hướng dẫn HS cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm. Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương pháp giảng dạy phân môn Tập làm văn được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới, giúp cho giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu và vận dụng sáng tạo hơn. 2. CƠ SỞ THỰC TIỄN: a. Thực tiễn của vấn đề nghiên cứu: - Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn 9 nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng đã dược quan tâm rất nhiều. Với sự chỉ đạo của các cấp quản lí chuyên môn, về cơ bản đại đa số giáo viên đã nắm được phương pháp, vận dụng sáng tạo theo tình hình địa phương và theo đối tượng học sinh. Tuy nhiên thực tế vẫn còn nhiều giáo viên thực hiện chưa đúng chức năng, làm chưa tròn nhiệm vụ của mình, chưa tích cực nghiên cứu, chưa tìm ra phương pháp giảng dạy đạt hiệu quả cao, dẫn đến chất lượng học tập của học sinh chưa được nâng lên, nhất là chất lượng bài viết văn nghị luận văn học. Kết quả các bài kiểm tra và thi học kì đạt rất thấp, chất lượng bài làm của học sinh giỏi chưa thật xuất sắc. - Đi sâu vào tìm hiểu thực trạng chúng ta có thể thấy được sự hạn chế trong phương pháp giảng dạy của giáo viên lẫn phương pháp tự học, tự nghiên cứu của của học sinh: + Về phía giáo viên: - Giáo viên chưa đảm bảo kết hợp và tích hợp giữa dạy Văn - Tiếng Việt và Tập làm văn - Giờ học văn bản, sự gợi mở giúp học sinh cảm thụ tác phẩm chưa đạt kết quả cao. Học sinh thụ động buộc giáo viên giảng nhiều, làm việc nhiều, làm thay cho trò, do đó làm tê liệt sự hào hứng học văn bản của học sinh, các em không nắm hoặc không có kiến thức văn chương dẫn đến thiếu vốn kiến thức khi làm bài tập làm văn. - Giờ tiếng Việt đòi hỏi giáo viên dạy cho học sinh dùng tiếng Việt một cách chính xác để giao tiếp, để cảm thụ vẻ đẹp ngôn từ và có cách diễn đạt tốt trong văn bản, nhưng giáo viên chưa vận dụng tối đa các tình huống giao tiếp, cho học sinh thực hành ít nên nhiều em viết sai chính tả, dùng từ đặt câu chưa đúng ngữ nghĩa, ngữ pháp. Đây là những kiến thức quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng bài văn. - Giờ tập làm văn học sinh chưa được học đến nơi đến chốn. Giáo viên chưa có cách giúp học sinh hiểu rõ kiến thức SGK bằng những ví dụ mẫu linh hoạt sáng tạo, có tác dụng khắc sâu kiến thức vì thực tế SGK vẫn còn một số bài trừu tượng, khó hiểu đối với học sinh. Giáo viên chưa chú ý đúng mức đến việc phát huy tinh thần tích cực chủ động của học sinh trước một bài lý thuyết văn nghị luận tác phẩm văn học, cung cấp kiến thức cơ bản về kiểu bài trước khi tạo lập văn bản hoặc bài thực hành luyện tập, luyện nói, nhiều học sinh nêu lên những vấn đề rất hay song giáo viên đã bỏ lỡ cơ hội để biểu dương. Khi phát động trao đổi tranh luận, có học sinh nêu những ý kiến sai, giáo viên chưa đưa ra “lực nắn” cần thiết, vì thế khả năng tư duy của học sinh không được phát huy. - Giáo viên ít nghiên cứu sách giáo viên và tham khảo thiết kế, các tài liệu bồi dưỡng có liên quan nên chưa có định hướng tốt nhất khi quyết định sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp cho từng bài thuộc các kiểu bài nghị luận văn học. - Việc xác định các phương pháp dạy tập làm văn cũng chưa chính xác. Có giáo viên chọn phương pháp bình giảng trong tiết cung cấp kiến thức về kiểu bài, chưa vận dụng các phương pháp thực hành trong giờ luyện tập … - Giáo viên chưa nghiên cứu để tìm ra nét khác biệt cơ bản giữa nghị luận tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) với nghị luận về đoạn thơ, bài thơ để từ đó hình thành kiến thức cho học sinh khi làm một bài cụ thể theo thể loại. - Giáo viên chưa nghiên cứu kĩ mục đích yêu cầu cần đạt, kĩ năng cần rèn luyện trong từng bài mà người biên soạn đưa vào trong SGK từ bài hình thành lý thuyết mới đến luyện tập thực hành hoàn chỉnh kiểu bài. Việc bố trí thời lượng cho tiết dạy chưa hợp lý, chưa dành nhiều thời gian cho thực hành, giáo viên khó có thể rèn luyện kĩ năng cho học sinh. - Việc ra đề kiểm tra, đề thi của giáo viên hiện nay cũng còn nhiều điều cần bàn. Một số giáo viên không nghiên cứu kĩ chương trình, không xây dựng được ma trận đề, không nắm chắc yêu cầu của từng kiểu văn bản sẽ dẫn đến ra đề không chuẩn mực, không đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng, tính thực tế. Đề bài không có tác dụng gợi tư duy sáng tạo khi cảm thụ văn học của học sinh. - Việc chấm bài cũng có nhiều thiếu sót. Thường là giáo viên chỉ cho học sinh biết điểm, có bài chấm không có lời phê nào hoặc phê bài còn dễ dãi, chưa cẩn thận, chưa cụ thể. Đa số giáo viên phê bài rất chung chung, nhận xét khái quát. Nhiều lời phê, nhận xét bên lề bài viết chưa giúp học sinh thấy được cụ thể lỗi sai của mình mà sửa. Các em không rõ lý do tại sao, vì lẽ gì mà đoạn văn, câu văn của mình bị phê là “lủng củng”, “câu què”, “tối nghĩa”, “chung chung”, cũng không hiểu có khi chỗ này “dùng từ” là nghĩa làm sao ( sai hay đúng ? Nếu sai thì sai thế nào?), chỗ kia “diễn đạt” là trục trặc