Sàn giao dịch vàng – Sân chơi cho các nhà đầu tư Việt Nam

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Sau hơn một năm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới – WTO thì thị trường tài chính có những bước phát triển vượt bậc, sự sôi động của thị trường chứng khoán đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia. Mặc dù thị trường chứng khoán là một kênh đầu tư hấp dẫn, tuy nhiên trong xu hướng phát triển của thị trường tài chính trên thế giới thì chứng khoán không phải là một kênh đầu tư duy nhất. Ở các nước trên thế giới, sàn giao dịch hàng hóa đặc biệt phát triển rất mạnh và phổ biến, trong đó vàng là một loại hàng hóa đặc biệt được giao dịch với số lượng và chủng loại rất lớn, giới đầu tư trên toàn thế giới quan tâm, và tìm đến với kênh đầu tư này ngoài mục đích bảo hiểm, còn là kênh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Cùng với xu hướng đó, ở Việt Nam ta cũng đã xuất hiện một mô hình sàn giao dịch vàng với tên gọi là sàn giao dịch vàng sài gòn do ngân hàng Á Châu cùng các thành viên khác sáng lập vào năm 2007. Tuy nhiên, vì mới ra đời trong thời gian ngắn nên sàn giao dịch này vẫn chưa phát huy hết tiềm lực của mình, và vẫn còn nhiều vấn đề phải làm thêm nữa để hoàn thiện hơn, và đặc biệt hơn là trở thành một sân chơi cho các nhà đầu tư bên cạnh các kênh đầu tư truyền thống khác, đó là lý do chúng tôi lựa chọn đề tài: “Sàn giao dịch vàng – Sân chơi cho các nhà đầu tư Việt Nam” 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu về các hình thức đầu tư vàng truyền thống hiện nay Nghiên cứu về sàn giao dịch vàng Sài Gòn Nghiên cứu để hiểu rõ hơn về sản phẩm mới tại ngân hàng Á Châu – “Đầu tư vàng tại ACB” Nghiên cứu để Việt Nam có một sàn giao dịch vàng tập trung trong thời gian tới Có thể giúp được nhiều nhà đầu tư đến với kênh đầu tư này khi đã có được hiểu biết và hiểu rõ khi tham gia sản phẩm “đầu tư vàng tại ACB” 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thu thập tài liệu từ đó phân tích 4. KẾT CẤU ĐỀ TÀI Đề tài gồm có 3 chương: Chương 1 : Tổng quan về thị trường vàng Chương 2 : Sàn giao dịch vàng – Sân chơi cho các nhà đầu tư Việt Nam Chương 3 : Định hướng phát triển cho sàn giao dịch vàng trong tương lai và cơ hội tiếp cận cho nhà đầu tư MỤC LỤC Danh sách hình Lời mở đầu CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG 1.1 THỊ TRƯỜNG VÀNG THẾ GIỚI 1 1.1.1 Thị trường vàng 1 1.1.1.1 Tình hình sản xuất khai thác vàng trên thế giới 1 1.1.1.2 Tình hình sử dụng vàng trên thế giới . 1 1.1.2 Các sàn giao dịch vàng hiện nay . 2 1.2 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG Ở VIỆT NAM 3 1.2.1 Cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh vàng của Nhà nước (*) . 3 1.2.2 Tình hình sản xuất vàng tại Việt Nam . 4 1.2.3 Tình hình tiêu thụ và sử dụng vàng tại Việt Nam. . 5 1.2.4 Tình hình kinh doanh vàng tại các ngân hàng 6 1.2.4.1 Cách yết giá vàng tại ngân hàng 7 1.2.4.2 Các hình thức đầu tư vàng của thị trường trong nước 8 1.2.4.2.1 Kinh doanh vàng vật chất giao ngay 8 1.2.4.2.2 Đầu tư bằng các sản phẩm vàng phái sinh . 8 CHƯƠNG 2: SÀN GIAO DỊCH VÀNG – SÂN CHƠI CHO CÁC NHÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM 10 2.1 SÀN GIAO DỊCH VÀNG SÀI GÒN – SÀN GIAO DỊCH VÀNG ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM 10 2.1.1 Quá trình hình thành . 10 2.1.2 Quy mô . 11 2.1.3 Sàn giao dịch vàng và vấn đề luật pháp . 12 2.1.4 Chức năng cơ bản của sàn giao dịch vàng . 13 2.1.5 Những nguyên tắc hoạt động của sàn giao dịch vàng 14 2.1.5.1 Cách thức hoạt động 14 2.1.5.2 Hàng hóa mua bán trên sàn . 14 2.1.5.3 Giá tham chiếu . 14 2.4.5.4 Cơ chế khớp lệnh 14 2.4.5.5 Quy định chung trên sàn . 15 2.1.6 Mối quan hệ giữa sàn giao dịch vàng và sở giao dịch chứng khoán . 16 2.1.6.1 Kênh đầu tư nào “hấp dẫn” hơn? . 16 2.1.6.2 Từ “tâm lý bầy đàn” trên sàn chứng khoán đến hiện tượng “lướt sóng” trên sàn giao dịch vàng 17 2.1.7 Sản phẩm “Đầu tư vàng tại ACB” 18 2.1.7.1 Đối tượng khách hàng 18 2.1.7.2 Cách thức tham gia . 18 2.1.7.3 Đặc điểm loại hình 19 2.1.7.4 Quy chế về hạn mức tín dụng 20 2.1.7.4.1 Một số khái niệm liên quan đến tín dụng . 20 2.1.7.4.2 Điều kiện đảm bảo tài sản ròng / dư nợ . 20 2.1.7.4.3 Giá trị đặt lệch tối đa và giá trị được rút tối đa 21 2.1.7.4.4 Ví dụ minh họa . 21 2.1.7.4.5 Các mức lãi suất áp dụng cho giao dịch đầu tư vàng tại ACB 23 2.1.7.4.6 So sánh các hình thức đầu tư vàng 24 2.1.8 Rủi ro từ sàn giao dịch vàng . 24 2.1.8.1 Rủi ro thị trường . 24 2.1.8.2 Rủi ro đối với ACB – Nhà tổ chức và nhà quản lý Sàn giao dịch vàng 24 2.1.8.3 Rủi ro đối với nhà đầu tư 25 2.2 SÀN GIAO DỊCH VÀNG SÀI GÒN- NHÌN LẠI SAU GẦN MỘT NĂM HOẠT ĐỘNG 28 2.2.1 Bước khởi đầu thành công 28 2.2.2 Đối mặt với những thách thức . 30 2.2.2.1 Đánh giá thực tế từ các thành viên và nhà đầu tư . 30 2.2.2.2 Sự xuất hiện của những đối thủ cạnh tranh trong tương lai 31 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA SÀN GIAO DỊCH VÀNG TRONG TƯƠNG LAI VÀ CƠ HỘI TIẾP CẬN CHO NHÀ ĐẦU TƯ . 33 3.1 TỪ SÀN GIAO DịCH VÀNG SÀI GÒN ĐẾN MÔ HÌNH CÔNG TY CỔ PHẦN GIAO DỊCH VÀNG 33 3.2 XÂY DỰNG MÔ HÌNH SÀN GIAO DỊCH VÀNG TRONG TƯƠNG LAI . 35 3.2.1 Giải pháp nhằm hoàn thiện sàn giao dịch vàng tập trung - Sàn giao chính . 36 3.2.1.1 Nâng cao vai trò của nhà nước đối với hoạt động của Sàn giao dịch tập trung . 36 3.2.1.2 Hoàn thiện mô hình tổ chức 37 3.2.1.3 Hoàn thiện hệ thống công nghệ . 37 3.2.1.4 Kết nạp các thành viên mới có thực lực . 38 3.2.1.5 Đa dạng hóa hàng hóa giao dịch trên sàn giao dịch . 38 3.2.1.6 Đa dạng hóa hình thức giao dịch . 39 3.2.1.7 Mở rộng phạm vi, địa lý hoạt động của sàn . 39 3.2.1.8 Liên kết với các sàn giao dịch hàng hóa trên thế giới 40 3.2.1.9 Tăng cường các tiện ích cho thành viên 40 3.2.2 Giải pháp nhằm thu hút nhà đầu tư đến với sàn của thành viên – Sàn phụ . 41 3.2.2.1 Thay đổi quan điểm của nhà đầu tư về Sàn giao dịch vàng 41 3.2.2.2 Thay đổi nhận thức về rủi ro . 42 3.2.2.3 Mở rộng sản phẩm đầu tư vàng với các công cụ phòng ngừa đến các địa điểm giao dịch . 42 3.2.2.3.1 Các công cụ phòng ngừa hiện có . 42 3.2.2.3.2 Đưa các công cụ phòng ngừa đến gần với nhà đầu tư hơn . 44 3.3 GIẢI PHÁP GIÚP NHÀ ĐẦU TƯ TRỞ NÊN CHUYÊN NGHIỆP HƠN TRÊN NHIỀU KHÍA CẠNH . 45 3.3.1 Phân tích cơ bản - phân tích kỹ thuật để có một chiến lược kinh doanh tối ưu 45 3.3.2 Dự báo giá vàng trong thời gian tới . 47 3.3.3 Nhà đầu tư nên có một quyết định đúng lúc trong quá trình kinh doanh 48 3.3.4 Thay đổi quan điểm về thị trường công cụ phái sinh . 48 3.3.5 Kinh doanh kết hợp các sản phẩm phái sinh 49 Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục

pdf124 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/04/2013 | Lượt xem: 1647 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Sàn giao dịch vàng – Sân chơi cho các nhà đầu tư Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ong tháng 10/1989. Sau đó giá vàng biến động tăng nhẹ trở lại và lên đến đỉnh cao vào ngày 31/12/1989 là 2.450.000 đồng/lượng. Sang năm 1990, giá vàng giảm nhẹ trong tháng đầu năm và tăng liên tục vào tháng cuối năm, đạt mức kỷ lục cũ 3.500.000 đồng/lượng vào tháng 10/1990. Việc tăng giảm của giá vàng trong thời gian này xuất phát từ biến động giá vàng thế giới, quan hệ cung cầu trong nước và cơ chế quản lý vĩ mô của chính phủ. Bước qua năm 1991, giá vàng trong nước biến động theo xu hướng tăng, dao động với biên độ lớn hơn so với giá vàng thế giới. Năm 1992, giá vàng giảm mạnh trong khi lạm phát của nền kinh tế là 17,5%. Giá vàng giảm từ 5.500.000 đồng/lượng vào đầu năm xuống còn 4.340.000 đồng/lượng vào cuối năm, bình quân giảm 2,6%/tháng. Điều này xuất phát từ việc giảm giá của thị trường thế giới cùng với cơ chế quản lý cấp phép chủ trương nhập khẩu vàng nhỏ giọt trong năm 1991 đã không đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường vàng trong nước. Từ năm 2001 cho đến năm 2006, giá vàng trong nước liên tục được điều chỉnh theo hướng tăng dần cùng với xu hướng gia tăng của giá vàng thế giới. Nếu như mức tăng giá vàng trong nước giai đoạn 12/1995 đến tháng 12/2000 là 6,67% thì giai đoạn tháng 12/2000 đến tháng 12/2005 tăng mạnh lên 102,52%. Đặc biệt trong giai đoạn này, giá vàng trong nước luôn cao hơn giá vàng thế giới vài ngàn đồng/chỉ. Nhưng nếu xét từng thời điểm thì giá vàng trong nước có những thời điểm biến động theo xu hướng tăng giá thấp hơn giá vàng thế giới, nhất là trong những ngày của tháng cuối năm 2005. Cụ thể, ngày 31/12/2005, giá vàng trong nước bán ra là 891.000 đồng/chỉ so với mức giá thế giới 472 USD/ounce thì giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới 13.000 đồng/chỉ chưa kể chi phí nhập khẩu, gia công, lãi và thuế. Trong tháng 12/2005, giá vàng trong nước đã liên tục tăng một cách đáng kể, có lúc tăng kịp với giá vàng thế giới. Thị trường vàng luôn sôi động và gia tăng hàng ngày trong những tháng đầu năm 2006. Giá vàng trong nước liên tục gia tăng và đạt mức kỷ lục trên 15.000.000 đồng/lượng vào ngày 12/5/2006 tương đương mức tăng 55,6% so với thời điểm đầu năm. Kể từ sau mức tăng giá kỷ lục trên, giá vàng trong nước biến động theo xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao. Tình đến ngày 30/9/2006, giá vàng trong nước đứng ở mức 11.700.000 đồng/lượng, giảm 22% so với thời điểm tăng cao nhất của vàng vào ngày 12/5/2006. Sau đó giá vàng tiếp tục biến động giảm trong tháng 10 nhưng lại tăng trở lại theo biến động tăng của giá vàng thế giới trong những tháng cuối năm, xoay quanh mức 12.250.000 đồng/lượng. 1.1.2.2 Giai đoạn từ năm 2007 đến nay Cùng với xu hướng của thế giới, giá vàng tại Việt Nam trong giai đoạn này biến động khá phức tạp, những kỷ lục mới đã được ghi và không ít nhà đầu tư Việt Nam đã phải sửng sốt vì sự bứt phá ngoạn mục này. Biểu đồ 4: Ngày đầu năm 2007, giá vàng SJC tại Hà Nội mua vào 1.231.000 đồng/chỉ, bán ra 1.239.000 đồng/chỉ tăng nhẹ so với những ngày cuối năm 2006, chủ yếu là do giá vàng thế giới tăng lên. Những ngày tiếp theo đó, giá vàng trong nước liên tục giảm nhẹ khoảng 8.000- 10.000 đồng/ chỉ do ảnh hưởng của giá vàng thế giới. Sang đến tháng 3, giá vàng lại tiếp tục giảm mạnh, tại TPHCM, vàng SJC mua vào còn 12.770.000 đồng/lượng, bán ra 12.840.000 đồng/lượng, giảm 200.000 đồng/lượng, tuy nhiên sức mua trên thị trường không biến động nhiều. So với giá vàng thế giới, giá vàng tại Việt Nam hầu như không biến động nhiều, hầu như chỉ xoay quanh mức 12.700.000- 12.780.000 đồng/lượng. Tháng 9/2007, giá vàng thế giới tăng cao bắt nguồn từ thông tin bất ổn về hoạt động của Công ty cho vay cầm cố Northern Rock (Anh) và kỳ vọng cắt giảm lãi suất USD của FED, giá vàng thị trường trong nước cũng phản ứng theo, vàng SJC được niêm yết với mức giá 13.820.000 đồng/lượng. Đến tháng 11/2007, do ảnh hưởng từ giá vàng thế giới khi FED quyết định tiếp tục cắt giảm 0,25% lãi suất cơ bản đồng USD, giá vàng trong nưc lập tức tăng lên. Mở cửa sáng 1/11, giá vàng miếng SJC tại thị trường Hà Nội được niêm yết ở mức giá 15.320.000 đồng/lượng. Trong vòng 2 tháng, giá vàng trong nước đã tăng lên 1.500.000 đồng/lượng. Hơn 1 tháng trôi qua, sự hưng phấn của thị trường vàng trong nước dường như chựng lại sau khi giá vàng thế giới trải qua thời gian tăng giảm thất thường. Giá vàng đang ở mức thấp nhất trong vòng hai tuần qua đẩy giao dịch trên thị trường vàng trong nước tăng mạnh những ngày gần đây. Ngày đầu tuần (17/12), công ty SJC bán ra thị trường ở mức kỷ lục hơn 20.000 lượng vàng. Ngày 18/12, giá SJC mở cửa ở mức 15.560.000 đồng/lượng sau đó giảm xuống 15.540.000 đồng/lượng trước khi tăng lên 15.800.000 đồng/lượng vào cuối giờ chiều. Theo giới kinh doanh vàng, nhu cầu vàng trong nước gia tăng đã đẩy giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới 30.000- 40.000 đồng/lượng. Tuy nhiên, “cơn sốt” này chỉ diễn ra nhẹ và bị dập tắt ngay vì SJC đang chạy dưới công suất. Khi thị trường vàng trong nước phát tín hiệu khan hàng, công ty này và các ngân hàng ngay lập tức nhập nguyên liệu về dập vàng và đưa ra thị trường. Cuối tháng 12, giá vàng trong nước tiếp tục tăng và đã vượt mốc 16.000.000 đồng/lượng do giá vàng thế giới tiếp tục tăng. Bước qua năm mới 2008 Biểu đồ 5: Giá vàng liên tục leo thang từ thời điểm tất niên dương lịch, đặc biệt là từ chiều 8/1 đến sáng 9/1, giá vàng đã lên mức 890 USD/ounce, trong nước đạt 17.050.000 đồng/lượng. Giá vàng thế giới hiện chịu tác động không nhiều từ giá dầu thô, USD, hay tình hình chính trị thế giới mà phụ thuộc phần lớn vào hoạt động mua bán vàng của giới đầu cơ quốc tế. Trong thời điểm này, giá vàng đi lên như những con sóng lớn. Đặc biệt ngày 15/1, thời điểm 9h, công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá mua- bán 17.540.000- 17.640.000 đồng/lượng. Tuy nhiên, sáng 31/1 giá vàng trong nước lại quay đầu “xuống thang” sau ảnh hưởng của giá vàng thế giới khi Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) quyết định cắt giảm lãi suất. Vàng SJC đầu phiên giao dịch được niêm yết ở mức 17.700.000 đồng/lượng (mua vào) và 17.780.000 đồng/lượng (bán ra). Sau đó, giá vàng lại được điều chỉnh giảm 3.000 đồng/chỉ xuống còn 17.670.000 đồng/lượng (mua vào) và 17.750.000 đồng/lượng (bán ra). Giữa tháng 2, giá vàng trong nước giảm nhẹ xuống mức 17.660.000 đồng/lượng. Thị trường những ngày đầu năm liên tục dao động trong biên độ hẹp 1.745.000- 1.777.000 đồng do giá thế giới “lình xình” giữa hai luồng thông tin IMF sẽ bán vàng ra và Mỹ giảm lãi suất đồng USD. Công ty SJC sáng 15/2 công bố giá giao dịch tại 17.580.000- 17.660.000 đồng/lượng (mua vào- bán ra), giảm 4.000 đồng so với cuối giờ chiều hôm trước. Những ngày cuối tháng 2 được xem là tuần lễ lịch sử của vàng. Đầu tuần (25/2), giá vàng trong nước bắt đầu “khởi động” ở ngưỡng 18.000.000 đồng/lượng thiết lập dịp cuối tuần và liên tục bứt phát rồi lập kỷ lục đóng cửa 18.260.000 đồng/lượng vào cuối giờ chiều. Ngày hôm sau, tức thứ ba (26/2), giá vàng trong nước lại đột ngột sụt giảm mạnh và thậm chí có lúc tụt xuống dưới ngưỡng 18.000.000 đồng/lượng do vàng thế giới trước đó mất giá nặng, Cuối ngày