hay trôi chảy, chỗ nọ một từ gạch chân là hay hay dở? Như thế rất khó giúp học sinh hiểu rõ mà tự sửa được, rút kinh nghiệm được. - Những giờ trả bài tiến hành không thống nhất theo chuyên đề mà ngành chuyên môn đã triển khai. Đa số giáo viên thực hiện không mấy công phu . Giáo án trả bài của giáo viên thường soạn qua quýt, không ghi rõ những lỗi cần phải sửa trên lớp, hoặc có thì cũng không ghi rõ cách sửa; lỗi nhặt từ bài làm của học sinh không tiêu biểu khó có thể rèn luyện những kĩ năng cần thiết nhất định. Có giáo viên trả bài rồi mới nhận xét ưu khuyết điểm, rồi hướng dẫn học sinh sửa chữa. + Về phía học sinh: - Chưa coi trọng bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa có thái độ học tập đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chưa chịu khó tìm hiểu thêm để mở rộng kiến thức. - Học sinh học tập làm văn một cách máy móc. Trước một đề bài các em ít nghiên cứu, đọc loáng thoáng, phóng bút viết tràng giang đại hải, không chốt lại được ở một điểm nào mà đề bài yêu cầu. - Nhiều bài văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèo nàn, thiếu chính xác và không theo trình tự. - Học văn nghị luận văn học mà chưa biết cách phân biệt thể loại, kiểu bài. - Thiếu năng lực phân tích cần thiết, chưa thấy được cái hay, cái đẹp có thật trong văn chương do không chú ý trong giờ đọc- hiểu văn bản. Vì vậy làm văn phân tích chỉ là sự suy diễn một cách nôm na, thiếu chính xác, không sâu sắc. - Về ngữ pháp, các em viết câu không hoàn chỉnh, trong bài viết có nhiều câu què, câu cụt, câu tối nghĩa. Tình trạng mắc lỗi chính tả, ngữ pháp, dùng từ sai là phổ biến. Có bài viết từ đầu đến cuối các em không sử dụng dấu câu nào hoặc sử dụng không đúng. * Những hạn chế chủ yếu khi học sinh viết bài nghị luận văn học: - Cảm thụ tác phẩm, đoạn thơ, bài thơ chưa sâu sắc do chưa chịu khó đọc tác phẩm, chưa thuộc thơ, chưa nắm vững nội dung, nghệ thuật, cái hay, cái độc đáo của tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, chưa nắm cảm xúc, tình cảm của tác giả trong tác phẩm thơ trữ tình, chưa biết cách tiếp cận tác phẩm theo thể loại, chưa có cách cảm thụ riêng… - Chưa nắm chi tiết, thậm chí khái quát yêu cầu khi tạo lập văn bản nghị luận cho cả hai loại nghị luận về tác phẩm truyện và nghị luận về đoạn thơ, bài thơ. Do đó khi tạo lập văn bản các em thường mắc các khuyết điểm sau: + Phân tích đề chưa đúng, tìm không ra ý để viết nên phải kể lòng vòng câu chuyện hoặc diễn xuôi bài thơ, đoạn thơ. + Thực hiện nhiệm vụ từng phần trong bố cục ba phần của văn nghị luận chưa đầy đủ. Ví dụ khi viết phần mở bài, yêu cầu là giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác và bước đàu nêu đánh giá sơ bộ của mình về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nhưng có học sinh giới thiệu không sót một chi tiết nào về tác giả (theo chú thích SGK) và đa số chưa rút ra được khái quát giá trị của tác phẩm để làm tiền đề cho lập luận tổng - phân - hợp của cả bài viết. Khi gặp đề bài phát biểu cảm nghĩ về nhân vật và nội dung vấn đề của tác phẩm như “Em hãy nêu cảm xúc và suy nghĩ của mình về nhân vật bé Thu và tình cảm cha con trong chiến tranh sau khi học xong truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng”, học sinh chưa biết giới thiệu cảm xúc suy nghĩ chung ở phần mở bài, triển khai làm rõ ở phần thân bài, khẳng định ở phần kết bài. + Việc triển khai bài viết ở phần thân bài bằng cách nêu các luận điểm và làm rõ luận điểm bằng các luận cứ cũng không thực hiện được. Đây là hạn chế phổ biến nhất của học sinh. Thường các em không xây dựng được luận điểm hoặc sắp xếp tùy tiện không hợp lý, chặt chẽ, trình bày luận cứ dài dòng, lộn xộn, không tiêu biểu, chính xác, thậm chí chưa nắm rõ nguyên tắc nghị luận tác phẩm thơ và tác phẩm truyện. Cảm thụ về tác phẩm hay nhân vật của các em chưa phong phú, chưa sâu sắc, các em chưa mạnh dạn nêu cảm thụ riêng của bản thân trong quá trình nghị luận. + Cách lập luận trong phần thân bài chưa chặt chẽ. + Phần thân bài chưa giải quyết được hoặc giải quyết chưa hết nhiệm vụ đặt ra ở phần mở bài. Đôi khi học sinh làm sai thể loại, lạc đề. + Phần kết bài các em chưa biết cách nêu nhận định, đánh giá chung về tác phẩm hoặc khái quát hóa giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ, do đó cũng chưa mở ra được hướng suy nghĩ mới sau khi nghị luận. + Kĩ năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, viết sai chính tả, ngữ pháp, lối diễn đạt, cách hành văn, phương thức biểu đạt và sự kết hợp các phương thức biểu đạt còn hạn chế. b. Sự cần thiết của đề tài : Đề tài có tác dụng giúp giáo viên Ngữ văn đối chiếu giữa lý luận với thực tế chất lượng bộ môn mình giảng dạy, đặc biệt là chất lượng nghị luận văn học của học sinh lớp mình phụ trách, vận dụng những giải pháp tối ưu để nâng cao chất lượng, giải quyết một phần tình hình học sinh học yếu kém bộ môn Ngữ văn như hiện nay. 3. NỘI DUNG VẤN ĐỀ: a. Đặt vấn đề: - Yêu cầu chủ yếu của tập làm văn nghị luận văn học là củng cố tri thức và kĩ năng đã được học ở tiết đọc hiểu văn bản và tiếng Việt. Sách giáo khoa coi phần tập làm văn là sự tổng hợp của ngôn ngữ và văn (tích hợp ngang) và nguyên tắc ôn cũ - hiểu mới (tích hợp đồng tâm), đảm bảo truyền thụ tri thức có hệ thống khoa học (tích hợp dọc). - Khi làm bài tập làm văn, học sinh phải huy động tổng hợp kiến thức tiếng Việt để viết đúng chính tả, câu đúng ngữ pháp, phù hợp với phong cách văn bản nhằm đạt được yêu cầu của đề bài và để có một bài văn hoàn chỉnh, phần văn bản giúp học sinh có kiến thức để trình bày vốn hiểu biết của mình. Bên cạnh đó, việc nắm vững phương pháp làm văn là yêu cầu không thể thiếu được. Như vậy Tập làm văn nói chung, nghị luận văn học nói riêng là môn học mang tính thực hành toàn diện tổng hợp và sáng tạo, có vị trí đặc biệt trong chương trình ngữ văn. Vì thế giáo viên phải dạy tốt, học sinh phải học tốt ở tất cả các phân môn Tập làm văn, Văn học, Tiếng Việt để chuẩn bị tốt cho việc thực hành tổng hợp này. b. Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9: * Đối với bản thân giáo viên: - Giáo viên cần thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa các hoạt động nhận thức của học sinh. Tăng cường tổ chức các hoạt động cho các em, chú trọng rèn luyện cho học sinh phương pháp học và tự học một cách chủ động, tăng cường hoạt động cá nhân với nhóm, làm cho các em tự đánh giá được năng lực và kết quả làm văn của mình. - Nắm chắc các phương pháp giảng dạy nhằm tích cực hóa các hoạt động của người học. Các bước lên lớp cần linh động. Cần chú ý đến hoạt động giao tiếp. Đây là một biện pháp quan trọng nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh trong việc tạo lập văn bản, phát huy vai trò chủ thể của học sinh một cách thực sự. - Phân bố cân đối thời gian giữa dạy lý thuyết và thực hành, quan tâm nhiều đến các thao tác rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Học sinh là chủ thể làm chủ mọi thao tác dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tránh áp đặt làm giảm khả năng suy nghĩ, sáng tạo của các em. - Để rèn luyện tốt kĩ năng làm bài nghị luận văn học cho học sinh, việc hướng dẫn tìm hiểu lý thuyết là rất quan trọng. Trước hết giáo viên cần cho học sinh nắm lại những kiến thức đã học ở vòng I, sau đó mới hình thành kĩ năng về văn học, tiếng Việt, làm văn theo yêu cầu của toàn cấp THCS. GV cần cho học sinh ôn lại thế nào là văn nghị luận, các kiểu nghị luận và khẳng định điều quan trọng nhất của văn bản nghị luận là luận điểm, luận cứ và lập luận. Giáo viên rèn kĩ năng hình thành luận điểm, sắp xếp luận cứ làm rõ luận điểm, lập luận chặt chẽ cho bài viết. Kĩ năng này hiện nay học sinh rất yếu. Ngoài ra, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng các thao tác nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận, phân tích sao cho nhuần nhuyễn. Trình tự dạy nghị luận văn học tiến hành như sau: tìm hiểu chung, cách làm bài, thực hành nói, thực hành viết. Giáo viên chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh qua từng bài cụ thể. + Đối với bài Tìm hiểu bài nghị luận về tác phẩm (truyện hoặc đoạn trích, bài thơ hoặc đoạn thơ) chủ yếu là cho học sinh hiểu thế nào là nghị luận về tác phẩm, nắm yêu cầu đối với bài nghị luận kiểu này, rèn kĩ năng tìm vấn đề nghị luận và cách nghị luận của tác giả. + Đối với bài học Cách làm bài nghị luận về tác phẩm (truyện hoặc đoạn trích, bài thơ hoặc đoạn thơ): Đây là tiết học quan trọng giúp học sinh biết cách làm bài nghị luận về tác phẩm văn học cho đúng với những yêu cầu đã học ở tiết trước, đồng thời rèn luyện kĩ năng thực hiện các bước khi làm kiểu bài nghị luận này, cách tổ chức, triển khai các luận điểm. Giáo viên cần đặt trọng tâm vào việc hướng dẫn các bước làm bài trên cơ sờ phân tích mẫu, để HS vận dụng vào thực hành luyện tập, cụ thể là: Ä Hướng dẫn tìm hiểu đề: Đề bài văn nghị luận không bao giờ đồng nhất một dạng đề đơn điệu. Chủ yếu ở lớp 9 thường gặp 3 dạng đề cơ bản sau: - Dạng đề 1: Suy nghĩ , cảm nhận về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh của nhân vật, tác phẩm (đoạn trích).Ví dụ: + Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.(SGK Ngữ văn 9 trang 65) + Cảm nhận và suy nghĩ của em về tình cảm cha con trong bài thơ “Nói với con” của Y Phương.(SGK Ngữ văn 9 trang 80) - Dạng đề 2: Phân tích đặc điểm nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm (đoạn trích). Ví dụ: + Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân.(SGk Ngữ văn 9 trang 65) + Phân tích khổ thơ đầu trong bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh. (SGK Ngữ văn 9 trang 80) - Dạng đề 3: Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề. Ví dụ: + Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương trong truyện Người con gái Nam Xương .