thứ tư (27/2), giá vàng Rồng Thăng Long của Bảo Tín Minh Châu đã lên tới mức 18.740.000 đồng/lượng, cao chưa từng có trong lịch sử. Rồi đến ngày thứ năm (28/2), giá vàng trong nước “thủ thế” và thậm chí SJC còn điều chỉnh giá vàng theo hướng giảm nhẹ. Đến ngày thứ thứ sáu (29/2), thị trường vàng trong nước lại “rực lửa” khi vàng Bảo Tín Minh Châu chính thức "bay" qua ngưỡng xà 19.000.000 đồng/lượng, thiết lập kỷ lục mới 19.100.000 đồng/lượng. Như vậy, chỉ trong tuần này, giá vàng trong nước đã liên tục ba lần xác lập mức giá đóng cửa kỷ lục, giá vàng thế giới cũng ba lần chạm kỷ lục cao nhất mọi thời đại. Trong khi đó, giá dầu thô ba lần chạm ngưỡng đỉnh điểm lịch sử, còn USD đã bốn lần “vỡ đáy”. Bước qua tháng 3, giá vàng SJC theo thông tin niêm yết trên website của công ty này lúc 10h sáng 12/3 ở mức 18.550.000 đồng/lượng (mua vào) và 18.650.000 đồng/lượng (bán ra), giảm 11.000 đồng/chỉ và 9.000 đồng/chỉ so với sáng hôm qua. Giá vàng Bảo Tín Minh Châu mua vào 18.570.000 đồng/lượng (mua vào) và 18.750.000 đồng/lượng (bán ra), giảm 8.000 đồng/chỉ và 5.000 đồng/chỉ so với sáng hôm qua. Việc điều chỉnh giảm liên tục của giá vàng trong nước trong mấy phiên trở lại đây cộng với sự tăng giá nhẹ của giá vàng thế giới phiên hôm qua đã kéo giá vàng trong nước về mức ngang bằng với giá vàng thế giới. Tại thị trường trong nước, giá vàng ngày 17/3 cũng tiếp tục "leo dốc". Tại TP.HCM, lúc 11h PNJ niêm yết giá mua vào 19.300.000 đồng/lượng, bán ra 19.430.000 đồng/lượng; SJC mua vào 19.300.000 đồng/lượng, bán ra 19.430.000 đồng/lượng. Trong khi đó, tại nhiều cửa hàng bán lẻ ở Hà Nội và TP.HCM, giá vàng được thay đổi giá liên tục, cao nhất đã lên đến 19.500.000/lượng. Tình hình thị trường vàng tăng giá quá nhanh khiến cho giới đầu tư cũng như người dân phản ứng thận trọng. Sang ngày hôm sau (18/3), giá vàng trong nước cũng được điều chỉnh liên tục. "Đỉnh" giá trong ngày do Công ty SJC công bố là 19.500.000đ/lượng, cũng là mức giá niêm yết cao nhất tại khu vực chợ Bến Thành. Khác với những đợt tăng giá trước, sức mua vàng miếng đợt này không tăng vì người dân e ngại giá quá cao. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cắt giảm lãi suất chiết khấu, giới đầu tư phải bán vàng bù lỗ cho danh mục đầu tư chứng khoán. Giá vàng thế giới giảm mạnh. Giá vàng trong nước sáng 18/3 cũng giảm theo. Vào lúc 10h sáng, giá vàng SJC được niêm yết ở mức 19.070.000 đồng/lựong (mua vào) và 19.170.000 đồng/lượng (bán ra), giảm 30.000 đồng/chỉ 33.000 đồng/chỉ so với mức giá kỷ lục sáng hôm qua. Giá vàng Bảo Tính Minh Châu 19.000.000 đồng/lượng (mua vào) và 19.200.000 đồng/lượng (bán ra), giảm 25.000 đồng/chỉ so với sáng hôm qua. Nối tiếp theo đà giảm đó, qua ngày 20/3, vàng rơi thẳng đứng giảm tới 1.000.000 đồng/lượng làm chóng mặt ngay cả những nhà đầu tư bản lĩnh nhất. Ngày hôm sau (21/3), chỉ trong một đêm, giá vàng thế giới đã giảm tương đương 1.500.000 đồng/lượng, kéo giá vàng trong nước giảm theo khoảng 1 triệu đồng/lượng. Diễn biến bất ngờ này đang gây rất nhiều lo ngại và hoang mang cho các nhà đầu tư vàng. Ngày tiếp theo đó, vàng mất mốc 18.000.000 đồng/lượng – kết quả từ đà đi xuống của giá vàng thế giới. Đầu giờ sáng 23/3, vàng SJC mở cửa với giá mua vào là 1.795.000 đồng/chỉ, tăng 5.000 đồng/chỉ so với mức giá cuối tuần, nhưng giá bán ra được duy trì ở mức 1.810.000 đồng/chỉ. Sau đó, giá vàng SJC được điều chỉnh giảm 15.000 đồng/chỉ, xuống còn 17.800.000 đồng/lượng và 17.950.000 đồng/lượng. Giá vàng Bảo Tín Minh Châu lúc 10h30 sáng nay là 17.850.000 đồng/lượng (mua vào) và 18.150.000 đồng/lượng (bán ra), giảm 25.000 đồng/chỉ và 30.000 đồng/chỉ so với sáng thứ 7 tuần trước. Ngày 24/3, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá thế giới 500.000 đồng/lượng. Tại Việt Nam, giá vàng SJC bán ra đầu ngày là 18.100.000 đồng/lượng nhưng thời điểm 14h xuống còn 17.800.000 đồng/lượng, giảm 300.000 đồng/lượng so với giá mở cửa, tuy nhiên đến cuối ngày lại trở về mức 18.100.000 đồng/lượng. Các doanh nghiệp kinh doanh vàng liên tục thay đổi giá mua - bán tùy theo tình hình giao dịch của thị trường. Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) cho biết, trong ngày đã thay đổi giá 8 lần, mua vào 5.000 lượng, bán ra 16.000 lượng. Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Công ty Vàng bạc Bảo Tín Minh Châu cũng nhiều lần thay đổi giá mua bán như SJC. Hiện giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới khoảng 500.000 đồng lượng. Tại sàn giao dịch vàng, giá khớp lệnh đầu phiên 17.750.000 đồng/ lượng, thời điểm 14 giờ khớp lệnh ở mức 17.665.000 đồng/lượng. Dù rằng giá vàng thế giới vẫn trên đà giảm song nhà đầu tư mua bán vàng qua sàn thận trọng bởi e ngại sự biến động bất thường của giá vàng trong nước. Kết thúc giao dịch, giá vàng khớp lệnh cuối cùng là 17.730.000 đồng/lượng, khối lượng giao dịch đạt 332.350 lượng. Trên thị trường tự do, khối lượng giao dịch không cao song người mua vẫn chiếm đa số. Trưa 26/3, giá vàng SJC niêm yết tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) với giá mua và bán lần lượt là 18.300.000 và 18.400.000 đồng/lượng.Giá vàng trong nước sáng 27-3 đã tăng thêm 350.000 đồng/lượng. Giá vàng SJC tại TP.HCM, Đà Nẵng, Hà Nội hiện đang ở mức mua vào là 18.600.000 đồng/lượng, bán ra là 18.700.000 đồng/lượng. 1.2 Các nhân tố tác động đến việc vàng tăng giá thế giới và Việt Nam trong thời gian qua 1.2.1 Nhân tố dẫn đến sự tăng giá vàng thế giới Vàng là một loại hàng hóa thông thường, tất nhiên giá cả sẽ chịu sự tác động của quan hệ cung cầu.Thêm vào đó, với tư cách là tiền tệ vàng lại chịu sự tác động bởi các nhân tố khác như lạm phát, bất ổn chính trị toàn cầu, giá dầu leo thang, hành động đầu cơ mạnh mẽ trên thị trường, sự can thiệp của các Ngân hàng Trung ương, sức khoẻ của đồng USD… được cho là những nhân tố tạo nên sự biến động của giá vàng trong năm qua. 1.2.1.1 Thứ nhất – Cung cầu Cũng như bất kỳ hàng hóa nào khác, giá cả của vàng cũng phụ thuộc vào quan hệ cung cầu. Mức cầu về vàng có thể phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng vàng trang sức ngày càng tăng. Nhu cầu vàng trang sức trong các mùa lễ hội của người hồi giáo, lễ giáng sinh, mùa cưới hỏi, năm mới tại các nước ở khu vực phương Đông ngày càng gia tăng, đặc biệt là các nước đông dân như Ấn Độ, Trung Quốc. Theo Hội đồng vàng thế giới, nhu cầu vàng của Ấn Độ - nước nhập khẩu và tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới – đã tăng 17,6%, lên đến 643 tấn năm 2004 so với 547 tấn năm 2003. Riêng trong quý I/2005, nhu cầu vàng của Ấn Độ tăng Trong khi đó nguồn cung vàng thế giới cho thấy ngày càng ‘eo hẹp’ hơn do ảnh hưởng trước các nguyên nhân như: các khu mỏ khai thác hiện nay đang dần bị ‘lão hóa’, những cuộc đình công khoảng thời gian vừa qua, chi phí sản xuất tăng cao, ảnh hưởng từ sự thay đổi thay đổi của điều kiện thiên nhiên và môi trường sống…Sản lượng vàng khai thác của thế giới tăng chậm, có nước giảm do chi phí sản xuất cao trước tình hình giá vàng giảm liên tiếp trong 10 năm liên tục