(SGK ngữ văn 9 trang 65) + Cảm nhận về hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ qua bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật. GV cần giúp HS phân biệt rõ yêu cầu của từng dạng đề: Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm là nghiên về cảm nhận chủ quan của người viết về nhân vật, tác phẩm hay một khía cạnh nào đó về nhân vật, tác phẩm ( không nhất thiết phải phân tích đầy đủ từng đặc điểm của nhân vật hoặc đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có thể chọn những gì mình cảm nhận sâu sắc nhất mà thôi); còn yêu cầu của dạng đề 2 (phân tích nhân vật, tác phẩm…) là yêu cầu người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ từng đặc điểm nhân vật, từng giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm; đối với dạng đề 3 (phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề ), GV phải biết tích hợp các kiến thức tập làm văn ở lớp dưới để nâng cao yêu cầu giải quyết đề bài văn dạng này, HS không phải đơn thuần tập trung phân tích những biểu hiện cụ thể của vấn đề mà còn phải trình bày những cảm nhận của mình, gợi cảm xúc cho người đọc, liên hệ thực tế hiện nay… Từ việc phân tích ba dạng đề trên, giúp HS nhận thức tầm quan trọng của việc phân tích, tìm hiểu đề và biết vận dụng thành thạo, linh hoạt để hình thành những thao tác và kĩ năng phân tích đề chính xác, làm cơ sở cho việc tìm ý. Ä Hướng dẫn tìm ý: Một bài nghị luận tác phẩm văn học hay trước hết phải có ý hay. Vậy ý hay là gì? Thế nào là ý hay? Làm thế nào để tìm ra được những ý hay cho bài. Tác phẩm văn học là tấm gương phản ánh hiện thực của cuộc sống muôn màu muôn vẻ thông qua những hình tượng nhân vật, những tâm trạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình trong tình huống, hoàn cảnh có vấn đề mấu chốt, cụ thể, tiêu biểu… Vì thế, muốn tìm được ý đúng, ý hay, ý sâu sắc, GV phải hướng cho HS đọc và tìm hiểu tác phẩm để nắm cốt truyện, chủ đề, tình cảm, các chi tiết, hình ảnh tiêu biểu…, khái quát được những điểm đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. Sau khi đọc kĩ tác phẩm, khám phá ra được cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc trong từng yếu tố nội dung, nghệ thuật, HS tự đặt ra và trả lời những câu hỏi để có những ý lớn, ý nhỏ… của bài văn. Dưới đây là các dạng câu hỏi gợi ý, giúp học sinh tìm ý: (?) Câu hỏi tìm hiểu tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: ?- Tác giả của tác phẩm sẽ nghị luận là ai? Có những nét gì nổi bật trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác? Sống trong thời kì nào? Có nét riêng, nét độc đáo gì về phong cách cá nhân? (Chuyên sáng tác về mảng đề tài nào? Sự nghiệp sáng tác ra sao?) ?- Tác phẩm trên được trích từ đâu? Được sáng tác trong hoàn cảnh nào? Tác phẩm được đánh giá như thế nào? Có phải là tác phẩm tiêu biểu cho sự nghiệp sáng tác văn chương của tác giả không?… (?) Câu hỏi tìm hiểu giá trị nội dung: ?- Đề bài gồm mấy ý? Ý nghĩa cụ thể, ý nghĩa khái quát là gì? Những ý nào tập trung biểu hiện chủ đề, tư tưởng, tình cảm của tác phẩm? Nội dung có thể hiện những vấn đề lớn, bức xúc mà xã hội quan tâm hoặc những tình cảm phổ biến, tiêu biểu của đời sống con người hay không? Có giá trị nhân văn như thế nào? ?- Nhân vật chính của truyện là ai? Đại diện cho từng lớp con người nào trong xã hội? Có những nét tính cách nào? Nét tính cách nào là tiêu biểu nhất? Nét tính cách đó được thể hiện qua những chi tiết nào? (diện mạo, cử chỉ, lời nói, hành động, tưởng tình cảm, nội tâm,…). Cảm xúc chủ yếu trong từng đoạn, khổ thơ là gì? Cảm xúc ấy được biểu hiện như thế nào? Qua những từ ngữ, hình ảnh nào?… (?) Câu hỏi tìm hiểu giá trị nghệ thuật: ?- Tác phẩm được viết theo phong cách nào? Có nét gì sáng tạo riêng, độc đáo trong nghệ thuật (tạo tình huống, bố cục, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, thể loại thơ, hình ảnh tu từ…) ? Tác phẩm trên có tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả không? Có thể hiện được bản lĩnh sáng tạo của một nhà thơ, nhà văn đầy tài năng, tâm huyết của một thời đại, một trào lưu văn học không? (?) Câu hỏi gợi mở những hướng xem xét mới: ?- Có thể so sánh, đối chiếu với những tác giả, tác phẩm nào để phân tích tác phẩm được sâu rộng, toàn diện hơn? ?- Tác phẩm có ảnh hưởng gì trong thời đại tác giả đang sống và đối với các thời đại sau này? Tại sao tác phẩm được mọi người yêu thích? Với ngần ấy câu hỏi, giáo viên không thể nào giảng giải một cách cặn kẽ, tỉ mỉ trong quá trình phân tích một đề bài trên lớp. Do đó đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn những câu hỏi tìm ý cho phù hợp, có tác dụng khơi nguồn cảm xúc cho học sinh, tạo niềm yêu thích, sự hứng thú, tích cực tư duy làm bài, để bài nghị luận của các em được sâu sắc, tinh tế và chân thật. Ä Hướng dẫn lập dàn ý: Lập dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước tìm ý theo một trình tự hợp lý và xác định mức độ trình bày mỗi ý theo tỉ lệ thỏa đáng giữa các ý. Có thể hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý theo trình tự nội dung, nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân (thường dành cho phân tích tác phẩm truyện). Có thể sắp xếp đan xen giữa nội dung, nghệ thuật và nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân (phổ biến