suốt giai đoạn 1990-2000, cùng với đình công và khó khăn trong việc tìm kiếm các mỏ mới. Nam Phi – Nước khai thác và xuất khẩu vàng lớn nhất trên thế giới – cho biết, sức khai thác đã giảm 3,5% trong năm 2005 đồng thời đã cắt giảm sản lượng vàng 12,8% xuống còn 73.8 tấn trong quí I năm 2005. Hội đồng khai thác vàng Nam Phi cho biết sản lượng vàng năm 2004 chỉ đạt 342 tấn, giảm 9% so với năm 2003- mức thấp nhất kể từ năm 1931. (theo SGGP, Minh Tú (WGC) cập nhật ngày 10.1.2006). Australia – nước sản xuất và xuất khẩu vàng thừ hai trên thế giới – trong thời gian từ tháng 6/2004 đến tháng 6/2005 ước tính sản lượng vàng giảm 3%, xuống mức thấp kỷ lục 265 tấn – mức thấp nhất kể từ trước đến nay. Bởi vì, chi phí sản xuâts và giá thuê lao động tăng cao, công việc tìm kiếm và khai thác các mỏ vàng mới ngày càng khó khăn hơn. ( theo SGGP, Minh Tú (WGC) cập nhật ngày 10.1.2006). Ngoài ra, nguồn cung vàng trên thế giới bị giảm còn xuất phát từ nguyên nhân các NHTW các quốc gia trên thế giới hạn chế bán vàng theo hiệp định của các NHTW Châu Âu. Như vậy, nguồn cung vàng hạn chế trong khi cầu về vàng tăng như hiện nay thì giá vàng liên tục tăng lên. 1.2.2.2 Tình hình chính trị thế giới luôn bất ổn Sau sự kiện Mỹ bị tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001, hàng loạt các cuộc chiến trả đũa của Mỹ bằng việc tấn công Afganistan vào cuối năm 2001 và Iraq đầu năm 2003. Tình hình trên đã dẫn đến khủng bố, biểu tình và bạo loạn xảy ra ở khắp nơi trên thế giới như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Indonexia, Thái Lan, Nigeria, Ấn Độ…Thậm chí, một số quốc gia thúc đẩy chương trình hạt nhân Triều Tiên, Iran cùng với chiến sự giao tranh ác liệt giữa Isarael – Hezbolah (tại Libang), điểm nóng Pakistan chưa yên, sự kiện cựu thủ tướng Bennazir Bhutto bị ám sát cùng với diễn biến tình hình chính sự căng thẳng chính trị tại Thổ Nhỹ Kỳ và Bắc Iraq, vấn đề hạt nhân của Iran; sự xuất hiện của trùm khủng bố Osama Bin Laden và những lời cảnh báo của các nhóm khủng bố Al Qaeda và Taliban, mối quan hệ căn thẳng giữa Mỹ và Nga liên quan đến hệ thống phòng thủ tên lửa ở Balan…tiếp tục là những nguyên nhân chính gây dư luận xôn xao trong năm 2008.Tất cả những sự kiện bất ổn chính trị đó dã khiến cho lòng tin của người tiêu dùng và hoạt động đầu tư giảm sút, và để đảm bảo an toàn vốn giới đầu tư trên thế giới đã chuyển sang tích trữ vàng nên đẩy nhu cầu vàng tăng cao. Chính vì thế vai trò lịch sử của vàng, loại tài sản đầu tư an toàn nhất khi có khủng hoảng về kinh tế hoặc chính trị, sẽ không ngừng hấp dẫn sự tái đầu tư trên thị trường 1.2.2.3 Do sự mất giá của USD khiến cho một số NHTW tăng dự trữ vàng trong cơ cấu dự trữ ngoại hối Những bất đồng hàng loạt giữa Mỹ - Triều Tiên và vác nước hồi giáo nêu trên cộng với khoản thâm hụt ngân sách khổng lồ và các khoản chi ngày càng tăng trong phục vụ cho cuộc chiến tranh và cuộc tái thiết Iraq sau chiến tranh. Đồng thời, thâm hụt thương mại của Mỹ liên tục tăng trong thời gian qua do lượng xuất khẩu tăng mạnh từ phía đối tác Trung Quốc cùng với nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại và chưa có dấu hiệu phát triển bền vững. Thêm vào đó, theo đánh giá của giới phân tích về các “mảng màu” lớn trong tổng thể bức tranh kinh tế Mỹ đều không mấy sáng sủa với bức tranh thị trường bất động sản Mỹ u ám và quan trọng hơn là hiệu ứng từ sự suy yếu của thị trường nhà có thể sẽ lan rộng ra các lĩnh vực hoạt động khác của nền kinh tế; trong khi đó ở thị trường vay cầm cố và thị trường tín dụng vẫn còn nhiều vấn đề tồn đọng và hết sức nan giải, những điều này đã đẩy USD giảm giá mạnh so với các ngoại tệ chủ chốt khác trên thế giới làm cho vàng lại càng hấp dẫn hơn với giới đầu tư và giá vàng liên tục tăng cao trong giai đoạn qua. Mặc dù FED đã nhiều lần tăng lãi suất liên tiếp kể từ tháng 6/2004 đến nay cũng không cứu vãn nổi sự giảm giá mạnh của USD, thậm chí ADB và IMF còn cảnh báo về sự sụp đổ của đồng USD khiến nhiều NHTW trên thế giới đa dạng hóa dự trữ ngoại hối theo hướng tăng sự trữ vàng, EUR, JPY, GBP và giảm dự trữ bằng USD. Theo Reuter, một số NHTW quốc gia tăng dự trữ vàng nhằm thực hiện kế hoạch tăng trưởng vàng quốc gia. Một số NHTW Châu Á dự định tăng cường mua vàng để cơ cấu lại dự trữ ngoại hối. 1.2.2.4 Do áp lực lạm phát trên thế giới gia tăng Trước những xung đột liên tục ở vùng Trung Đông, giá dầu có xu hướng gia tăng trong suốt một năm qua và đẩy giá cả hàng hóa tăng, hệ quả là làm gia tăng lạm phát, làm tăng trưởng kinh tế thế giới có biểu hiện chậm lại. Biến đổi môi trường kinh tế toàn cầu cũng như lo sợ trước tình hình lạm phát, giới đầu tư có xu hướng dịch chuyển đầu tư từ các tài sản khác sang vàng để tìm lợi nhuận cao và an toàn tài sản. 1.1.2.5 Do đầu cơ của thị trường vàng gia tăng Trước nhu cầu vàng tăng cao, theo Hội đồng vàng thế giới, nguồn cung hiện nay chỉ đáp ứng được ¼ nhu cầu thị trường, trong đó lại có không ít số lượng vàng bị giữ lại, chưa bán, chờ cao giá hơn. Các quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ, quỹ hưu trí, các quỹ giao dịch vàng (exchange – trade gold funds – ETFs) đã và sẽ tiếp tục mua vàng với số lượng lớn để bảo vệ tài sản và thu tiền chênh lệch giá vàng. 1.2.2.6 Do các nước khu vực OPEC chuyển đổi số lương dầu mỏ khổng lồ thành vàng. Tiền thu về từ xuất khẩu dầu thô, ngoài việc đầu tư cơ sở hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các nước này đã sử dụng tiền để mua vàng dự trữ. Ngoài ra, còn có tin Iran đã rút một lượng lớn vàng dữ trữ từ các quỹ tiền tệ phương Tây. Nhưng theo nhận định của các chuyên gia phân tích hàng đầu trên thế giới, giá vàng biến động tăng còn một nguyên nhân sâu xa tác động gián tiếp đến sự thay đổi trong cung cầu vàng cũng như nền kinh tế thế giới, đó là giá dầu trên thế giới liên tục tăng cao trong thời gian qua. Như chúng ta đã biết, dầu thô cùng các sản phẩm của dầu thô có vị thế hết sức quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Mức độ ảnh hưởng của dạng năng lượng này theo dự báo của Tổ chức Năng lượng Thế giới – IEA còn kéo dài trong thế kỷ XXI. Giá dầu vẫn cứ là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng. Khi giá dầu lên cao có thể gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế các nước nhập khẩu dầu và tác động đến nền kinh tế tòan vầu nói chung, làm cho thương mại quốc tế và đầu tư giảm. Giá dầu tăng khiến các nước nhập khẩu dầu mỏ phải lao đao, đặc biệt nếu giá dầu duy trì ở mức cao. Phải vật lộn với giá nhiên liệu cao chót vót sẽ dẫn tới tinh trạng lạm phát đình đốn – lạm phát tiền tệ mà không có sự gia tăng nhu cầu và công ăn việc làm một cách tương ứng. Điều đó sẽ “ăn mòn” thu nhập và gây bất ổn cho nên kinh tế. Bối cảnh kinh tế nói chung khi giá dầu tăng hiện nay rất khác so với những cơn sột giá dầu trước đây, tất cả đều xảy ra đồng thời với hiện tượng phát triển bùng nổ kinh tế do nhiều nên kinh tế hoạt động quá nóng. Biến động của giá dầu do nhiều nhân tố, nhưng nhân tố chính trị và sự bất ổn trên thế giới với yếu tố