trong phân tích thơ). Dàn bài chung của bài văn nghị luận về tác phẩm thường theo trình tự sau: 1.Mở bài :Giới thiệu tác phẩm hay đoạn trích (tùy theo yêu cầu của đề) và nêu nhận xét, đánh giá sơ bộ của mình. 2.Thân bài:Trình bày những suy nghĩ đánh giá về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. (lần lượt nêu các luận điểm, phân tích, chứng minh bằng luận cứ lấy trong tác phẩm…) 3. Kết bài: Nhận định khái quát giá trị, ý nghĩa của tác phẩm hoặc đoạn trích. Lưu ý học sinh khi lập dàn ý cần tránh các lỗi: lạc ý, ý không phù hợp với nội dung, thiếu ý, lặp ý, sắp xếp ý lộn xộn… Ä Hướng dẫn viết đoạn và liên kết đoạn: Từ dàn ý sẵn có, các em có thể viết thành đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh. Giáo viên hướng dẫn viết từng đoạn tiêu biểu: * Đoạn mở bài: Nguyên tắc khi mở bài là cần phải nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài, chỉ được phép nêu những ý khái quát (không được lấn sang phần thân bài: giảng giải, minh họa hay nhận xét, đánh giá ý kiến nêu trong đề bài) Có nhiều cách mở bài. Có thể dùng cách mở bài trực tiếp (giới thiệu ngay vấn đề cần nghị luận) hoặc mở bài gián tiếp (nêu ra những ý kiến có liên quan đến vấn đề cần nghị luận: từ khái quát đến cụ thể, so sánh đối chiếu, tương đồng, tương phản…). Ví dụ: Có thể dùng các cách mở bài sau đây cho đề bài: “ Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”. Cách trực tiếp: “Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là người nông dân có tinh thần yêu làng quyện với lòng yêu nước, lòng trung thành với kháng chiến và lãnh tụ. Đó là nét mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc.” Cách gián tiếp: (có thể giới thiệu thêm nhiều cách) “ Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một gương mặt độc đáo . Do hoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu sâu sắc sinh hoạt, tâm lý của người nông dân. Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Việt Nam với những vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “Làng” là một truyện ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân. Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người nông dân. Ai đến với “Làng”cũng khó quên được ông Hai - một nhân vật nông dân mang những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc họa tài tình của Kim Lân.” Sau khi đã hướng dẫn cụ thể cho HS các cách mở bài trên, giáo viên tiến hành cho HS rèn viết đoạn mở bài, tin chắc rằng các em sẽ viết tốt. * Đoạn thân bài: Giáo viên cần giúp học sinh nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của phần thân bài trong một bài văn. Phần này sẽ lần lượt trình bày, giải thích, nhận xét, đánh giá…các luận điểm của vấn đề được đặt ra trong đề bài (thực hiện vừa đủ, không thiếu, không thừa). Ở từng luận điểm, cần có sự phân tích, chứng minh cụ thể, chính xác bằng những dẫn chứng sinh động trong tác phẩm. Giáo viên nhắc lại các cách trình bày tiêu biểu mà học sinh thường vận dụng viết đoạn văn nghị luận (diễn dịch, quy nạp, tổng-phân-hợp…) Ví dụ: Một trong những đoạn thân bài của đề bài trên có thể được triển khai như sau: “ Lòng yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai được thể hiện một cách cảm động qua diễn biến tâm trạng của ông. Tác giả đã sáng tạo ra một tình huống bất ngờ, đầy kịch tính thử thách tình yêu làng của ông Hai là có tin đồn về làng Chợ Dầu đã theo giặc . Ông Hai vô cùng đau xót: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được…ông cúi gầm mặt xuống mà đi”. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường không dám đi đâu. Ông buồn, ông xấu hổ. Ông tự tranh luận với mình , tự dằn vặt mình hoặc đâm cáu gắt với vợ… Đêm, ông trằn trọc không sao ngủ được; ông hết trở mình bên này, lại trở mình bên kia thở dài,….chân tay ông lão nhũn ra,….Tin đồn lan xa, mụ chủ nhà hay được lại đuổi khéo gia đình ông. Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc. Ông có nghĩ đến việc trở về làng, nhưng liền sau đó ông phản kháng lại ngay, ông phẫn uất nói: “Làng thì yêu thạt nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Thật là tuyệt đường sinh sống! Ông quyết không trở về làng vì về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ. Qua những lời tâm sự mộc mạc, chân thật đầy cảm động với con, ta thấy được tấm lòng yêu nước cao đẹp của người nông dân này . Như nhà văn Ê-ren-bua có nói: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu nước”. Ông Hai đúng một con người như thế – một con người thiết tha yêu làng, vì yêu làng nên ông yêu nước, kính yêu cụ Hồ, quyết trung thành với kháng chiến. Đó chính là nét đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.” Giữa các luận điểm, đoạn văn cần có sự kiên kết, chuyển tiếp một cách linh hoạt, uyển chuyển, tránh gò bó, máy móc, công thức. * Đoạn kết bài: Đoạn kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài.Chỉ nêu những ý nhận xét, đánh giá khái quát, không trình bày lan man hay lặp lại ý diễn giải, minh họa, cụ thể, chi tiết, cũng không nên lặp lại nguyên văn lời lẽ của phần mở bài. Khác với mở bài, phần kết bài thiên về đánh giá, tổng kết vấn đề. Có nhiều cách kết bài, có thể là tóm tắt, khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm; có thể là tổng hợp những cảm nhận sâu sắc về nhân vật, tình cảm, tác giả, tác phẩm ; có thể là liên tưởng đến các vấn đề khác có liên quan. Ví dụ: Đánh giá nhân vật và khẳng định giá trị tác phẩm. “ Ông Hai trong truyện ngắn Làng là một nhân vật tạo ấn tượng sâu sắc đối với người đọc. Qua truyện này, bằng những tình huống, chi tiết chân thật, thú vị, bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý sinh động, Kim Lân đã đem đến cho chúng ta một hình tượng hấp dẫn về người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình yêu thiết tha, sự gắn bósâu nặng với làng quê, đất nước của nhân vật ông Hai luôn luôn có ý nghĩa giáo dục thấm thía đối với các thế hệ bạn đọc.” + Đối với tiết Luyện tập làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích), giáo viên vừa củng cố tri thức về yêu cầu, cách làm bài vừa qua luyện tập giúp học sinh thành thạo thêm kĩ năng tìm ý, lập ý, kĩ năng viết bài hoàn chỉnh. Để chuẩn bị cho tiết luyện tập, giáo viên phải giao việc chuẩn bị ở nhà cho học sinh theo yêu cầu SGK, chuẩn bị dàn ý chi tiết cho phần luyện tập trên lớp. Giáo viên nhận xét đánh giá bài luyện tập của học sinh, vừa rèn luyện kĩ năng viết bài đúng yêu cầu vừa rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận gắn liền cùng sự phân tích, giải thích, chứng minh, kết hợp nhiều thao tác nghị luận và phải thể hiện những suy nghĩ, cảm thụ cá nhân. + Đối với tiết Luyện nói nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ : nhằm rèn luyện kĩ năng trình bày miệng một cách mạch lạc, hấp dẫn những cảm nhận, đánh giá của mình về một đoạn thơ, bài thơ, rèn luyện cách tìm ý, lập dàn ý và cách dẫn dắt vấn đề nghị luận. Giáo viên có thể chọn các vấn đề đưa ra luyện nói ngoài SGK nhưng phải gắn với các bài thơ đã được học và gợi hứng thú ở các em. Qua tiết học, giáo viên củng cố kiến thức lý thuyết và kĩ năng đối với bài nghị luận về đoạn thơ, bài thơ và rèn luyện khả năng diễn đạt, chuẩn bị tốt cho bài viết sắp tới. - Củng cố nâng cao kiến thức về các kiểu bài nghị luận văn học là rất cần thiết. Giáo viên có thể lồng các nội dung kiến thức cần cung cấp, các kĩ năng cần rèn luyện vào ngay nội dung bài học, vào phần củng cố hoặc vào các giờ bồi dưỡng tăng tiết. Có thể cho học sinh đối chiếu, so sánh, tìm nét giống và nét khác biệt của bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) với bài nghị luận về bài thơ, đoạn thơ, cách tìm luận điểm, luận cứ cho mỗi kiểu bài nghị luận. Xây dựng dàn bài khái quát, chi tiết cho mỗi dạng bài nghị luận (nhân vật, phát biểu cảm nghĩ, nghị luận một vấn đề của nội dung tác phẩm hoặc nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ), rèn luyện cho học sinh thành thục các bước làm bài nghị luận văn học, luyện tập viết đoạn. - Đối với tiết học văn bản, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cảm thụ văn bản (truyện, đoạn trích, bài thơ, đoạn thơ) một cách đầy đủ, sâu sắc về tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, nhân vật, sự kiện, chủ đề nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, hiểu sâu sắc, chính xác các từ ngữ trong văn bản. - Trong các giờ học tiếng Việt, giáo viên cần giúp học sinh hiểu và vận dụng kiến thức vào những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, ôn tập củng cố các kiến thức về câu, cách sử dụng dấu câu, cách dựng đoạn và liên kết đoạn, cách dùng từ chính xác, rèn luyện cách viết đúng chính tả … - Giáo viên ra đề kiểm tra nghị luận tác phẩm truyện hoặc đoạn thơ, bài thơ phải đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng, tính thực tế theo ma trận, đảm bảo chuẩn kiến thức, chuẩn kĩ năng. Đề bài phải đánh giá cho được học sinh ở nhiều phương diện nhất là biết vận dụng kiến thức và kĩ năng làm bài, vận dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn các thao tác phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận, có kĩ năng làm bài tập làm văn về bố cục, diễn đạt, ngữ pháp, chính tả… - Thực hiện chấm bài nghiêm túc. Muốn rèn luyện kĩ năng viết bài tập làm văn, giáo viên phải biết học sinh còn hạn chế ở mặt nào. Bài viết của học sinh thể hiện rõ nhất các kĩ năng làm bài tập làm văn nói chung như bố cục, diễn đạt, ngữ pháp, chính tả, kĩ năng nghị luận văn học nói riêng, sử dụng nhuần nhuyễn các thao tác phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận… Trong quá trình chấm bài giáo viên đối chiếu bài viết của học sinh với tất cả những yêu cầu ấy để cho học sinh lời nhận xét trên bài làm chính xác, giúp các em nhận thức đúng sai, rút ra kinh nghiệm để viết bài đạt kết quả tốt hơn trong những lần sau. Tránh không phê gì hoặc chỉ gạch chân các lỗi. - Giáo viên cần thực hiện tốt tiết trả bài viết cho học sinh theo chuyên đề của Sở Giáo dục đã triển khai ở các năm học trước. Các bước, các nội dung phải tiến hành trong tiết này là: Đề bài (ghi