tâm lý, là những nhân tố có tác động mạnh, nhân tố quyết định thuộc về quy luật cung cầu. Khi biến động của mặt hàng này trở nên nóng bỏng thì một cuộc cách mạng vè phương thức thăm dò và khai thác dầu khí của các tập đoàn dầu khí cũng đã lặng lẽ gây sức ép giảm giá dầu trong những giai đoạn trước đây, đặc biệt là các nước trong tổ chức OPEC. Nhưng nay, tổ chức này theo chu kỳ nhóm họp cũng không làm lay chuyển, kìm hãm và hạ nhiệt được cơn sốt giá dầu, vì nó đã bị chi phối bởi nhiều nhân tố không kiểm soát nổi. Để có thể cạnh tranh với các nước OPEC, các tập đoàn dầu khí đang tìm cách giảm chi phí khai thác dầu thô, ngay cả tại môi trường khắc nghiệt như biển Bắc. Vấn đề cung cầu dầu khí, cũng như giá dầu trên thế giớ thường rất nhạy cảm, nhiêu người cho rằng, vấn đề này giống như chiếc hạn thử biểu tác động đến nhiều mặt kinh tế, chính trị trên thế giới. 1.2.3 Các nhân tố tác động đến việc tăng của giá vàng Việt Nam Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Trong bối cảnh đó cộng với điều kiện thông tin hiện đại nên giá vàng trong nước theo nguyên tắc “bình thông nhau” với giá vàng thế giới. Cho nên, khi giá vàng thế giới tăng cao thì giá vàng trong nước cũng phản ánh tức thì, cùng chiều và theo sát giá vàng thế giới. Nói cách khác, khi giá vàng thế giới tăng sẽ tác động trực tiếp làm cho giá vàng trong nước tăng theo và ngược lại. Những nhân tố dẫn đến giá vàng trong nước tăng đột biền trong thời gian qua đều xuatas phát từ những nguyên nhân tác động đến cung cầu vàng trên thị trường thế giới làm cho giá vàng thế giới biến động tăng cao, từ đó tác động đến giá vàng trong nước. Như chúng ta đã biết, Việt Nam là nước nhập khẩu vàng. Có đến 95% vàng đáp ứng cho nhu cầu thị trường là vàng nhập khẩu, do vậy, khi giá vàng thế giới tăng thì giá vàng trong nước cũng tăng theo và khi giá vàng thế giới giảm thì giá vàng trong nước cũng giảm theo. Tuy nhiên, giá vàng trong nước tăng thậm chí còn cao hơn giá vàng thế giới là do một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, sự tăng đột biến của giá vàng thế giới dẫn đến tâm lý lo sợ của người dân làm người dân đổ xô đi mua vàng, một số đã rút tiền tiết kiệm để mua vàng khiến cho cầu vàng gia tăng đột biến – hiện tượng cầu ảo. Tuy nhiên, trong những ngày này, trước sự trồi sụt thất thường của giá vàng thế giới khiến không ít người dân bị thua thiệt nghiêm trọng do đầu tư theo “phong trào”- giá lên thì đổ xô đi mua, giá hạ thì ào ạt bán. Thứ hai, do tình hình lạm phát của Việt Nam liên tục gia tăng ở mức cao. Năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, năm 2006 tăng 6,6%, năm 2007 “lồng lên” mức 12,63%. Năm 2008 mới qua 2 tháng đã ở mức 6,02%, cao nhất trong hàng chục năm qua, đã bằng gần một nửa cả năm ngoái và bằng 70% mục tiêu đề ra cho cả năm nay.Nếu so với cùng kỳ năm trước thì tháng 1 tăng 14,11%, tháng 2 tăng 15,67%, bình quân chung 2 tháng đã tăng 14,89% - tức là không những tăng ở mức 2 chữ số mà còn đang trong xu hướng cao Thứ ba, một yếu tố quan trọng khác là chứng khoán và bất động sản đang có vấn đề. Ngày 5/3, chỉ số giá chứng khoán trên sàn Tp.HCM (VN-Index) đã giảm chỉ còn 583,45 điểm, trên sàn Hà Nội (HaSTC-Index) đã giảm chỉ còn 191,38 điểm, chỉ bằng một nửa đỉnh điểm đã đạt trước đây. Cơn sốt nóng bất động sản ở các thành phố lớn đang lan rộng ra các tỉnh đã bị chặn lại, đã giảm độ sốt nóng, thậm chí giá đã giảm do người bán nhiều hơn người mua. Thứ ba, cùng với việc nhà nước liên tục điều chỉnh giá xăng dầu. Thứ tư, trong khi khả năng gia công vàng miếng có hạn dù khâu chuyền dập vàng của các công ty đã làm việc hết công suất. Đây chính là những nguyên nhân khiến giá vàng trong nước tăng cao còn hơn cả giá vàng thế giới. Điều này được minh chứng tại thời điểm giá vàng trong nước tăng cao nhất PHỤ LỤC 2: NHẬN BIẾT RỦI RO LIÊN QUAN ĐẾN GIAO DỊCH MUA/ BÁN VÀNG THEO SẢN PHẨM “ĐẦU TƯ VÀNG” TẠI ACB Ngân hàng Á Châu (sau đây gọi là Ngân hàng) khuyến cáo khách hàng về những rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra khi khách hàng tham gia giao dịch mua/ bán vàng tại ACB như sau : 1. Giá vàng Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ của giá vàng thế giới, có thể biến động tăng hoặc giảm mạnh do nhiều yếu tố khác nhau như giá dầu, giá USD, tình hình của nền kinh tế Mỹ…Khi tham gia giao dịch mua/bán vàng tại ACB, vốn tự có của khách hàng có thể chỉ chiếm một phần nhỏ so với giá trị giao dịch của khách hàng, khách hàng có thể vay vốn để thực hiện các giao dịch lớn hơn rất nhiều so với vốn tự có. Do đó, các biến động của thị trường khiến giá vàng tăng/giảm ngược với kỳ vọng của khách hàng có thể dẫn đến tình huống Ngân hàng phải xử lý số tiền/vàng của khách hàng để thu hồi nợ. Ngân hàng có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải xử lý ngay số tiền /vàng của khách hàng khi giá vàng giảm đến mức giá xử lý. Nghĩa là khách hàng có thể thua lỗ số tiền/ vàng lớn hơn nhiều so với mức thua lỗ nếu Ngân hàng xử lý ngay khi giá vàng giảm đến mức xử lý. 2. Tỷ lệ ký quỹ, tỷ lệ xử lý, lãi suất, phí: Ngân hàng toàn quyền thay đổi tỷ lệ ký quỹ, tỷ lệ xử lý, lãi suất, phí. Khách hàng phải thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin tại trang web của ACB (www.acb.com.vn) và tại các điểm nhận lệnh giao dịch. Khách hàng phải hiểu rõ về mức lãi suất, phí phải trả cho các giao dịch vì những khoản này ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần của khách hàng. 3. Ngân hàng luôn cố gắng tối đa duy trì tốt nhất hệ thống giao dịch về công nghệ thông tin, năng lực và số lượng nhân sự và các vấn đề khác nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, khách hàng cần hiều rỏ và chấp nhận rằng:  Giao dịch trên một hệ thống công nghệ thông tin có thể gặp một số rủi ro như khả năng hỏng hóc của mạng điện tử, của thiết bị, lỗi phần cứng, phần mềm của hệ thống trong quá trình vận hành vì bất kỳ lý do gì dẫn đến lệnh giao dịch của khách hàng không thể nhập được vào hệ thống và/hoặc lệnh giao dịch đã nhập vào hệ thống nhưng không thể xử lý, không khớp lệnh.  Tại thời điểm mà số lượng lệnh giao dịch của khách hàng quá nhiều, nhân viên nhập lệnh không thể nhập kịp hết tất cả các lệnh giao dịch của tất cả các khách hàng một lúc dẫn đến trường hợp có lệnh giao dịch của khách hàng không được nhập vào hệ thống và/hoặc được nhập vào hệ thống không đúng thời điểm mong đợi của khách hàng. Trong các trường hợp nêu trên, khách hàng hiểu rằng không có bất kỳ thiệt hại nào xảy ra vì Ngân hàng không đảm bảo một cách tuyệt đối rằng hệ thống công nghệ thông tin luôn hoạt động như mong đợi và các lệnh giao dịch của khách hàng đều được nhập vào hệ thống đúng thời điểm mong đợi của khách hàng. Ngân hàng không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ các rủi ro trên. 4. Thời gian giao dịch:  Khách hàng chỉ được đặt lệnh mua /bán trong giờ giao dịch của ACB. ACB chỉ hoạt động trong giờ giao dịch theo thông báo của Ngân hàng, trong khi giá vàng thế giới biến động suốt 24 giờ trong ngày tác động đến giá vàng của Việt Nam. Do đó, khi giá vàng biến động ngoài giờ giao dịch của ACB, khách hàng không thể đặt lệnh giao dịch để xử lý tiền/vàng của mình nhằm hạn chế mức thua lỗ.  