lại đề bài đã cho kiểm tra). Phân tích đề (yêu cầu học sinh xác định thể loại, vấn đề cần nghị luận). Lập dàn bài (giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng dàn bài hoàn chỉnh). Nhận xét chung về bài làm (những ưu điểm, khuyết điểm). Sửa lỗi phổ biến (dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, diễn đạt, chính tả, cách trình bày các luận điểm…): giáo viên chọn những lỗi tiêu biểu, nêu ra và hướng dẫn học sinh tự sửa chữa, rút kinh nghiệm cho bài viết sau. Củng cố về nội dung và phương pháp. Đọc bài văn hay - đoạn văn hay, biểu dương khích lệ. Tái kiểm tra. Tiết trả bài viết có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, đánh giá rèn luyện kĩ năng viết hoàn chỉnh bài nghị luận văn học. Do đó giáo viên phải chuẩn bị thật kĩ từ khâu chấm bài đến tổ chức tiết trả bài. Làm thế nào qua tiết học giúp từng học sinh phát huy được những mặt mạnh, ưu điểm của mình và hạn chế những lỗi thuộc về kiến thức và kĩ năng làm bài. (Phía sau giải pháp người viết xin đưa một số bài viết minh họa cho các lỗi mà học sinh mắc phải trong khi làm bài nghị luận văn học và cụ thể hướng chấm bài, phê vào bài để mọi người tham khảo). * Đối với học sinh: - Để đạt kết quả tốt trong việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh, giáo viên cần chú ý hướng dẫn các em tự học ở nhà thật tốt (đọc kĩ tác phẩm , học thuộc lòng đoạn thơ, bài thơ, tìm hiểu bài theo câu hỏi hướng dẫn ở SGK hoặc của giáo viên), thường xuyên đọc sách báo, các tài liệu có liên quan nhất là những bài nghị luận, phân tích để có định hướng tốt về mặt cảm thụ, tích cực học tập, phát biểu ý kiến xây dựng bài, nắm chắc nội dung, tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, nghệ thuật, cái hay, cái độc đáo của tác phẩm, cảm xúc sâu xa của nhà văn, nhà thơ… - Học tập thật tốt phân môn tiếng Việt để có đầy đủ kiến thức về ngữ pháp, sử dụng câu, dấu câu, từ vựng, chính tả, kĩ năng viết đoạn, liên kết đoạn …, thường xuyên rèn luyện chữ viết để chuẩn bị tốt cho việc viết bài tập làm văn. - Nắm vững kiến thức về kiểu văn bản và yêu cầu khi tạo lập các kiểu văn bản, nhất là nghị luận văn học, phương pháp nghị luận từng dạng bài, rèn luyện tốt các kĩ năng vận dụng kiến thức văn học, phân tích, giải thích, chứng minh, lập luận, diễn đạt, dùng từ, đặt câu, dựng đoạn…rèn luyện để thành thạo các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn bài, viết bài, sửa chữa sau khi viết. - Rèn luyện kĩ năng thực hành tổng hợp, mạnh dạn trong việc trình bày những cảm xúc, suy nghĩ thể hiện những cảm thụ riêng của bản thân trước một tác phẩm văn học hay một nội dung vấn đề nào đó của tác phẩm. Tóm lại muốn giỏi văn nghị luận về tác phẩm văn học, học sinh phải thực sự yêu thích môn văn, tích cực, tự giác. Phải tha thiết yêu cuộc sống, yêu cái đẹp; phải biết vui buồn trước cuộc sống của con người. Toán học là trụ cột của khoa học tự nhiên,văn học là trụ cột của khoa học xã hội. Một khi đã học tốt toán,văn thì các môn khác chắc chắn sẽ học tốt. Người học có quyết tâm và sự kiên trì rèn luyện thì hiệu quả sẽ cao. c. Kết quả: Với tâm huyết giảng dạy thật tốt kiểu bài phân tích tác phẩm văn học, qua tích lũy một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh phương pháp làm bài, quan tâm đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn và chú ý rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9, chất lượng bài viết của học sinh các lớp do chính tôi trực tiếp giảng dạy được nâng lên rõ rệt. Biểu hiện cụ thể ở các mặt sau: + Đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề về nội dung, thể loại. + Nắm vững hơn phương pháp làm văn nghị luận về tác phẩm, rất ít bài viết lan man hoặc sơ lược, nghèo ý. Biết xác định các luận điểm và trình bày luận cứ rõ ràng, chặt chẽ, thuyết phục hơn. + Ngày càng nhiều học sinh có sự cảm thụ sâu sắc về tác phẩm, có sự tìm tòi sáng tạo và tinh tế khi viết bài nghị luận, không còn gượng ép, máy móc hay khuôn sáo. + Rất ít bài viết còn mắc các lỗi chính tả, dùng từ. Tình trạng viết câu sai ngữ pháp, không phân đoạn hay tách đoạn tùy tiện cũng giảm đáng kể . Nhiều em tránh được lối diễn đạt rườm rà, không rõ ràng, súc tích. Sau đây là kết quả thống kê chất lượng bài viết kiểm tra nghị luận văn học của học sinh lớp 9A1, 9A2 ở trường trong 2 năm học 2008-2009 và 2009-2010: + Bài viết nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích): Năm học TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém 2008-2009 77 7 27 25 16 2 2009-2010 67 10 25 22 9 1 + Bài viết nghị luận về bài thơ, đoạn thơ: Năm học TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém 2008-2009 77 9 26 27 14 1 2009-2010 67 11 28 20 8 0 C. KẾT LUẬN 1. Bài học kinh nghiệm: Nâng cao chất lượng dạy và học nói chung, Tập làm văn nghị luận nói riêng đang là mối quan tâm của nhiều người. Làm sao để học sinh học tốt văn nghị luận vẫn là vấn đề thời sự của khoa học cần phải thảo luận thêm. Qua nghiên cứu giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9, tôi rút ra được