Trong thời gian nghỉ giữa phiên giao dịch, nếu lệnh của khách hàng đã nhập vào hệ thống, đang trong trạng thái chờ giao dịch và khách hàng không đặt lệnh hủy lệnh giao dịch trước đó kịp thời thì khi giao dịch trở lại lệnh giao dịch trước đó có thể khớp ngược lại kỳ vọng của khách hàng. Do đó, khách hàng có thể thua lỗ trong trường hợp này. Các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra trong giao dịch mua/bán vàng tại ACB bao gồm nhưng không giới hạn các rủi ro mà Ngân hàng đã khuyến cáo như trên. Khách hàng cần nhận biết các rủi ro tiềm ẩn, nghiên cứu kỹ, đánh giá rủi ro trước khi quyết định tham gia giao dịch mua/bán vàng tại ACB. Khi tham gia giao dịch mua/bán vàng tại ACB, khách hàng đương nhiên chấp nhận các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra. Bản nhận biết rủi ro này là một phần không thể tách rời của các hợp đồng, thỏa thuận về giao dịch mua/bán vàng tại ACB giữa khách hàng và Ngân hàng. XÁC NHẬN CHẤP NHẬN RỦI RO Khách hàng : ………………………………………………………………………….. CMND số : ……………………cấp ngày………………..tại………………………. Địa chỉ : ………………………………………………………………………….. Hoặc GCN ĐKKD số : ………………….. do…………………cấp ngày……………………… Địa chỉ : …………………………………………………………………………. Người đại diện : …………………………………………………………………………. theo Giấy ủy quyền số ………………………….ngày ……………………………………. Khách hàng đã nghiện cứu kỹ, hiểu rõ, hoàn toàn chấp nhận các rủi ro liên quan khi tham gia giao dịch mua/bán vàng tại ACB nêu tại Bản nhận biết rủi ro này và những rủi ro khác có thể xảy ra ngoài Bản nhận biết rủi ro này. Khách hàng cam kết không có bất kỳ khiếu nại, tranh chấp hay kiện tụng Ngân hàng Á Châu khi xảy ra các rủi ro liên quan giao dịch mua/bán vàng tại ACB. …………ngày ……tháng …….năm……. Khách hàng (Ký/đóng dấu và ghi rõ họ tên) PHỤ LỤC 3 CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ Chỉ số Thời điểm cung cấp chỉ số Cách đo lường Tác động của các chỉ số Chỉ số đo lường mức độ lạm phát CPI – Consumer Price Index Chỉ số giá hàng tiêu dùng 20h:30 từ ngày 8 tới ngày 19 hàng tháng và CPI đưa ra là CPI của tháng trước đó. Đo lường sự thay đổi về giá cả của một rổ hàng hóa và dịch vụ có tính chất đại diện, (như lương thực, năng lượng, quần áo, giao thông) và chưa tính thuế Là chỉ số được sử dụng để đo lường tính hiệu quả của chính sách tiền tệ, tình hình lạm phát trong tiêu dùng và có tác động lớn tới quyết định lãi suất của Ngân hàng Trung ươnG PPI – Producer Price Index Tuần thứ 2 hàng tháng lúc 22h30, PPI đưa ra là của tháng trước đó Là một chỉ số tốt để đo lường lạm phát. Chỉ số thể hiện giá phí sản xuất. Hàng tháng khỏang 100.000 giá cả được thu thập từ 30.000 công ty sản xuất Trong khi CPI do luờng lạm phát gây nên bởi sự tăng lên của giá cả hàng hóa đầu ra thì PPI đo lường mức tăng giá trong nền kinh tế bị gây nên bởi sự tăng lên của giá phí trong sản xuất. Dùng để dự đoán CPI. PCE – Persional Consumpti on Expenditu re (Chi tiêu tiêu dùng cá nhân) Ngày cuối cùng hàng tháng, lúc 20h30, PCE đưa ra là của tháng trước đó Là một trong những thay đổi về giá cả hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Chỉ số này tăng cho thấy chi tiêu tăng, kéo theo giá bị áp lực tăng theo, do đó được coi là một trong các chỉ số dùng để dự đoán mức độ lạm phát trong nền kinh tế. GDP GDP- Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội) 20h:30 vào ngày cuối cùng của quý và chỉ số đưa ra là của quý trước đó. Đo lường giá trị bằng tiền của tất cả các hàng hóa dịch vụ sản xuất ra của một nền kinh tế trong một thời kì nhất định, bao gồm chi tiêu cá nhân, chi tiêu của chính phủ và cán cân thương mại. Đây là chỉ số rất quan trọng có ảnh hưởng lớn tới thị trường vì GDP biểu hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.GDP thường có độ trễ về thời gian do thống kê theo quý nên quan sát chuỗi số liệu hơn là từng con số cụ thể. Tiêu dùng Vào khoảng 22 hàng tháng lúc 22h 3, chỉ số đưa ra là của tháng trước đó Chỉ số này theo dõi tình hình bán lẻ hàng hóa của các công ty, đo lường tổng chi tiêu cho hàng hóa bán lẻ của người tiêu dùng, không bao gồm phí dịch vụ. Ủy ban dân số điều tra hàng trăm công ty có quy mô khác nhau, có các cách thức bán lẻ hàng hóa khác nhau. Chỉ số đưa ra hàng tháng cho thấy mức thay đổi tính bằng phần trăm so với tháng trước đó Chỉ số đưa ra mà âm thì có nghĩa là giảm so với tháng trước đó. Chỉ số này có tác động rất lớn tới thị trường vì nó được coi là tần số của hoạt động và niềm tin tiêu dùng vì nếu doanh số hàng hóa bán lẻ tăng có nghĩa là các hoạt động kinh tế đang tăng lên. Sức sản xuất PMI – Purchasin g Managers Index Ngày làm việc đầu tiên trong tháng, lúc 22h, chỉ số đưa ra là của tháng trước đó. Là chỉ số tổng hợp dựa trên 5 chỉ số chính, bao gồm: Các đơn đặt hàng mới, mức hàng tồn kho, tình hình sản xuất,tình trạng giao hàng và môi trường làm việc. Mỗi chỉ số có các tỉ trọng khác nhau và được điều chỉnh theo các nhân tố nhất định. Chỉ số được thu thập từ cuộc điều Chỉ số lớn hơn 50 có nghĩa là các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất đang được mở rộng, còn nhỏ hơn 50 có nghĩa là các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất đang bị thu hẹp. Đây là chỉ số cực kì quan trọng với tra hơn 300 trưởng phòng mua hàng khắp quốc gia trong hơn 20 ngành làm việc khác nhau thị trường tài chính vì nó là chỉ số tốt nhất thể hiện sức sản suất. PMI không như mong đợi và đặc biệt là phần các đơn đặt hàng mới, có ảnh hưởng rất lớn tới việc dự đoán các hoạt động sản xuất trong các tháng tiếp theo. Chỉ số này có trước ISM và dùng để dự đoán cho ISM cùng với Philadenphia Survey Các hoạt động của FED Rate announce ment (Công bố lãi suất) Một năm họp 8 lần, thông báo về lãi suất được đưa ra sau mỗi lần họp Lãi suất thể hiện giá cả một đồng tiền. Lãi suất càng cao, càng có nhiều người nắm giữ và mua đồng tiền này, theo cách đó sẽ làm tăng giá trị của đồng tiền. Đâylà chỉ số có ảnh hưởng tới mức lạm phát trong nền kinh tế, vì nó được dùng làm công cụ trong chính sách tiền tệ nên gây ra ảnh hưởng lớn trong thị trường Thị trường lao động Employme nt Report (Báo cáo việc làm) 20h:30 vào ngày thứ sáu đầu tiên hàng tháng và chỉ số đưa ra là của tháng trước đó. Thông tin được thu thập qua cuộc điều tra 375.000 doanh nghiệp và 60.000 hộ gia đinh. Bản Báo cáo cho thấy số việc làm được tạo mới và số việc làm bị hủy bỏ của nền kinh tế, mức lương bình quân một giờ và số giờ làm việc bình quân trong một tuần. Được coi là một trong những chỉ số quan trọng nhất trong việc thống kê tình hình chung của thị trường lao động. Non farm Payrolls (Chỉ số việc làm trong khu vực dịch vụ) Ngày làm việc đầu tiên trong tháng, lúc 22h30, chỉ số đưa ra là của tháng Thể hiện sự thay đổi tổng số lao động được nhận lương, bao gồm nhân viên khu vực hành chính quốc gia, nhân viên hộ gia đinh tư nhân, nhân viên làm việc cho các tổ chức phi chính Số lao động trong