những bài học kinh nghiệm cơ bản như sau: - Thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy là phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong giờ học, làm cho giờ học dân chủ hơn, học sinh được thực hành giao tiếp nhiều hơn. Đó là điều cần thiết nhưng chưa đủ vì thước đo hiệu quả của giáo dục vẫn là chất lượng học tập, chất lượng bài viết của học sinh. - Để rèn luyện tốt kĩ năng viết bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9, cả giáo viên và học sinh đều phải có sự nỗ lực nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo. Giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài dạy, tích cực đầu tư nhiều hơn trong việc đổi mới phương pháp, đổi mới các hình thức tổ chức và sử dụng phương tiện dạy học, học sinh phải hứng thú, tích cực, là chủ thể thực sự của quá trình học tập. - Không có một kinh nghiệm nào là duy nhất có thể chung cho mọi người. Không có một phép lạ dễ dàng nào để đi đến sự thành công. Nếu mỗi giáo viên không ngừng học tập, kiên trì tích lũy kinh nghiệm thì chất lượng sẽ ngày càng cao hơn. 2. Hướng phổ biến và áp dụng giải pháp: Bản thân tôi mới được giảng dạy chương trình thay sách Ngữ văn lớp 9 trong hai năm học gần đây, nhưng làm thế nào để nâng cao chất lượng bài viết văn nghị luận về tác phẩm văn học cho học sinh là vấn đề tôi đặc biệt quan tâm và có sự tìm tòi, nghiên cứu kĩ qua kinh nghiệm giảng dạy của các bạn đồng nghiệp, qua bài viết của nhiều đối tượng học sinh trong các lần kiểm tra và thi học kì, có sự đối chiếu giữa lý luận đổi mới phương pháp với thực tiễn. Vì vậy, đề tài có thể không chỉ có ích cho tôi mà cũng rất cần thiết cho giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn 9 đang quan tâm đến vấn đề này. 3. Hướng nghiên cứu tiếp của giải pháp: Do thời gian, điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, đề tài chỉ xin nêu ra một vài giải pháp để rèn luyện kĩ năng viết văn nghị luận về tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9 mà bản thân tôi nghiên cứu, tích lũy được. Việc trình bày còn mang tính chủ quan của người viết nên chắc chắn có nhiều vấn đề cần tranh luận. Hướng tới, nếu được phổ biến và mở rộng phạm vi nghiên cứu, tổng hợp kinh nghiệm của nhiều người thì đề tài sẽ hoàn chỉnh và có giá trị khoa học cao hơn. Kính mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của Hội đồng khoa học các cấp và quý đồng nghiệp để kinh nghiệm được hoàn thiện hơn. Châu Thành, ngày 5 tháng 4 năm 2010 Người thực hiện Trần Thị Kim Sa MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU……………………………………………………………trang 1 Lý do chọn đề tài………………………………………………..trang 1 Đối tượng nghiên cứu……………………………………………trang 1 Phạm vi nghiên cứu……………………………………………...trang 2 Phương pháp nghiên cứu………………………………………...trang 2 B. NỘI DUNG:………………………………………………………….trang 3 Cơ sở lý luận……………………………………………………….trang 3 Cơ sở thực tiễn……………………………………………………..trang 4 Nội dung vấn đề……………………………………………………trang 8 Đặt vấn đề………………………………………………… trang 8 Một số giải pháp rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận văn học cho học sinh lớp 9…………………………………trang 9 c. Kết quả……………………………………………………….trang 17 C.KẾT LUẬN:…………………………………………………………trang 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách giáo khoa, sách giáo viên Ngữ văn 9 tập II. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy sách giáo khoa lớp 9 môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục đào tạo - Vụ Giáo dục trung học 2005. Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THCS - Bộ Giáo dục và Đào tạo. 4. Tài liệu tham khảo soạn kĩ năng làm văn nghị luận của Vụ Giáo dục trung học. 5. Phương pháp làm bài văn nghị luận tác phẩm văn học 9 của Hoàng Đức ( NXB GD Thành phố Hồ Chí Minh ) PHIẾU ĐIỂM TIÊU CHUẨN NHẬN XÉT ĐIỂM Tiêu chuẩn 1 ( Tối đa 25 điểm) Tiêu chuẩn 2 ( Tối đa 50 điểm) Tiêu chuẩn 3 ( Tối đa 25 điểm) Tổng cộng:……….điểm. Xếp loại:………… ……………, ngày……tháng… .năm 2010. Họ tên giám khảo 1:……………………………….chữ kí……………… Họ tên giám khảo 2:……………………………….chữ kí……………… Họ tên giám khảo 3:……………………………… chữ kí……………… NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC I. Cấp Trường ( đơn vị) : * Nhận xét: …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… * Xếp loại:.................. Thị Trấn, ngày tháng năm 2010 TM. HĐKH I. Cấp Phòng Giáo dục (huyện) : * Nhận xét: …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………… * Xếp loại:………… Châu Thành, ngày tháng năm 2010 TM. HĐKH PHßNG GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO CHÂU THÀNH TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN *** a õ b *** Giải pháp khoa học RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN TÁC PHẨM VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 9 Người thực hiện: TRẦN THỊ KIM SA Giáo viên Trường THCS Thị Trấn Châu Thành, ngày 5 tháng 4 năm 2010

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docRèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận tác phẩm văn học cho học sinh lớp 9.doc
Luận văn liên quan