báo cáo này đại diện cho gần 80% tổng số lao động làm ra GDP của Mỹ. Đây là chỉ số mà các nhà làm trước đó. phủ và công nhân làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. chính sách của Mỹ dùng để đánh giá tình trạng hiện tại của nền kinh tế cũng như dự đoán các hoạt động kinh tế trong tương lai. Chỉ số này có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường. Initial Jobless Claim (Chỉ số thất nghiệp) Một tuần một lần vào ngày thứ 5, lúc 20h30, chỉ số đưa ra là của tuần trước đó. Liệt kê số người xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu. Chỉ số này ra hàng tuần nên biến động nhiều, chỉ số bình quân trong 4 tuần có nhiều ý nghĩa hơn Thị trường nhà New Home Sales Hàng tháng Chỉ số này báo cáo xem có bao nhiêu hợp đồng mua bán nhà mới được kí trong tháng. Doanh số mua bán nhà mới càng tăng thì thu nhập của người bán nhà tăng cùng với nó là chi tiêu của người dân cho nhà cửa cũng tăng, thức đẩy nền kinh tế phát triển. Dòng Trade Tuần thứ 2 Là phần lớn nhất chiếm Cán cân thương vốn balance (Cán cân thương mại) hàng tháng lúc 22h30, chỉ số đưa ra là của tháng trước đó. trong cán cân thương mại của quốc gia, đo lường sự khác biệt về giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu so với giá trị hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu. mại sẽ thặng dư nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu và ngược lại cán cân sẽ bị thâm hụt nếu xuất khẩu nhỏ hơn nhập khẩu. Là chỉ số tác động lớn tới thị trường. Tổng hợp ISM – Institue for Supply Manageme nt, Manufactur ing Index Ngày làm việc đầu tiên trong tháng, lúc 22h, chỉ số đưa ra là của tháng trước đó. Dữ liệu được thu thập từ việc trả lời của các chuyên viên mua hàng ở hơn 400 công ty trong lĩnh vực công nghiệp. Chỉ số phản ánh mức trung bình của 5 lĩnh vực, đơn đặt mua hàng của khách hàng mới chiếm 30%, sản xuất 25%, việc làm 20%, các đơn cung cấp hàng 15% và hàng tồn kho 15%. Chỉ số đưa ra lớn hơn 50% cho thấy sự mở rộng của các hoạt động kinh tế, nếu nhỏ hơn 50% thì có nghĩa là các hoạt động kinh tế này đang bị thu hẹp lại. Leading Indicator Current Account (Tài khoản vãng Ngày 20 hàng tháng lúc 22h. Chỉ số đưa ra hàng quý, khỏang 6 tuần sau khi Chỉ số bao gồm 10 thành phần, mỗi thành phần thay đổi đóng một tỉ lệ phần trăm nhất định vào sự thay đổi chung của nền kinh tế Mỹ. 10 Dùng để dự đóan bước đi của nền kinh tế Mỹ trong nhũng tháng tiếp theo. Dựa vào chỉ số này, các nàh đầu tư có thể đưa lai) kết thúc quý thành phần này bao gồm: 1. Số giờ làm việc bình quân 1 tuần của các công nhân sản xuất 2. Sồ lượng bình quan các đơn xin bảo hiểm thất nghệp đầu tiên 3. Số lượng đơn đặt hàng đầu tiên về hàng hóa tiêu dùng và nguyên liệu 4. Tốc độ giao hàng của các nhà cung cấp tới các chủ cửa hàng 5. Số lượng đơn đặt hàng mới cho các hàng hóa có liên quan tới quân sự 6. Số luợng các giấy cấp phép xây dựng nhà ở 7. Chỉ số chứng khóan S&P 500 8. Cung tiền đa điều chỉnh yếu tố lạm phát 9. Khỏang cách giữa lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn 10. Độ nhạy cảm của người tiêu dùng.Tính tóan sự ra quyết định với nhiều thông tin bổ trợ hơn.Là chỉ số thể hiện xu hướng ngoại thương nên có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường. khác biệt giữa tổng nguồn ra của hàng hóa dịch vụ và chi chuyển nhượng so với tổng nguồn vào, không tính tới các khỏan tài sản tài chính và các khoản nợ tài chính. CÁC CÔNG CỤ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT Các công cụ phân tích kỹ thuật Những nhà đầu tư tham gia trên thị trường vàng họ không chỉ tìm kiếm thông tin để phân tích và đưa ra nhận định của mình, mà còn dựa vào những phân tích mang tính chất kỹ thuật hơn. Phân tích tích kỹ thuật là việc nghiên cứu hành vi của thị trường chủ yếu bằng việc sử dụng đồ thị nhằm mục đích dự báo xu hướng giá trong tương lai. Charles H Dow được xem là cha đẻ của phân tích kỹ thuật. Năm 1884, ông đã đưa ra chỉ số bình quân giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mỹ.  Phân tích kỹ thuật dựa trên một số giả định cơ sở như Biến động thị trường phản ánh tất cả : các nhà phân tích kỹ thuật cho rằng tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến giá đều được phản ánh trong giá. Giá vận động theo xu thế : cho rằng một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều. Lịch sử sẽ lặp lại chính nó : cho rằng xu thế giá trong tương lai chính là sự lặp lại của quá khứ.  Hai xu hướng chính của lý thuyết phân tích kỹ thuật Xu thế giá cấp 1 : Thể hiện xu hướng giá chính của thị trường và có thể kéo dài từ vài tháng cho đến vài năm. Xu thế giá cấp 2 : Là những điều chỉnh có tác động làm gián đoạn xu thế giá cấp 1. Trong thị trường giá tăng, chúng được xem là những đợt suy giảm tạm thời (điều chỉnh). Trong thị trường giá giảm, chúng được xem là những hồi phục trung gian (tăng giá tạm thời).  Ba giai đoạn chính của thị trường  Trong phân tích kỹ thuật chúng ta thường gặp ba dạng biểu đồ chính Biểu đồ dạng đường (line chart) Biểu đồ dạng thanh (bar chart) Biểu đồ nến (candle chart)  Mức hỗ trợ và mức kháng cự Mức hỗ trợ (Support) :Là mức giá mà tại đó nhu cầu được xem là đủ mạnh để ngăn cản sự giảm giá thấp hơn. Mức kháng cự (Resistance) :Là mức giá mà tại đó lượng cung được xem là đủ mạnh để ngăn cản sự tăng giá cao hơn.  Các phương pháp xác định mức hỗ trợ và kháng cự Các mức giá cao và thấp Mức hỗ trợ được xác định bởi tập hợp các mức giá thấp. Mức kháng cự được xác định bởi tập hợp các mức giá cao. Các số chẵn : mức hỗ trợ và kháng cự có thể xuất hiện ở các mức giá chẵn, như 10, 20, 25, 50, 100,... Nên tránh đặt lệnh tại các mức giá này. Vùng hỗ trợ và kháng cự : đôi khi một vùng xung quanh một mức giá sẽ tạo thành mức hỗ trợ và kháng cự.  Đường xu hướng (Trend lines) Đường xu hướng thể hiện hướng di chuyển của thị trường và được xem là yếu tố quan trọng nhất trong tất cả các phân tích Các đặc điểm của đường xu hướng : Số lượng điểm : cần phải có 2 điểm trở lên để vẽ. Số điểm càng nhiều thì tính chuẩn xác của đường xu hướng càng cao. Khoảng cách các điểm : các điểm phải có khoảng cách tương đối như nhau. Góc : khi độ dốc của đường xu hướng càng tăng thì tính chuẩn xác của các mức hỗ trợ và kháng cự càng giảm. Các ví dụ minh họa của góc : Kênh xu hướng : Kênh xu hướng được thiết lập bởi 2 đường xu hướng song song nhau.  Fibonacci trong phân tích kỹ thuật Khi dùng trong phân tích kỹ thuật, tỷ lệ vàng thường được chuyển đổi thành 3 mức tỷ lệ: 38.2%, 50% và 61.8%. Tuy nhiên, các bội số khác cũng có thể được dùng, như 23.6%, 161.8%, 423%,… Dãy Fibonacci thường được ứng dụng trong phân tích kỹ thuật dưới nhiều dạng: sự hồi lại, dạng cung, dạng quạt, dạng mở rộng và vùng thời gian. - Fibonacci Retracements được xây dựng bởi một đường xu thế được vẽ giữa 2 điểm cực trị, từ một đáy đến một đỉnh hoặc ngược lại. Sau đó 7 đường ngang cắt đường xu hướng sẽ được thiết lập ở các mức: 0.0, 23.6, 38.2, 50, 61.8, 78.6 và 100%. - Giá thường chạm tiệm cận trên/tiệm cận dưới tại hoặc gần các mức hồi lại của Fibonacci trong quá trình biến động.  Một số mẫu hình thường gặp o Các mẫu hình tiếp diễn : Tam giác Chữ nhật Cờ chữ nhật và cờ đuôi nheo o Các mẫu hình đảo chiều Đầu và vai Hai và ba đáy/đỉnh Mẫu hình cái nêm Đỉnh vòm và đáy chén Các mẫu hình minh họa về tam giác Mức giá kỳ vọng được định ra trên cơ sở khoảng cách giá x=y. Các nhà đầu tư dài hạn dùng các mẫu hình này để xác nhận xu hướng, trong khi các nhà đầu tư ngắn hạn dùng chúng như các dấu hiệu để mua/bán. Minh họa về mẫu hình tam giác Mẫu hình chữ nhật Tương tự như các mẫu hình tam giác, mức giá kỳ vọng trong mẫu hình chữ nhật được xác định trên cơ sở khoảng cách giá x = y Cờ chữ nhật và cờ đuôi nheo Mức giá kỳ vọng của các mẫu hình này được định ra khi khoảng cách giá của cột cờ (x) được lặp lại kể từ khi giá thoát ra khỏi vùng điều chỉnh và tiếp tục xu hướng cũ. Minh họa về mẫu hình cờ Mẫu hình đầu và vai Một khi giá vượt khỏi đường cổ thì nhà đầu tư có thể đặt kỳ vọng ở mức giá thoả điều kiện x = y. Các nhà PTKT cho rằng giá sẽ biến động một khoảng ít nhất bằng y trước khi mẫu hình này hình thành. Đường cổ có thể cân bằng, dốc lên hay dốc xuống. Một đường cổ dốc xuống được xem là một dấu hiệu mạnh và phản ánh chuẩn xác hơn so với một đường cổ dốc lên. Minh họa về mẫu hình đầu vai Mẫu hình hai và ba đáy/đỉnh Tương tự như các mẫu hình kể trên, mức giá kỳ vọng được định ra trên cơ sở khoảng cách x=y. Minh họa về mẫu hình hai đỉnh Minh họa về mẫu hình hai đáy  Phân tích kỹ thuật thông qua khối lượng giao dịch Mục tiêu của việc phân tích khối lượng giao dịch: Xác nhận xu hướng hiện tại: Nếu thị trường đang có xu hướng lên hoặc xuống thì xu hướng này phải được xác nhận bởi sự gia tăng khối lượng giao dịch. Sự hồi lại của một xu hướng thường đi kèm với sự suy giảm khối lượng Cảnh báo sự suy yếu của xu hướng hiện tại: Nếu xu hướng hiện tại được tiếp diễn với sự giảm gần về khối lượng thì đây được xem là sự cảnh báo xu hướng này đang yếu dần. Điều này đặc biệt đúng khi thị trường đạt đến đỉnh cao mới hay chạm đáy mới với một khối lượng nhỏ. Trong trường hợp này, việc chạm đỉnh/đáy mới của thị trường thường được xem là một xu hướng không đáng tin cậy. Xác nhận sự bứt phá khỏi biên độ dao động giá hiện tại: Trong thị trường không rõ xu hướng và giá đang dao động trong một biên độ nhất định, một sự bứt phá của giá phải được đi kèm với một khối lượng giao dịch lớn. Ngược lại, một sự biến động mạnh về giá nhưng với khối lượng giao dịch nhỏ có thể xem là một xu hướng không bền vững và cần phải được xem xét thêm. Các loại chỉ dẫn phân tích kỹ thuật Chỉ dẫn nhanh : - Cho biết xu hướng của giá trong ngắn hạn. - Thường được sử dụng trong thị trường không xác định rõ xu hướng Chỉ dẫn chậm : - Báo hiệu xu hướng dài hạn của giá. - Thường dùng để xác nhận lại xu hướng giá một cách chắc chắn hơn. CHỈ DẪN NHANH Đường RSI Đường Stochatic CHỈ DẪN CHẬM Đường trung bình Đường MACD Các lợi ích và hạn chế của các loại chỉ dẫn Lợi ích Hạn chế Các chỉ dẫn nhanh -Giúp nhà đầu tư ra/vào thị trường sớm hơn. -Báo nhiều dấu hiệu của thị trường hơn. -Cho biết trước những rủi ro/cơ hội tiềm năng -Rủi ro về chỉ báo sai. -Ra/vào thị trường giao dịch nhiều đồng nghĩa với việc trả chi phí nhiều. Các chỉ dẫn chậm -Giúp nhà đầu tư có khả năng nắm bắt và định xu hướng tốt. -Giao dịch ít – trả ít chi phí hơn. -Không phát huy tác dụng trong thị trường dao động lên xuống (không hướng nhất định) -Ra/vào thị trường chậm hơn.  Đường trung bình Đường trung bình đơn giản là mẫu đường trung bình được sử dụng phổ biến nhất trong các dạng đường trung bình. Đường trung bình đơn giản được tính toán bằng cách cộng dồn dãy các giá trị trong một khoảng thời gian gồm một số ngày nhất định và sau đó lấy tổng số chia cho số ngày. Cách sử dụng đường trung bình: Để xác định xu hướng: Thông thường, nhà đầu tư nhìn vào độ dốc của đường trung bình để xác định xu hướng giá. Ví dụ, nếu đường trung bình có độ dốc xuống, và giá hiện tại đang ở dưới đường trung bình thì xu hướng được xác định là xu hướng giảm. Ngược lại là xu hướng tăng. Nếu giá hiện tại đang di chuyển cả phía trên, dưới và đường trung bình khá bằng phẳng thì thị trường đang được xem là không có xu hướng rõ ràng. Đưa ra các tín hiệu mua và bán: Có nhiều cách để xác định các tín hiệu mua/bán bằng đường trung bình. Đầu tiên, có thể nhìn vào mối quan hệ giữa giá đóng cửa và đường Trung bình đơn giản. Nếu thị trường đóng cửa ở giá nằm trên đường Trung bình thường cho thấy một tín hiệu mua, trong khi đó, nếu thị trường đóng cửa dưới đường trung bình cho thấy một tín hiệu bán. Một cách khác là sử dụng 2 đường trung bình, một đường trung bình ngắn hạn và một đường khác dài hơn. Các tín hiệu bán và mua được chỉ ra tại các điểm cắt nhau của đường trung bình ngắn hạn và đường trung bình dài hạn. Ví dụ, nếu đường trung bình ngắn hạn cắt đường trung bình dài hạn từ dưới lên thường dự báo tín hiệu mua và ngược lại, nếu đường trung bình ngắn hạn cắt đường trung bình dài hạn từ trên xuống dự báo một tín hiệu bán.  Đường MACD Đường Trung bình hội tụ và phân kỳ (MACD) được sử dụng và phát triển bởi Gerald Appel, MACD là một trong những công cụ đơn giản nhất và được sử dụng tốt. MACD dùng đường trung bình – vốn là một chỉ dẫn chậm, kết hợp với các yếu tố theo đường xu hướng. Những chỉ dẫn chẫm này được chuyển đổi thành các đường đo động lượng bằng cách lấy hiệu 2 đường trung bình dài và trung bình ngắn. Kết quả này sẽ được vẽ thành một đường mà dao động lên xuống xung quanh giá trị 0, không có bất kì giới hạn trên hay dưới. Cách sử dụng đường MACD: Nhận biết các tín hiệu mua/bán: Các tín hiệu mua/bán được xác nhận khi 2 đường MACD và đường tín hiệu cắt nhau. Khi đường MACD cắt đường tín hiệu từ dưới lên báo hiệu một tín hiệu mua, và nếu tiếp tục cắt lên trên đường 0, xu hướng tăng càng được xác định rõ hơn. Ngược lại, nếu đường MACD cắt đường tín hiệu từ trên xuống thường báo hiệu một tín hiệu của xu hướng giảm, và nếu đường MACD cắt từ treên xuống vượt qua đường 0 thì tín hiệu này được xác nhận rõ hơn. Xác định xu hướng giá:Xác định xu hướng giá: Nếu cả 2 đường MACD ở trên (hoặc dưới) đường 0 và đường MACD ở trên (dưới) đường tín hiệu, thì xu hướng được xác định là xu hướng tăng (giảm). Xác định sự phân kỳ của xu hướng tăng/giảm: khi có sự phân kỳ của đường MACD và đường xu hướng giá xác định rằng xu hướng tăng hay giảm đang yếu đi. Khi giá đang tăng cao hơn nhưng các mức cao của MACD đang theo xu hướng giảm, điều này cho thấy xu hướng tăng đang yếu đi. Trong khi đó, xu hướng giảm đang yếu đi được báo hiệu khi xu hướng của giá đang thấp đi nhưng khi những mức thấp của đường MACD đang cao hơn. Điều quan trọng cần lưu ý là sự phân kỳ xác định xu hướng đang yếu đi chứ không có nghĩa là xu hướng đã thực sự đảo chiều. Sự đảo chiều của xu hướng phải được xác nhận bởi các biến động trực tiếp từ giá, chẳng hạn một sự bẻ gảy đường xu hướng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfSàn giao dịch vàng – Sân chơi cho các nhà đầu tư Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan